Cơ cấu lại hệ thống GDĐH theo yêu cầu của thị trường lao động mới thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo đội ngũ chuyên gia, nhà quản lý trong nền kinh tế thị trường; ưu tiên đào tạo kỹ s
Trang 1xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên; phấn đấu xây dựng một nền GDĐH
có chất lượng giảng dạy và nghiên cứu theo chuẩn quốc tế phải trở thành những nhiệm vụ thường xuyên của trường đại học
- Nhà nước cần thiết phải có hệ thống chính sách đồng bộ đối với đội ngũ trí thức để ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám
1.4.2.2 Những kinh nghiệm về thực hiện qúa trình xây dựng và hoàn thiện chính sách
- Làm tốt công tác dự báo đánh giá tác động kinh tế-xã hội của chính sách GDĐH sẽ được ban hành; quy định đầy đủ và chặt chẽ các yêu cầu về giai đoạn nghiên cứu chính sách trước khi lập chương trình xây dựng chính sách; đồng thời, thực hiện pháp lý hóa công tác dự báo đánh giá tác động của chinh sách
- Nghiên cứu chính sách trên cả 2 lĩnh vực lý thuyết và thực tế; tiến hành các nghiên cứu so giữa sách chính sách phát triển GDĐH trong nước với chính sách phát triển GDĐH của nước ngoài để có có những lựa chọn phù hợp và tối
ưu với điều kiện thực tiễn, nhu cầu phát triển của GDĐH Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập
- Đảm bảo tính nhất quán và ổn định tương đối của chính sách; chính sách phát triển GDĐH phải phù hợp với định hướng chiến lược và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Chính sách không vì quyền lợi cục bộ của một nhóm lợi ích, một ngành hoặc một số ít người, mà phải phù hợp với quyền lợi chung và thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Chính sách phải bảo đảm tính minh bạch và có môi
Trang 2trường thực hiện bình đẳng cho mọi đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách
- Đảm bảo tính công khai của chính sách Quá trình hình thành chính sách phải có sự tham vấn, trưng cầu ý kiến của những đối tượng bị điều chỉnh Nói cách khác, quá trình hình thành chính sách cần áp dụng rộng rãi các phương pháp đánh giá tác động chính sách, phương pháp phân tích các yếu tố tác động vào quy trình xây dựng pháp luật của các nước tiên tiến; mở rộng các đơn vị tham gia nghiên cứu chính sách
- Tăng cường sự hợp tác trong việc nghiên cứu chính sách giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm chính sách mang tính liên thông và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai chính sách vào thực tế đời sống xã hội Đầu tư thích đáng về nhân lực và tài chính công tác xây dựng chính sách
TIỂU KẾT CHƯƠNG I
GDĐH có vai trò phát triển và bảo đảm quyền lực dân chủ của các xã hội Chính sách phát triển GDĐH thuộc phạm trù thể chế, chủ yếu được điều chỉnh trong phạm vi quốc gia và thường được đặt trong bối cảnh quốc tế Nền tảng của chính sách phát triển GDĐH trong nền KTTT là lý thuyết về nguồn vốn con người, bao gồm vốn vật chất và vốn xã hội Chính sách phát triển GDĐH ở bất
kỳ nước nào cũng được hình thành từ tính chất của xã hội cụ thể, từ di sản văn hoá đến thể chế chính trị, kinh tế và xã hội của nước đó
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chính sách phát triển GDĐH Nhìn nhận nó như là các bộ phận cấu thành của chính sách tăng trưởng, chính sách cơ cấu, chính sách chất lượng trong điều kiện hệ thống luật pháp phù hợp, các điều
Trang 3kiện đầu tư về tài chính, vật chất, nguồn nhân lực, tổ chức quản lý thống nhất và trong môi trường quốc tế hữu hiệu sẽ giúp cho mỗi quốc gia có được một hệ thống GDĐH phát triển, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội mỗi thời kỳ
Một cách phổ biến, để đánh giá chính sách phát triển GDĐH, người ta thường dựa trên hệ thống các tiêu chí bao gồm: Lợi ích công cộng đạt được; mức
độ cưỡng chế trong triển khai; tính hệ thống của những vấn đề chính sách nhằm giải quyết; sự linh hoạt trong các hình thức biểu hiện văn bản chính sách; phạm
vi liên đới của các tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm; tính kế thừa của chính sách; số lượng ý kiến ủng hộ thông qua chính sách, và kết quả thụ hưởng chính sách của các nhóm lợi ích khác nhau
Sản phẩm GDĐH trong nền KTTT được coi là một loại sản phẩm dịch
vụ Chủ đề về một số chính sách cải cách tầm quốc gia tập trung vào thị trường GDĐH mang tính cạnh tranh đang được thảo luận Việc theo đuổi một thị trường GDĐH sẽ được kiểm chứng thông qua xem xét các biện pháp cải cách về chính sách thị trường đang được triển khai tại nhiều quốc gia Các nhà nghiên cứu chính sách phát triển GDĐH ở hầu hết các nước trên thế giới đã và đang cố gắng điều hòa suy nghĩ chung về vấn đề trên Họ không chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu hỗ trợ cho việc chuyển đổi chính sách, mà còn đi sâu vào tìm kiếm và nhận thức tốt hơn về cả hai mặt tác động tích cực và tiêu cực của nó
Giữa chính sách của chính phủ và cách hành xử của xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau Thị trường cạnh tranh sẽ mất đi hiệu quả nếu không có sự hỗ trợ về chính sách từ chính phủ Trong trường hợp này, GDĐH không chỉ ở riêng
Trang 4quốc gia nào được coi như một sản phẩm hàng hóa của tư nhân Vì vậy, chính phủ luôn luôn giữ vai trò kiểm soát độc quyền Cho đến nay, tại nhiều quốc gia GDĐH vẫn được quan niệm là một loại sản phẩm công (nhà nước)
Chính sách phát triển GDĐH đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia và khu vực trong thời đại nền kinh tế dựa vào tri thức hơn bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử Tuy nhiên, không có quốc gia nào có tất cả các câu trả lời cho những vấn đề phức tạp đối mặt với những thách thức mới của thế kỷ 21, đặc biệt là trong hệ thống GDĐH Để tự thích nghi với tình thế, nhiều nước, kể cả các nước phát triển và đang phát triển đã cải thiện hệ thống giáo dục đại học trong những năm 90 của thế kỷ 20 Hoàn cảnh quốc gia- về mặt thực tiễn kinh tế, xã hội, chính trị và giáo dục cụ thể cũng quá phức tạp để có thể đơn giản chuyển các thể chế hoặc thậm chí ý tưởng từ nước này sang nước khác Nhưng, các bài học từ các nước khác ít nhất có thể đưa ra cách thức tiếp cận có thể dẫn tới các giải pháp tiềm năng Việc nghiên cứu so sánh chính sách phát triển GDĐH giữa các quốc gia có thể giúp đưa ra các phương án tiếp cận ngày một tối
ưu hơn trong hoạch định chính sách phát triển GDĐH của mỗi nước
Trang 5CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM TỪ SAU ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
2.1.1 Quá trình đổi mới nội dung chính sách phát triển giáo dục đại
học ở nước ta
Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ VI (tháng 12
năm 1986) khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước với việc chuyển nền kinh tế
từ cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, quan liêu và bao cấp sang nền kinh tế nhiều
thành phần sở hữu, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN đã tạo ra bước ngoặt cho GDĐH Việt Nam Năm 1987
Bộ Giáo dục và Đào tạo (lúc đó là Bộ Đại học-Trung học Chuyên nghiệp và Dạy
nghề) lần đầu tiên tổ chức Hội nghị hiệu trưởng các trường đại học tại thành phố
