Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy dùng để phân biệt với một số tội phạm khác về ma túy có các yếu tố tương đồng ...33 Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN ĐIỀU
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN ĐIỀU
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH XUÂN NAM
Hà Nội, năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI
TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ 8
1.1 Khái niệm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý 8
1.2 Quá trình hình thành và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tội tàng trữ ma túy nói chung và tội tàng trữ trái phép chất
ma túy nói riêng 14
1.3 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy dùng để phân biệt với một số tội phạm khác về ma túy có các yếu tố tương đồng 33
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 41
2.1 Diễn biến tình hình tội phạm nói chung, tội phạm về ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra trên địa bàn quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến năm 2019 41
2.2 Đánh giá thực trạng việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễn Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh 47
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TÀNG TRỪ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ 63
3.1 Các giải pháp 63
3.2 Một số kiến nghị và đề xuất 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng thống kê kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự xảy ra trên địa bàn Quận 4 42
Bảng 2.2 Bảng thống kê kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm tội
phạm về ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh 44
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới cơ cấu kinh tế, đất nước ta đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, đồng thời vị trí, vai tròcủa Việt Nam ngày càng được đề cao trên trường quốc tế Tuy nhiên dưới tác độngtiêu cực của nền kinh tế và mở rộng quan hệ quốc tế với các nước trên thế giới vàtrong khu vực, đã tác động ảnh hưởng đến tình hình tội phạm nói chung, đặc biệt làtình hình tội phạm về ma túy, trong đó có tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội phạm về ma túy là loại tội phạm mới xuất hiện trong thời kỳ phát triểnkinh tế thị trường hội nhập quốc tế nhưng hậu quả và hệ lụy để lại cho gia đìnhngười phạm tội cũng như xã hội ngày càng lớn chính vì vậy, quan điểm đấu tranhphòng chống loại tội phạm này đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng vàNhà nước và Thể chế hòa các quan điểm của Đảng và lần đầu tiên được quy định tạiđiều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009) với tính chất là mộtloại hành vi của tội ghép (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếmđoạt chất ma túy và được tách ra với tính chất là một tội phạm độc lập được quyđịnh tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) loại tội phạmnày ngày càng phát triển gia tăng cả về số lượng tội phạm và cả về số lượng ngườiphạm tội
Cũng như thực trạng tình hình tội phạm về ma túy nói chung và về tội tàngtrữ trái phép chất ma túy nói riêng trên địa bàn cả nước, trong những năm vừa qua,trên địa bàn quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình tội tàng trữ trái phép chất matúy vẫn diễn ra hết sức phức tạp và phát triển theo xu thế ngày càng gia tăng gây rabức sức lo lắng trong quần chúng nhân dân Trước tình hình đó các cơ quan trực tiếpđấu tranh bảo vệ pháp luật như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa ánnhân dân đã phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và quần chúngnhân dân tích cực phát động và áp dụng các biện pháp phòng ngừa ngăn chặn cũngnhư phát hiện, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử kịp thời nghiêm minh các hành
Trang 7vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy được dư luận đồng tình ủng hộ Tuy nhiêntrên thực tế tội tàng trữ trái phép các chất mà túy khi phát hiện, CQĐT, VKSND,TAND gặp rất nhiều khó khăn do các đối tượng phạm tội và sử dụng nhiều phươngthức thủ đoạn xạo quyệt và chống đối hết sức quyết liệt Việc chứng minh hành viphạm tội đặc biệt là giữa hành vi tàng trữ trái phép với hành vi mua ma túy để trựctiếp sử dụng; giữa hành vi vận chuyển trái phép các chất ma túy với hành vi tàng trữtrái phép chất ma tuý cũng hết sức phức tạp do các đối tượng phạm tội tìm mọi cáchchối tội; Việc xác định các chất ma túy, trọng lượng, hàm lượng các chất ma túyphải trải qua giai đoạn giám định trong một số trường hợp cũng phải kéo dài thời
gian và gặp những khó khăn nhất định Chính vì vậy việc lựa chọn vấn đề "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiền Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh" Làm đề tài
luận văn thạc sĩ là đáp ứng yêu cầu cấp thiết hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ma túy, tội phạm về ma túy trong đó có tội tàng trữ trái phép chất ma túycũng như hệ lụy của nó cho đối tượng phạm tội, gia đình của họ và đối với xã hộiluôn luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân, đặc biệt lànhững nhà nghiên cứu lý luận và những người làm công tác thực tiễn áp dụng phápluật có liên quan đối với tội phạm về ma túy Chính vì vậy đã có nhiều công trình,
đề tài khoa học, bài viết và các luận án tiến sĩ, thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này Cóthể viện dẫn một số công trình, đề tài, bài viết, luận án, luân văn sau đây:
- Trần Văn Kiệm, hình phạt đối với tôi tàng trữ trái phép chất ma túy Báo bảo vệ pháp luật ngày 20/11/2019
- Nguyễn Thị Ngà, Nguyễn Văn A Phạm tội tàng từ trái phép chất ma túytheo điểm a, c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Tạp chí Tòa án điện tử ngày 25/3/2020
- Tìm hiểu nội dung về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại Điều 249
BLHS, https://conganquangbinh.gov.com
- Nguyễn Duy Hội, tội tàng trữ trái phép chất ma tuý hinhsu.luật việt.com ngày 13/7/2018
Trang 8- Nguyễn Đức Hùng, Điều 249 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm2017) quy định tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, htts://côngtyluattgs.vn ngày06/5/2019.
