Thực tiễn và kinh nghiệm của một số hãng hàng không trên thế giới 1.1 Kinh nghiệm của Singapore AirlinesSQ về phục vụ hàng hoá Hiện nay, theo thực tế các dịch vụ hàng hoá của Vietnam Ai
Trang 1Chương III Định hướng và các giải pháp phát triển dịch vụ hàng hoá của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam
1 Thực tiễn và kinh nghiệm của một số hãng hàng không trên thế giới
1.1 Kinh nghiệm của Singapore Airlines(SQ) về phục vụ hàng hoá
Hiện nay, theo thực tế các dịch vụ hàng hoá của Vietnam Airlines thì hầu hết các quy trình phục vụ hàng hoá tại các cảng hàng không Việt Nam đều giống với các quy trình phục vụ hàng hoá của Singapore Airlines và quy trình phục vụ hàng hoá này
đều được dựa vào kinh nghiệm của SQ nhưng chất lượng phục vụ của ta chưa thể cạnh tranh được với SQ là do trang thiết bị của họ rất hiện đại và đồng bộ, qua nhận xét của đánh giá của các cán bộ văn phòng đại diện SQ tại Việt Nam thì có thể đưa ra một số kinh nghiệm của SQ trong quy trình làm hàng như sau :
Về trang thiết bị phục vụ mặt đất : Tất cả các trang thiết bị phục vụ hàng hoá của SQ đều hiện đại và đạt tiêu chuẩn quốc tế nhưng hàng năm hãng vẫn đầu tư hàng chục triệu USD cho các thiết bị chăm sóc bảo quản hàng hóa Hiện tại SQ có hệ thống kho hàng rộng lớn với từng kho hàng riêng để phục vụ các loại hàng đặc biệt như hệ thống kho lạnh dành riêng cho hàng dễ hư hỏng, hàng tươi sống …, trong các kho hàng đều có hệ thống giá đỡ hàng nhiều tầng, hệ thống con lăn, cần cẩu vận thăng tự
động cất lấy hàng …các loại hàng nguy hiểm hàng quý hiếm khi vận chuyển về có thể lưu giữ trong kho chứ không phải thông báo cho người nhận đến nhận hàng ngay như ở ta vì SQ có hệ thống kho hàng rất rộng lớn hàng chục nghìn mét vuông SQ còn
có hệ thống kho riêng để cho các hãng hàng không khác thuê kho trong vận chuyển hàng quá cảnh qua SQ
SQ có đưa ra quy định riêng về số ngày lưu kho tối đa cho hàng hoá lưu trong kho, nếu người nhận để hàng hoá lưu trong kho quá thời hạn quy định thì tiền lưu kho những ngày tiếp theo sẽ tăng lên, làm như vậy để dành diện tích kho lưu giữ những hàng hoá mới vận chuyển đến tránh tình trạng có những loại hàng để lưu kho quá lâu trong khi hàng mới về lại không có chỗ để lưu giữ
Trang 2Đối với dịch vụ trả hàng nhập : SQ kết hợp luôn dịch vụ trả hàng với dịvh vụ phục vụ hàng nhập chứ không tách riêng làm hai dịch vụ như VNA do VNA còn phải lập thêm một số kho hàng trong thành phố.Việc kết hợp dịch vụ trả hàng với dịch vụ hàng nhập giảm bớt được một số thủ tục đỡ làm mất thời gian và giảm chi phí cho khách hàng
Đối với dịch vụ giải quyết các truờng hợp bất thường :Ngay từ khâu phục vụ SQ luôn hạn chế tối đa những sai sót có thể xảy ra Ngay khi kinh doanh khai thác vận tải hàng không trên thị trường Việt Nam, năm1999 tổng số các vụ bất thường xảy ra của
SQ là 38 vụ, chỉ bằng một nửa tổng số các vụ bất thường của VNA, nhưng công tác giải quyết của SQ rất nhanh chóng và đạt hiệu quả Theo quy định của SQ thì sự việc bất thường xảy ra ở thị trường nào và do lỗi của bộ phận nào thì vănphòng đại diện của thị trường đó và các bộ phận gây ra lỗi phải tự giải quyết sau đó hãng sẽ xử phạt hành chính những bộ phận gây thiếu sót đó, đây chính là biện pháp gắn trách nhiệm trực tiếp của từng bộ phận cụ thể đối với nghiệp vụ của họ
SQ rất chú trọng đến đầu tư nguồn nhân lực phục vụ hàng hoá Xuất phát từ quan điểm con người là nhân tố quan trọng nhất nên mặc dù SQ luôn trang bị những thiết bị hiện đại phục vụ hàng hoá nhưng bên cạnh đó hàng năm SQ vẫn đẩu tư khối lượng vốn rất lớn vào nguồn nhân lực, đặc biệt là việc gửi cán bộ làm hàng đi học nước ngoài để tích luỹ kinh nghiệm của các hãng lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật
1.2 Nhật Bản với dịch vụ kinh doanh vận tải hàng không :
Ngành hàng không dân dụng Nhật bản có lịch sử phát triển mạnh mẽ cùng với
sự phát triển không ngừng của nền kinh tế Hiện nay Nhật Bản có 3 hãng hàng không mạnh tầm cỡ quốc tế, đó là hàng không Japan Airlines ( JL ), Japan Airline (JAS ), ALL Nippon Airways … trong tương lai một số hãng khác cũng sẽ được thành lập
Ngành hàng không Nhật Bản hiện nay có một mạng đường bay rộng khắp toàn cầu với các máy bay hiện đại như B747-400, McDonell B, Airbus 300-600
Hãng hàng không Nhật Bản cũng có những dịch vụ chăm sóc và phục vụ hàng hoá như HKVN nhưng hệ thống bảo quản hàng và chăm sóc hàng hoá rất hiện đại và hầu như được tự động hoá.Các loại hàng hoá trước và sau khi vận chuyển lên máy
Trang 3bay đều được lưu giữ bảo quản trong kho kể cả các loại hàng nguy hiểm, hàng quý hiếm, hàng đặc biệt quan trọng …ở tất cả các sân bay của Japan Airlines (JL) đều có
hệ thống kho bãi tự động liên hoàn tự động cất lấy hàng bằng các loại cần cẩu vận thăng, hệ thống băng chuyền tự động đưa hàng vào kho …
Do có cơ sở vật chất hiện đại và tự động hoá nên chất lượng dịch vụ hàng hoá của JL rất tốt, điều này thể hiện ở số các vụ bất thường xảy ra rất ít và luôn được JL hạn chế đến mức tối thiểu Theo báo cáo của điều tra của Ban Kế hoạch và tiếp thị hàng hoá TCT HKVN năm 1999 thì số vụ bất thường xảy ra trong kinh doanh và khai thác của JL trên thị trường Việt Nam cũng chỉ có 16 vụ, con số thấp nhất so với các hãng hàng không khác, điều này chứng tỏ chất lượng dịch vụ và khả năng quản lý của JL rất tốt, đây cũng là một kinh nghiệm mà HKVN cần học hỏi để nâng cao chất lượng dịch vụ của mình
Cũng như tất cả các nước phát triển, để nâng cao chất lượng vận chuỷen hàng hoá nói chung và chất lượng phục vụ hàng hoá nói riêng Chính phủ Nhật Bản có những chính sách khuyến khích các hãng hàng không trong nước phát triển như chính sách ưu đãi thuế, cung cấp ngân sách đồng thời có những chính sách nhằm thu hút các hãng hàng không trên thế giới vào đầu tư khai thác trên thị trường Nhật Bản bằng môi trường pháp lý ổn định và cởi mở
Chính phủ Nhật Bản rất chú trọng đầu tư vào lĩnh vực hàng không, đặc biệt hoạt động chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu trong đó trang thiết bị để phục vụ hàng hoá là vấn đề được chú trọng ưu tiên hàng đầu, việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm hàng luôn được kiểm tra trình độ và bổ sung kiến thức để đáp ứng kịp với nhu cầu phục vụ hàng hóa đòi hỏi càng ngày càng cần đến trình độ chuyên môn cao
Japan Airlines là một trong những hãng hàng không lớn nhất và có uy tín trong khu vực Bằng sở hữu đội hình máy bay hiện đại, cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, khả năng vận chuyển cao, tần suất lớn, Đặc biệt là dịch vụ hoàn hảo đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, tạo được uy tín và ấn tượng tốt đẹp đối với khách hàng nên có doanh thu cao nhất so với các hãng hàng không khác tại Nhật Bản
Trang 4Qua nghiên cứu kinh nghiệm của SQ và JL, vấn đề quyết định chất lượng dịch
vụ là phải hiện đại hoá cơ sở vật chất và nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên phục vụ hàng hoá Đối với HKVN vấn đề này cần có sự giúp đỡ từ nhiều phía và của nhiều cơ quan chức năng
