để hiểu rõ và sâu hơn vấn đề này , nhóm chúng em dưới sự hướng dẫn của Giang viên Ths Nguyễn Thị Hà ,xin chọn đề tài :” Phân tích vụ kiện về vân đơn giữa Công ty SH Bình Dương và Công t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
=======000=======
TIỂU LUẬN
Đề tài:
PHÂN TÍCH VỤ KIỆN VỀ VẬN ĐƠN GIỮA CÔNG TY SH BÌNH DƯƠNG VÀ
CÔNG TY GIAO NHẬN VẬN TẢI TOKIN HẢI PHÒNG
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Minh Trang - 1212160125
Trần Thị Kiều Oanh - 1314160088
Nguyễn Thùy Linh - 1311120049
Đàm Diễm Hằng - 1312160042
Lê thị Khánh Linh - 1217160062
Lớp : TMA305(1-1516).1_LT
Giáo viên :Ths Nguyễn Thị Hà
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
Phần 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
I.Vận đơn đường biển (Ocean Bill of Lading - B/L) 4
1.Các chức năng của vận đơn 4
2.Tác dụng của vận đơn 4
3 Phân loại vận đơn 4
4 Qui tắc quốc tế điều chỉnh vận đơn đường biển 5
II.Những yếu tố có thể gây nên tranh chấp trên vận đơn 5
1 Ngày giao hàng trên B/L 5
2 Ghi chú On Board trên B/L (OBN) 6
3 Cảng đi, cảng đến 6
4 Người chuyên chở 6
5 Ký hậu vận đơn 7
Phần 2: PHÂN TÍCH VỤ KIỆN VỀ VẬN ĐƠN GIỮA CÔNG TY SH BÌNH DƯƠNG VÀ CÔNG TY GIAO NHẬN VẬN TẢI TOKIN HẢI PHÒNG 8
I Tóm tắt vụ kiện 8
II Phân tích hợp đồng mua bán giữa EPE Australia và công ty SH Bình Dương ; vận đơn giữa đường biển 12
1.Phân tích hợp đồng : 12
2.Phân tích vận đơn đường biển: 15
III Lập luận giữa các bên 16
1.Lập luận của SH: 16
2.Lập luận của Tokin 18
IV Phán Quyết Của Toà 20
Phán quyết của Tòa sơ thẩm: 21
Phần 3 : QUAN ĐIỂM , BÀI HỌC VÀ KINH NGHIỆM 21
1.Quan điểm của nhóm 21
2.Bài học kinh nghiệm: 23
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với chủ trương “toàn cầu hóa”, Việt Nam đang từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, hàng rào thương mại dần được xóa bỏ Việc chính thức gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới (WTO) và tiến tới thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nhiều cơ hội lớn trong việc mở rộng quan hệ ngoại thương với các nước trên thế giới và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Trong vài năm trở lại đây, hoạt động ngoại thương đang ngày càng phát triển và trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của cả nước Xuất nhập khẩu là cầu nối quan trọng để nước ta tận dụng và tìm kiếm nguồn nguyên liệu dồi dào, mở rộng được thị trường tiêu thụ, thúc đẩy được sản xuất trong nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Kết quả là tỷ trọng xuất nhập khẩu không ngừng tăng qua các năm
Đặc biệt, Việt Nam với diện tích bờ biển kéo dài là cơ hội lớn cho phát triển hình thức vận tải biển – là phương thức vận chuyển giữa các quốc gia được sử dụng nhiều nhất hiện nay , nâng cao khả năng cạnh tranh trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, do chưa quen và chưa hiểu rõ cách thức trong thương mại quốc tế mà nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn , vướng mắc trong việc giao nhận, vận chuyern hang hóa trong thanh toán quốc tế với đối tác nước ngoài để hiểu rõ và sâu hơn vấn đề này , nhóm chúng em dưới sự hướng dẫn của
Giang viên Ths Nguyễn Thị Hà ,xin chọn đề tài :” Phân tích vụ kiện về vân đơn giữa Công
ty SH Bình Dương và Công ty giao nhận vận tải Tokin Hải Phòng“
Với kiến thức còn hạn chế và trong giới hạn một bài tiểu luận, phần trình bày của chúng