- Lê Hồng Minh đánh giá lời khai nhận của người có ma túy để xác định tộidanh và lần phạm tội Cổng thông tin điện tử VKSNDTC, vksndtc.gov.vn ngày10/5/2020
- Kiều Phong - Tuấn Vũ, Thành phố Hồ Chí Minh bàn giải pháp chặt vòi bạch tuộc ma túy, báo Sài Gòn giải phóng 4/10/2019
- Phan Anh, Thành phố Hồ Chí Minh dốc toàn lực trị tội phạm ma túy, bảongười lao động ngày 05/11/2019
- Triệu Thị Ngân Hà (2017) “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo phápluật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” Luận văn Thạc sĩ Học viện khoahọc xã hội
- Phạm Phương Trang (2019), “ Tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội
- Ngô Quỳnh Thanh (2018), Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luậthình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội, Học viện khoa học xã hội
- Nguyễn Thị Mai Nga (2010), hoạt động thực hành quyền công tố và kiểmsát điều tra của VKSND trong điều tra các vụ án về ma túy, luận án tiến sĩ, học việncảnh sát nhân dân
Do BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2018 tách Điều 194 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) từ bốnhành vi độc lập là tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
ma tuý thành bốn tội độc lập là tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (Điều 249), tội vậnchuyển trái phép chất ma tuý (Điều 250); tội mua bán trái phép các chất ma tuý(Điều 251); tội chiếm đoạt các chất ma tuý do đó các công trình nghiên cứu về tộitàng trữ trái phép chất ma tuý không nhiều Tuy nhiên qua nghiên cứu các côngtrình trên đây cho thấy, các tác giả đã nghiên cứu trên nhiều phương diện và dưới
Trang 9nhiều góc độ khác nhau về loại tội phạm này Tuy nhiên chưa có một công trình cụthể nào nghiên cứu về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý từ thực tiễn quận 4, Thànhphố Hồ Chí Minh vì vậy đề tài luận văn là đề tài hoàn toàn mới và không trùng vớibất kỳ một công trình khoa học nào đã công bố Mặc dù vậy kết quả nghiên cứu củacác công trình nêu trên có thể được kế thừa một số vấn đề trong quá trình thực hiện
tố, và xét xử sơ thẩm trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo
- Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đặt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài luận văn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận về ma tuý, tàng trữ trái phépchất ma tuý, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
+ Nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vềtội tàng trữ trái phép các chất ma tuý
+ Phân biệt tội tàng trữ trái phép chất ma tuý với một số tội phạm khác về matuý
+ Khảo sát thu thập số liệu, thông tin về tội tằng trữ trái phép chất ma tuý trên địa bàn Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh
+ Đánh giá thực trạng tình hình định tội danh và quyết định hình phạt trongkhởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm loại tội phạm này tìm ra những kết quả đặtđược, những tồn tại, khó khan vướng mắc
Trang 10+ Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa việc áp dụngcác quy định của pháp luật về tội phạm này trong khởi tố, điều tra, truy tố, và xét xử
sơ thẩm trong giai đoạn hiện nay và những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề lý luận, pháp luật
về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và trực tiếp áp dụng các quy định của tội phạmnày trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm từ thực tiễn Quận 4, Thành phố
Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
+ Phạm vi về nội dung: đề tài luận văn nghiên cứu những vấn đề pháp luật vàthực tiễn áp dụng các quy định của tội phạm này tại quận 4, Thành phố Hồ ChíMinh
+ Phạm vi về không gian: đề tài luận văn khảo sát thu thập, nghiên cứu sốliệu vụ án tàng trữ trái phép chất ma tuý do khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
+ Phạm vi về thời gian: đề tài luận văn nghiên cứu số liệu trong khoảng thời gian 5 năm kể từ năm 2015 đến năm 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp luận: đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương phápluận là phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng vàNhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma tuýnói riêng Nhằm đảm bảo cho việc nghiên cứu đề tài luận văn đi đúng hướng và đạtđược mục đích đã đề ra
