1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

57 1,4K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Hướng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Sách Phát Triển Giáo Dục Đại Học Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục Đại Học
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 508,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trường đại học và toàn hệ thống phát triển theo hướng linh hoạt và cởi mở hơn, tạo tiền đề cho sự hình thành nền GDĐH tiên tiến và sự phát triển của mô hình trường đại học hiện đại; tạo

Trang 1

hoặc ý kiến nêu còn dè dặt; bỏ dở giữa chừng Quỹ thời gian của các cán bộ được cử tham gia hoạch định hoặc thảo luận chính sách phát triển GDĐH bị hạn chế Sự hiểu biết của những người tham gia thảo luận chính sách phát triển GDĐH chưa toàn diện và thường có tính bảo thủ cao Những vấn đề đưa ra tọa đàm phát hiện ở các cuộc hội thảo chính sách phát triển GDĐH khá giống nhau hoặc lặp đi lặp lại

Thứ hai, các trường đại học, cao đẳng vẫn còn bị động trong hoạt động, điều hành

- Mặc dù được cam kết mở rộng quyền tự chủ nhiều hơn, các trường đại học và cao đẳng bị kiểm soát ngày càng chặt chẽ hơn Trường đại học và cao đẳng, kể cả công lập hay tư thục vẫn phải tuân thủ sự hướng dẫn của Bộ về tuyển sinh, thiết kế chương trình, tổ chức dạy và học Các trường đại học và cao đẳng

tư thục phải xin phê duyệt công nhận hội đồng quản trị và hiệu trưởng Cơ quan kiểm định chất lượng đào tạo được giao chức năng quản lý nhà nước và đặt dưới

sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo Các trường chịu sự thanh tra thường xuyên và bất thường của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc một cơ quan đại diện cho Bộ tại địa phương Tất cả những điều này đang làm chậm lại quá trình hình thành cơ chế quản lý và quản trị đại học có định hướng thị trường, hoặc làm khó khăn cho việc điều chỉnh kịp thời các chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Sự kiểm soát chặt chẽ của trung ương còn làm hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của người học, đồng thời tạo ra những khó khăn, rào cản trong việc xác định các mục tiêu ưu tiên trong lựa chọn chính sách phát triển Ngoài ra, cách thức tuyển sinh và cấp phát kinh phí như hiện nay

Trang 2

làm triệt tiêu sự cạnh tranh về chất lượng đào tạo Các trường có chương trình lạc hậu, ít chú ý hoặc không chú ý đến chất lượng đào tạo vẫn có thể tồn tại

Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng có ít quyền kiểm soát về chương trình và phương pháp đào tạo Trách nhiệm xã hội của cơ sở đào tạo chưa trở thành điều kiện bắt buộc thực hiện do hệ thống thể chế lỏng lẻo và thiếu các quy định pháp lý Điều lệ trường đại học ban hành năm 2003 quy định các trường phải thiết lập hội đồng trường, nhưng cho đến nay, số trường đã có hội đồng trường là rất ít hoặc có nhưng hoạt đông không đúng với vai trò, chức năng và nhiệm vụ Hiện nay chỉ có một số ít các trường đại học có năng lực thực hiện được các nguyên tắc quản trị riêng vì thiếu các nhà quản lý có khả năng thực hiện những nhiệm vụ, có năng lực phân tích chuyên môn các vấn đề quản lý giáo dục đại học và quản trị trường đại học

2.2.2.4 Quy trình chính sách và giám sát thực hiện chính sách

Chính sách phát triển GDĐH hiện nay hầu hết là loại chính sách thụ động

và mang tính thủ tục, áp dụng trong khu vực công nên quy trình chính sách phát triển GDĐH thường bắt đầu từ ý đồ mong muốn của nhà quản lý hơn là phân tích, đánh giá về nhu cầu và mục đích, bối cảnh kinh tế-xã hội, các điều kiện và nguồn lực, các tác động và hệ quả có thể xảy ra, những dự báo định tính và định lượng v.v…của một loại vấn đề nào đó mong muốn đưa vào áp dụng để phát triển GDĐH Việc soạn thảo chính sách thường do cơ quan quản lý chuyên trách thuộc Chính phủ (Bộ Giáo dục và Đào tạo) thực hiện để lấy ý kiến chuyên gia

Về nguyên tắc, việc lấy ý kiến chuyên gia thường thông qua các cuộc hội thảo hoặc trưng cầu ý kiến thẩm định bằng văn bản của các cơ quan chức năng liên

Trang 3

quan (Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính, Bộ Nội vụ…) Tuy nhiên, mức độ tiếp thu ý kiến của chuyên gia bị chi phối bởi mục tiêu và lợi ích của cơ quan đề xuất chính sách Có thể lấy quy trình xây dựng Luật Giáo dục là một ví dụ Rất nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng Luật Giáo dục năm 2005 cần phải bổ sung nhiều điều khoản khung định hướng cho những vấn đề rất gay cấn như chương trình trong giáo dục phổ thông, quản trị và tài chính trong giáo dục đại học, toàn cầu hoá trong giáo dục và cũng cần lược bớt đi khá nhiều điều khoản quá chi tiết như chương trình khung, tên gọi các loại bằng cấp theo từng nhóm ngành nghề (chỉ nên quy định những điều này trong văn bản dưới luật) nhưng chưa được tiếp thu, sửa đổi Thêm nữa, các văn bản dự thảo chính sách chưa có những phương án khác nhau với cách đánh giá, so sánh của từng phương

án, các ý kiến góp ý của các bên có liên quan, các tầng lớp xã hội và các kế hoạch thực thi chi tiết trước khi trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Vì vậy, một số chính sách như tuyển sinh "3 chung" hay cơ chế điểm sàn còn bất hợp lý, hiệu quả chưa cao

Việc thực hiện và theo dõi việc thực hiện chính sách, điều chỉnh và bổ sung chính sách, đề ra chính sách hay giải pháp mới theo sự xuất hiện các yếu tố phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách và đánh giá kết quả chính sách cũng có nhiều hạn chế Cũng tại Luật Giáo dục năm 2005, nhà nước giao quyền

tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho trường trung cấp, cao đẳng và đại học một loạt vấn đề, đặc biệt là việc xây dựng chỉ tiêu, tổ chức tuyển sinh, tổ chức đào tạo công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng…nhưng việc thực hiện hiện nay ra sao thì chưa có cơ quan giám sát, đánh giá cụ thể

Trang 4

Theo điều lệ trường đại học ban hành năm 2003 thì Hội đồng trường/Hội đồng quản trị là cơ quan quyền lực cao nhất, nơi quyết nghị, giám sát các chính sách và chủ trương lớn của nhà nước và của nhà trường do ban giám hiệu nhà trường tổ chức thực hiện Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, ở Việt Nam rất ít trường đại học thành lập được Hội đồng trường theo đúng nghĩa vì thành viên của Hội đồng trường vừa là hiệu trưởng vừa là Bí thư Đảng ủy, trong khi cơ chế hoạt động của Hội đồng trường và Đảng ủy có nhiều điểm trùng lắp nhau Trong khi Đảng ủy lại không chịu trách nhiệm đối với những quyết định/định hướng của mình mà người chịu trách nhiệm chính là hiệu trưởng và Hội đồng trường (nếu có)