em không tránh khỏi những sai sót, rất mong được ý kiến đóng góp sửa chữa của cô giáo cũng như các bạn để bài làm được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4Phần 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I.Vận đơn đường biển (Ocean Bill of Lading - B/L)
Khái niệm: Vận đơn đường biển là chứng từ chuyên chở hàng hoá bằng đường biển do
người chuyên chở hoặc đại diện của người chuyên chở phát hành cho người gửi hàng sau khi hàng hoá đã được xếp lên tàu hoặc sau khi nhận hàng để xếp
1.Các chức năng của vận đơn
- Thứ nhất, vận đơn là "bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận lên tàu số hàng hoá với
số lượng, chủng loại, tình trạng như ghi rõ trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng phải giao cho người cầm vận đơn gốc một cách hợp pháp như đã ghi trên vận đơn ở cảng dỡ hàng
- Thứ hai, "vận đơn gốc là chứng từ có giá trị, dùng để định đoạt và nhận hàng" hay nói đơn giản hơn vận đơn là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hoá ghi trong * Thứ ba, vận đơn đường biển là bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường biển đã được
ký kết
2.Tác dụng của vận đơn
-Vận đơn đường biển là bằng chứng xác nhận một hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển đã được ký kết
-Vận đơn đường biển là biên lai nhận hàng để chở và biên lai giao hàng
-Vận đơn đường biển là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa ghi trên vận đơn
3 Phân loại vận đơn
Vận đơn đường biển rất đa dạng, phong phú, được sử dụng vào những công việc khác nhau tuý theo nội dung thể hiện trên vận đơn
- Nếu căn cứ vào tình trạng xếp dỡ hàng hoá thì vận đơn được chia thành 2 loại: vận đơn đã xếp hàng (shipped on board bill of lading) và vận đơn nhận hàng để xếp (received for
shipment bill of lading)
- Nếu căn cứ vào quyền chuyển nhượng sở hữu hàng hoá ghi trên vận đơn thì vận đơn lại được chia thành 3 loại: vận đơn đích danh (straight bill of lading), vận đơn vô danh hay còn gọi là vận đơn xuất trình (bill of lading to bearer) và vận đơn theo lệnh (bill of lading to
Trang 5of lading)
- Nếu căn cứ vào phương thức thuê tàu chuyên chở lại có vận đơn tàu chợ (liner bill of
lading) và vận đơn tàu chuyến (voyage - Nếu căn cứ vào giá trị sử dụng và lưu thông ta có vận đơn gốc (original bill of lading) và vận đơn copy (copy of lading)
Ngoài ra còn có Surrendered B/L Seaway bill, Congen bill Tuy nhiên theo Bộ luật hàng hải Việt nam vận đơn được ký phát dưới 3 dạng: vận đơn đích danh, vận đơn theo lệnh, vận đơn xuất trình
4 Qui tắc quốc tế điều chỉnh vận đơn đường biển
Hiện nay có 2 nguồn luật quốc tế chính về vận tải biển, đó là:
- Công ước quốc tế để thống nhất một số thể lệ về vận đơn đường biển, gọi tắt là Công ước Brussels 1924 và hai Nghị định thử sửa đổi Công ước Brussels 1924 là : + Nghị định thư sửa đổi Công ước Brussels 1924 gọi tắt là nghị định thư 1968 (Visby Rules - 1968) Nghị định thư năm 1978
- Công ước của Liên hợp quốc về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, gọi tắt là Công ước Hamburg 1978
II.Những yếu tố có thể gây nên tranh chấp trên vận đơn
1 Ngày giao hàng trên B/L
Tầm quan trọng của ngày giao hàng: Ngày giao hàng là căn cứ để các bên tham gia
thương mại và thanh toán quốc tế khẳng định người bán đã thực hiện đúng thời hạn giao hàng được quy định trong Hợp đồng thương mại hoặc L/C
Căn cứ để xác định ngày giao hàng: Ngày giao hàng được căn cứ vào chứng từ vận