- Phương pháp cụ thể: đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợpcác phương pháp cụ thể như: phương pháp diễn giải, quy nạp; phương pháp phântích, đánh giá, tổng hợp, so sánh; phương pháp khảo sát, thu thập thông tin, số liệu;phương pháp trao đổi, toạ đàm trực tiếp với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩmphán có năng lực, kinh nghiệm trong điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm các vụ án vềtội tàng trữ trái phép chất ma tuý đang công tác tại CQĐT, VKSND, TAND quận 4,
Trang 11Thành phố Hồ Chí Minh Việc sử dụng cac Phương pháp này nhằm bảo đảm cho việc viết các nội dung của các chương theo đúng yêu cầu đã đề ra.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận
Là công trình khoa học được nghiên cứu, phân tích toàn diện và sâu sắc
để làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như cơ sở pháp lý của tội Tàng trữ trái phép chất
ma túy theo Bộ luật hình sự Việt Nam
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên, có tính hệ thống vàtương đối toàn diện về tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễn Quận 4, thànhphố Hồ Chí Minh ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học Kết quả nghiên cứu củaluận văn sẽ giúp xác định được khái niệm, các đặc điểm riêng có, cũng như nội hàmcủa vụ án tội tàng trữ trái pháp chất ma túy, từ đó đưa ra những kiến nghị về mặt lậppháp nhằm xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật TTHS về vấn đề này
- Về mặt thực tiễn
Tổng kết, rút ra được những kinh nghiệm về tội tàng trữ trái phép chất matúy ở giai đoạn điều tra từ năm 2015 đến năm 2019 do Cơ quan điều tra Công anQuận 4 thụ lý điều tra, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, xét xử của Tòa
án nhân dân Quận 4 Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các Cơ quan THTT nóichung, Viện kiểm sát nói riêng xác định, áp dụng đúng đắn trình tự, thủ tục để truy
tố trong vụ án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy Bên cạnh đó, tác giả cũng hyvọng luận văn có thể được sử dụng trong công tác nghiên cứu của các cơ sở đào tạochuyên ngành luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật… Những người có thẩm quyềnTHTT và những người tham gia tố tụng có thể nghiên cứu nhằm áp dụng pháp luậtvào quá trình công tác thực tiễn, nâng cao chất lượng hiệu quả trong công tác
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất
ma tuý
Trang 12Chương 2: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý từ thực tiễn Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TÀNG TRỮ
TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ1.1 Khái niệm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
1.1.1 Khái niệm về chất ma tuý
Ngày nay thuật ngữ về ma tuý được sử dụng rộng rải trong nhiều lĩnh vựccủa đời sống xã hội Trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, thuật ngữ, matúy, chất ma túy, tội phạm về ma túy được quy định trong các công ước của Liênhiệp quốc và trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới Trong lĩnhvực đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, ma túy thường được hiểu với các nghiệmnhư: tình trạng nghiện ma túy, người nghiện ma túy, tiêm chích ma túy Tuy nhiên
do phát triển của khoa học công nghệ dẫn đến đời sống vật chất tinh thần của conngười ngày càng được nâng lên, đặc biệt là từ những năm giữa thế kỷ XX đến naynhu cầu vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân đáng chú ý là giới trẻ ngày càngcao do đó xuất hiện tình trạng lạm dụng việc sử dụng các loại cây cỏ có tính chấtgây nghiện trước đây Xuất phát từ nhu cầu ngày càng lớn của xã hội, các đối tượngphạm tội đã sử dụng những thành tựu của khoa học để điều chế, chế suất các loàicây cỏ, hoa, quả, nhựa có tính năng chữa bệnh và vui chơi giải trí thành các chất gâynghiện, chất hướng thần có lượng độc tố cao, tạo thuận lợi cho việc sử dụng, tàngtrữ, vận chuyển, mua bán và thuật ngữ ma túy được hình thành và ra đời Vậy matúy là gì?