2 Dự báo và những định hướng phát triển dịch vụ hàng hoá của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam
2.1 Dự báo phát triển kinh doanh dịch vụ hàng hoá tại các Cụm Cảng hàng không Việt Nam
Theo dự báo của Phòng phục vụ hàng hoá, Xí nghiệp Thương mại mặt đất Nội Bài thì trong năm 2003 sẽ có khoảng 60 nghìn tấn hàng hoá được phục vụ tại các kho hàng sân bay miền Bắc, để phục vụ tốt lượng hàng hoá này cần có kế hoạch cụ thể trong tất cả các khâu đặc biệt là trong các quy trình phục vụ hàng xuất và nhập Phải
có sự kết hợp đồng bộ giữa các dịch vụ phục vụ hàng hoá và các dịch vụ khác thành
hệ thống dịch vụ liên hoàn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ và hạn chế các trường hợp có thể xảy ra, HKVN đã đưa ra dự báo phát triển kinh doanh dịch vụ hàng hoá trong những năm tới như sau :
Hoạt động cung ứng và kinh doanh dịch vụ hàng hoá tại các Cụm Cảng hàng không có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với bất kỳ một hãng hàng không nào Bởi vì chỉ nhờ vào hoạt động này có hiệu quả thì chất lượng chuyên chở hàng hoá mới được nâng cao và hãng hàng không mới ngày một lớn mạnh, có thể hoà nhập chung với xu thế mới của ngành hàng không nói riêng và xu thế của thời đại nói chung Chính vì vậy mà khi xây dựng chiến lược phát triển ngành hàng không dân dụng Việt nam, các doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ tại cảng hàng không đã xác định
Phương hướng phát triển dịch vụ hàng hoá hàng không
Phát triển đa dạng các dịch vụ hàng hóa tại cảng hàng không nhất là các dịch
vụ chủ yếu phục vụ hàng xuất và hàng nhập nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh, tăng nguồn thu cho nhà nước, nâng cao chất lượng phục vụ nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của hàng không và người gửi hàng hoá đi tàu bay
Trang 5Bước đầu tiến hành kế hoạch gắn hai dịch vụ hàng nhập và dịch vụ trả hàng thành một dịch vụ để giảm bớt thời gian và một số khâu phục vụ hàng hoá, tiết kiệm phí phục phụ cho khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của HKVN với các hãng khác
Triển khai kế hoạch xử phạt hành chính và gắn trách nhiệm đối với từng bộ phận và từng thị trường trong quá trình giải quyết các trường hợp bất thường và khiếu nại sau vận chuyển
Đầu tư công nghệ, trang thiết bị chuyên ngành, nhất là các trang thiết bị phục
vụ hàng hóa, đảm bảo cung cấp các dịch vụ có chất lượng ngang tầm với các Cảng hàng không trong khu vực Tại sân bay quốc tế Nội Bài , triển khai kế hoạch xây dựng ga hành khách cũ thành ga hàng hoá để mở rông diện tích phục vụ hàng hoá
Đầu tư thêm các thiết bị soi chiếu an ninh hàng hoá , trang bị hệ thống cân điện tử xác định các loại hàng hoá quá trọng lượng , hàng quá kích cỡ
Tăng cường đầu tư vào nguồn nhân lực, triển khai kế hoạch gửi cán bộ phục vụ hàng hoá theo học các lớp học chuyên ngành phục vụ hàng hoá của IATA và một số hãng hàng không lớn trên thế giới
Phân công lại khu vực kinh doanh do cảng tự cung ứng, khu vực nhượng quyền cho các doanh nghiệp đang khai thác kinh doanh Đồng thời, đào tạo đội ngũ có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ được giao
Phương hướng kinh doanh dịch vụ phi hàng không
Kinh doanh dịch vụ phi hàng không tại các Cảng hàng không phải phát triển đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của hoạt động hàng hóa hàng không
Củng cố và phát triển các doanh nghiệp kinh doanh hiện có Nghiên cứu và triển khai việc đấu thầu kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng phục vụ đồng thời tận dụng nguổn thu cho cảng Cổ phần hoá các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng không một cách có chọn lọc