Nha Trang tỉnh Khánh Hoà triển khai 3 chương trình hành động của ngành, khởi
động một quá trình lâu dài nhằm đổi mới nền đại học Việt Nam cho phù hợp với
những điều kiện kinh tế và xã hội trong nền kinh tế chuyển đổi Từ đây, GDĐH
bắt đầu một giai đoạn phát triển theo hướng linh hoạt, đa dạng đáp ứng nhiều loại
nhu cầu xã hội trong nền kinh tế nhiều thành phần và huy động nhiều kênh tài
chính đầu tư Trường đại học, cao đẳng bắt đầu được mở rộng tuyển sinh đến các
đối tượng sinh viên có đủ kiến thức và đủ khả năng trả học phí Sứ mạng GDĐH,
vai trò nhà nước và các mối quan hệ, nội dung quản lý của Bộ, ngành chủ quản
với trường đại học được đặt ra để xác định lại Trường đại học được chấp nhận
Trang 6giao các dự án ủy quyền và được phép mở rộng hợp tác với các lĩnh vực khác trong xã hội và trong cả nền kinh tế Tất cả những điều này ngụ ý nói đến vai trò ngày càng mạnh hơn của các lực lượng thị trường trong GDĐH Tại hội nghị này, đồng chí Võ Nguyên Giáp, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng; khẳng định khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi công nghệ đóng vai trò quan trọng đối với sự đổi mới của nền sản xuất, và khi giáo dục được coi là nhân tố rất cơ bản làm thay đổi lực lượng sản xuất thì, cải cách nền GDĐH và gia tăng hiệu suất phục vụ của nó, không còn là nhiệm vụ tự thân của ngành đại học, mà chuyển thành yêu cầu khách quan của kinh tế-xã hội Trong bối cảnh ấy, nền GDĐH cần được xem xét lại trên nhiều bình diện Nền GDĐH ngày càng trở thành nền giáo dục của số đông dân cư, không dành riêng cho một bộ phận nhỏ trong nhân dân, cũng không thuộc quyền sở hữu của một thành phần kinh tế nào GDĐH đi theo con người trong suốt cuộc đời hoạt động dưới hình thức học tập thường xuyên, bồi dưỡng liên tục, nâng cao và hoàn thiện không ngừng trình độ tay nghề Trường đại học phải thực sự là nơi sản xuất ra chất xám, hơn nữa, chất xám đó phải mang chất lượng thời đại Mỗi sinh viên đại học ra trường phải là đại diện của chất xám mới [5]
Theo đó, từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, hệ thống GDĐH bắt đầu chuyển đổi theo hướng linh hoạt hóa, đa dạng hóa về loại hình, phương thức, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo để người học có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ Chuyển mục tiêu GDĐH sang đáp ứng nhu cầu cho cả phát triển kinh tế-xã hội và phát triển của mỗi cá nhân Cơ cấu lại hệ thống GDĐH theo yêu cầu của thị trường lao
Trang 7động mới thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo đội ngũ chuyên gia, nhà quản
lý trong nền kinh tế thị trường; ưu tiên đào tạo kỹ sư, các nhà khoa học trong các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ thông tin để chuẩn bị cho quá trình tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế Nâng tầm quan trọng của hoạt động khoa học-công nghệ trong trường đại học Trường đại học, cao đẳng phải là các trung tâm vừa đào tạo, vừa nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; kết hợp hữu cơ giữa đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn; làm cho công tác đào tạo và nghiên cứu thích ứng với cơ chế thị trường, trực tiếp góp phần làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế Sau đây chúng tôi xin khái quát những đổi mới trong chính sách phát triển GDĐH
2.1.1.1 Nh ng i m i v chính sách t ng tr ng trong phát tri n giáo
d c i h c
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI xác định sự nghiệp giáo dục, nhất là GDĐH và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh Theo đó, quy mô GDĐH cần mở rộng một cách hợp lý nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 1 năm
1993 Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII , Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX và X tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tǎng trưởng kinh tế và phát triển xã hội; đầu tư cho
Trang 8giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển GDĐH và việc phát triển GDĐH phải coi trọng cả
ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả; thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo; mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa, chuẩn hóa và xã hội hóa GDĐH; chuyển dần mô hình GDĐH hiện nay sang mô hình mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, thực hiện sự liên thông giữa các bậc học, các hình thức đào tạo, bảo đảm sự công bằng xã hội trong GDĐH
Dưới ánh sáng của các Nghị quyết sau mỗi lần đại hội, sứ mạng GDĐH, vai trò nhà nước và các mối quan hệ, nội dung quản lý của Bộ, ngành chủ quản với trường đại học đã từng bước được điều chỉnh Từ đây, trường đại học được chấp nhận giao các dự án ủy quyền và được phép mở rộng hợp tác với các lĩnh vực khác trong xã hội và trong cả nền kinh tế Số lượng sinh viên đại học tăng lên liên tục và cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng có những thay đổi nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phù hợp về trình độ và chuyên môn cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Kết quả đổi mới chính sách tăng trưởng trong GDĐH được thể hiện cụ thể trên các khía cạnh sau:
- Tăng să lăăng trăăng ăăi hăc, cao ăăng và mă răng quy mô giáo dăc ăăi hăc Số lốống trốống ốối hốc và cao ốống ốã tống tố 95 (nốm 1981) lên 98 (nốm 1986), 105 (nốm 1990), rối 223 trốống (nốm 2000) và 311 trốống (nốm 2006)
Bống 1 Số lốống trốống ốH và Cố giai ốoốn 1981-2006 [9, 10 và 11]
Trang 9Bảng 2 Quy mô đào tạo giai đoạn 1981-2006 [9, 19, 23, 28, 29 và 93]
Trang 102005, tỷ lệ tăng trưởng quy mô đào tạo trình độ sau đại học bình quân khoảng 18,7%/năm; đào tạo trình độ đại học bình quân khoảng 8,7%/năm và đào tạo trình độ cao đẳng với xấp xỉ 7,4%/năm Đối với đào tạo sau đại học, giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2005, các ngành học thuộc nhóm khoa học tự nhiên và công nghệ thông tin (đối với tiến sỹ), kinh tế-quản trị kinh doanh-quản lý giáo dục (đối với thạc sỹ) vẫn giữ được tỷ lệ tăng; trong khi các ngành còn lại giữ nguyên hoặc giảm Đối với đào tạo đại học và cao đẳng, các ngành học thuộc nhóm ngành kinh tế-quản trị kinh doanh-tài chính-ngân hàng-công nghệ thông tin và sư phạm vẫn là những ngành học có quy mô sinh viên tăng cao nhất [43]
2.1.1.2 Những đổi mới về chính sách cơ cấu trong phát triển giáo dục đại học
Cụ thể hóa tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993 của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp lớn nhằm đổi mới tư duy, quan điểm và cách làm giáo dục nhằm phù hợp với quá trình hình thành nền KTTT định hướng XHCN Một trong những yêu cầu đặt ra là chuyển đổi hệ thống GDĐH theo hướng linh hoạt hóa, đa dạng hóa về loại hình, phương thức, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo để người học có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ Chuyển mục tiêu GDĐH sang đáp ứng nhu cầu cho cả phát triển kinh tế-xã hội và phát triển của mỗi cá nhân Cơ cấu lại hệ thống GDĐH theo yêu cầu của thị trường lao động mới thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo đội ngũ chuyên gia, nhà quản
