Điều 581 Bộ Luật dân sự quy định về hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Theo quy định đó, hợp đồng ủy quyền bất động sản không làm phát sinh việc chuyển dịch quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản từ người ủy quyền sang người được ủy quyền mà chỉ là sự thay đổi chủ thể thực hiện các quyền của chủ sở hữu bất động sản.
Trang 1BÀI TẬP CÁ NHÂN
MÔN: LUẬT TÀI CHÍNH
ĐỀ BÀI TẬP CÁ NHÂN:
CÓ 3 CÁCH LÀM
Theo quy định hiện hành, cá nhân sở hữu bất động sản nếu ủy quyền quản lý bất động sản cho người khác (người được ủy quyền) thì vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân Người được ủy quyền này, sau đó, bán bất động sản thì lại tiếp tục nộp thuế TNCN.
1
Trang 2CÁCH 1:
Anh chị hãy:
1 Lí giải vì sao luật lại quy định như vậy?
2 Chỉ ra, bằng một ví dụ, sự bất hợp lí khi áp dụng quy định trên?
Bài làm:
Điều 581 Bộ Luật dân sự quy định về hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định Theo quy định đó, hợp đồng ủy quyền bất động sản không làm phát sinh việc chuyển dịch quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản từ người ủy quyền sang người được ủy quyền mà chỉ là sự thay đổi chủ thể thực hiện các quyền của chủ sở hữu bất động sản
Lợi dụng sơ hở của pháp luật, trên thực tế đã phát sinh hiện tượng uỷ quyền để trốn thuế TNCN, bên nhận chuyển nhượng và bên chuyển nhượng thỏa thuận với nhau thay vì ký hợp đồng chuyển nhượng, họ
Trang 3đã thực hiện ký kết hợp đồng uỷ quyền giao dịch bất động sản với mục đích người nhận chuyển nhượng được thay mặt người chuyển nhượng toàn quyền sử dụng, định đoạt bất động sản như mua bán, tặng cho với bên thứ ba mà không phải chịu thuế TNCN Do vậy, để tránh thất thu thuế và hạn chế tình trạng này, Tổng cục Thuế đã có Công văn số 1133/TCT-TNCN ngày 05/4/2011 giải đáp các vướng mắc về thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản và Công văn 3373/TCT – TNCN ngày 20/9/2011 hướng dẫn tính thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản thông qua hợp đồng ủy quyền
Điều 2.5.e Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định về khoản thu nhập chịu thuế, trong đó có nói rõ thu nhập từ việc ủy quyền quản lý bất động sản mà người được ủy quyền có quyền chuyển nhượng bất động sản hoặc có quyền như người sở hữu bất động sản theo quy định của pháp luật thì sẽ phải nạp thuế thu nhập cá nhân
Sở dĩ luật đã quy định như vậy, vì hiện nay có nhiều trường hợp như: anh K bán nhà cho chị T nhưng lại làm thủ tục uỷ quyền cho chị T được sử dụng nhà của mình
để mua bán mà chị T không nhận 1 đồng nào từ việc đó
2
Trang 4để chị T có thể lách thuế thu nhập cá nhân Điều này đã ảnh hưởng nhiều tới việc thu thuế thu nhập cá nhân của người dân theo yêu cầu của cục Thuế
Dù là luật nhưng không phải lúc nào cũng đúng, như điều luật trên cũng có sự bất hợp lý của nó ví dụ như: anh K và chị T là bạn thân, anh K uỷ quyền cho chị T để chị T bán nhà giúp anh Khi chị T đã bán được nhà giúp anh T, thì nhận được thông báo từ cục Thuế về việc nạp tiền thuế do được uỷ quyền bán bất động sản Nhưng vì
2 người là bạn thân nên chị T không lấy tiền hoa hồng khi bán nhà của anh K, vậy nghĩa là chị không hề có thu nhập từ việc bán nhà Vậy tại sao chị phải nạp thuế, bây giờ phải làm gì để chứng minh được rằng chị không hề có thu nhập nào từ việc bán nhà uỷ quyền này với cục Thuế?