Tăng cơ cấu tỷ trọng dịch vụ phi hàng không đến năm 2005 đạt từ 30-40 % doanh thu của Cảng
Trang 6Mở rộng diện tích các doanh nghiệp tham gia kinh doanh từ các lĩnh vực hoạt
động dịch vụ phi hàng không tại Cụm Cảng và thành lập thêm một số doanh nghiệp cung ứng nhiên liệu hàng không, dịch vụ hàng hoá
Theo như dự báo, đến năm 2010 số lượng hàng hoá vận chuyển qua sân bay Nội Bài là 84753 kgs trong đó hàng quốc tế chiếm 1/3 và tăng nhiều so với các năm trước đó, Nội Bài là sân bay quốc tế lớn thứ hai ở Việt Nam nhưng với số lượng hàng hoá nhiều như vậy sẽ gây ra tình trạng quá tải với diện tích kho bãi như hiện nay, vậy hãng cần có chiến lược đầu tư ngay từ giai đoạn này để đảm bảo phục vụ tốt lượng hàng hoá trên
2.2 Quan điểm phát triển chung của HKVN
Theo chiến lược phát triển củaTổng công ty HKVN giai đoạn 1999- 2010 đã chỉ
rõ “ xây dung Tổng công ty HKVN trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh có sức cạnh tranh cao trong khu vực, có hiệu quả kinh tế và đặc biệt bảo đảm an toàn cao, phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần dảm bảo an ninh quốc phòng Từ đó có thể đưa ra quan điểm phát triển như sau
Lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu, phương châm là phát triển chiều sâu, củng cố,củng cố thị trường và lấy vận tải hàng không làm chính
Trang 7Từng bước mở cửa thị trường, tự do hoá cạnh tranh tiến tới mở cửa bầu trời, trước mắt là đối với thị trường tiểu khu vực, sau đó là hội nhập khu vực và thế giới Xây dựng mạng đường bay trục nan hoa để nhanh chóng đưa Việt Nam trở thành cửa ngõ vào Đông Dương và Đông Nam A thông qua ba tụ điểm NBA, DNA, TSN
Đặt trọng tâm phát triển nội lực là nguồn động lực chính, trước hết là trên cơ sở một mô hình hợp lý, phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ-
kỹ thuật mà trọng tâm là đội máy bay sử hữu
Tận dụng mọi cơ hội để huy động nguồn lực hỗ trợ nhất là vốn công nghệ hiện
đại từ bên ngoài, mở rộng hợp tác quốc tế, biết tận dụng thế mạnh của cá đối tác trong liên doanh, hợp tác để phát triển nhanh thực lực của Tổng công ty
Như vậy quan điểm phát triển của Vietnam Airlines hoàn toàn phù hợp với quan
điểm và định hướng phát triển nền kinh tế Việt Nam theo hướng hội nhập của Đảng trong quá trình CNH HĐH đất nước Đây là cơ sở lý luận vững chắc, là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Vietnam Airlines trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới
3.Các giải pháp chung nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ hàng hoá của Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá bằng
đường hàng không như là kho lạnh, các loại thiết bị xếp dỡ vận chuyển hàng hoá hiện
đại như xe vận chuyển Container/pallet, các loại xe nâng, thiết bị nâng như forklift, container/pallet high loader, các thiết bị làm hàng chứa hàng như pallet, igloo,lưới, container, các ULD … đây chính là cơ sở vật chất quan trọng để phát triển hàng hoá bằng đường hàng không
Có thể nói các trang thiết bị phục vụ mặt đất rất đa dạng do đó nhu cầu đầu tư cũng rất đa dạng Tuy nhiên, nếu chúng ta biết điều phối hợp lý thì chúng ta vùă có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra, vừa có thể hiện đại hoá được hệ thống trang thiết bị
3.1 Đầu tư để hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật hàng hoá hàng không