2.2.2.5 Hợp tác quốc tế giáo dục đại học chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển giáo dục đại học trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc mở rộng hợp tác quốc tế để thúc đẩy quá trình hội nhập, nhưng hợp tác quốc tế của GDĐH Việt Nam đang ở trong giai đoạn mở đầu và mới chỉ tập trung chủ yếu vào việc cải thiện điều kiện

cơ sở vật chất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, máy móc và cử người đi học, mời chuyên gia vào tập huấn nâng cao trình độ Các chương trình đào tạo mang tính quốc tế và được giảng dạy bằng tiếng Anh ở các trường đại học Việt Nam chưa nhiều, làm hạn chế việc thu hút lưu học sinh nước ngoài đến học tại Việt Nam Nhiều đề án hợp tác quốc tế quá thiên về xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm đến mức không có người có trình độ kỹ thuật, ngoại ngữ

và chuyên môn để sử và khai thác hết tính năng, tác dụng của các máy móc hiện đại này, bảo quản, duy tu và vận hành có hiệu quả các phòng thí nghiệm tiên

Trang 5

tiến Chưa có nhiều trường mạnh dạn cải tiến chương trình đào tạo theo hướng quốc tế (dùng tài liệu giáo khoa quốc tế, áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ, linh hoạt trong việc bố trí chương trình với khối lượng môn học tự chọn tăng lên, lấy sinh viên làm trung tâm của quá trình dạy và học, đổi mới phương pháp giảng dạy)

Việc mở rộng hợp tác quốc tế đang làm xuất hiện những dấu hiệu của tình trạng chảy máu chất xám không chỉ các trường đại học mà cả các trường phổ thông Số sinh viên Việt Nam chọn sống và học tập ở nước ngoài tăng nhanh Xét trên tất cả các phương diện, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình quốc tế hoá hệ thống GDĐH Đặc biệt, đó là việc thiết lập một hệ thống GDĐH hiện đại với các đặc điểm Việt Nam Điều này phụ thuộc chủ yếu vào các thay đổi về thái độ và giá trị Điều này đòi hỏi trong hình thành chính sách phát triển, việc cải thiện danh tiếng quốc tế của GDĐH Việt Nam phải trở thành mục đích tối thượng

Thách thức lớn nhất trong quá trình đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế của GDĐH Việt Nam là tư duy về phát triển GDĐH chưa được đổi mới một cách triệt để, đồng bộ và mang tính chiến lược tổng thể Từng thành viên của hệ thống đều cố gắng đổi mới trong sự phối kết lỏng lẻo và rời rạc của hệ thống Cản trở lớn nhất là sự không rõ ràng về quan hệ sở hữu, quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia hệ thống GDĐH Thách đố nổi bật là nhận thức để điều hoà các tác động của cơ chế thị trường với các tác động bù đắp của hệ thống chính trị, kinh tế và văn hoá Chưa có sự nhận dạng rõ ràng về qui luật hoạt động và tác dụng các mối liên kết giữa 4 thành tố của cơ chế vận hành GDĐH trong nền kinh

Trang 6

tế thị trường, đó là: sự quản lý nhà nước, sự tham gia của xã hội, nhà trường và thị trường

Các nghiên cứu về chiến lược phát triển GDĐH dưới góc độ kinh tế giáo dục còn thiếu và yếu, và nhiều khi phải né tránh không dám coi sản phẩm GDĐH là một loại dịch vụ hàng hoá công cộng đặc biệt, trong khi điều này là một tồn tại khách quan trong lý luận khoa học kinh tế giáo dục và trong thực tiện vận hành của GDĐH ở khu vực và trên thế giới Nhiều khái niệm, giá trị kinh tế, văn hoá và xã hội qui chiếu chưa thống nhất trong vận hành GDĐH cần phải đánh giá lại Phải rà soát và định nghĩa lại việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, quản lý đào tạo, tài chính trong tư duy truyền thống mà chúng ta quá quen thuộc từ nhiều năm truớc

TIỂU KẾT CHƯƠNG II

Từ khi đất nước cải cách và mở cửa ra thế giới bên ngoài (năm 1986), Đảng và Nhà nước rất coi trọng giáo dục và đào tạo, đặc biệt GDĐH để đào tạo nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và hiện đại hoá quốc gia Thực hiện nhiệm vụ chiến lược đó, trong từng giai đoạn của quá trình đổi mới, một số chủ trương, chính sách và biện pháp phát triển GDĐH đã được triển khai áp dụng Nhờ đó, GDĐH nước ta đang thực hiện một cuộc tái cấu trúc sâu rộng nhất và lớn nhất kể từ sau năm 1954 Nó đang chuyển từ hệ thống GDĐH tập trung mà ở đó chính phủ trung ương đưa ra các quyết định là chính, sang một hệ thống GDĐH phi tập trung để tăng cường tính hiệu quả, bằng cách trao nhiều trách nhiệm và quyền tự chủ hơn nữa cho các cơ sở cung ứng các dịch vụ GDĐH Cơ cấu tổ chức của các

Trang 7

trường đại học và toàn hệ thống phát triển theo hướng linh hoạt và cởi mở hơn, tạo tiền đề cho sự hình thành nền GDĐH tiên tiến và sự phát triển của mô hình trường đại học hiện đại; tạo ra các mối liên hệ mật thiết và trực tiếp hơn giữa hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các trường với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, mở rộng phạm vi hợp tác và tăng cường hội nhập với các nền đại học trong khu vực và trên thế giới GDĐH Việt Nam đang tiến gần đến cách tiếp cận thị trường dịch vụ GDĐH, thông qua việc tìm kiếm các nguồn lực tài chính để tồn tại trong nền KTTT Công tác phát triển đội ngũ giảng viên, cơ chế tài trợ, hệ thống quản lý, hình thức khoá học và tuyển sinh, cũng như đưa sinh viên tốt nghiệp đến thế giới việc làm đã có những thay đổi lớn lao

Tuy nhiên, GDĐH Việt Nam cũng đang phải đương đầu với những khó khăn trong quá trình mở rộng hệ thống và cải thiện chất lượng đào tạo do điều kiện ngân sách hạn hẹp; nhiều vấn đề của nền kinh tế chuyển đổi, những thách thức phát sinh từ tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng trưởng kinh tế, biến đổi xã hội

do chuyển đổi kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang KTTT, quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá và những yêu cầu phát sinh từ bên trong của hệ thống GDĐH chưa được thể chế hoá So với yêu cầu, chất lượng giáo dục đại học vẫn đang còn là một thách thức rất lớn Một bộ phận không nhỏ giảng viên đại học không

có điều kiện hoặc ngại học tập nên không thường xuyên cập nhật tri thức mới, ngại đổi mới phương pháp giảng dạy Cơ sở vật chất cho việc giảng dạy và học tập tại các cơ sở GDĐH chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo Các điều kiện về tài chính, trang thiết bị phục vụ dạy và học, nhất là ở các trường đào tạo các nhóm ngành kỹ thuật, công nghệ, khoa học cơ bản (tự nhiên, xã hội) và chăm sóc sức

