Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ tại thành phố Đà Nẵng gặp phải một số tồn tại như mô hình liên kết khai thác và dịch vụ hậu cần trên biển chưa p
Trang 1HOÀNG LÊ NA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 834 04 10
Đà Nẵng - Năm 2020
Trang 2Công trình được hoành thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn KH: PGS.TS Bùi Quang Bình
Phản biện 1: TS Lê Dân
Phản biện 2: TS Lâm Minh Châu
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản lý kinh tế họp tại Trường Đại Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 14 tháng 11 năm 2020
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Đà Nẵng sở hữu bờ biển dài 92 km, là 1 trong 28 tỉnh, thành phố ven biển của cả nước, có 6/8 quận, huyện tiếp giáp với biển, trong đó có huyện đảo Trường Sa Thành phố có nguồn tài nguyên biển nằm trong ngư trường trọng điểm của Miền Trung có nhiều hải sản giá trị kinh tế cao Để phát huy lợi thế về biển của mình, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển ngành thủy sản trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ phát triển theo chiều sâu và tạo bước đột phá Số lượng tàu cá có công suất lớn tăng nhanh, số lượng tàu có công suất dưới 90CV giảm mạnh Cơ cấu nghề khai thác chuyển biến đáng kể theo hướng giảm mạnh các nghề khai thác cấm và hủy diệt nguồn lợi thủy sản, tăng các nghề khai thác vùng khơi có hiệu quả kinh tế cao Trong nhiều năm liền, Đà Nẵng là một trong những địa phương không có tàu đánh bắt xâm phạm chủ quyền vùng biển nước ngoài
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ tại thành phố Đà Nẵng gặp phải một số tồn tại như mô hình liên kết khai thác và dịch vụ hậu cần trên biển chưa phát triển, cách thức tổ chức cảng cá chưa khoa học dẫn đến mất an ninh trật tự, quản lý khai thác chưa đi cùng quản lý bảo vệ trữ lượng tài nguyên biển, … Những vấn đề này cho thấy công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ tại thành phố còn nhiều hạn chế, cần có giải pháp để giải quyết bất cập nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế, an toàn cho ngư dân, tuân thủ các quy định quốc tế và góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Do đó tác giả quyết định
Trang 4chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa
bờ tại Thành phố Đà Nẵng” để thực hiện luận văn thạc sỹ Quản lý
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước
về hoạt động khai thác hải sản xa bờ tại thành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng số liệu thứ cấp: số liệu được lấy từ niên giám thống
kê, các báo cáo của UBND thành phố Đà Nẵng, Sở NN&PTNT Đà Nẵng, chi cục Thủy sản Đà Nẵng, các bài báo khoa học, đề án, tài liệu khoa học khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Phương pháp điều tra, khảo sát: Chọn ngẫu nhiên ngư dân hoặc chủ tàu để điều tra khảo sát Các phiếu điều tra dành cho ngư dân được thực hiện ngẫu nhiên tại 04 quận Sơn Trà, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Thanh Khê, với tổng số phiếu 100 phiếu (bình quân 25 phiếu đối với mỗi quận) Phiếu trả lời sẽ được thu thập, xử lý và sử dụng vào phân tích, đánh giá các nội dụng nghiên cứu để có được kết quả khách quan, phục vụ cho đề tài nghiên cứu
4.2 Phương pháp phân tích
Qua các phương pháp thu thập số liệu trên, các số liệu thứ cấp sẽ được xử lý và tổng hợp theo nguồn gốc và thời gian Sau đó, tác giả sẽ phân tích các số liệu thu được bằng các phương pháp phân tích dữ liệu sau:
- Phương pháp thống kê mô tả: là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, tóm tắt và mô tả cách thức, phương pháp trong công tác quản lý hoạt động khai thác hải sản xa bờ của cơ quan quản lý tại thành phố Đà Nẵng
- Phương pháp phân tích thống kê: như phân tích chỉ số, phân tích tỷ lệ… để tổng hợp bản chất cụ thể, tính quy luật của hoạt động quản lý và khai thác hải sản xa bờ trong thời gian nghiên cứu từ 2014-2019, nhằm đưa ra căn cứ cho hoạt động quản lý
- Phương pháp phân tích so sánh: là phương pháp so sánh số
Trang 6liệu về các chỉ tiêu trong công tác quản lý hoạt động khai thác hải sản với kết quả của hoạt động khai thác hải sản Qua đó, phân tích, đánh giá công tác quản lý hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn thành phố
- Phương pháp phân tích tổng hợp: là phương pháp liên kết, tổng hợp những cơ sở lý luận, kết quả khảo sát về thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn thành phố Từ đó đánh giá tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý đưa ra giải pháp
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các danh mục có liên quan, tác giả dự kiến nội dung chính của Luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Chương 3 Giải pháp quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ
1.1.1 Khái niệm khai thác hải sản xa bờ