tải Tuy nhiên, trên B/L, có thể có thông tin về ngày tháng trong mục ghi chú On Board Ðiều này thường dẫn đến băn khoăn cho ngân hàng là ngày nào sẽ được coi là ngày giao hàng
Kết luận về ngày giao hàng:
- Trường hợp B/L có ghi chú On Board: Ngày của ghi chú On Board - OBN (On
Board Notation) sẽ được coi là ngày giao hàng cho dù ngày On Board trước hoặc sau ngày phát hành B/L Nếu trên 1 B/L có nhiều hơn một ghi chú On Board, ngày On Board
Trang 6sớm hơn sẽ được coi là ngày giao hàng Nếu bộ chứng từ được xuất trình nhiều hơn một
bộ B/L thì ngày On Board muộn hơn sẽ được coi là ngày giao hàng
- Trường hợp B/L không ghi chú On Board: Ở phần sau, chúng ta cùng bàn luận tới vấn đề B/L có cần thiết có OBN hay không và bao gồm những thông tin gì trong phần OBN
Ở đây, chúng ta chỉ xem xét đối với trường hợp B/L không ghi chú On Board là được phép Ðối với trường hợp này, ngày phát hành sẽ được coi là ngày giao hàng
2 Ghi chú On Board trên B/L (OBN)
On Board Notation (OBN) là việc xác nhận rằng hàng hóa đã được xếp lên tàu Việc hàng hóa đã được xếp lên tàu không chỉ liên quan đến quyền lợi của người mua, người bán mà còn là cơ sở trong việc kiểm tra chứng từ bảo hiểm, vì vậy được tất cả các bên tham gia thương mại và thanh toán quốc tế đặc biệt quan tâm
Những vướng mắc khi kiểm tra OBN
Các bên tham gia thanh toán thường đặt ra hàng loạt các câu hỏi trong quá trình kiểm tra OBN Ðó là:
-Có chấp nhận B/L không ghi chú On Board hay không?
-OBN chỉ ghi ngày tháng có hợp lệ hay không?
-OBN có ngày tháng, tên tàu đã đủ điều kiện thanh toán hay chưa?
- Mọi OBN có phải chỉ ra ngày tháng, tên tàu, tên cảng đi, cảng đến?
3 Cảng đi, cảng đến
Cảng đi và cảng đến trên B/L đòi hỏi phải phù hợp với quy định của L/C Tuy nhiên,
do nhiều hãng chuyên chở muốn phản ánh đầy đủ các thông tin trên bề mặt B/L từ nơi nhận hàng để chở cho đến nơi chuyển tải, cảng dỡ nhưng phần lớn trên B/L không có mục in sẵn chuyển tải, vì vậy, người phát hành B/L không đủ các mục in sẵn để điền thông tin vào ô thích hợp, dẫn đến tình trạng điền thông tin vào B/L không đúng vị trí Những trường hợp thường gặp, đó là: tên cảng dỡ được điền vào Destination hoặc tên cảng bốc hàng được điền vào mục Place of receipt hoặc tên cảng chuyển tải được điền vào mục Port of unloading
Ðối với những trường hợp này, đòi hỏi có sự ghi chú để chỉ ra đúng cảng
4 Người chuyên chở
Trang 7Người chuyên chở cần được thể hiện rõ trên B/L Một vấn đề đặt ra đối với việc phát hành B/L là người chuyên chở, người ký phát B/L và letter head của B/L có thể khác nhau
Vì vậy, cần thể hiện rõ tên của người chuyên chở trên bề mặt B/L
Tên của người chuyên chở có thể thể hiện theo những cách chính sau đây:
Thứ nhất, người ký phát chỉ rõ là đại lý cho người chuyên chở
Thứ hai, người ký phát B/L chỉ rõ là đại lý của người chuyên chở mà tên của người
chuyên chở được xác định rõ trong B/L
5 Ký hậu vận đơn
Ký hậu vận đơn được hiểu là “hành động chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa
được mô tả trên vận đơn theo lệnh từ người nhận hàng này qua người nhận hàng khác”
Những vướng mắc về vận đơn có liên quan đến ký hậu
a) Ký hậu có cần phải đóng dấu
Có một số thị trường rất chú trọng kiểm tra việc đóng dấu khi ký hậu trong khi đó, một số thị trường khác thì không Từ đó đặt ra một vấn đề, liệu rằng việc đóng dấu khi ký hậu là bắt buộc?