Trang 8

khỏe còn thiếu Lương và các khoản phụ cấp theo lương của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn rất thấp; việc đầu tư cho giáo dục còn dàn trải, thiếu sự thống nhất và phối hợp giữa các nguồn đầu tư và các nhà đầu tư

Từ nội dung nghiên cứu của Chương này cho thấy, mặc dù chính sách phát triển GDĐH nước ta đã có nhiều thay đổi trong hơn 20 năm qua, nhưng những thay đổi diễn ra chậm chạp, cẩn trọng nên một số trường đại học vẫn được bao cấp về tuyển sinh và ngân sách chi tiêu thông qua hệ thống pháp lý Có thể nói, cải cách GDĐH Việt Nam chỉ mới bắt đầu Mối quan hệ giữa các trường đại học

và chính phủ vẫn chưa được xác lập một cách rõ ràng Chính sách trong nhiều lĩnh vực vẫn chưa được thực hiện

Trang 9

- Đất nước “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung xây dựng

có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng với công nghệ cao, sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị và trang bị lại kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và đáp ứng nhu cầu an ninh quốc phòng, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển và xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Chất lượng đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng lên một mức đáng kể Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được định hình

về cơ bản Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường Vị thế trong quan

hệ quốc tế được củng cố và nâng cao”[45] Đến năm 2020, đất nước đạt tiêu chí của một nước công nghiệp hoá, đủ sức hội nhập vào quỹ đạo phát triển chung của thế giới hiện đại và khẳng định được vị thế xứng đáng trong khu vực, không

Trang 10

bị lệ thuộc và tăng cường hợp tác với các nước trên cơ sở phân công lao động quốc tế và nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia; xã hội hiện đại, phát triển hài hoà, toàn diện trên tất cả các mặt: Kinh tế, khoa học, văn hóa, chính trị, đạo đức

và môi trường với các điều kiện về kết cấu hạ tầng; khung thể chế; đội ngũ cán

bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý nhà nước; hoạt động KH&CN Năm 2020 chỉ số HĐH sẽ ở bậc 80-85/174 nước trong bảng xếp hạng của LHQ, đạt được trình độ phát triển trung bình của thế giới Về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng GDP công nghiệp và xây dựng trong tổng GDP của cả nước đạt 42% (năm 2010)

và trên 45% (năm 2020) Tỷ lệ nhóm ngành sử dụng công nghệ cao đạt khoảng

40 - 50% Tốc độ đổi mới công nghệ ngành công nghiệp đạt trung bình 12 - 15%/năm [125]

- Sự phát triển tăng tốc của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông (TT) CNTT và TT đang mang lại những thay đổi lớn lao trong cách thức truyền thông, lưu giữ và tái tạo tri thức Nếu trước đây thư viện là nơi chứa sách và tạp chí thì ngày nay internet là nơi cung cấp các phương tiện và công cụ cho mọi đối tượng có nhu cầu tiếp cận với hệ thống các

cơ sở dữ liệu một cách dễ dàng và thuận lợi Các nhà khoa học dùng internet để thực hiện việc nghiên cứu, phân tích và phổ biến kết quả nghiên cứu Các cơ sở đào tạo sử dụng CNTT và TT để thực hiện việc dạy trực tuyến nhiều chương trình cấp bằng cho sinh viên bên ngoài nhà trường, thậm chí bên ngoài biên giới quốc gia Kết quả là giáo dục từ xa tăng trưởng rất nhanh cả ở phạm vi quốc gia

và quốc tế CNTT và TT cũng đang ảnh hưởng đến phương pháp dạy và học, cũng như việc quản lý GDĐH và quản trị trường trường đại học Với ưu điểm của tốc độ truyền thông nhanh, dễ dàng, bảo đảm độ tin cậy và tính chính xác,

Trang 11

CNTT và TT cho phép liên kết các trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn thế giới Nó còn cho phép các trường đại học, cơ sở nghiên cứu và các cơ sở đào tạo tạo lập hoặc đẩy mạnh những hoạt động hợp tác quốc tế; xây dựng các chương trình đào tạo đa quốc gia một cách thuận lợi Vì thế, mở rộng việc ứng dụng những thành quả đạt được của CNTT và TT đang từng bước trở thành tâm điểm của môi trường học thuật toàn cầu trong thế kỷ XXI Ngoài phát triển CNTT và TT, nhiều lĩnh vực công nghệ khác như hạt nhân và điện tử, hay các khoa học tự nhiên, thiên văn học, các nghiên cứu về môi trường, sinh học, v.v

đã đạt được các thành tựu to lớn và đang phát triển với tốc độ ngày càng nhanh Làm thế nào GDĐH Việt Nam thích ứng với sự phát triển mới của khoa học và công nghệ và làm thế nào GDĐH Việt Nam có thể đào tạo nhân lực có trình độ

và chất lượng ngày càng cao hơn và tốt hơn phải trở thành mối quan tâm chung của tất cả các nhà hoạch định chính sách phát triển GDĐH ở cả cấp hệ thống và cấp trường đại học

- Toàn cầu hóa và quốc tế hoá đã trở thành xu hướng không thể đảo ngược trong cuộc sống xã hội hiện đại Thực hiện tốt quá trình quốc tế hoá và toàn cầu hóa GDĐH có thể sẽ mang lại ý nghĩa quyết định cho những thành công về giáo dục của đất nước Tuy nhiên, vị thế GDĐH nước ta trong thế giới của toàn cầu hoá và quốc tế hóa không có nhiều lợi thế Điều này có nghĩa là GDĐH Việt Nam có thể sẽ bị phụ thuộc nhiều hơn vào các siêu cường học thuật nếu không

có những giải pháp hợp lý Trong nước, các trường đại học mạnh luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phân phối kiến thức, trong khi các cơ sở và các

hệ thống yếu hơn với nguồn lực ít ỏi và các chuẩn mực học thuật thấp hơn đành phải chấp nhận sự phụ thuộc Về nguyên tắc, tham gia vào quá trình toàn cầu hoá

Trang 12

và quốc tế hóa sẽ mở ra sự tiếp cận và tạo thuận lợi cho sinh viên và các học giả trong việc nghiên cứu và làm việc ở các khu vực khác nhau bên ngoài biên giới quốc gia Song trên nhiều bình diện, thực hiện quá trình này không có nghĩa là xóa đi ngay được các bất bình đẳng hiện đang tồn tại và các rào cản mới đang được dựng lên Để đối phó với môi trường toàn cầu hóa và quốc tế hóa, các trường đại học và các trường cao đẳng cần hiện thực hóa các mục tiêu về đổi mới cấu trúc chương trình và phương pháp giáo dục