- Khai thác thủy sản (đánh bắt thủy sản) là hoạt động liên quan đến việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển và các vùng nước lợ Hoạt động khai thác thủy sản là các tác động của con người thông qua các công cụ hỗ trợ và các phương pháp nhằm khai thác các tài nguyên sinh vật, chủ yếu là cơ thể sống như tôm, cá, các loại nhuyễn thể, thân giáp, rong biển, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người về các sản phẩm hàng hóa hải sản
- Giải thích từ ngữ trong Luật Thủy sản năm 2017, khai thác thủy sản là “hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản”
- Khai thác hải sản xa bờ: Là việc khai thác các nguồn lợi thủy sản ở vùng biển giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế (từ 24 hải lý) được trang bị bởi tàu thuyền có công suất từ 90 CV trở lên và có chiều dài trên 15 m
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ
- Khái niệm quản lý: Theo giáo trình kinh tế nông nghiệp (2004) Nhà xuất bản thống kê, “quản lý là sự tác động có mục đích của chủ yếu quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động nhằm đạt đến mục tiêu nhất định”
- Khái niệm quản lý nhà nước: Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn
và Mai Văn Bưu (2005) “quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức
Trang 8và bằng pháp quyền của Nhà nước lên kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các
cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước
đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế”
- Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản
xa bờ: là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, kế hoạch của Nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ của tổ chức, cá nhân để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động khai thác hải sản xa bờ trong nước và tại các vùng biển quốc tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra
1.1.3 Đặc điểm quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Quản lý nhà nước về thủy sản được quy định tại Chương VIII Luật thủy sản 2017, trong đó phân cấp rõ ràng trách nhiệm của Chính Phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp Ngoài ra, tại Thông tư
số 15/2015/TT-BNNPTNT ngày 26/3/2015 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn nhiệm vụ các Chi cục và các tổ chức sự nghiệp trực thuộc
Sở NN&PTNT đã hướng dẫn nhiệm vụ của Chi cục Thủy sản
1.1.4 Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Hoạt động khai thác hải sản xa bờ có một vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của các vùng ven biển, hải đảo nói riêng
Hoạt động khai thác hải sản xa bờ còn mang ý nghĩa quan trọng cả về mặt chính trị, đó là việc tái khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Vùng đặc quyền kinh tế
Do đó, quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản
Trang 91.2.2 Ban hành các chính sách, quy định và tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, quy định của Nhà nước trong hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Để quản lý và điều tiết có sự thống nhất toàn bộ hoạt động của ngành thủy sản, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của ngành thì nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước là phải ban hành các văn bản, chính sách, quy phạm pháp luật Thông qua các văn bản, chính sách này thì mới có cơ sở để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quản lý nhà nước đối với ngành thủy sản
Bên cạnh việc ban hành các quy định, chính sách thì cơ quan quản lý nhà nước phải tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, quy định Tổ chức thực hiện là việc tuyên truyền, phổ biến, triển khai
và giám sát việc tuân thủ thực hiện các quy định pháp luật của các đơn vị, cá nhân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước ngành thủy sản
1.2.3 Cấp phép cho hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Giấy phép khai thác thủy sản trên biển được quy định rõ tại Luật Thủy sản được ban hành vào năm 2017 của Quốc hội, gồm các nội dung:
Trang 10- Căn cứ xác định hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản trên biển
- Điều kiện để được cấp giấy phép
- Nội dung chủ yếu của Giấy phép khai thác thủy sản
- Các trường hợp được cấp lại Giấy phép khai thác thủy sản
- Các trường hợp bị thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản
- Thời hạn của giấy phép khai thác thủy sản
1.2.4 Hướng dẫn xây dựng mô hình tổ chức khai thác hải sản xa bờ
Các mô hình tổ chức khai thác hải sản xa bờ hiện nay:
a Mô hình hợp tác đội, tổ khai thác xa bờ: gồm các tàu cùng
nơi cư trú, chung ngư trường khai thác và cùng góp vốn vào mua sắm tàu thuyền, ngư lưới cụ… tự thỏa thuận hợp tác
b Mô hình kinh doanh tàu dịch vụ: Tàu dịch vụ cung cấp
nhiên liệu, trực tiếp thu mua hải sản từ các tàu thuyền khai thác xa
bờ, vận chuyển vào bờ tiêu thụ
Công tác hướng dẫn, xây dựng mô hình phải phù hợp với điều kiện thực tế của ngư dân và tình trạng tàu cá đang hoạt động