Trang 5CÁCH 2:
1 Lý giải vì sao luật quy định như trên :
Theo Thông tư 111/2013 của Bộ Tài chính , nếu ủy quyền cho người khác chuyển nhượng nhà thì chủ sở hữu là người ủy quyền phải nộp thuế Đồng thời , người được ủy quyền có thu nhập từ việc nhận ủy quyền cũng đóng thuế
Bản chất của việc ủy quyền là cho phép người khác thay mặt mình thực hiện các quyền về sở hữu nhà chứ không phải là chuyển giao quyền sở hữu nhà Theo Bộ luật Dân sự , người khác ấy có thể là người thân mà cũng có thể là người ngoài tùy theo sự chọn lựa , tin cậy của chủ sở hữu Thế nhưng , ngay từ khi ban hành văn bản chỉ đạo thu thuế ủy quyền trước khi có Thông tư 111/2013 , Tổng cục Thuế đã quả quyết giữa Chủ sở hữu, Người được uỷ quyền của chủ sở hữu và Người mua có sự lách thuế Thay vì Chủ sở hữu bán cho Người được uỷ quyền rồi Người được uỷ quyền bán cho
4
Trang 6Người mua ứng với việc hai chủ sở hữu nhà là Chủ sở hữu và Người được uỷ quyền đều lần lượt đóng thuế , người mua là Người được uỷ quyền có thể lách thuế bằng cách nhận ủy quyền để chỉ có mỗi Chủ sở hữu phải đóng khi Người được uỷ quyền bán lại cho Người mua Từ suy đoán này mà Bộ Tài chính đã ban hành thông tư 111/2013 quy định như trên
2 Ví dụ :
Chị H có 1 bất động sản muốn bán nhưng vì có việc nên
uỷ quyền cho anh A để anh A bán giúp Sau đó anh A bán được bất động sản đó cho anh E, khi làm thủ tục bán nhà thì bên thuế yêu cầu chị H và anh A đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho bất động sản đó vì chị H là chủ bất động sản còn anh A dù được uỷ quyền nhưng vẫn được % hoa hồng khi bán được bất động sản đó Như vậy, 1 bất động sản mà bị đánh thuế 2 lần đó là sự bất hợp lý
Trang 8CÁCH 3:
1 Lí giải quy định:
Theo quy định hiện hành, cá nhân sở hữu bất động sản nếu ủy quyền quản lý bất động sản cho người khác (người được ủy quyền) thì vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân Người được ủy quyền này, sau đó, bán bất động sản thì lại tiếp tục nộp thuế TNCN
Lý do Luật quy định như trên là vì: trước đây tại Việt Nam không thu thuế TNCN đối với ủy quyền giao dịch BĐS Nếu ủy quyền toàn quyền được sử dụng, tặng cho, mua bán… mà bên được ủy quyền không nhận một khoản hoa hồng nào thì đó là hình thức mua bán “lách” thuế Vừa qua, trên thực tế đã phát sinh hiện tượng uỷ quyền để trốn thuế TNCN, bên nhận chuyển nhượng và bên chuyển nhượng thỏa thuận với nhau thay vì ký hợp đồng chuyển nhượng, họ đã giả bằng việc ký hợp đồng
uỷ quyền giao dịch bất động sản với mục đích người nhận chuyển nhượng được thay mặt người chuyển
Trang 9nhượng toàn quyền sử dụng, định đoạt bất động sản như mua bán, tặng cho với bên thứ ba mà không phải chịu thuế TNCN Do đó, để thực hiện đúng quy định việc thu thuế TNCN đối với trường hợp cá nhân có bất động sản ủy quyền cho cá nhân khác thực hiện giao dịch bất động sản Tổng cục Thuế đã có Công văn số 1133/TCT-TNCN hướng dẫn về thuế 1133/TCT-TNCN đối với uỷ quyền bất động sản Ngoài ra còn có Thông tư 111/2013/TT-BTC cũng quy định rõ về các khoản thu chịu thuế cụ thể ở Điều 2.5.e là thu nhập từ việc ủy quyền quản lý bất động sản mà người được ủy quyền có quyền chuyển nhượng bất động sản hoặc có quyền như người sở hữu bất động sản theo quy định của pháp luật
2 Ví dụ
Tháng 2/2018, em ruột tôi là Nguyễn Văn A và vợ là Trần Thị B bán nhà ở đường Nguyễn Văn Linh, quận Hải Châu, Đà Nẵng giá 6 tỉ đồng Do phải đi nước ngoài thường xuyên nên em trai tôi và vợ đã làm hợp đồng ủy quyền cho tôi là chị gái với phạm vi ủy quyền là tiến hành bán
8
Trang 10toàn bộ nhà đất, đồng thời liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhà đất (không ủy quyền quản lý hoặc sử dụng bất động sản)
Sau khi bán được nhà và nhận tiền tôi sẽ gửi vào tài khoản mang tên ông em trai tôi và vợ Do em trai tôi và vợ làm cam kết chỉ có một căn nhà duy nhất nên theo quy định được miễn thuế TNCN khi chuyển nhượng
Tuy nhiên, tháng 5/2018 tôi bất ngờ nhận được thông báo của Chi cục Thuế quận Hải Châu yêu cầu phải nộp
120 triệu đồng thuế TNCN, kèm theo đó là ghi chú “có truy thu một lần thuế TNCN theo điểm d, khoản 5, điều
3, nghị định 65”
Tôi không có thu nhập và cũng không được ủy quyền quản lý hoặc sử dụng bất động sản thì làm gì có thu nhập để tính thuế TNCN?
Tôi đã gửi đơn kiện lên TAND quận Hải Châu, trong đơn khởi kiện tôi đã yêu cầu TAND quận Hải Châu hủy bỏ
Trang 11thông báo thuế của Chi cục Thuế quận Hải Châu để lấy lại số tiền thuế TNCN đã nộp
Ví dụ trên nói rõ sự vô lí của điều luật ở đề bài rằng không phải cứ uỷ quyền nghĩa là sẽ có được thu nhập từ việc bán bất động sản
10