- Theo từ điển Hán Việt thì “ma” Có nghĩa là tê liệt hoặc “làm mê mẫn” hoặclàm cho “tê liệt”, “tuý” có nghĩa là say “ma túy” là một danh từ dùng để chỉ chấtthuốc có khả năng gây ra hiện tượng thần kinh tê liệt dùng nhiều sẽ bị nghiện.Nghiên cứu khái niệm ma túy nêu trên mặc dù được giải nghĩa theo nghĩa Hán Việtmang tính nôm na dễ hiểu và còn sai nghĩa và khái quát được tác hại của ma túy làlàm tê liệt hệ thần kinh và nếu dùng nhiều sẽ bị nghiện [3, tr.14] Tuy nhiên hạnchế của khái niệm này là chỉ đề cập đến hậu quả của việc sử dụng ma túy, chưa làm
rõ được chất ma túy là gì
Trang 14- Theo Từ điển Tiếng việt thì ma túy là tên gọi chung các chất có tác dụnggây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện [21, tr.583] Nghiên cứukhái niệm này cho thấy, khi nói đến ma túy có đề cập đến cách gọi chung của cácchất có tác dụng gây ra trạng thái ngây ngất, đờ đẫn dùng quen sẽ thành nghiệnnhưng cũng chưa làm rõ được các chất đó là chất gì.
- Theo Công ước Thống nhất về các chất ma túy năm 1901 Đã sửa đổi bổsung theo nghị định thư 1972 Sửa đổi Công ước Thống nhất về các chất ma túy năm
1961 của Liên Hiệp quốc thì sau khi đưa ra định nghĩa về một số loại cây, lá nhựa
có chất ma túy thì tại điểm J khoản 1 Công ước có đưa ra khái niệm “ma tuý” nghĩa
là bất kỳ chất liệu nào trong bảng I và II dù dưới dạng tự nhiên hay tổng hợp Cáchđưa ra khái niệm của công ước về ma túy là dựa trên cơ sở tổng hợp các chất ma túy
đã được quy định trong hai bảng của Công ước dù bất kỳ dưới dạng tự nhiên hay đãqua điều chế Khái niệm này còn tiếp tục được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 1Công ước của Liên hiệp quốc tế về chống buôn bán bất hợp pháp của chất ma tuý vàchất hướng thần năm 1988
- Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định các tộiphạm về ma tuý tại Chương XX gồm 13 Điều (từ Điều 247 đến Điều 259 không đưa
ra khái niệm chất ma tuý mà các chất ma tuý được liệt kê một số chất có tên gọi cụthể và các loại cây khác có chứa chất ma tuý, các chất ma tuý khác ở thể rắn, thểlỏng Theo đó các chất ma tuý theo quy định của BLHS là:
+ Cây thuốc phiện, cái Coca, cây Cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất
ma túy do Chính phủ quy định; Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cây Coca; lákhát, lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây Cần sa, quả thuốc phiện khô, tươi,
+ Heroine, cocaine, methamphetamine, amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11+Các chất ma túy khác ở thể lỏng, thể rắn
- Luật Phòng chống ma túy năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2008) đã đưa ramột số định nghĩa liên quan đến ma túy cụ thể như sau:
+ Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
Trang 15+ Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạngnghiện đối với người sử dụng.
+ Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu
sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng
+ Tiền chất ma túy là hóa chất cần thiết trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy, được quy định trong danh mục của Chính phủ ban hành
+ Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, thuốc dạng phối hợp
có chứa hợp chất hướng thần, thuốc dạng phối hợp có chứa tiền chất là các loạithuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ y tế ban hành có chứacác chất quy định tại Khoản 2,3,4 Điều này Đồng thời, Luật Phòng chống ma túycũng quy định về các loại cây có chứa chất ma túy và đưa ra khái niệm về ngườinghiện ma túy như sau:
Cây có chứa chất ma túy bao gồm cây thuốc phiện (cây Anh túc), cây Coca,cây Cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định Đến thờiđiểm hiện nay, danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành được quy định cụthể trong các Nghị định gồm: Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 củaChính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất; Nghị địnhsố133/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/11/2003 của Chính phủ quy định bổsung một số chất vào Danh mục các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ và Nghị định số 163/2007/NĐ-CPcủa Chính phủ ngày 12/11/2007 quy định sửa tên, bổ sung, chuyển, loại bỏ một sốchất thuộc danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ; Nghị định số 17/2011/NĐ-CPngày 22/02/2011 quy định về bổ sung, sửa tên chất, tên khoa học đối với một sốchất thuộc danh mục các chất ma túy và tiền chất ma túy ban hành kèm theo Nghịđịnh số 67/2001/NĐ-CPngày 01/10/2001 của Chính phủ và Nghị định số163/2007/NĐ-CP ngày 12/11/2007của Chính phủ; Nghị định số 82/2013/NĐ-CPngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các Danh mục chất ma túy và tiền chất;Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chất ma túy