- GDĐH thế giới đã bước vào một giai đoạn thay đổi nhanh và thậm chí mang tính cách mạng Hệ thống này đang trở nên cạnh tranh nhiều hơn Các nhà hoạch định chính sách đang đưa ra các lập luận ủng hộ cho sự ít phụ thuộc hơn vào các quy định, sử dụng nhiểu hơn các nguồn lực thị trường cũng như khả năng hạch toán Bản thể của việc dạy và học ngày càng biến đổi do công nghệ

số Các nhà cung cấp dịch vụ GDĐH mới - dưới dạng các cơ sở ảo - đang mở rộng sự lựa chọn cho sinh viên Tất cả các cơ sở GDĐH trên thế giới – công cộng hoặc tư nhân - đều chịu áp lực phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác và thiết lập các dòng thu nhập mới Một số các cơ sở tự coi mình là các tổ hợp đào tạo có tính toàn cầu thông qua việc thiết lập các chi nhánh trên toàn thế giới và

mở rộng đối tác toàn cầu Các thay đổi này hợp lại tạo nên một hệ thống trong đó khả năng cạnh tranh của các cơ sở đào tạo trong thị trường dịch vụ GDĐH vừa

có tính đáp ứng, vừa có tính kinh doanh và linh hoạt Điều này có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định đến sự sống còn của mỗi trường đại học Tác động của cuộc cạnh tranh này, cùng với việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ số và sự thay đổi những yếu tố xã hội có thể sẽ đưa lại nhiều hứa hẹn, nếu các nhà hoạch định

Trang 13

chính sách và các nhà lãnh đạo, quản lý GDĐH Việt Nam không chỉ đáp ứng,

mà còn kịp thời tận dụng được các cơ hội

- Yêu cầu cải cách và đổi mới xã hội vẫn tiếp tục tăng lên trong môi trường xung đột chính trị thế giới cả ở phạm vi khu vực và toàn cầu Từ cuối thời

kỳ Chiến tranh lạnh, sự phân chia quyền lực trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể, nhưng thế giới vẫn chưa ra khỏi tình trạng mất ổn định và đối đầu Hơn nữa, việc dịch chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường ở trong nước đã dẫn đến các thay đổi trong quản lý, tuyển sinh, học bổng của sinh viên

và chương trình giảng dạy Đồng thời các xung đột về văn hoá Việt Nam với các nền văn hoá phương Tây và các nước khác cũng là những thách thức cần phải vượt qua trong hình thành chính sách phát triển GDĐH Các trường đại học và cao đẳng là những cơ sở văn hoá, phải có trách nhiệm trong việc quyết định tiếp nhận cái gì, vay mượn cái gì và từ bỏ cái gì của văn hoá Phương Tây và nước khác Thông qua đó, các trường đại học và cao đẳng lựa chọn các yếu tố ưu việt

từ kho tàng di sản văn hoá quốc tế để làm giàu văn hoá Việt Nam Một thách thức khác nằm ngay trong sự va chạm giữa văn hoá Việt Nam truyền thống và hiện đại Việt Nam là nước với lịch sử hàng nghìn năm và có nền tảng văn hoá rực rỡ Như một di sản của quá khứ, nền văn hoá Việt Nam chắc chắn sẽ vừa tinh tuý vừa thiếu hụt Do đó, hệ thống GDĐH Việt Nam sẽ phải góp phần tạo ra một nền văn hoá mới trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa những giá trị đích thực của nền văn hoá truyền thống, dân tộc và những giá trị văn hóa thời đại du nhập từ các nước khác

3.1.2 Quan điểm hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam những năm tới

Trang 14

Sau hơn hai thập niên đổi mới cùng với đất nước và sau gần 8 năm thực hiện Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010, nền giáo dục nói chung và GDĐH nước ta nói riêng đã đạt được một số thành tựu, nhưng cũng còn rất nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới Với việc là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam

sẽ hội nhập một cách toàn diện và ngày càng sâu, rộng vào các quá trình phát triển của thế giới Điều đó đặt ra những yêu cầu mới đối với chính sách phát triển GDĐH trong những năm đầu của thế kỷ XXI Chính sách phát triển GDĐH phải tạo ra một sự thay đổi căn bản để khắc phục những yếu kém bất cập; thể hiện hệ

tư duy đổi mới, xoá bỏ thói quen bao cấp đối với GDĐH, chuyển hướng GDĐH

từ sự nghiệp công ích thuần túy sang cơ chế dịch vụ phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền GDĐH tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH, HĐH và nâng cao dân trí; tác động đến sự phát triển của KH và CN, làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo tồn và phát huy những tinh hoa của dân tộc, góp phần tạo nên sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong một thế giới hội nhập Trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, chính sách phát triển GDĐH phải đạt được những mục tiêu sau đây:

Thứ nhất, đa dạng hóa mô hình hệ thống GDĐH Theo đó, chuyển hệ thống GDĐH từ chỗ chỉ đào tạo hàn lâm hoặc chủ yếu hàn lâm sang hoạt động theo mô hình vừa đào tạo hàn lâm, vừa kết hợp với mô hình doanh nghiệp Chính sách phát triển GDĐH phải hướng đến việc đào tạo con người Việt Nam

có sức khỏe tốt, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức; có năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động và sáng tạo; có tri thức và có

Trang 15

kỹ năng làm việc toàn cầu; khả năng thích nghi nhanh chóng với môi trường việc làm không ngường biến đổi Chính sách phát triển GDĐH phải đặt trọng tâm vào việc tăng cường đào tạo các kỹ năng về công nghệ, thực hành kỹ thuật; những kiến thức cơ bản để có thể hiểu biết vững chắc về khoa học, công nghệ; nâng cao

kỹ năng về tư duy để làm sao có được tư duy phê phán và phân tích logic sáng tạo, mở rộng, linh hoạt và biết sử dụng các kết quả phân tích vào trong thực tiễn để tìm ra các giải pháp và đưa ra các quyết định; rèn luyện kỹ năng giao tiếp và năng lực ngoại ngữ hiệu quả Người học được học và hiểu biết, tôn trọng và tiếp thụ các nền văn hoá khác nhau để có đủ khả năng hoà nhập với các cộng đồng, dân tộc khác trên thế giới