1.2.5 Thanh - kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật trong hoạt động khai thác thủy sản, một lực lượng chuyên trách của Nhà nước được gọi là kiểm ngư sẽ tiến hành kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác thủy sản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật
a Cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm soát
Cơ quan chủ trì tổ chức triển khai kế hoạch:
Trang 11Hình 1.1: Cơ quan chủ trì tổ chức triển khai kế hoạch
thanh tra, kiểm tra, kiểm soát
Cơ quan phối hợp
- Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác thủy sản tại vùng lộng: BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, UBND các huyện, thành phố, thị xã và các cơ quan, đơn vị có liên quan, BCH bộ đội biên phòng tỉnh bố trí cán bộ thường xuyên phối hợp với văn phòng để thực hiện thanh tra, kiểm soát hoạt động KTTS
Sở NN&PTNT thành lập văn phòng đại diện
Chi cục Thủy sản/Sở NN&
PTNT UBND các
quận, huyện
Trang 12- Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác hải sản xa bờ: BCH bộ đội biên phòng tỉnh, Chi cục Kiểm ngư
b Quy trình tổ chức kiểm tra
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát trước khi tàu cá xuất bến (tại Trạm kiểm soát Biên phòng):
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát khi tàu cá cập bến, lên cá:
Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm pháp luật thủy sản trên biển:
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ
1.3.1 Các điều kiện tự nhiên
Cơ quan quản lý nhà nước dựa vào điều kiện tự nhiên làm cơ
sở cho việc quy hoạch phát triển ngành thủy sản và xây dựng, ban hành các quy định, chính sách để phát triển ngành thủy sản, khai thác
và bảo vệ tài nguyên
Sự biến đổi về môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến sự tập trung của nguồn lợi thủy sản
1.3.2 Các điều kiện kinh tế
Tình hình phát triển kinh tế của địa phương là nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển của ngành thủy sản và quản lý hoạt động khai thác hải sản xa bờ Hiệu quả kinh tế của nghề cá chịu tác động mạnh của tình hình kinh tế
1.3.3 Các điều kiện xã hội
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng làm xuất hiện nhu cầu về tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Trình độ dân trí, yếu tố văn hóa cũng có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động khai thác hải sản như văn hóa
ẩm thực các loài thủy sản bản địa, thủy sản đặc trưng sẽ dẫn đến hoạt
Trang 13động khai thác đánh bắt quá mức, khai thác trái phép các loài quý hiếm, dễ dẫn đến quy kiệt một số loài
Trình độ nhận thức của ngư dân, của chủ tàu đóng vai trò quan trọng trong công tác thực thi các quyết định quản lý của Nhà nước
Trang 14CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG 2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ đất nước, có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2, Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động
Về ngư trường khai thác: chia làm 4 ngư trường khai thác chính Đó là ngư trường vịnh Bắc bộ, ngư trường miền Trung, ngư trường Đông Nam bộ và ngư trường Tây Nam bộ Sự hoạt động của gió mùa đã tạo nên sự thay đổi cơ bản điều kiện hải dương sinh học, làm cho sự phân bố các loài thủy – hải sản mang tính chất mùa vụ rõ rệt
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của Thành phố Đà Nẵng
Năm 2019, GRDP thành phố đã đạt gần 70 ngàn tỷ đồng gấp 8 lần so với năm 1997 GRDP bình quân/người xấp xỉ 4.700 USD/người Kinh tế thành phố cũng đã duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao; bình quân giai đoạn 2011-2019 đạt 8,12%/năm Theo giá
2010, GRDP/người tăng dần từ mức 13 triệu đồng năm 1997 đã tăng lên hơn 97 triệu đồng năm 2019, tăng gấp 7 lần (đạt 4700 USD theo giá hiện hành)
Tỷ lệ GRDP/GTSX giảm dần, từ mức hơn 55% năm 1997,
Trang 15giảm xuống 45,10 % năm 2005, 48.54 % năm 2010 và tăng lên hơn 54% năm 2019
2.1.3 Sự phát triển của hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Sản lượng từ hoạt động thủy sản của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2014-2018 đã tăng qua các năm Trong đó tỷ trọng sản lượng khai thác thủy sản chiếm đều đặn xấp xỉ 98%
Giai đoạn 2014-2018, số lượng tàu đánh bắt được mở rộng, nhất là tàu đánh bắt có công suất từ 90% trở lên tăng nhanh, tỷ lệ so với tổng số tàu trên toàn thành phố từ 12,62% năm 2014 đã tăng lên 35,84% vào năm 2018 Tương ứng là tổng công suất tàu đánh bắt toàn thành phố là 102.041 CV vào năm 2014 đã tăng lên đến 358.363
CV năm 2018
Tình hình hoạt động thuỷ sản trong năm 2019 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có nhiều thuận lợi: thời tiết biển ít biến động, chính sách hỗ trợ như đóng tàu mới, cải hoán tàu thuyền tiếp tục được triển khai thực hiện tại nhiều địa phương, giá nhiên liệu và các mặt hàng thiết yếu bình ổn, ngư trường thuận lợi, đảm bảo nguồn lực
về thủy sản, tạo điều kiện giúp ngư dân khai thác được sản lượng khá
2.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