Trang 16và tiền chất; gần đây nhất ngày 29/5/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số60/2020/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hànhkèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Theo đó,các chất ma túy được chia thành ba danh mục gồm:
Danh mục I: các chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng trong lĩnh vực y
tế, việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học vàđiều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền (có trong Bảng
IV Công ước của Liên hiệp quốc năm 1961 và Bảng I Công ước của Liên hiệp quốcnăm 1971 (gồm 45 chất
Danh mục II: các chất ma túy độc hại, được dùng hạn chế trong phân tích,kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theoyêu cầu điều trị (có trong Bảng I và Bảng II Công ước của Liên hiệp quốc năm1971) gồm 121 chất
Danh mục III: các chất ma túy độc dược dùng trong phân tích, kiểm nghiệm,nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị(có trong Bảng III và Bảng IV Công ước của Liên hiệp quốc năm 1971) gồm 69chất
Từ sự phân tích các quan điểm, các quy định của pháp luật về ma túy, chất
ma túy có thể rút ra khái niệm như sau:
Ma túy là các chất có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào
cơ thể con người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây kích thích mạnh hoặc ức chế thầnkinh và làm thay đổi trạng thái ý thức cũng như sinh lý của người sử dụng Nếu lạmdụng, con người sẽ bị lệ thuộc vào ma túy và dẫn đến tình trạng nghiện đối vớingười sử dụng ma túy
Việc nghiên cứu về ma túy và chất ma túy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới CQĐT, VKS, TA trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm cho việc khởi
tố, điều tra, truy tố và xét xử đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật,không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội
1.1.2 Khái niệm về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Trang 17Tàng trữ theo nghĩa thông thường là cất giữ cẩn thận những thứ có giá trị.Theo đó thì tàng trữ cũng đồng nghĩa với tích trữ nhưng thường đi liền với hành vicất giữa những thứ bị cấm và được hiểu theo nghĩa là tàng trữ trái phép.
Khái niệm này chỉ đề cập đến hành vi tàng trữ như là hành vi cất dấu những
đồ vật có giá trị như cất dấu vàng, bạc, tiền… tàng trữ còn đồng nghĩa với tích trữnhưng thường được đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và có mục đíchthu được những mối lợi nhất định cho người tích trữ hoặc để phòng ngừa lúc gặpkhó khăn như tích trữ lương thực, thực phẩm…
Theo Từ điển Luật học thì “tàng trữ trái phép là hành vi cất giữ trái phép đốitượng cụ thể trong người, nơi ở, nơi làm việc hoặc ở một nơi nào khác Do tính chấtđặc biệt của một số đối tượng nên hành vi tàng trữ trái phép một trong những đốitượng này bị pháp luật hình sự Việt Nam coi là tội phạm Đó là: Tội tàng trữ tráiphép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội tàng trữ trái phép vật liệunổ; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy [20, tr.693,694]
Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần tội phạm) do GS.TSKH LêCảm chủ biên thì khái niệm về hành vi vận chuyển, tàng trữ trái phép các chất matúy cụ thể như sau: “hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ tráiphép chất ma túy trong người, trong nhà hoặc ở nơi nào khác không kể thời gianbao lâu”
Quan điểm trên đây đã mô tả được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy làhành vi cất giấu trái phép ở những địa điểm nhất định nhưng hạn chế là chưa nêuđược mục đích của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
Theo bình luận khoa học BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) phầncác tội phạm của tác giả Đinh Văn Quế thì khái niệm về tội phạm theo quy định tạiĐiều 194 như sau “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạtchất ma túy là hành vi cất giữ, chuyển dịch hay mua để bán lại, cướp, bắt cóc nhằmchiếm đoạt, cưỡng bức, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, tham ô, lừađảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chất ma túy [11, tr.78]