Chính sách phát triển GDĐH khuyến khích và thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy tại các trường đại học; áp dụng phương thức đào tạo hướng nghiệp và vừa học vừa làm cho giảng viên để họ thực hiện được sứ mạng của người hướng dẫn sinh viên, thay vì vai trò trung tâm trong việc truyền tải thông tin và kiến thức; tăng cường đầu tư tài chính vào trang thiết bị, bao gồm phần cứng và phần mềm và quan trọng nhất là nguồn nhân lực; cải thiện và tăng cường năng lực tổng thể của cơ sở đào tạo; xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học và quản lý đại học có tri thức và kỹ năng đạt đẳng cấp quốc tế; xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất hiện đại; phát triển hệ thống dịch vụ công trong giáo dục đại học Cần tạo ra bước chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô đào tạo; đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao trí tuệ của dân tộc; xây dựng đội ngũ nhân lực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước; tạo môi trường cởi mở cho sinh viên thuận lợi

Trang 16

chuyển đổi học tập và nghiên cứu giữa các trường đại học trong nước và nước ngoài Mở cửa và hội nhập để đưa GDĐH Việt nam đến với các nền GDĐH trên thế giới; trên cơ sở đó tăng cường tính minh bạch và tính cạnh tranh của GDĐH Việt Nam GDĐH chấp nhận một hệ thống bằng cấp dễ hiểu và dễ so sánh để quảng bá khả năng được tuyển dụng làm việc của các sinh viên tốt nghiệp ở cả trong và ngoài nước; triển khai hệ thống đào tạo theo chu trình Chính sách phát triển GDĐH cần có sự chuẩn bị tốt nhất để chủ động tiếp nhận xu thế giáo dục xuyên biến giới Chính phủ cần có chính sách ưu tiên đổi mới tài chính GDĐH không chỉ trong việc giao ngân sách đào tạo, mà còn ban hành khung pháp lý cho các trường đại học mở rộng các phương thức huy động nguồn thu Đây chính là một trong những thách thức chủ yếu của chính sách tài chính GDĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá

Thứ hai, chuyển hệ thống GDĐH từ chỗ đào tạo theo diện hẹp sang đào tạo theo diện rộng Áp dụng quy trình giáo dục liên thông trong hệ thống giáo dục chính thống; tạo điều kiện để mở rộng giáo dục sau trung học đáp ứng nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế-xã hội của thời kỳ CNH, HĐH; khắc phục tình trạng mất cân đối về phát triển GDĐH giữa các vùng, miền; sự bất hợp

lý về cơ cấu trình độ, ngành nghề đào tạo; tăng cường năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao thỏa mãn đồng thời 3 yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để góp phần phát triển kinh tế xã hội thông qua các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, triển khai, tư vấn và phục vụ xã hội Các cơ sở giáo dục đại học là các trung tâm trí tuệ và văn hóa của cộng đồng, là nơi sản sinh và phát triển tri thức, bảo tồn và phát huy những tinh hoa của dân tộc và

Trang 17

nhân loại, nơi đề xuất các ý tưởng mới, các dự báo, là tác nhân thúc đẩy tiến bộ

xã hội GDĐH là hệ thống bao gồm các cơ sở giáo dục thực hiện toàn bộ hoặc một phần các chương trình giáo dục sau trung học, được tổ chức một cách đa dạng về mục tiêu, cơ cấu và phương thức đào tạo, về loại hình sở hữu, nguồn lực huy động Hệ thống đó phải gắn kết chặt chẽ, có các cấp học và chương trình đào tạo liên thông với nhau trong và ngoài nước, gồm nhiều đầu vào và đầu ra, đảm bảo cho mỗi người dân có thể tiếp cận GDĐH theo một phương thức và loại hình nào đó ở bất cứ lúc nào và không chỉ một lần trong cả cuộc đời Hệ thống đó phải phát triển nhanh nhằm sớm đạt quy mô GDĐH đại chúng; phải được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và quốc tế hóa theo từng loại hình và đảm bảo chất lượng để làm nòng cốt cho một xã hội học tập

Th ba, chuy n ph ng th c qu n lý h th ng GD H t t p trung sang c ch th tr ng có s qu n lý c a nh n c Cải cách hả thảng hảnh chính vả điảu hảnh, bao gảm tái đảnh hảảng mải quan hả chính phả vả trảảng đải hảc, xác lảp tả cách pháp lý cảa các cả sả GDảH, tảo thêm sả tả chả cho các trảảng đải hảc đả hả có thả vản hảnh theo nhu cảu phát triản kinh tả-xã hải vả nhu cảu thả trảảng lao đảng, chả không phải chảu theo quyảt đảnh cảa các kả hoảch cảa chính phả Nhả nảảc sả thảc hiản chảc nảng cảa mình thông qua viảc thiảt lảp các luảt vả GDảH vả cung cảp các chả dản chính sách thông qua viảc điảu phải vả đánh giá Nhả nảảc quản lý GDảH theo hảảng chuyản mảnh sang quản lý vả mô, tảng cảảng hoảt đảng thanh tra, kiảm tra vả giám sát viảc thảc hiản luảt pháp Phát huy vai trò cảa các tả chảc quản chúng, đảc biảt lả các hải nghả nghiảp trong viảc giám sát nải dung vả chảt lảảng các hoảt đảng giáo dảc Các cả sả GDảH có quyản tả

Trang 18

chả vả chảu trách nhiảm xã hải Hả thảng đảm bảo chảt lảảng vả quy trình kiảm đảnh công nhản chảt lảảng phải đảảc xây dảng vả triản khai thảảng xuyên đả thúc đảy nâng cao chảt lảảng đảng thải đảm bảo sả minh bảch vả tính hiảu quả cảa các hoảt đảng GDảH Xây dảng xã hải hảc tảp vả hảc tảp suảt đải; đảm bảo cho tảt cả các công dân Viảt Nam bình đảng vả cả hải vả quyản đảảc hảc đải hảc Thảc hiản phảảng châm cảa UNESCO: “hảc đả biảt, hảc

đả lảm viảc, hảc đả cùng chung sảng vả hảc đả tản tải”; tảng cảảng vả mả rảng phảm vi sả dảng công nghả thông tin trong GDảH; phát triản giáo dảc tả xa mảt cách hiảu quả vả hình thảnh mô hình đải hảc không hiản diản vảt chảt nhảm bả sung cho viảc truyản đảt giáo dảc trảc tiảp theo truyản thảng Nhả nảảc ngản chản đảc quyản trong viảc cung cảp dảch vả GDảH, tảo môi trảảng cảnh tranh lảnh mảnh, bình đảng theo luảt pháp đả thúc đảy phát triản GDảH phải phát huy vai trò lảm chả dảa cho các bảc giáo dảc khác, đảc biảt trong viảc nâng cao chảt lảảng đải ngả giáo viên vả truyản bá các ý tảảng mải vả nải dung vả phảảng pháp dảy vả hảc; ngản ngảa tình trảng chảy máu chảt xám; hản chả nhảng ảnh hảảng cảa chả nghảa thảc dân, sả bóc lảt vả bảt công trong viảc khai thác, thả hảảng vả sả hảu nguản tải nguyên tri thảc mả trí tuả cảa cả dân tảc vả nhân loải

sáng tảo ra trên phảm vi toản cảu

Thứ tư, chuyển hệ thống GDĐH từ đơn thành phần sở hữu sang đa thành phần sở hữu Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, khi vấn đề nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác của tất cả các khâu của nền kinh tế quốc dân được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung xuyên suốt thì ý