lý trong nền kinh tế thị trường; ưu tiên đào tạo kỹ sư, các nhà khoa học trong các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ thông tin để chuẩn bị cho quá trình
Trang 11tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế Kết quả đổi mới chính sách cơ cấu GDĐH đã mang lại:
Thă nhăt, vă că cău trình ăă, ốã chuyốn tố ốào tốo 1 cốp trình ốố sang 4 cốp trình ốố, bao gốm cao ốống, ốối hốc, thốc số và tiốn số Theo ốó, cố số giáo dốc ốối hốc gốm có: Các trốống cao ốống ốào tốo trình ốố cao ốống và thốp hốn; các ốối hốc, trốống ốối hốc và hốc viốn ốào tốo trình ốố cao ốống, ốối hốc và mốt
số ốốốc ốào tốo thốc số, tiốn số và các viốn nghiên cốu khoa hốc ốào tốo trình ốố tiốn số và phối hốp vối trốống ốối hốc, hốc viốn ốào tốo trình ốố thốc số Viốc ốào tốo trình ốố cao ốống có thố tố chốc ố cố trốống cao ốống và trốống ốối hốc nhống ốào tốo trình ốố ốối hốc chố ốốốc tố chốc trong các trốống ốối hốc, hốc viốn Bảng 3: Cơ cấu trình độ đào tạo đại học cao đẳng [9, 19, 23, 28, 29 và 88]
cơ sở) triển khai đào tạo trên 300 chuyên ngành và 127 cơ sở đào tạo trình độ
Trang 12tiến sĩ (58 trường đại học và 69 viện nghiên cứu; so với năm 1997 tăng thêm 20
cơ sở ), tổ chức thành 976 Hội đồng khoa học thực hiện đào tạo trên 400 chuyên ngành Trong 11 năm (từ năm 1996 đến năm 2007) đã tuyển đào tạo 11.498 nghiên cứu sinh và 109.831 học viên cao học ( năm 2007 so với năm 1996, quy
mô tuyển nghiên cứu sinh tăng 33,1% tuyển học viên thạc sĩ tăng 439,2%); đã cấp 9.636 bằng tiến sỹ và 38 bằng tiến sỹ khoa học Đào tạo sau đại học trong nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước, đặc biệt sau khi hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu
có biến động mạnh mẽ về thể chế chính trị
Hình 1 Tăng trưởng quy mô đào tạo 2001-2005 theo trình độ đào tạo [43]
Thứ hai, về hình thức đào tạo, thay vì chỉ ưu tiên đào tạo hệ chính quy tập trung như trước đây, từ năm 1986 các trường đã mở rộng đào tạo sang các hình thức không chính quy (vừa học, vừa làm; liên thông, hoàn chỉnh kiến thức; đào
41,170 33,678
27,581 24,904
20,793
1,056,344 950,369
878,181 822,080
758,237
237,443 217,885
193,505 186,076
179,109 0
Trang 13tạo văn bằng hai) Một số trường còn mở các hệ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, hoặc các lớp bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề Việc đào tạo không chỉ tiến hành tại trường, mà còn tổ chức ở các địa phương theo hợp đồng liên kết đào tạo Năm 2007, toàn quốc có 357 trường đại học, cao đẳng thì 200 trường có đào tạo không chính quy với tổng số sinh viên không chính quy đang đào tạo khoảng 834.400 người (chiếm xấp xỉ 49,8% tổng quy mô sinh viên đại học và cao đẳng)
Bảng 4 Sinh viên ĐH và CĐ theo hình thức đào tạo [9, 19, 23, 28, 29 và 88]
Trang 14làm và chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế ngày càng tăng nên quy định thời gian công tác đã được bãi bỏ
Thă ba, vă thăi gian ăào tăo ăăi hăc và cao ăăng, ốã có số linh hoốt hốn Thay vì chố có các khóa 3 nốm và tố 4 ốốn 6 nốm nhố trốốc ốây, tố nốm 2005, thối gian ốào tốo cao ốống tố 1,5 nốm ốốn 3 nốm và thối gian ốào tốo ốối hốc tố 2,5 nốm ốốn 6 nốm phố thuốc vào loối ngành nghố hốc và trình ốố vốn bống mà ngốối hốc ốốt ốốốc trốốc khi nhốp hốc ốào tốo tình ốố thốc số và tiốn số chố ốốốc tiốn hành ố mốt số trốống ốối hốc, hốc viốn và viốn nghiên cốu Thối gian ốào tốo thốc số tố 1 ốốn 2 nốm hốc và thối gian ốào tốo tiốn số tố 3 ốốn 4 nốm hoốc lâu hốn phố thuốc vào loối vốn bống mà ngốối hốc ốốt ốốốc trốốc khi nhốp hốc và theo quy ốốnh cốa Bố trốống bố giáo dốc và ốào tốo trong các trốống hốp kéo dài Nghiên cốu sinh tiốn số ốòi hối phối có các công trình nghiên cốu khoa hốc
Thă tă, vă măng lăăi các trăăng ăăi hăc và cao ăăng, ốã ốốốc sốp xốp lối theo hốống ốa dống hoá các loối hình trốống và gốn kốt chốt chố hốn trốống ốối hốc vối các viốn nghiên cốu Các trốống ốối hốc và cao ốống ốốốc bố trí lối cố
vố ốốa lý và cố cốu Hình thành các trốống ốối hốc ốa ngành, trốống ốối hốc hoốc cao ốống chuyên ngành và trốống cao ốống cống ốống Nhiốu trốống ốối hốc ốa ngành ốốốc thành lốp trên cố số tố chốc lối các trốống ốào tốo chuyên nhành nhố ốối hốc Quốc gia Hà Nối, ốối hốc Quốc gia thành phố Hố Chí Minh, ốối hốc Thái Nguyên, ốối hốc Huố và ốối hốc ốà Nống… Thiốt lốp hố thống ốào tốo mố, ốào tốo tố xa và phát triốn hố thống trốống ốối hốc, cao ốống tố thốc Các trốống chuyốn tố ốào tốo chuyên nghành hốp sang ốào tốo ốa ngành và ốa cốp GDốH ốã ốốốc ốốt trong mối liên hố mốt thiốt vối các bốc hốc khác, ốốc biốt là giáo dốc nghố nghiốp, bao gốm trung cốp chuyốn nghiốp và dốy nghố
Trang 15Hoốt ốống nghiên cốu khoa hốc và công nghố (NCKH và CN) ố các trốống ốối hốc ốã có bốốc gốn kốt vối hoốt ốống giáo dốc và ốào tốo; ốã kốt hốp ốốốc vối viốc ốào tốo nghiên cốu sinh và cao hốc; ốốa nhà trốống ốốn vối xã hối và góp phốn cối tiốn, ốối mối nối dung và phốống pháp ốào tốo Mốt số phòng thí nghiốm chuyên ốố, trung tâm NCKH và CN liên ngành, chuyên ngành và ốốn vố hoốt ốống khoa hốc công nghố ốã ốốốc thành lốp trong các trốống ốối hốc Hoốt ốống chuyốn giao công nghố, lao ốống sốn xuốt trong nhà trốống ốã ốốốc coi trống và phát huy
Thă năm, vă că cău vùng miăn, bốốc ốốu ốã có số biốn ốối Nốu nhố trốốc ốây, các trốống ốối hốc, cao ốống ốốốc bố trí chố yốu ố hai Thành phố lốn là Hà Nối và Thành phố Hố Chí Minh ( hai vùng ốBSH và ốông Nam Bố) thì nay các trốống ốối hốc ốã phát triốn khá mốnh ố các vùng trong cố nốốc ốáp ống nhu cốu hốc tốp, ối lối, sinh hoốt thuốn lối cho sinh viên, ốống thối ốáp ống nhu cốu ốào tốo nguốn nhân lốc tối chố, phốc vố số nghiốp CNH, HốH, phát triốn sốn xuốt kinh doanh theo nhu cốu cốa nốn kinh tố thố trốống cho các ốốa phốống, vùng miốn
Bống 5 Cố cốu các trốống ốối hốc cao ốống theo vùng miốn [10, 11 và 28]
Trang 16Hố thống trốống ốối hốc và cao ốống ngoài công lốp phát triốn song hành bên cốnh các trốống công lốp ốốt nốn móng cho quá trình ốa dống hóa quyốn số hốu ốối hốc; góp phốn giốm nhố sốc ép nhu cốu ngân sách nhà nốốc ốốu tố vào lốnh vốc giáo dốc ốối hốc Nó ốáp ống mốt cách có hiốu quố và mốm dốo hốn nhu cốu thay ốối và tống thêm cố hối hốc tốp vối chi phí nhà nốốc rốt ít hoốc không cốn bố sung chi phí
Bảng 6 Số lượng trường đại học, cao đẳng ngoài công lập [10, 11 và 28]
Trang 172 Tổng số trường ĐH, CĐ ngoài công lập 23 34 65
Trong đó:
2.1.1.3 Những đổi mới về chính sách chất lượng giáo dục đại học
Trước những năm 1980, chính sách chất lượng của GDĐH Việt Nam là nâng cao trình độ văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật cho các tầng lớp nhân dân và thúc đẩy việc chuyển thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin thành các lực lượng vật chất và tinh thần của xã hội Việt Nam Trên cơ sở đó hình thành con người mới Việt Nam XHCN có lòng yêu nước thiết tha; có ý thức tự tôn dân tộc; biết giữ gìn và quý trọng các di sản và truyền thống văn hoá của cha ông; có kiến thức khoa học kỹ thuật và ham hiểu biết, cầu tiến bộ; có tinh thần làm chủ tập thể; tích cực tham gia xây dựng CNXH; có lòng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa sâu sắc và biết chung sống hoà bình với các dân tộc khác trên toàn thế giới GDĐH là nhân tố thúc đẩy sự tiến bộ xã hội của xã hội Việt Nam Nó có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu xã hội XHCN và khắc phục sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn GDĐH có nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trường đại học vừa là nơi cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển đất nước, vừa là nơi tập hợp rộng rãi các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành, những người ưu tú về khoa học và khoa học công nghệ, kinh tế, quản lý, văn hoá, chính trị, ngoại giao và các cá nhân có ý tưởng, sáng kiến tiên tiến ở khắp mọi nơi