Nghiên cứu khái niệm trên cho thấy, mặc dù khái niệm đã khái quát hóa đượccác hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
Trang 18chất ma túy nhưng đây là tội ghép bốn hành vi phạm tội do chưa làm rõ được kháiniệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Theo bình luận khoa học BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 doGS.TS Trần Văn Luyện chủ biên thì tàng trữ trái phép chất ma túy được hiểu là
“tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ, dấu trái phép chất ma túy ở bất kỳnơi nào như: trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong valy, cho vào thùngxăng xe, cất trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc mang theo người màkhông nhằm mục đích mua bán hay sử dụng trái phép chất ma túy khác
Quan điểm trên đây đã đề cập tương đối toàn diện về hành vi tàng trữ tráiphép chất ma tuý như: Tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi cất giữ, dấu bất hợppháp ở nhiều vị trí, địa điểm khác nhau đồng thời nêu được mục đích của tội tàngtrữ trái phép chất ma tuý
Tuy nhiên, nghiên cứu tất cả các khái niệm về tàng trữ, tàng trữ trái phép,tàng trữ trái phép chất ma tuý vẫn chưa đưa ra được khái niệm, mang tính tổng quátvới tính khái quát cao về tội tàng trữ trái phép chất ma túy Theo quan điểm củachúng tôi để đưa ra khái niệm mang tính khái quát cao về tội tàng trữ trái phép chất
ma túy phải trên cơ sở nghiên cứu, phân tích quy định của BLHS năm 2015 (sửađổi, bổ sung năm 2017 về khái niệm tội phạm được quy định tại (Điều 8); Tội tàngtrữ trái phép chất ma túy (Điều 249) đồng thời phải nghiên cứu, phân tích khái niệmchất ma túy; khái niệm tàng trữ, tàng trữ trái phép chất ma túy Từ đó có thể đưa rakhái niệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thựchiện bằng hành vi cất giữ, cất dấu trái phép chất ma túy ở bất cứ nơi nào như: trongnhà, ngoài sân, vườn, chôn dưới đất để trong vali, thùng xe, cất giấu trong quần áo,
tư trang mặc trên người hoặc mang theo người… mà không nhằm mục đích muabán hay sản xuất trái phép các chất ma túy khác do người có năng lực trách nhiệmhình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến chính sách và quy định của Nhànước về thống nhất quản lý các chất ma túy
Trang 191.2 Quá trình hình thành và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam đối với tội tàng trữ ma túy nói chung và tội tàng trữ trái phép chất ma túy nói riêng
1.2.1 Thời kỳ trước khi ban hànhBộ luật hình sự năm 1985
Nước ta có diện tích tự nhiên là 332,212 km2 trong đó đồi núi chiếm ¾ diệntích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, địa hình thấp dưới 1000 m chiếm 85 %diện tích lãnh thổ tạo thành một cánh cung luôn hướng ra biển đông chạy dài1400km Khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp với phát triển của các loài thực vật.Trước đây ở nước ta không có thuật ngữ “ma túy” mà chỉ tồn tại thuật ngữ “thuốcphiện” nhựa cây thuốc phiện hay còn gọi là cây “Anh túc” Cho đến nay chưa có thểbiết chính xác cây thuốc phiện từ đâu được đưa vào Việt Nam trồng từ năm nào màchỉ xác định vào khoảng đầu thế kỷ thứ XVII đã được trồng phổ biến ở các tỉnhmiền núi phía bắc và bắc trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An), đặc biệt được trồng nhiềunhất ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng
Tương tự như vậy, cây Cần sa, cây Coca cũng là hai loại cây có chứa chất matúy được đưa vào trồng ở Việt Nam muộn hơn so với cây thuốc phiện Cây Cần sa
và cây Coca được trồng ở các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh miền Tây Nam bộ Dohai loại cây này có tính chất và đặc điểm giống cây thuốc phiện nên được liệt vàocây thuốc phiện
Ban đầu, cây Thuốc phiện, cây Coca, cây Cần sa được trồng và khai thác, sửdụng như một loại thảo dược dùng trị các bệnh phong thấp, tiêu hóa hoặc dùng làmthuốc giảm đau, sau đó được dùng để hút trong các lễ hội, đám ma, đám cưới và trởthành có nhiều người nghiện Người nghiện thuốc phiện không chỉ ảnh hưởng đếnsức khỏe, giảm sút sức lao động mà còn có nhiều biểu hiện bất thường về thần kinh