Trang 19

nghĩa kinh tế-xã hội của GDĐH được tăng lên một cách đáng kể trên mọi bình diện Khi tính đến vai trò quan trọng của trường đại học trong việc phát triển kinh tế và văn hoá xã hội của đất nước, đẩy nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ, Nhà nước XHCN cần dành không ít những nguồn vốn đầu tư cho GDĐH

Vì vậy, khối lượng chi phí các nguồn dự trữ vật tư, lao động và tài chính để đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật trình độ cao cần được tăng lên không ngừng và mối quan hệ qua lại của trường đại học với quá trình tái sản xuất xã hội cũng thường xuyên được tăng cường Để có thước đo sử dụng các nguồn khan hiếm

xã hội một cách hiệu quả nhất cho GDĐH, cần sử dụng những hình thức biểu hiện của các quy luật kinh tế trong lĩnh vực GDĐH Việc vận dụng các quy luật kinh tế không làm biến dạng bản chất của loại dịch vụ hàng hóa công ích của GDĐH, mà nó làm cho các lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội (giữa lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực không sản xuất vật chất vốn có những quan hệ mật thiết với nhau) phát triển nhịp nhàng, cân đối hơn và cùng đưa lại lợi ích cao hơn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, GDĐH Việt Nam cần chủ động hướng tới các cải cách tương tự như ở các nước trên thế giới Hướng đi chung hiện nay của các nước trên thế giới (không phân biệt trình độ phát triển) là thiết lập hệ thống GDĐH pha trộn giữa các cơ sở đào tạo công lập và tư thục Hệ thống GDĐH pha trộn các thành phần sở hữu cho phép linh hoạt và đa dạng hơn trong việc cung cấp các dịch vụ GDĐH nhờ việc nhấn mạnh tầm quan trọng của trách nhiệm cá nhân và việc khuyến khích cộng đồng địa phương, các tổ chức kinh tế-xã hội tạo ra các cơ hội giáo dục bổ sung góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng ngân sách cho nhà nước Sự thiết lập cơ chế phân chia các nguồn lực tài

Trang 20

chính theo định hướng thị trường, cũng như việc mở rộng số lượng và đối tượng các sinh viên trả tiền học phí trên cơ sở mở rộng khu vực GDĐH ngoài công lập

là điều kiện tạo ra một mối tương tác chặt chẽ hơn giữa lĩnh vực công nghiệp và lĩnh vực GDĐH Việc chấp nhận hệ thống GDĐH đa thành phần sở hữu cũng chính là giải pháp tối ưu hỗ trợ quá trình đưa các lực lượng thị trường tham gia vận hành nền GDĐH Nó cũng giúp cho sự hiểu biết về thị trường hoá GDĐH một cách đầy đủ hơn thông qua việc xử lý mối liên hệ giữa việc giảm độc quyền nhà nước trong lĩnh vực công và việc tạo ra nhiều cơ hội GDĐH để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, sẽ là sai lầm khi lập luận rằng nhà nước hoàn toàn rút khỏi lĩnh vực GDĐH, hoặc chí ít có xu hướng coi nhẹ vai trò và trách nhiệm đối với GDĐH

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI

Trong số các nước có nền kinh tế chuyển đổi trên thế giới hiện nay, Việt Nam được thừa nhận như một trong số các nước tương đối thành công vì các chính sách đổi mới đã hình thành một cách hệ thống và đã được áp dụng trong thực tiễn phù hợp với nền tảng văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù từ cuối những năm 1980 đến nay Cùng với việc tăng trưởng của GDP hàng năm, mức sống của nhân dân đã được cải thiện một bước Trong lĩnh vực GDĐH, quá độ sang mô hình kinh tế mới đã hình thành hệ thống chính sách cải cách bước đầu phản ánh được những biến đổi sâu sắc hoặc đánh giá lại một số khái niệm có tính truyền thống Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống chính sách phát triển mới cho

Trang 21

GDĐH là một công việc cực kỳ khó khăn, vì hệ thống này đang tồn tại một quán tính về cấu trúc nặng nề hình thành trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với chính sách phát triển GDĐH trong giai đoạn hiện nay và một số năm sắp tới là tạo lập những tiền đề và điều kiện cho GDĐH tiếp tục tự đổi mới để có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của kinh tế-xã hội Nhằm đạt được điều đó, việc hoàn thiện chính sách phát triển GDĐH trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI cần tập trung vào giải những vấn đề sau đây:

3.2.1 Thúc đẩy tăng trưởng về quy mô, số lượng sản phẩm giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội

Th nh t, v quy mô, GDảH lả hả thảng bao gảm các cả

sả giáo dảc thảc hiản toản bả hoảc mảt phản các chảảng trình giáo dảc sau trung hảc, đảảc tả chảc mảt cách

đa dảng vả mảc tiêu, cả cảu vả phảảng thảc đảo tảo, vả loải hình sả hảu, nguản lảc huy đảng Hả thảng đó phải

có các cảp hảc vả chảảng trình đảo tảo liên thông vải nhau ả cả trong vả ngoải nảảc, gảm nhiảu đảu vảo vả đảu

ra, đảm bảo cho mải ngảải dân có thả tiảp cản GDảH theo mảt phảảng thảc vả loải hình nảo đó ả bảt cả lúc nảo vả không chả mảt lản trong cả cuảc đải Các cả sả GDảH phải

lả các trung tâm trí tuả vả vản hóa cảa cảng đảng, lả nải sản sinh vả phát triản tri thảc, bảo tản vả phát huy nhảng tinh hoa cảa dân tảc vả nhân loải, nải đả xuảt các

ý tảảng mải, các dả báo, lả tác nhân thúc đảy tiản bả xã

hải

Th hai, v s l ng, phát triản sả lảảng sinh viên dảa trên kảt quả phân tích nhu cảu vả thông tin thả trảảng lao đảng; quy đảnh vả tích lảy kiản thảc đả chuyản

Trang 22

đải vản bảng đánh dảu tảng giai đoản hảc tảp nhảm tảng thêm cả hải hảc tảp vả chuản hóa theo tảng loải hình vả đảm bảo chảt lảảng đả lảm nòng cảt cho mảt xã hải hảc tảp; sảm đảa GDảH Viảt Nam thảnh nản GDảH đải chúng có

sả mảnh đảo tảo nguản nhân lảc trình đả cao, thảa mãn nhu cảu nâng cao dân trí vả góp phản phát triản kinh tả

xã hải thông qua các hoảt đảng giảng dảy, nghiên cảu,

triản khai, tả vản vả phảc vả xã hải

3.2.2 Tiếp tục đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục đại học

Thứ nhất, cơ cấu lại hệ thống GDĐH quốc dân và hệ thống nhà trường đại học trong cả nước