Vấn đề này đã được nêu ra trong ICC Official Opinion R531/TA526 - Unpublished Opinion 2004 về việc giải quyết tranh chấp giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận, trong đó, ngân hàng phát hành bắt lỗi và từ chối thanh toán đối với bộ chứng từ có vận đơn được ký hậu nhưng không được đóng dấu Theo kết luận của ICC, cách thức ký hậu vận đơn không thuộc về phạm vi điều chỉnh của UCP Tuy nhiên, theo tập quán, ký hậu có thể được thực hiện bằng cách:
- đánh máy và ký
-đóng dấu có tên của công ty và ký
-toàn bộ được thực hiện bằng tay -
b) Chủ thể ký hậu - Endorser
- Trường hợp 1: Khi ký hậu có cần phải nêu rõ tên của doanh nghiệp đi kèm
- Trường hợp 2: Tư cách người ký hậu - Người ký hậu có cần phải nêu rõ chức danh của mình nắm giữ tại công ty? Ngân hàng có cần kiểm tra xem người ký có đủ thẩm quyền
để ký hậu?
- Trường hợp 3: Ký hậu có thể được thực hiện bởi đại lý của người gửi hàng?
Trang 8c) Chủ thể nhận ký hậu - Endorsee
Có những trường hợp, tên của người nhận ký hậu lại được thể hiện sai hoặc do bản thân người gửi hàng lại muốn giao hàng cho chủ thể khác Chính vì thế, sau khi ký hậu, tên gọi người nhận hàng trên vận đơn khác với tên người nhận hàng thực tế được yêu cầu trong B/L
Ðối với bộ vận đơn thể hiện như vậy, ngân hàng hoàn toàn có quyền bắt lỗi Tuy nhiên, nếu người nhập khẩu thực tế muốn nhận hàng, ngân hàng có thể xử lý vấn đề này bằng cách yêu cầu chủ thể ký hậu phát hành thư xác nhận (Letter of confirmation) thể hiện: 1 anh ta đã sai khi nêu tên của người nhận ký hậu; 2 nêu tên của người nhận ký hậu thực tế; và để đảm bảo an toàn cho mình, ngân hàng cần yêu cầu 3 người ký hậu cần phải cam kết chịu trách nhiệm về những vấn đề liên quan có thể xảy ra sau này
Phần 2: PHÂN TÍCH VỤ KIỆN VỀ VẬN ĐƠN GIỮA CÔNG TY SH BÌNH
DƯƠNG VÀ CÔNG TY GIAO NHẬN VẬN TẢI TOKIN HẢI PHÒNG
Hồ Chí Minh đi Sydney Tonkin ký Booking Note với Hãng tàu MOL
Ngày 20/12/2006, hàng được bốc lên tàu tại TP Hồ Chí Minh MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho Tonkin, trên cơ sở đó Tonkin cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho SH người gửi hàng (vận đơn của Tonkin theo mẫu FIATA), trong đó ghi rõ EPE là người nhận hàng (xem mẫu kèm theo)
Hàng đến Sydney 06/01/2007 MOL giao cho đại lý Tonkin ngày 14/01/2007 Từ đó trở đi EPE không đến lấy hàng Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 AU$, hàng hóa có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn Theo tập quán và luật pháp Australia (tương tự như ở
Trang 9Việt Nam), ngày 01/3/2007, đại lý Tonkin đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý Mãi tới 14/4/2007, SH mới ra lệnh cho Tonkin đưa hàng về Việt Nam, nhưng Tonkin không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên SH không thể đơn giản ra lệnh chở hàng về Ngày 04/5/2007, EPE đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý Tonkin không thu hồi vận đơn gốc Từ đó trở đi SH luôn khẳng định rằng tuy hàng bán FOB nhưng với vận đơn gốc trong tay, SH vẫn là chủ sở hữu lô hàng và hoàn toàn có quyền ra lệnh giao hàng hay vận chuyển về Việt Nam Không đòi được tiền hàng từ EPE, SH đã khởi kiện Tonkin tại Tòa án dân sự TP Hải Phòng, đòi bồi thường 1,7 tỷ VNĐ, bao gồm trị giá hàng 87.035 USD và khoảng 350 triệu VNĐ các loại tiền phạt do vi phạm thủ tục hải quan
*Hợp đồng mua bán giữa SH Bình Dương và EPE Australia và vận đơn đường biển
Trang 10SALES CONTRACT
SELLER: S.H VIETNAM CO.,LTD
161/46 1K HIGHWAY, DONG HOA VILLAGE, DI AN TEL:84-650-751-831
DISTRICT,BINH DUONG PROVINCE, VIETNAM FAX: 84-650-781-360
Quality of goods will be based onthe sample goods by both parties before
Artical 3: Payment Term:
The buyer shall pay for the commodity by TT/REMITTANCE 100% within 60 days after receipt of cargos at HCM port
Artical 4: Shipment:
Shipment shall be not later than Dec 31st 2006with the following detail:
Artical 5: Parking and Marking:
Commodity shall be packed by manufacturer’s export standard packs
Artical 6: Other Conditions
Any change and amendment to this contract shall be made in writing including telex and fax and signed manual agreement.Any change and amendment shall considered as internal part
Trang 12II Phân tích hợp đồng mua bán giữa EPE Australia và công ty SH Bình Dương ; vận đơn giữa đường biển
1.Phân tích hợp đồng :
1) Phân tích và nhận xét
- Cơ cấu của một bản hợp đồng Ngoại thương gồm các điều khoản:
The SELLER has agreed to sell and the BUYER has agreed to buy the commodity under the terms and conditions provided in this contract as follows:
✓ Art 14 : Other terms and conditions: điều khoản khác
- Nội dung cơ bản của hợp đồng là những điều kiện mua bán mà các bên đã thỏa thuận
Ðể thương thảo hợp đồng được tốt, cần nắm vững các điều kiện thương mại quốc tế, chỉ một sự mơ hồ hoặc thiếu chính xác nào đó trong việc vận dụng điều kiện thương mại là
có thể có hại đối với các bên ký hợp đồng, dẫn đến những vụ tranh chấp, kiện tụng làm tăng thêm chi phí trong kinh doanh
- Hợp đồng mua bán của công ty SH Bình Dương và công ty EPE Australia
o Về nội dung: Hợp đồng này được ký kết nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh
Trong bản hợp đồng này đó là nội dung thực hiện việc trao đổi hàng hóa ( túi xách
và balo) và các thỏa thuận khác nhằm tạo điều kiện để việc trao đổi được tiến hành
o Về chủ thể của hợp đồng :Về phía Việt Nam, theo nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày
31/7/1998, phải là doanh nghiệp đã có đăng ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập của doanh nghiệp) và đã đăng ký mã số kinh doanh XNK tại cục hải quan tỉnh, thành phố Theo điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ký kết giữa pháp nhân với
Trang 13pháp nhân, hay pháp nhân với cá nhân có đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật Hợp đồng này được ký kết giữa công ty SH Bình Dương là một công ty của nhà nước Việt Nam với một công ty EPE của Australia đều là các pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật
o Về hình thức: bản hợp đồng này được soạn thảo bằng văn bản có chữ ký của các
bên xác nhận nội dung mua bán hàng hóa Đây là một quy định bắt buộc mà các chủ thể của hợp đồng phải tuân theo
o Hợp đồng này được ký kết dựa trên mối quan hệ cung cầu về mặt hàng ( túi xác và
ba lô) trên thị trường hiện nay
- Phân tích và nhận xét về các điều khoản trong hợp đồng:
o Điều 1: điều khoản về tên hàng, số lượng và đơn giá của hàng hóa
điều khoản này nhằm mục đích các bên xác dịnh được loại hàng cần mua bán do đó phải diễn đạt thật chính xác và cụ thể
Ở hợp đồng này, tên hàng , số lượng đơn giá của hàng hóa đc ghi cụ thể chi tiết Nhìn vào điều khoản này ta có thể thấy đây là một điều khoản hợp nhất từ ba điều khoản: Tên hàng, Số lượng, Giá Xét về mặt quy định tên hàng và số lượng, điều khoản này đã tương đối hợp lý khi đã quy định rõ ràng tên hàng và số lượng hàng hóa Về việc quy định giá cả, nên tách riêng để rõ ràng hơn bởi tuy đã quy định đơn giá và giá tính theo điều khiên FOB
HOCHIMINH nhưng lại không quy định chi phí bao bì cũng như chi phí bốc dỡ hàng lên tàu
o Điều 2: điều khoản về chất lượng : đây là một trong những điều khoản rất dễ gây ra
tranh chấp giữa các bên do những thiếu sót không đáng có của Hợp đồng, đáng lẽ các bên phải mô tả tỉ mỉ, rõ ràng thì lại đề cập đến một cách hời hợt : “quality of goods will be based on the sample goods by both parties before” làm khó quy trách nhiệm khi vi phạm Trong Hợp đồng này ghi như thế là chưa chưa rõ ràng bởi đây
là loại hàng xuất khẩu sang Australia nên không ngoại trừ chất lượng không thỏa