và có những hành động đáng lo ngại, thậm chí là hành động nguy hiểm cho xã hộidẫn đến nhiều hệ lụy xấu cho gia đình và xã hội Để ngăn chặn tệ nạn nghiện hút vàtrồng cây thuốc phiện một số làng, bản đã lập ra các Hương ước quy định về việccấm sử dụng thuốc phiện
Trang 20Nhận thức được sự nguy hiểm của việc trồng và sử dụng cây Thuốc phiện,cây Cần sa, cây Coca đối với con người và xã hội Năm bành trị thứ III, triềuNguyễn đã ban hành đạo luật đầu tiên về việc cấm trồng cây thuốc phiện vì chorằng: “con trai, con gái dùng thuốc phiện để thỏa lòng dâm dục, trộm cướp; dùng nó
để dòm ngó nhà người ta trong kinh thành, ngoài thì thôn xóm vì nó mà có khi hỏahoạn, khánh kiệt tài sản; vì nó mà thân tàn người chẳng ra người” Đạo luật nàycũng quy định rõ: từ nay về sau, quan lại và dân chúng không được trồng và muabán thuốc phiện, ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa, giữ thì phải hủy đi
Nhận thức được tác hại của việc trồng cây thuốc phiện và sử dụng nhựa câythuốc phiện không chỉ đối với người nghiện mà còn mang lại nhiều tác hại xấu chotoàn bộ xã hội Chính vì vậy, ngày 03/9/1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyênngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong bài nói chuyện
về "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", Chủtịch Hồ Chí Minh đã nói:
Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta vơi rượu và thuốc phiện Nó đã dùng mọithủ đoạn nhằm hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng gian giảo,tham ô và những thói xấu khác Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lạinhân dân chúng ta… Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm thuốc phiện
Thực hiện chỉ thị này của Hồ Chủ Tịch, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhNghị định số: 150/TTg ngày 05/3/1952 quy định việc xử lý đối với những hành vi viphạm thể lệ quản lý thuốc phiện với những nội dung cụ thể sau đây:
Điều 5 - Ngoài các cơ quan chuyên trách, không ai được tàng trữ và chuyểnvận nhựa thuốc phiện hay thuốc phiện đã nấu rồi
Điều 6 - (Do Nghị định số 225-TTg ngày 22/12/1952 của Chính phủ sửa đổi
và bổ sung Nghị định số 150/TTg ngày 5/3/1952 quy định những hành vi phạmpháp sẽ bị phạt như sau:
- Tịch thu thuốc phiện tàng trữ hoặc chuyển vận trái phép;
- Phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị số thuốc phiện lậu
Ngoài ra, người phạm pháp còn có thể bị truy tố trước Tòa án nhân dân
Trang 21Tuy nhiên, những người đã bán lậu thuốc phiện cho người khác mà sau lại tốcáo với các cơ quan chuyên trách và giúp bắt được người buôn lậu thì sẽ được coi làlập công chuộc tội và không phải phạt.
Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 225/TTg ngày22/12/1952 quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện sẽ
bị xử lý bằng các hình thức cụ thể như: tịch thu thuốc phiện tàng trữ hoặc vậnchuyển trái phép; phạt tiền từ một đến năm lần trị giá số thuốc phiện lậu Ngoài ra,người vi phạm còn có thể bị truy tố trước TAND
Năm 1945, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình đượclập lại và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng và Nhànước Việt Nam tiếp tục quan tâm đến việc xây dựng hệ thống pháp luật mới, trong
đó có công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc phiện và các chất ma túy khác Thủtướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 580/TTg ngày 15/9/1995 quy địnhnhững Trường hợp cụ thể đưa ra Tòa án để xét xử như:
Điều 2 - Các Nghị định quy định những người vi phạm Nghị định số TTg ngày 05/3/1952 trong những trường hợp sau đây có thể đưa ra Tòa án nhân dânxét xử:
150 Buôn thuốc phiện lậu có nhiều người tham dự và có thủ đoạn gian lậu;
- Tang vật trị giá trên 1 triệu đồng;
- Buôn nhỏ hoặc làm môi giới nhưng có tính chất thường xuyên, chuyên mônhoặc đã bị phạt tiền nhiều lần
- Các vụ có liên quan đến nhân viên chính quyền hoặc bộ đội;
- Không thi hành quyết định phạt tiền của cơ quan Thuế vụ hoặc Hải quan.Điều 3 của Nghị định quy định bị can sẽ bị phạt như sau:
Trang 22Điều 4 - Các nghị định quy định trường hợp kẻ buôn lậu dùng vũ lực chống
cự lại nhà chức trách khi bị bắt giữ thì sẽ chiếu hình luật chung mà xử phạt thêm vềtội ấy
Để cụ thể hóa đường lối xét xử đối với những hành vi phạm tội về thuốcphiện, Bộ Tư pháp cũng đã ban hành các Thông Tư số: 635/VVH-HS ngày29/3/1958 và Thông Tư số: 33/VHH-HS ngày 05/7/1958 hướng dẫn đường lối truy