cả trong nước Trường đại học là địa điểm thu hút các hoạt động sáng tạo của quần chúng lao động trên tất cả các mặt và lĩnh vực ở các địa phương và các vùng từ miền
Trang 18xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến rừng núi và hải đảo Trường đại học thúc đẩy việc mở rộng và tăng cường các mối quan hệ, hợp tác song phương và đa phương về kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật của nước ta với Liên Xô, Trung Quốc và các nước thuộc khối XHCN Đông Âu, vì sự hiểu biết lẫn nhau và sự thịnh vượng của các dân tộc Phương pháp giảng dạy đại học và kỹ năng truyền thụ kiến thức thuần túy mang tính lý thuyết, đơn điệu, thiếu tính phản biện và ít được kiểm chứng thực tiễn Sự tuyển dụng và cơ hội thăng tiến của cán bộ giảng dạy phụ thuộc vào thâm niên giảng dạy, vị trí công việc trong kế hoạch nhân sự và mức khống chế của tổng quỹ tiền lương nên không đủ sức thu hút những người giỏi và thiếu tính khuyến khích cá nhân các giảng viên nâng cao trình độ kiến thức và chuyên môn Một lực lượng rất lớn các chuyên gia giỏi ở các viện nghiên cứu khoa học đứng bên ngoài hoạt động giảng dạy đại học do hệ thống các viện nghiên cứu tách rời hệ thống các trường đại học
Trong thời kỳ này, bằng việc thực thi cơ chế cân đối đồng bộ, trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mệnh lệnh, GDĐH đạt được hiệu quả ngoài khá cao (hầu như không có người thất nghiệp và tỷ lệ làm việc trái ngành nghề thấp), nhưng trường đại học thiếu sự liên kết với các viện nghiên cứu quốc gia Nhà trường đại học dần dần xa rời các hoạt động nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất Nội dung, chương trình đào tạo từng bước trở nên bất cập với những yêu cầu của nền kinh tế-xã hôi thường xuyên thay đổi năng động từng ngày Các trường đại học tập trung chủ yếu ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một vài địa phương như Thái Nguyên, Huế và Đà Nẵng Tình trạng này dẫn đến việc sinh viên tốt nghiệp đại học dồn về các thành phố lớn, làm nảy sinh những rối loạn của thị trường lao động xét trên cả phạm vi quốc gia và vùng lãnh thổ Sức ép về dư thừa lao động có trình độ cao ở khu vực thành thị có xu hướng tăng lên là nguyên nhân
Trang 19làm xuất hiện căn bệnh bằng cấp, trong khi nông thôn, miền núi, vùng sâu và hải đảo vẫn còn thiếu hụt đội ngũ lao động được đào tạo ở bậc đại học để phục vụ cho
sự phát triển kinh tế và xã hội
Trường đại học thực hiện quy trình đào tạo theo niên chế và không thực hiện quá trình chuyển đổi, liên thông giữa các trường và giữa các ngành nghề đào tạo Tổ chức thi tuyển đầu vào mỗi năm một lần Chính sách tuyển sinh và quy trình thu nhận sinh viên mang đặc trưng của một nền GDĐH cho số ít người Năm học 1987-1988, cả nước có 101 trường và phân hiệu đại học-cao đẳng với tổng số 133.136 sinh viên của tất cả các loại hình đào tạo Bình quân có xấp xỉ 1.320 sinh viên/1 trường và 6,6 sinh viên/1 giảng viên [9] Tình trạng quy mô trường đại học nhỏ và việc trường đại học tổ chức đào tạo theo chuyên ngành hẹp là một trong những lý do không đảm bảo tính kinh tế trong đào tạo, đặc biệt
là việc khai thác, sử dụng và đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ giảng viên Đây cũng là nguyên nhân làm mất đi các khả năng điều chỉnh và cân đối các điều kiện đảm bảo chất lượng đối với mỗi trường cũng như toàn bộ hệ thống
Từ sau hội nghị hiệu trưởng các trường đại học ở Đồ Sơn (năm 1989), ở Vũng Tàu (năm 1991), Nha Trang (năm 1992); đặc biệt sau khi Quốc hội thông qua Luật Giáo dục năm 1998 và Luật Giáo dục (sửa đổi) năm 2005, chính sách chất lượng GDĐH Việt Nam đã có sự điều chỉnh Cụ thể là:
Thứ nhất, mô đun hoá nội dung các chương trình môn học thành các học phần (tương tự như hệ thống tín chỉ); chia quá trình học đại học thành 2 giai đoạn (giai đoạn đại cương và giai đoạn chuyên môn hoá); đa dạng hoá các loại hình đào
Trang 20tạo theo thời gian và hình thức tổ chức khoá học: dài hạn, ngắn hạn, tập trung, không tập trung, chính quy, không chính quy, đào tạo mới, đào tạo lại và bồi dưỡng để giúp cho người học hoặc các sinh viên đã tốt nghiệp thích nghi với nhu cầu tự tìm và tự tạo việc làm trong nền KTTT có nhiều biến động về tình trạng công việc Quá trình đào tạo phân chia thành 2 giai đoạn nhằm trang bị cho sinh viên một nền tảng tri thức cơ bản, có tính tổng hợp cần thiết cho việc tạo lập khả năng lựa chọn ngành nghề thực sự thích hợp, năng lực đi sâu vào ngành đào tạo, khả năng thích nghi với những thay đổi nhanh chóng trong xã hội và trong nghề nghiệp, phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu trong thời gian ở trường, cũng như sau khi ra trường…trước khi đào tạo chuyên môn hóa Trong giai đoạn 1 sinh viên được đào tạo theo diện rộng nên một số môn học chung được tổ chức đào tạo ở các khoa hoặc trường đại cương, nhờ đó tận dụng được các điều kiện
về nhân lực, đặc biệt là khắc phục được tình trạng thiếu thầy giỏi về các môn khoa học cơ bản và thiếu điều kiện về cơ sở vật chất (nhà học, thí nghiệm, thư viện…) Cùng với việc phân chia quá trình đào tạo là việc từng bước thiết lập và hoàn thiện hệ thống tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo; xây dựng quy trình kiểm định chất lượng đào tạo đại học để thúc đẩy các trường phấn đấu đạt công nhận chất lượng quốc gia cho các loại văn bằng
Thứ hai, phát triển chương trình đào tạo vừa theo định hướng nghiên cứu, vừa theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng; nâng mặt bằng kiến thức của các chương trình đại học lên ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới; chú trọng đào tạo đồng thời cả về khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn và khoa học-công nghệ; thực hiện liên thông giữa các trình độ đào tạo trong toàn hệ thống; triển khai việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài; tiếp thu có chọn lọc các chương
Trang 21trình đào tạo tiên tiến của thế giới Cải cách đào tạo sau đại học với việc thiết lập một cấp học mới (cao học và sau đổi thành master), đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh để lấy bằng tiến sỹ
Thứ ba, chuyển cơ chế đánh giá kết quả hoạt động của trường đại học, cao đẳng từ dựa vào mức độ hoàn thành kế hoạch nhà nước giao hàng năm sang
cơ chế kiểm định và đánh giá dựa trên hệ thống các tiêu chí đảm bảo chất lượng Cải cách tuyển sinh đại học theo hướng phân cấp cho các trường ĐH và CĐ chủ động tuyển theo quy chế chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo Xây dựng cơ sở pháp