Trang 8Hàng không Việt nam muốn hoạt động có hiệu quả và có khả năng cạnh tranh với các hãng hàng không khu vực và thế giới thì cần phải được đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, để thuận lợi cho việc điều hành, khai thác, kiểm soát quản lý và cung cấp được các dịch vụ phù hợp đối với khách hàng của tổng công ty trong hoạt động của mình
Để chất lượng phục vụ hàng hoá được nâng cao thì việc đầu tư để hiện đại hoá cơ sở vật chất đặc biệt là trang thiết bị phục vụ mặt đất vì các trang thiết bị này trực tiếp phục vụ hàng hoá
Về trang thiết bị phục vụ mặt đất, hiện nay hãng HKQGVN có 3 xí nghiệp phục vụ kỹ thuật thương mại ( PVKTTM ) mặt đất Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng Tính đến nay, ba xí nghiệp này đã được trang bị khá đầy đủ Chỉ riêng trong năm
1998, hãng đã đầu tư mua sắm trang thiết bị cho 3 xí nghiệp hết gần 40 tỷ đồng cụ thể như sau :
Xí nghiệp PHKTTM mặt đất Nội Bài : 20 tỷ đồng
Xí nghiệp PHKTTM mặt đất Tân Sơn Nhất : 15 tỷ đồng
Xí nghiệp PHKTTM mặt đất Đà Nẵng : 5 tỷ đồng
Các trang thiết bị phục vụ mặt đất thuộc 3 xí nghiệp này chủ yếu là các loại xe vận tải để phục vụ hàng hoá từ nhà ga máy bay ra và ngược laị, ngoài ra còn có các loại xe chuyên dùng Bên cạnh đó còn có các trang thiết bị cơ bản các bộ đàm ti vi, tổng đài điện thoại, âm li, loa Có thể nói hoạt động của 3 xí nghiệp này là không thể thiếu được trên những chuyến bay của hãng HKQGVN, hơn nữa nó còn đóng góp tích cực nâng cao chất lượng sản phẩm hàng không của hãng
Trang 9Tổng hợp trang thiết bị mặt đất thuộc 3 xí nghiệp
Trang thiết bị Xí nghiệp
PVKTTM mặt
đất Nội Bài
Xí nghiệp PVKTTM mặt
đất
Đà Nẵng
Xí nghiệp PVKTTM mặt
đất Tân Sơn Nhất Các loại xe ( chiếc
Nguồn : Kế hoạch phát triển đến 2005 - hãng HKQGVN năm 2000
Với quy mô hoạt động hiện tại của hãng thì các trang thiết bị trên đây vẫn còn
là ít ỏi, một số trang thiết bị đã cũ và cần phải thay thế Chính vì vậy, để đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động phục vụ hàng hoá hàng không thì đầu tư vào trang thiết bị phục vụ mặt đất là một việc làm không thể thiếu được hơn nữa quy mô hoạt động của hãng ngày càng được mở rộng thì công tác phục vụ ngày càng phải đảm bảo tốt hơn
để đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của thị trường
Đầu tư vào các trang thiết bị phục vụ mặt đất là một khâu quan trọng trong chương trình đầu tư của hãng HKQGVN Các trang thiết bị phục vụ mặt đất có chức năng phục vụ kỹ thuật và thương mại giũa hai chuyến bay và sau khi bay như phục vụ hàng hoá và hành lý
Chỉ trong năm 2000 hãng đã đầu tư thiết bị cho 3 xí nghiệp vói số tiền là gần 6 triệu USD
Trang 10Nếu đem con số trên đây để so sánh với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khác thì
đó cũng là một khoản đầu tư lớn Tuy nhiên với quy mô hoạt động của hãng thì nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực này còn rất lớn Đó là chưa kể đến số vốn đầu tư tính cho tổng
số toàn bộ nhu cầu mua mới và thay thế trang thiết bị mặt đất
Trước mắt hãng sẽ tiến hành thay thế dần dần những trang thiết bị quá cũ, đã hết thời hạn sử dụng Sau đó hãng đã phải đầu tư đồng bộ các trang thiết bị để đảm bảo yêu cầu sử dụng cũng như để phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ Theo ước tính trong tương lai hãng cần 70 triệu USD để đầu tư vào các trang thiết bị mặt đất Nhu cầu về trang thiết bị mặt đất tập trung chủ yếu vào một số loại sau :
Xe nâng hàng dùng để đưa hàng hoá ra vào máy bay
Xe đầu kéo dùng để kéo đẩy máy bay
Thiết bị tra nạp nhiên liệu dầu mỡ
Ô tô chở hàng dùng để vận chuyển hàng hoá ra vào máy bay và vận chuyển hàng hoá về các trạm trong thành phố