- Xác định quan niệm GDĐH bao gồm mọi chương trình giáo dục sau trung học ngắn hạn hoặc dài hạn cung cấp cho những người đã có trình độ trung học kiến thức, kỹ năng, thái độ thích hợp theo các hướng ngành nghề khác nhau,

có tính chất hàn lâm hoặc ứng dụng; khẳng định cơ cấu trình độ cơ bản của GDĐH bao gồm trình độ đại học và trình độ sau đại học với các bằng cấp tương ứng là: cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ

- Phân chia chương trình GDĐH theo hai hướng chính: hướng nghiên triển khai và hướng nghề nghiệp-thực hành Hướng nghiên cứu-triển khai về cơ bản vẫn giữ cơ cấu trình độ theo mô hình 4+2+3 (cử nhân 4, thạc sĩ 2, tiến sĩ 3 năm) Hướng nghề nghiệp-thực hành thiết kế cơ cấu trình độ theo mô hình 2+2+1+1+3, tức là thực hiện phân đoạn thời gian đào tạo thành nhiều giai đoạn (chương trình đại học: 2+2; cao học: 1+1) để tăng thêm cơ hội học tập và phân tầng trình độ nhân lực được đào tạo Ưu tiên phát triển quy mô đào tạo theo

Trang 23

cứu Mở rộng quy mô giai đoạn đầu, các chương trình cao đẳng và thu hẹp quy mô các giai đoạn tiếp sau nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo cơ cấu hình tháp về trình độ nhân lực đáp ứng nhu cầu sử dụng Quy định sự tương đương trình độ và chuyển đổi giữa hướng nghiên cứu- triển khai và hướng nghề nghiệp-thực hành ở mọi trình độ sau trung học.

- Phân chia hệ thống cơ sở GDĐH theo chức năng và củng cố từng bộ phận: chuyển một bộ phận lớn hệ thống trung học chuyên nghiệp sang cao đẳng

kỹ thuật với bằng cử nhân cao đẳng kỹ thuật 2 năm; củng cố và phát triển các trường cao đẳng cộng đồng trên cơ sở xác định rõ mục tiêu phương thức thành lập, đầu tư, phương thức hoạt động đáp ứng nhu cầu học tập của từng cộng đồng, phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH tại địa phương; xây dựng trường đại học kiểu mới, hiện đại đạt trình độ tiên tiến trong khu vực làm hình mẫu cho hệ thống GDĐH

- Thành lập các trường đào tạo sau đại học trong các cơ sở nghiên cứu khoa học cấp quốc gia và chuyển các viện này thành các trường đại học nghiên cứu; sáp nhập một số viện, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành vào các trường đại học; xây dựng các viện, trung tâm nghiên cứu trọng điểm quốc gia trong các trường đại học hàng đầu; xây dựng các trường đại học trong các doanh nghiệp lớn để tăng cường việc gắn đào tạo với sử dụng

- Phát triển các trường đại học mở và hệ thống đào tạo từ xa ở quy mô toàn quốc bảo đảm nguyên tắc: mở đầu vào theo phương thức ghi danh, chuẩn về chương trình và kiểm tra đánh giá, bằng cấp được công nhận tương đương với hệ chính quy

Trang 24

- Mở rộng khu vực GDĐH tư thục nhằm khai thác triệt để các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để phát triển GDĐH; bảo đảm quyền sở hữu tư nhân trong các cơ sở đào tạo tư thục Cơ sở GDĐH tư thục đăng ký hoạt động theo một phương thức sử dụng lợi nhuận nhất định và thực hiện kiểm toán công khai; chuyển loại trường bán công sang loại hình tư thục bằng cách giao cho tập thể, tư nhân quản lý và hoàn trả vốn cho nhà nước; khuyến khích các trường đại học có

uy tín của nước ngoài độc lập hoặc liên kết với các trường đại học nước ta thành lập các cơ sở đào tạo

- Đảm bảo sự đa dạng về mục tiêu và hình thức đào tạo, chuẩn hóa đối với từng loại hình, khuyến khích phát triển các trường đa ngành và đa cấp Tăng cơ hội tiếp cận đối với mọi trình độ và lứa tuổi, tạo quy trình nhập học mềm dẻo nhờ các chương trình đào tạo liên thông, chuyển tiếp (lên và xuống) giữa các trường và trong toàn hệ thống Đảm bảo chất lượng thông qua hệ thống kiểm định công nhận rộng khắp và toàn diện

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ cấu trình độ theo hướng tăng tỷ trọng sinh viên cao đẳng, học viên cao học và nghiên cứu sinh tiến sỹ trong tổng số sinh viên đại học và cao đẳng Mở rộng các hoạt động đào tạo và nghiên cứu sau đại học Tuyển dụng các tiến sĩ sau khi tốt nghiệp từ nước ngoài về tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh, phổ biến việc áp dụng các kiến thức chuyên ngành, phương pháp giảng dạy, và kỹ năng nghiên cứu; xây dựng nguồn tư liệu của các thư viện sau đại học và tạo điều kiện cho học viên sau đại học, nghiên cứu sinh tiếp cận các nguồn tài liệu học thuật mới trên mạng; nâng cấp các phòng thí nghiệm chuyên sâu; hỗ trợ nghiên cứu sinh tham dự các hội thảo quốc tế; sắp xếp lại cơ cấu và mối liên hệ giữa các trường đại học,

Trang 25

viện nghiên cứu, thư viện quốc gia và các phòng thí nghiệm trọng điểm để giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh có điều kiện thực hiện nghiên cứu

Thứ ba, về cơ cấu ngành nghề, xuất phát từ thực tế và yêu cầu nâng cao trình độ và tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia, ưu tiên phát triển một số ngành trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn; công nghệ thông tin; công nghệ cơ điển tử và tự động hoá; công nghệ sinh học; công nghệ vật liệu mới; một số ngành/nghề kỹ thuật và công nghệ đáp ứng yêu cầu CNH và HĐH; giáo viên và chuyên gia trình độ cao trong lĩnh vực dịch vụ Điều chỉnh cơ cấu sinh viên giữa các ngành nghề theo hướng tăng tỷ trọng sinh viên các ngành khoa học cơ bản (tự nhiên và xã hội); công nghệ-kỹ thuật và nông-lâm-ngư

Thứ tư, tiếp tục phát triển cơ cấu nhiều thành phần trong hệ thống GDĐH Hệ thống trường đại học sẽ bao gồm trường công lập; trường tư thục và trường có vốn đầu tư nước ngoài (100% vốn hoặc liên kết, liên doanh)