lý và bồi dưỡng năng lực cán bộ để nhà trường có thể tự chủ về các mặt xây dựng
và thực hiện kế hoạch tuyển sinh, đánh giá và thi cử Thí sinh được dự thi nhiều trường và được chọn trường để học
Thứ tư, tăng thời lượng thực tập và thực hành môn học; thay đổi phương pháp thi cử và đánh giá Tổ chức các trung tâm nghiên cứu khoa học-lao động sản xuất, viện nghiên cứu bên trong các trường đại học, cao đẳng Toàn bộ hệ thống chương trình đào tạo đại học theo các mục tiêu, định mức và quan niệm được thiết kế
và xây dựng lại một bước theo quan niệm mới vừa gắn kết và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại; phối hợp phần kiến thức và kỹ năng cơ bản về giáo dục đại cương với kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp; kết hợp hài hoà mục tiêu của cấp đại học và các cấp sau đại học Quy định một chuẩn chất lượng thống nhất và các điều kiện vật chất đảm bảo để đạt chuẩn chất lượng đó; đồng thời hoà nhập với khu vực và thế giới về những nét chung của cơ cấu hệ thống
và chuẩn chất lượng đào tạo GDĐH chỉ có một mức ở đầu ra đối với một chương trình đào tạo theo các phương thức khác nhau Hoàn thành việc đổi mới hầu hết các chương trình đào tạo về kinh tế, quản trị kinh doanh Xây dựng được một số bộ giáo
Trang 22trình đại học theo phương châm kết hợp viết và dịch những bộ sách có chất lượng cao được sử dụng phổ biến ở nước ngoài Xây dựng một số thư viện trung tâm cho các trường đại học phục vụ sinh viên cả trong và ngoài trường đại học
Thứ năm, chia chương trình đào tạo đại học thành 2 trình độ đại học và cao đẳng Trình độ đại học được cấu trúc thành 3 nhóm học phần, bao gồm nhóm học phần cốt lõi; nhóm học phần chuyên môn chính và nhóm học phần chuyên môn phụ Nhóm học phần cốt lõi trang bị cho sinh viên kiến thức cơ sở của những môn học liên ngành, bao gồm các học phần khoa học cơ bản phục vụ cho chuyên môn; ngoại ngữ và khoa học quân sự chuyên ngành Nhóm học phần chuyên môn chính và chuyên môn phụ (đôi khi không có) cung cấp cho người học những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ban đầu Tên của các ngành đào tạo được xác định theo nhóm kiến thức chuyên môn chính Trình độ cao đẳng cấu trúc thành chương trình cao đẳng thực hành và cao đẳng cơ bản Chương trình cao đẳng thực hành cung cấp cho người học các kiến thức và kỹ năng hoạt động nghề nghiệp là chủ yếu Chương trình cao đẳng cơ bản là một bộ phận cấu thành của chưng trình đào tạo đại học ở ngành nghề tương ứng Luật Giáo dục quy định chương trình khung và chủ trương xây dựng chương trình khung cho hệ thống GDĐH Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập các hội đồng tư vấn về chương trình khung theo khối ngành và ngành đào tạo
Thứ sáu, triển khai áp dụng rộng rãi trong các trường đại học và cao đẳng phương pháp giảng dạy tích cực để tăng cường tính chủ động của sinh viên
và sử dụng các phương tiện hiện đại như máy chiếu, máy vi tính, video, multimedia để tiết kiệm thời gian của hoạt động giảng dạy trên giảng đường Các trường coi trọng phương pháp đào tạo bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu;
Trang 23tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu khoa học, thực nghiệm và ứng dụng Trong nội dung giảng dạy khắc phục lối truyền thụ một chiều; chú trọng các kiến thức về phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và kỹ năng thực hành của sinh viên Cấu trúc nội dung giảng dạy hướng tới khả năng liên kết giữa các khối kiến thức, khả năng hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật và sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin; kết hợp hợp lý giữa phương pháp diễn giải với phương pháp thảo luận, phương pháp thực hành thực tập và phương pháp tự nghiên cứu
Thứ bảy, coi nhiệm vụ phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đại học trở thành nhiệm vụ trung tâm, quan trọng nhất của trường đại học, cao đẳng; xây dựng và hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ đội ngũ giảng viên và
cơ chế huy động, khuyến khích cán bộ khoa học ở các viện, trung tâm nghiên cứu, giáo sư người Việt Nam ở nước ngoài và giáo sư nước ngoài tham gia giảng dạy được xác định trở thành nhiệm vụ cấp bách Chú trọng công tác đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, đặc biệt đối với cán bộ giảng dạy các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh để có thể đổi mới nội dung giảng dạy cho phù hợp với KTTT Sắp xếp cán bộ giảng dạy theo các chức danh giáo sư, phó giáo sư, giảng viên chính và giảng viên Số lượng giảng viên cao đẳng, đại học đã tăng từ 18.702 (năm 1986), lên 48.579 (năm 2006)
Bảng 7 Phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy giai
đoạn 1986-2006 [9, 19 và 28]
Tổng quy mô SV 120.632 138.366 367.486 918.228 1.387.107 1.603.484
Trang 24Tổng số giảng viên 18.614 20.871 21.484 32.205 48.597 56.120
Sau 20 năm, tỷ lệ giảng viên đại học có trình độ tiến sỹ đã tăng 4,2% ( từ 8,2% năm 1980 lên 12,4% năm 2006) và tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư tăng 4,56% (từ 0,74% năm 1986 lên 5,3% năm 2006) Tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sỹ năm 1990 chưa
có nhưng đến năm 2006 đã đạt 32,2% trong tổng số giảng viên nói chung
Hình 2 Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học từ 2001-2005[44]
2.1.2 Đánh giá biện pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục đại học
2.1.2.1 Những đổi mới về hệ thống luật pháp trong phát triển giáo dục đại học
Trang 25Trước thời kỳ đổi mới, tất cả các chính sách phát triển GDĐH được pháp lý hóa dưới dạng các quyết định, chỉ thị, nghị định, thông tư của Chính phủ và các
cơ quan chính phủ Từ cuối những năm 1990, hệ thống pháp luật trong phát triển GDĐH đã có nhiều sự thay đổi cả về nội dung và hình thức Điểm nổi bật là sự thay đổi về quan niệm của các nhà soạn thảo luật pháp; trong đó nhấn mạnh vào việc giảm bớt sự ôm đồm của các cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH Việc soạn thảo các văn bản dưới luật của các cơ quan công quyền cũng từng bước giảm bớt sự áp đặt các thủ tục phức tạp và biện pháp trừng phạt khi vi phạm thủ tục Quy trình xây dựng văn bản quy phạm đã có sự minh bạch hơn bằng việc khi ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành luật, các cơ quan soạn thảo không tự ý giải thích luật theo lợi ích cục bộ, hoặc đặt ra các thủ tục mà luật không minh định Nhờ đó, trong chừng mực nhất định, chính sách phát triển GDĐH đã tạo được sự cân bằng giữa lợi ích nhà nước và quyền lợi của công dân
Hệ thống luật pháp trong phát triển GDĐH đã tạo bối cảnh cho cơ quản lý nhà nước về GDĐH cấp trung ương tiến hành những cải cách cần thiết, bước đầu nhằm phân cấp, phân quyền cho các trường đại học, chính quyền địa phương và các bộ, ngành để mỗi đơn vị, cơ quan có thể phát huy quyền chủ động, sáng tạo trong quản lý Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật cũng được cải tiến theo hướng: i) Điều tiết những vấn đề thực tiễn; ii) thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách theo định hướng và chủ trương của Đảng; iii) có thể tạo ra, phân