Các thiết bị chất xếp tại sân bay
Các thiết bị vệ sinh kho hàng
Nhu cầu vốn đầu tư vào trang thiết bị phục vụ mặt đất
Nguồn : Chiến lược phát triển đến 2005 - hãng HKQGVN 2000
Việc đầu tư để hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật cần có trọng điểm ưu tiên
đầu tư phát triển công nghệ thông tin để ứng dụng vào vận hành, khai thác có hiệu quả trang thiết bị cũng như trong lĩnh vực quản lý
Đầu tư phát triển công nghệ thông tin cần phải đạt được các yêu cầu
Trang 11Phải đảm bảo tính hệ thống trong toàn bộ tổng công ty, nó phải phù hợp với hệ thống công nghệ thông tin hiện đại mà thế giới đang áp dụng
Lựa chọn và tiếp thu những công nghệ mới và hiện đại nhất của các công ty hàng đầu thế giới, có kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hàng không Tận dụng và phát huy được tiềm năng vốn có của hãng về nhân lực
Tranh thủ vốn và chuyên gia của nước ngoài để lựa chọn và đánh giá công nghệ, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu
Phát triển công nghệ thông tin theo quan điểm mở, tránh sự độc quyền của một hãng, ưu tiên tập trung vào các hệ thống tiếp cận với khách hàng, điều hành sản xuất chính, quản lý tài chính……nhằm tạo ra những biến đổi lớn về chất trong ứng dụng công nghệ tin học
Trước hết, cần thiết xây dựng hệ thống thông tin quản lý của công ty để cung cấp đầy đủ chính xác và kịp thời các thông tin kinh tế kĩ thuật phục vụ cho công tác quản lý, điều hành và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của hãng Cụ thể:
Máy tính hoá trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của hãng, ưu tiên những ứng dụng chuyên ngành, phục vụ hoạt động thương mại, điều hành khai thác bay và quản lý
Phổ cập tin học cho mọi cán bộ của tổng công ty.Bổ xung và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành có chuyên môn sâu hiểu biết về nghiệp vụ hàng không và thông thạo ngoại ngữ
Xây dựng mạng thông tin và máy tính riêng của hãng trên phạm vi cả nước và ghép nối với nước ngoài qua mạng quốc tế Mạng thông tin được xây dựng phải có tính đa dịch vụ và đa hình thức thông tin : Tiếng nói, số liệu, truyền chữ, truyền hình trên mặt đất cũng như trên chuyến bay
Xây dựng trung tâm thông tin quản lý tại Hà nội và có chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Chính sách về vốn
Vốn là vấn đề khó khăn nhất của ngành hàng không Việt Nam Chúng ta vừa thiếu vốn nghiêm trọng, mặt khác cơ cấu vốn lại chưa hợp Chính sách về vốn của toàn
Trang 12ngành nói chung cũng là chính sách của các xí nghiệp phục vụ mặt đất nói riêng vì khi TCT có vốn thì tất cả các bộ phận đều được đầu tư, lĩnh vực vận chuyển hàng hoá
là chủ yếu trong ngành hàng không trong đó phục vụ hàng hoá là không thể thiếu
được, việc đầu tư vào trang thiết bị phục vụ hàng hoá là rất cần thiết Theo chiến lược phát triển hãng HKQGVN 1998 thì nhu cầu vốn đầu tư vào trang thiết bị phục vụ mặt
đất đến 2005 là
58 800 000 USD nên rất cần có sự đầu tư thiết thực của TCT để góp phần nâng cao chất lượng phục vụ hàng hoá
Vốn ngân sách chỉ được cấp từ năm 1993 đến 1996 Năm 1997 ngân sách nhà nước không cấp nữa mà toàn bộ do Vietnam Airline tự bổ xung Vốn nhà nước chiếm một tỷ trọng rất nhỏ bé trong tổng số vốn của Vietnam Airlines Cho đến 1996 vốn ngân sách chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số vốn sở hữu, và gần như nhà nước không tiếp tục đầu tư mới trong khi đó nhu cầu đầu tư của hãng ngày càng tăng