Thứ năm, hoàn thiện cơ cấu vùng miền theo hướng ở thành thị, ưu tiên thành lập các cơ sở mới có đủ tiềm lực và điều kiện, không dựa trên nâng cấp các cơ sở đã có sẵn; khuyến khích thành lập các trường đào tạo những ngành/nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp; bảo đảm hợp lý cơ cấu trình độ giữa tiến sỹ, thạc sỹ, đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; cơ cấu ngành nghề giữa khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật-công nghệ và các ngành nghề khác; khắc phục tình trạng có nhiều cơ sở đào tạo đơn ngành hẹp, đồng thời bảo đảm khả năng liên thông giữa các loại hình, các trình độ đào tạo khuyến khích và hỗ trợ các nhà đầu tư trong và ngoài nước thành lập trường tư thục

Trang 26

nhằm huy động tổng nguồn lực xã hội ngày càng nhiều hơn cho giáo dục đại học trên cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục, công bằng xã hội, gắn với phát triển nhân tài, đặc biệt đối với các vùng kinh tế phát triển, thành phố trung ương và các khu công nghiệp Ở nông thôn và miền núi, tập trung đầu tư của nhà nước cho xây dựng các trường đào tạo các lĩnh vực then chốt đáp ứng yêu cầu đội ngũ nhân lực cho CNH và HĐH, đặc biệt đối với CNH và HĐH nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp và phát triển nông thôn; chú trọng đào tạo các ngành, nghề đáp yêu cầu mở rộng các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh

để tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, giảm sự thua thiệt trong hội nhập kinh tế quốc gia và quốc tế

3.2.3 Thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục đại học

- Sửa đổi Luật Giáo dục theo hướng phân cấp quản lý chương trình khung cho cơ sở đào tạo để các trường có quyền chủ động nhiều hơn trong việc thiết kế nội dung và sắp xếp chương trình đào tạo; trên cơ sở đó các khoa

có thể hợp nhất các môn học nhằm giảm thiểu tổng số tín chỉ của sinh viên để tốt nghiệp; tăng tính linh hoạt bằng cách đưa vào nhiều môn học tự chọn hơn; nhấn mạnh vào các kỹ năng tư duy ở cấp độ cao (ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá) trong giảng dạy và kiểm tra chặt chẽ các kỹ năng tư duy này; thiết kế nhiều hơn nữa những bài học thực hành, ứng dụng thực tiễn, bài tập giả định và thiết kế dự án; khuyến khích giảng dạy bằng tiếng Anh và tạo nhiều cơ hội để sinh viên phát triển các kỹ năng chuyên môn thông qua các hoạt động trong lớp

và trong đời sống thực (học và làm việc, thực tập, kinh nghiệm thực tiễn); thiết lập các chương trình liên thông giữa các ngành học trong cùng một trường và giữa các trường; yêu cầu và hỗ trợ thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu về kết quả học

Trang 27

tập của sinh viên làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo và đề cương chi tiết của các môn học

- Sử dụng các phương pháp học tập tích cực; thay đổi cách học thuộc lòng lý thuyết bằng khả năng tư duy chiều sâu dựa trên kết quả nhận thức, ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá; phối hợp hợp lý thời gian thuyết trình lý thuyết, bài giảng với thời gian thảo luận, hỏi đáp trên lớp, sinh hoạt nhóm và xây dựng dự án Chấm điểm bài tập về nhà phải căn cứ một phần vào các ý kiến phát biểu trên lớp và coi việc sử dụng yếu tố này là cách thức phản hồi tích cực đối với việc học tập của sinh viên Hiện đại hoá phòng học, thư viện, và trang thiết bị thí nghiệm để hỗ trợ giảng dạy và học tập Biên soạn các tài liệu giảng dạy phù hợp với thực tiễn trong nước nhưng phải bảo đảm tính hiện đại Kết hợp toàn bộ tài liệu và nội dung môn học (bài thuyết giảng, PowerPoint, các hoạt động trong lớp, kiểm tra, thực hành phòng thí nghiệm); đồng thời điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của mỗi trường và chuyển thành dạng dữ liệu điện tử cho sinh viên Tăng cường sự ứng dụng thực tế thông qua các bài tập, dự án, thực hành phòng thí nghiệm, thực tập và các cơ hội khác cho sinh viên được đào tạo nhằm hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể Đánh giá quá trình học của sinh viên trong suốt học

kỳ chứ không chỉ dựa vào kết quả kỳ thi cuối kỳ Cung cấp dữ liệu điện tử cho tất cả giảng viên để cập nhật chương trình đào tạo, chương trình học và các tài liệu học tập liên quan trên trang Web hoặc hệ thống học liệu mở

- Ưu tiên phát triển đội ngũ giảng viên Phát triển các trường đại học nghiên cứu, các trường đại học hàng đầu đào tạo giảng viên cho các trường đại học khác; tạo cơ hội học tập sau đại học ở cả trong và nước ngoài cho đội ngũ giảng viên; tiến hành các chương trình phát triển nghiệp vụ chuyên môn, cụ thể

Trang 28

là về phương pháp sư phạm và nghiên cứu; tạo điều kiện cho giảng viên tiếp cận với nguồn tri thức mới, chương trình dạy và học hiện đại, các tài liệu học tập trên mạng internet; giảm khối lượng giảng dạy; cân đối thời gian giữa giảng dạy, nghiên cứu và các hoạt động khác; tăng thời gian nghiên cứu cho các giáo sư bằng cách hỗ trợ đội ngũ trợ giảng để chấm điểm, trợ lý nghiên cứu và thư ký văn phòng; thiết lập chế độ thưởng cho các giảng viên có những cải tiến trong công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu

- Thay đổi phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hiệu quả nhà trường Đưa ra yêu cầu thiết lập và sử dụng kết quả học tập của sinh viên ở cấp trường Chương trình đào tạo đưa ra phải dựa trên kết quả học tập chung của sinh viên, bao gồm việc xác định tiêu chí kết quả học tập của sinh viên thật cụ thể theo từng đề cương chi tiết môn học; hỗ trợ cho việc thiết lập và thực hiện việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên thông qua các trung tâm xuất sắc về giảng dạy và học tập và các trung tâm đánh giá chất lượng trường; các trường chịu trách nhiệm nâng cao thành tích học tập của sinh viên và xem đó

là một yêu cầu trong công tác kiểm định chất lượng nhà trường Việc phân bố nguồn lực cho trường, khoa, và các chương trình đào tạo dựa trên một phần kết quả học tập của sinh viên Thiết lập và thực hiện hệ thống đánh giá chương trình đào tạo dựa một phần vào kết quả học tập của sinh viên trong từng môn học và trong toàn bộ chương trình đào tạo, đồng thời thiết lập và thực hiện hệ thống đánh giá môn học và thường niên đánh giá lại giảng viên để có được các phản hồi về công tác giảng dạy và học tập nhằm mục đích để cải tiến chương trình và nội dung đào tạo Thiết lập các văn phòng nghiên cứu cấp trường và tiến hành đào tạo cho cán bộ quản lý chương trình đảm nhận các chức năng nghiên cứu,

Ngày đăng: 25/10/2013, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w