bổ, phát huy các nguồn lực nhằm phát triển GDĐH; và iv) tạo nhiều cơ hội cho việc quản lý và phát triển hệ thống một cách hiệu quả hơn
Trang 26Bộ Luật Giáo dục đầu tiên xác lập các mối quan hệ và định hình chính sách phát triển GDĐH trong giai đoạn đổi mới đất nước đã được Quốc hội-cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước-thông qua ngày 2/12/1998 Từ đây, trách nhiệm của hệ thống của hai nghành lập pháp và hành pháp đối với GDĐH được phân cấp tương đối rõ ràng và cụ thể Sau 7 năm thực hiện, ngày 14/6/2005 Quốc hội thông qua Luật Giáo dục năm 2005 sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998, tiếp tục hoàn thiện một bước những nội dung của chính sách phát triển GDĐH Luật Giáo dục năm 1998 và năm 2005 đã điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội trong lĩnh vực GDĐH Trong 7 năm Quốc hội thông qua 2 bộ luật là một cuộc cách mạng về lập pháp trong lĩnh vực giáo dục nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới Việc làm luật đã có sự tham gia của hầu hết các cơ quan lập chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các tổ chức đại diện cho các nhóm lợi ích trong
xã hội Các luật đã đi sâu điều chỉnh mọi mặt của đời sống xã hội, tập trung nhiều vào lĩnh vực kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước và đáp ứng yêu cầu chuyển mạnh sang quản lý GDĐH bằng pháp luật
Luật Giáo dục năm 1998 và năm 2005 đã tập trung giải quyết một số vấn đề
cơ bản của GDĐH:
- Một là, hoàn thiện một bước về cơ cấu hệ thống và khẳng định vị trí của GDĐH trong nền kinh tế quốc dân và trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Hai là, đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả GDĐH; xác định rõ yêu cầu về chương trình GDĐH; điều kiện thành lập nhà trường, xác định những tiêu chí cơ bản để một trường đại học hoặc viện nghiên cứu được phép đào tạo
Trang 27trình độ tiến sỹ; định hướng về công tác kiểm định chất lượng GDĐH; tạo điều kiện chuyển đổi từ đào tạo theo năm học sang đào tạo theo tích luỹ tín chỉ, tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở GDĐH
- Ba là, nâng cao tính công bằng xã hội trong GDĐH và tăng thêm cơ hội học tập đại học cho nhân dân đặc biệt là cơ hội học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, con em gia đình nghèo
- Bốn là, tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với GDĐH; xác định những quy phạm nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực; xác định rõ trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan chính phủ về quản lý GDĐH; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học
- Năm là, khuyến khích đầu tư phát triển cơ sở đào tạo đại học ngoài công lập, tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng hoạt động của các trường đại học dân lập và tư thục
2.1.2.2 Những biện pháp về đầu tư trong phát triển giáo dục đại học
Thứ nhất, biện pháp về tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo cung cấp các chương trình, giáo trình, tài liệu học tập, tài liệu tham khảo; xây dựng hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành để nâng cao kỹ năng thực hành cho sinh viên được thực hiện thông qua các chương trình mục tiêu và huy động các nguồn vốn khác nhau Bằng nhiều nguồn vốn (vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn tư nhân, vốn của các doanh nghiệp, vốn vay ODA nước ngoài ) hệ thống GDĐH đã xây dựng được các công trình kiến trúc như trụ sở, giảng
Trang 28đường, hội trường, ký túc xá sinh viên và trang bị được các phòng thí nghiệm
hiện đại, có khả năng tiến hành các đề tài nghiên cứu khoa học độc lập và phối
hợp nghiên cứu khoa học với các đơn vị bạn
Bảng 8: Một số chỉ số đánh giá về cơ sở vật chất, thư viện và khả năng
phục vụ sinh viên tại 165 trường đại học và cao đẳng [44]
Diện tích phòng đọc thư viện m2/sinh viên 0,04 0,04 0,05
Số đầu sách và tạp chí/1 cán bộ, sinh viên Sách-tạp chí 2,41 7,02 8,47
Số cán bộ và sinh viên/1 máy tính phục vụ
tra cứu Internet tại thư viện
Tỷ lệ trường có trung tâm tư vấn hướng
nghiệp và dịch vụ việc làm cho sinh viên
%
20,9 21,9 22,9
Một số trường đại học công nghệ bước đầu đã được đầu tư đồng bộ phòng
thí nghiệm áp dụng công nghệ cao, sử dụng hệ tự động điều khiển CAD, CAM,
CNC, CIM Các trường có dự án vay vốn của ngân hàng thế giới (WB) đã dành
Trang 29tỷ lệ thích đáng để đầu tư những trung tâm thực hành nhằm tăng cường chất lượng đào tạo Nhiều trường đại học đã có đủ cơ sở vật chất để tiến hành phổ cập tin học cho giảng viên và sinh viên Một số trường đại học đã xây dựng được trung tâm ứng dụng công nghệ thông tin và đang phát huy tác dụng tốt
Bảng 9: Kết nối Internet của 165 trường đại học và cao đẳng [44]
1 Tỷ lệ trường có kết nối internet % 51,34 55,61 62,03
2 Sử dụng Leased line kết nối internet
- Tổng dung lượng đường truyền Kbps 9.622 15.560 27.848
3 Sử dụng Dial up kết nối internet
4 Sử dụng ADSL kết nối internet
Trang 30Thứ hai, đầu tư tài chính giáo dục đại học, cho đến những năm cuối của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chính sách tài chính GDĐH Việt Nam hầu như chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế nhà nước và hoạt động của ngân sách nhà nước (NSNN) Nội dung chính sách tài chính GDĐH trên thực tế chỉ bao hàm những quy định về cơ chế hoạt động NSNN và nguồn vốn cấp phát chủ yếu cho GDĐH cũng chỉ là NSNN Việc phân bổ các nguồn lực cho GDĐH vẫn thực hiện theo mệnh lệnh của nhà nước Các nhiệm vụ ngân sách của trường đại học đưa ra được dựa trên hệ thống các định mức kinh tế-kỹ thuật và dự báo nhu cầu theo mục tiêu định hướng sẵn Chính phủ trung ương đưa ra mọi quyết định về cấp phát, sử dụng và quản lý NSNN trong các trường đại học Nhà nước quyết định phân bổ các nguồn lực cho GDĐH theo nguyên tắc bao cấp toàn diện cho trường đại học và người đi học Nhà nước bảo đảm giáo dục không mất tiền và trợ cấp học bổng cho sinh viên theo mức bình quân Đây chính là sự khác nhau
về nguyên tắc giữa chính sách tài chính GDĐH trong nền kinh tế kế hoạch tập trung với chính sách tài chính GDĐH trong các nền kinh tế khác Nguyên tắc này không cho phép đánh giá hiệu quả chính sách tài chính GDĐH một cách trực tiếp, mà phải thông qua các chỉ tiêu kinh tế-xã hội (hiệu quả chung đạt được của
cả nền kinh tế quốc dân và xã hội nhờ việc sử dụng đội ngũ kỹ sư, nhà quản lý, chuyên gia kỹ thuật công nghệ được đào tạo ra), và cũng không khuyến khích trường đại học sử dụng NSNN cấp phát với hiệu quả cao nhất nhất và thiếu động lực thúc đẩy sinh viên cố gắng trong học tập Nguyên tắc này cũng làm trầm trọng thêm những thách thức bên trong của hệ thống GDĐH, đặc biệt từ sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất nhưng rơi vào tình trạng suy thoái kinh
tế, năng lực đầu tư của nhà nước cho GDĐH bị giảm sút Trên thực tế, mặc dù về
số tuyệt đối, ngân sách nhà nước cung cấp cho GDĐH vẫn tăng hàng năm,