Trong những năm qua, vốn của hãng vẫn tăng lên không ngừng nhờ làm ăn có lãi, vay thương mại và vay của các tổ chức xuất khẩu Ngoài ra một nguồn vốn rất quan trọng khác nữa là liên doanh với các tổ chức trong nước và nước ngoài Tuy nhiên tổng số vốn của các liên doanh còn rất nhỏ, mới khoảng 40 triệu USD
Để có thể giải quyết tốt vấn đề vốn, cần phải có biện pháp tình thế cũng như lâu dài, hợp lý
Huy động vốn từ nội bộ gồm
Khấu hao cơ bản
Trước năm 1996, quỹ khấu hao máy bay và quỹ đầu tư phát triển được dùng vào việc mua sắm thiết bị mặt đất, tức là quỹ khấu hao máy bay đã không được dùng để mua sắm máy bay, nên không có khả năng duy trì đội máy bay Vì thế năm 1996, tổng công ty đã quy định là : Quỹ đầu tư phát triển thì dùng để tăng cường đổi mới thiết bị mặt đất Quỹ khấu hao thiết bị mặt đất, quỹ khấu hao máy baychỉ chuyên dùng cho đầu tư máy bay Đây là giải pháp đúng cần được duy trì
Vay của cán bộ công nhân viên
Trang 13Tổng công ty là một doanh nghiệp lớn, với số cán bộ công nhân viên khoảng
12000 ngìn người Trong những năm qua, Tổng công ty hàng không Việt Nam được xếp vào loại doanh nghiệp có thu nhập bình quân tương đối cao Vì vậy việc huy động vốn từ nội bộ cán bộ công nhân viên là có khả năng thực hiện được Nếu tính mỗi người một tháng cho tổng công ty vay từ 300 đến 500 ngìn thì một năm tổng công ty
có thể vay được một số tiền không nhỏ Tuy nhiên việc này cần phải có chính sách
đảm bảo lợi ích thoả đáng đối với người cho vay về lãi suất, ít nhất cũng phải ngang với lãi suất các ngân hàng thương mại
Huy động vốn từ bên ngoài gồm
Hỗ trợ của ngân sách nhà nước
Ngành hàng không dân dụng là ngành kinh tế mũi nhọn, có vị trí và tầm quan trọng lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, nhiệm vụ của ngành hàng không càng trở nên đặc biệt quan trọng Vì vậy nhà nước cần có sự hỗ trợ đầu tư thích đáng như miễn thuế tạm nhập tái xuất xăng dầu, đồ uống và các suất ăn phục vụ chuyến bay, giảm thuê kinh doanh vận tải hàng không, ưu tiên nguồn vốn ODA để mua máy bay, đào tạo phi công và thợ kỹ thuật
Vay ngân hàng thương mại
Hiện nay các ngân hàng trong nước chủ yếu cho vay ngắn hạn và trung hạn với lãi suất thấp Tổng công ty là một đơn vị kinh doanh lớn và có uy tín nên việc vay vốn không khó khăn Tuy nhiên vốn này không thể dùng để đầu tư dài hạn được, vì vậy hãng gặp nhiều khó khăn cho những đầu tư chiến lược lâu dài
Vay có thế chấp và thuê tài chính
Hiện nay tổng công ty hàng không đang áp dụng phương pháp huy động vốn từ các tổ chức tàI chính bằng hai hình thức là vay có thế chấp và thuê tàI chính để có tiền đầu tư phát triển đội bay
3.3 Liên doanh với nước ngoài để phát triển dịch vụ hàng hoá
Hàng không dân dụng là một ngành kinh tế – kỹ thuật – dịch vụ thuộc cơ sở
Trang 14một nước Trong điều kiện kinh tế thi trường mở, ngành hàng không dân dụng càng
đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự giao lưu và phát triển kinh tế của đất nước
Nó tạo nên nhịp cầu nối lien giữa các lục địa trên thế giới, rút ngắn khoảng cách và thời gian cho viêc đi lại, buôn bán, chuyển giao thông tin khoa học, công nghệ giữa các quốc gia và các tổ chức cũng như cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh tế xã hội, khoa học, công nghệ Nó là phương tiện quan trọng trong việcliên doanh, liên kết giữa các tổ chức, cá nhân trong mọi hoạt động vì lợi ích con người
Trong lĩnh vự phục vụ hàng hoá HKVN vừa thiếu vốn vưa thiếu kinh nghiệm của nước ngoài Liên doanh liên kết để phát triển toàn ngành nói chung và phát triển dịch
vụ hàng hoá nói riêng là rất cần thiết