Trang 31nhưng mức chi thực tế bình quân/1 sinh viên bị suy giảm cả về tương đối và tuyệt đối vì lý do tăng quy mô sinh viên, trượt giá và lạm phát Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của hệ thống đại học cả về quy mô và chất lượng đào tạo GDĐH đứng trước những khó khăn gay gắt về cơ sở vật chất và trang thiết bị; về đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên;
về bảo trì và bảo quản những tài sản đang có của nhà trường, trong khi nền đại học của các nước trên thế giới đã có những bước tiến dài trên tất cả các phương diện về nhận thức, quan niệm, mục tiêu, chính sách và quản lý
Trước tình hình đó, bước vào thời kỳ suy thoái, để giải quyết khó khăn về nguồn lực đầu tư phát triển GDĐH, từ năm 1997, đặc biệt sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, văn hóa và y tế, chính sách tài chính GDĐH có một số đổi mới
Cụ thể:
i) Chuyển hệ thống cung cấp tài chính cho GDĐH từ đơn kênh sang đa kênh; đồng thời tiến hành việc phân hóa mức tài trợ nguồn lực cho GDĐH; khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển mạng lưới trường; hình thành và phát triển hệ thống trường đại học, cao đẳng tư thục; bảo đảm quyền sở hữu theo luật pháp và các quyền lợi về vật chất và tinh thần cho các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực GDĐH; chuyển các cơ sở GDĐH có yếu tố công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền và chịu trách nhiệm
về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính; xây dựng cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các cơ sở GDĐH công lập
Trang 32ii) Sửa đổi và nâng cao hiệu quả chế độ học bổng và học phí; cải thiện điều kiện học tập, sinh hoạt vật chất, tinh thần cho sinh viên và nâng cao trách nhiệm của sinh viên; thực hiện nguyên tắc chia sẻ chi phí GDĐH giữa nhà nước, người học và cộng đồng ; khai thác những điểm mạnh của KTTT áp dụng vào quản lý và quản trị đại học; giao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH trong quản
lý thu-chi tài chính theo nguyên tắc lấy các nguồn thu bù đủ các khoản chi hợp
lý, có tích lũy cần thiết để phát triển cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
iii) Tổ chức các trung tâm nghiên cứu khoa học-lao động sản xuất, viện nghiên cứu đặt trong các trường đại học Cơ sở GDĐH chủ động thực hiện đa dạng hóa nguồn thu; được tiến hành ký hợp đồng đào tạo, nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ, các hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh với các tổ chức kinh tế, văn hoá xã hội, tạo sự liên kết trực tiếp giữa đào tạo với thực tiễn, nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên và sinh viên, đồng thời tạo ra nguồn thu bổ sung cho trường đại học để cải thiện cơ sở vật chất và các điều kiện làm việc, cải thiện đời sống của giảng viên và sinh viên
Kết quả của đổi mới chính sách tài chính GDĐH đã đưa lại:
- Tạo môi trường và điều kiện cho các trường nâng cao thu nhập bằng việc tăng tỷ trọng sinh viên hệ đóng học phí trong các trường công, giao quyền tự chủ hơn cho các trường đại học, cao đẳng công lập trong việc sử dụng nguồn lực, khuyến khích các trường đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo hộ mạnh mẽ hơn quyền sở hữu trí tuệ của trường đại học Nhờ đó, từ sau năm 1997 tỷ lệ sinh viên trong các trường công lập được thụ
Trang 33hưởng NSNN cấp hàng năm giảm mạnh; tỷ lệ sinh viên hệ đào tạo mở rộng, vừa học vừa làm, liên kết liên doanh, đào tạo theo địa chỉ có đóng học phí tăng nhanh
Bảng 10 Số sinh viên tuyển mới có NSNN giai đoạn 1991-2000 [9, 13, 109]
Năm
Tổng số SV tuyển mới
hệ chính quy tập trung
Trong đó: Số có NSNN theo KH
% SV có NSNN so với tổng số tuyển
Loại trừ yếu tố lạm phát, thu nhập của các trường ĐH, CĐ từ năm 1993 đến năm 1995 trung bình mỗi năm tăng khoảng 12,6% [63] So với năm 2001, năm 2002 thu nhập của các trường tăng lên tới 32,5% và năm 2005 tăng 72% Bình quân giai đoạn 2001-2005, tỷ lệ thu nhập của các trường tăng khoảng 15,1%/năm, trong khi quy mô đào tạo tăng bình quân khoảng 9%/năm [41]
Bảng 11 Nguồn thu của 165 trường đại học và cao đẳng công lập [41 và 43]
Trang 34(triệu đồng)
- Sinh viên đại học đóng học phí từ năm 1989 và đến năm năm 1993 việc đóng học phí được pháp lý hóa bằng Quyết định số 241/QĐ-TTg và sau đó là Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ Khung học phí áp dụng và mức đóng học phí cụ thể giữa các trường đại học, cao đẳng không giống nhau mà căn cứ vào sự hấp dẫn của ngành/lĩnh vực đào tạo và nhu cầu học tập của người học Thông thường, các ngành đào tạo kinh tế, tài chính, thương mại có sức hấp dẫn người học hơn các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp,
sư phạm và khai thác mỏ Khung học phí đã tăng từ 20.000 - 60.000đ/ tháng/1 sinh viên năm học 1993-1994 lên 40.000-100.000đ/ tháng/1 sinh viên năm học
1994 - 1995 Từ năm học 1998-1999, khung học phí của cao đẳng từ 150.000đ/ tháng/1 sinh viên, đại học từ 50.000-180.000đ/ tháng/1 sinh viên, thạc
40.000-sĩ từ 75.000-200.000đ/ tháng/người và đào tạo tiến 40.000-sĩ từ 100.000-250.000đ/ tháng/người [74]
- Hình thành cơ chế hỗ trợ người học bằng nhiều hình thức khác nhau: Miễn, giảm học phí, cấp học bổng, trợ cấp xã hội và cho sinh viên vay tiền học Đối với các sinh viên là thương binh, con liệt sỹ, mồ côi cả cha lẫn mẹ, người dân tộc ít người thuộc các vùng kinh tế chậm phát triển, đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa và hải đảo, người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc có thành tích xuất sắc trong học tập được miễn đóng học phí Sinh viên là người dân tộc thiểu số, bộ đội phục viên, cán bộ nhà nước đi học, sinh viên nghèo được giảm 50% học phí Những đối tượng này từ năm 1990 trở về trước, còn được cấp học bổng đồng loạt Từ sau năm 1990, học bổng cấp cho sinh viên dựa trên 2 têu chí chính: kết quả học tập và hoàn cảnh tài chính của sinh viên Loại học bổng dựa trên kết quả
Trang 35học tập có nhiều mức: mức 120% của học bổng toàn phần nếu kết quả học tập đạt loại xuất sắc; mức 80% của học bổng toàn phần nếu đạt kết quả học tập đạt loại giỏi và mức 30% của học bổng toàn phần nếu kết quả học tập đạt loại khá Loại học bổng cấp cho các sinh viên nghèo hoặc thuộc đối tượng ưu tiên được gọi là học bổng xã hội Nhà nước cấp học bổng tới từng trường đại học và cao đẳng, trên cơ sở số lượng sinh viên và mức học bổng toàn phần được thụ hưởng
Số sinh viên nhập học thực tế bao giờ cũng cao hơn kế hoạch nên tỷ lệ sinh viên được nhận học bổng hàng năm chỉ khoảng 70% Tuy nhiên, đối với các trường
sư phạm và đào tạo giáo viên, chính phủ khuyến khích và coi là lĩnh vực ưu tiên cao nên 100% sinh viên trong kế hoạch được lĩnh học bổng
- Chính sách cho sinh viên vay tiền học tập được thiết lập từ cuối năm
1994 có thể xem như một giải pháp bổ trợ tích cực nhằm hỗ trợ người nghèo có
đủ năng lực, kiến thức học tập ở bậc đại học nhưng không có điều kiện tài chính
để đi học Từ năm 1995 đến năm 1998, chương trình trong giai đoạn thử nghiệm nên phạm vi cho vay tương đối hẹp, chỉ áp dụng đối với các sinh viên học khá, giỏi của các trường đại học và cao đẳng Từ năm 1999 chương trình được mở rộng và áp dụng đại trà trên phạm vi cả nước với các điều kiện tín dụng được mở rộng hơn Đối tượng được vay bao gồm cả sinh viên học trung bình của tất cả các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Khoản tiền sinh viên vay phải hoàn trả trong thời hạn 10 năm (trường hợp đặc biệt đến 15 năm) và ngân hàng chỉ thu một khoản lãi là 1,2%/năm tương ứng với tỷ lệ lạm phát Người vay không phải ký quỹ nhưng họ được yêu cầu phải cung cấp tên,
họ cha me hoặc người đỡ đầu để có trách nhiệm hoàn trả khoản vay trong trường hợp sinh viên không có khả năng thanh toán Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 36(trước đây) và Ngân hàng Chính sách Xã hội (hiện nay) là các đơn vị triển khai cho vay tới các sinh viên có nhu cầu và đủ điều kiện
- Các trường đại học và cao đẳng được khuyến cáo nâng cao hiệu quả trong phân bổ và sử dụng tài chính nội bộ thông qua việc cải tiến nội dung, phương pháp và cơ chế quản trị nhà trường mà trọng tâm là chuyển một hệ thống đào tạo có chi phí tương đối cao sang một hệ thống đào tạo có chi phí hợp lý Một số trường đại học có quy mô nhỏ, đào tạo theo ngành hẹp, chuyên môn hóa sâu được tổ chức lại thành các trường đa ngành, đào tạo theo diện rộng; tỷ lệ số sinh viên/1 giảng viên được nâng lên Cơ sở đào tạo đại học được chủ động ký kết hợp đồng lao động với người lao động để tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy; có thể cho thuê cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm để nâng cao công suất và hiệu suất sử dụng; được tự chủ trong việc chi tiêu nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước và có thể tiếp tục sử dụng khoản kinh phí ngân sách nhà nước cấp chưa sử dụng hết vào cuối năm tài khoá cho năm sau
- Thay đổi cơ chế phân bổ và cung cấp ngân sách cho GDĐH công lập Mức phân bổ ngân sách cho cơ sở đại học công lập được ổn định theo định kỳ 3 năm và hàng năm tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định Nghị định 10/2002/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ cho phép trường đại học và cao đẳng được vay tín dụng để mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật; được giữ lại khấu hao cơ bản và tiền thu thanh lý tài sản để tái đầu tư tăng cường
cơ sở vật chất; được chủ động sử dụng số biên chế do cấp có thẩm quyền giao và thực hiện chế độ hợp đồng lao động theo qui định của Luật Lao động Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng quyết định mức chi tiêu nội bộ cho quản lý,
Trang 37nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do nhà nước qui định; được trả lương cho người lao động cao hơn gấp từ 2 đến 2,5 lần so với tiền lương do nhà nước qui định Khi nhà nước điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu hoặc thay đổi định mức chi, các trường tự bảo đảm trang trải các khoản chi tăng thêm từ nguồn thu sự nghiệp và các khoản chi tiết kiệm được Hàng năm căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, các trường được trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập; quỹ khen thưởng; quỹ phúc lợi và quỹ phát triển hoạt động
- Cơ sở GDĐH từng bước được chủ động thực hiện đa dạng hóa nguồn thu; tiến hành ký hợp đồng đào tạo, nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ, các hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh với các tổ chức kinh tế, văn hoá xã hội, tạo sự liên kết trực tiếp giữa đào tạo với thực tiễn, nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên và sinh viên, đồng thời tạo ra nguồn thu bổ sung cho trường đại học để cải thiện cơ sở vật chất và các điều kiện làm việc, cải thiện đời sống của giảng viên và sinh viên
- Đa kênh hóa hệ thống cung cấp và phân hóa mức tài trợ nguồn lực cho GDĐH; khuyến khích đầu tư nước ngoài vào GDĐH; coi trọng và thu hút các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài thông qua các chương trình hợp tác song phương
và đa phương với các nước và các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA); mở cửa GDĐH phù hợp với các điều khoản quy định của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) theo lộ trình cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Thứ ba, phát triển đội ngũ giảng viên được xem là đầu tư xây dựng lực lượng khoa học-một lực lượng sản xuất trực tiếp ra của cải vật chất cho xã hội
Trang 38Trên cơ sở cơ cấu ngành nghề, quy mô giảng viên ĐH và CĐ từng bước phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng Việc phát triển đội ngũ giảng viên được kết hợp giữa đào tạo mới và chính sách thu hút, tuyển dụng Thực hiện điều chỉnh cơ cấu đội ngũ giữa các lĩnh vực, ngành nghề Thay thế một bước chế độ biên chế bằng chế độ hợp đồng; tạo điều kiện để cán bộ giảng dạy giỏi dạy nhiều hơn và dạy ở nhiều trường khác nhau Thu hút cán bộ khoa học, cán bộ giáo dục giỏi trong cả nước và nước ngoài tham gia giảng dạy
Ở trong nước, mở rộng quy mô và số lượng các cơ sở đào tạo sau đại học đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội và đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình
độ tiến sĩ và thạc sỹ bổ sung lực lượng cho đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu
Biểu 12 Quy mô đào tạo sau đại học ở trong nước [28, 106]
Năm Chỉ tiêu được
giao
Số NCS đã tuyển
Chỉ tiêu được giao
Hiện nay cả nước có 162 cơ sở đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ và 108 cơ
sở đào tạo trình độ thạc sĩ, thực hiện đào tạo trên 300 chuyên ngành So với năm
1996 số cơ sở đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ tăng thêm 44 và số cơ sở đào tạo thạc sỹ
Trang 39tăng thêm 30 Giai đoạn 1997-2007 đã tuyến sinh được 11.498 nghiên cứu sinh (quy mô tuyển nghiên cứu sinh năm 2007 tăng 33,2% so với năm 1996) và 109.831 học viên cao học (quy mô tuyển sinh thạc sĩ năm 2007 tăng 439,2% so với năm 1996)
Ở nước ngoài, ngày 19 tháng 4 năm 2000 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 322/QĐ-TTg phê duyệt đề án gửi cán bộ khoa học, kỹ thuật đi đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước giai đoạn 2000-2005 và ngày 28 tháng 4 năm 2005 ký Quyết định số 356/QĐ-TTg phê duyệt đề án gửi cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước giai 2006-
2014 Kế hoạch hàng năm tuyển bình quân 400 chỉ tiêu (200 chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ; 100 chỉ tiêu đào tạo thạc sĩ; 40 chỉ tiêu đào tạo đại học và 60 chỉ tiêu thực tập khoa học) Các nước gửi đi đào tạo bao gồm Hoa Kỳ, Anh, Canada, Đức, Pháp,
Hà Lan, Nga, Úc, Bỉ, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước khác
2.1.2.3 Đổi mới công tác quản lý giáo dục đại học
Thứ nhất, đổi mới về quản lý vĩ mô của nhà nước, cùng với việc đổi mới môi trường pháp lý, công tác quản lý nhà nước bằng luật pháp cũng được tăng cường Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, điều tiết vĩ mô cơ cấu và quy mô GDĐH đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước trong từng thời kỳ, triển khai hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng GDĐH; thực hiện phân cấp hợp lý giữa bộ và trường; tăng quyền tự chủ cho các trường; đổi mới công tác quản lý GDĐH theo hướng mở rộng dân chủ; áp dụng 1 trong 3 hình thức: bầu cử, bổ nhiệm thăm dò
và chỉ định trực tiếp vào việc bổ nhiệm hiệu trưởng, chủ nhiệm khoa, chủ nhiệm