Một trong các đặc điểm nổi bật và cơ bản của vận tải hàng không là cạnh tranh gay gắt và liên doanh liên kết Khi nói tới liên doanh liên kết trong lĩnh vực vận tải hàng không, không chỉ nói đến liên doanh liên kết trong lĩnh vực chuyên chở hàng hoá mà nó còn thể hiện trong lĩnh vực chế tạo máy bay, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, du lịch và các dịch vụ đồng bộ khác … nhìn chung có thể nêu ra một số hình thức liên doanh liên kết sau đây :
Liên doanh khai thác các đường bay của các hãng hàng không giữa các hãng hàng không giữa hai quốc gia
Đây là hình thức liên doanh vốn hình thành từ lâu Ngay khi mới thành lập, ICAO cũng đã quan tâm đến vấn đề liên doanh này, nhưng do nhu cầu khai thác và cơ chế thị trường cạnh tranh nên tính chất và phương thức liên doanh ngày càng phức tạp bởi vì, ngày ngày các hình thức liên doanh không chỉ tăng về số lượng các hiệp định song phương mà nó còn đi sâu vào nội dung khai thác.Thông qua các hiệp định dịch
vụ hàng không song phương, hai hãng hàng không thuộc hai quốc gia có thể thực hiện liên doanh liên kết dưới các kiểu loại như bay chung cờ hiệu, bay liên doanh, bay thêm tuyến, đóng góp cổ phần
Liên doanh đa quốc gia
Trước đây ngành hàng không thế giới quan tâm đến khái niệm hàng không toàn cầu nhưng tính chất và khái niệm của nó khác với khái niệm hiện nay Liên doanh đa
Trang 15quốc gia được thực hiện dưới hai dạng : Liên doanh khu vực và liên doanh toàn cầu Khái niệm về hãng hàng không khu vực xuất hiệnvào đầu thập kỷ 90 Đó là sự liên doanh của một số hãng hàng không lớn trong khu vực để tạo một thế khai thác liên hoàn, mạnh cả về tài chính, dịch vụ và kỹ thuật, đủ sức bay xa, tiếp cận thị trường ở Châu Âu và Mỹ, chống lại sự độc quyền của các hãng hàng không Mỹ Ví dụ, hãng hàng không Singapore liên doanh với hãng hàng không Thái Lan và Indonexia thành lập hãng hàng không khu vực đầu tiên ở châu á
Tổng công ty hàng không cần nghiên cứu áp dụng những hình thức liên doanh tương tự như trên trong hoạt động của mình
3.4 Đầu tư để phát triển nguồn nhân lực
Nhìn chung đội ngũ cán bộ công nhân viên của ngành hàng không dân dụng có phẩm chất tốt Do có chính sách tuyển dụng và đào tạo nên ngành hàng không ngày nay đã có một lực lượng lao động nhiều thế hệ, kết hợp được những người lao động có kinh nghiệm lâu năm với thế hệ trẻ được đào tạo cơ bản trong và ngoài nước
Trong quá trình phục vụ hàng hoá vẫn còn nhiều bất cập xảy ra mà nguyên nhân chủ yếu là dolỗi của nhân viên phục vụ Hàng năm số vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực rất lớn nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu về nhân lực của hãng nói chung cũng như của các xí nghiệp phục vụ mặt đất nói riêng,có nhiều cán bộ công nhân viên chưa được đào tạo cơ bản đồng bộ Nhiều cán bộ được đào tạo theo cơ chế quản lý công nghệ cũ,không còn phù hợp với điều kiện mới Lực lưọng lao động trẻ được đào tạo cơ bản lại chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, do đó dẫn đến tình trạng hẫng hụt cán bộ quản lý, và cán bộ kỹ thuật Trình độ ngoại ngữ và tin học của nhiều cán bộ còn yếu, ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ và hoà nhập với cộng đồng hàng không thế giới
Con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất, nó lại đặc biệt quan trọng đối với một doanh nghiệp đòi hỏi tốc độ, công nghệ cao, độ an toàn và các dịch vụ hoàn hảo như vận tải hàng không quốc tế
Trong những năm qua Tổng công ty đã rất chú trọng vấn đề đào tạo nhân lực và coi đây là yếu tố then chốt để phát triển và chuẩn bị tiến vào thế kỷ 21