tố và xét xử những vụ án về buôn lậu thuốc phiện Theo Thông tư này, Bộ Tư phápcòn hướng dẫn việc xử lý đối với hành vi vi đặt tiền cọc mua thuốc phiện lậu
Về đường lối và chủ trương truy tố, xét xử đối với những vụ buôn thuốcphiện lậu, Thông tư số 33/VHH-HS ngày 05/7/1958 quy định:
Khi xét xử cần phân biệt: Loại tổ chức thường xuyên và tổ chức nhất thời;phạm vi hoạt động trong một tỉnh hay liên tỉnh; loại cầm đầu toàn bộ tổ chức buônlậu và loại cầm đầu từng bộ phận: Xuất vốn, mua hàng, chuyên chở, tàng trữ, tiêuthụ hàng lậu Phân biệt sự nguy hiểm của từng loại cầm đầu ấy mà xử lý; Loạichuyên nghiệp đã có tiếng từ hồi Pháp thuộc và loại mới vào nghề; Loại phần tử xấu
có tội ác, loại phần tử địch và những kẻ phạm pháp có tính chất cơ hội; Loại vũ khíhành hung cán bộ và loại thường
Về mức án, Thông tư số: 33/VHH-HS ngày 05/7/1958 quy định một số hìnhphạt tù được áp dụng đối với từng người phạm tội cụ thể và quy định một số biệnpháp tư pháp khác như phạt tiền và tịch thu tài sản của người phạm tội
Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước, Hội đồngChính phủ đã ban hành Nghị quyết số: 76-CP ngày 25/3/1977 về vấn đề hướng dẫnthi hành và xây dựng pháp luật thống nhất cho cả nước, trong đó có nếu quan điểmchống buôn lậu thuốc phiện của Đảng và Nhà nước ta Trong thời kỳ này, TAND tốicao, VKSND tối cao, Bộ Nội vụ cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn, ápdụng pháp luật khi điều tra, truy tố, xét xử tội phạm nói chung và tội phạm buôn lậuthuốc phiện nói riêng trên cơ sở của Nghị quyết này Tuy nhiên trong thời kỳ này,pháp luật hình sự Việt Nam chưa được hệ thống hóa một cách chính thức mà chỉbao gồm các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành Do đó không thể hiệnđược tình toàn diện, đầy đủ và chung nhất chính sách hình sự của Đảng và Nhà
Trang 23nước ta trong việc xử lý tội phạm nói chung, tội tàng trữ trái phép chất ma túy nóiriêng Vì vậy, việc ban hành một BLHS mới là vấn đề khách quan, cấp thiết và có ýnghĩa quan trọng trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược lúc bấy giờ là xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo về Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2.2 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Đến những năm đầu thập kỷ 90, do ảnh hưởng và tác động của các nướctrong khu vực đặc biệt là các nước có đường biên giới trên bộ với nước ta, tình hìnhtàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng ma túy ở nước ta có chiều hướng gia tăng.Đặc biệt, tình trạng tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép thuốc phiện và các chất
ma túy khác qua biên giới đang ngày càng trở nên phổ biến Trước tình hình đó và
do yêu cầu thực tế của đời sống xã hội, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VII đã thôngqua BLHS năm 1985 Đây là BLHS đầu tiên của nước ta quy định về tội phạm vàhình phạt và cũng là lần đầu tiên thuật ngữ "Chất ma túy" được đưa vào sử dụngtrong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, BLS năm 1985 mới chỉ
có duy nhất một điều luật quy định tội phạm về ma túy (Điều 203 Tội tổ chức sửdụng chất ma túy) và hai điều luật có liên quan đến ma túy (Điều 97 Tội buôn lậuhoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới) và (Điều 166 Tội buônbán hàng cấm) Khi mới ban hành việc áp dụng hai điều luật của BLHS về "Tộibuôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới" và "Tội buônbán hàng cấm" này được thực hiện theo hướng: hành vi buôn bán vận chuyển matúy trong nước thì bị áp dụng Điều 166 BLHS, còn hành vi buôn bán vận chuyển
ma túy qua biên giới thì bị áp dụng Điều 97 BLHS Vì vậy, tội phạm vận chuyển,mua bán trái phép chất ma túy vẫn chưa được ngăn chặn một cách quyết liệt và hiệuquả trong thời kỳ này
Trước tình hình buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy ngày càng gia tăng cả
về số lượng tội phạm và người phạm tội và diễn biến rất phức tạp, việc áp dụngĐiều 97 và 166 BLHS năm 1985 để xử ký các hành vi phạm tội về ma túy như trên
đã không thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm
Trang 24nguy hiểm này Chính vì vậy, ngày 28/12/1989, Quốc hội đã bổ sung Điều 96a quyđịnh về "Tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy" quyđịnh mức hình phạt cao nhất là tử hình Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được sửađổi bổ sung như vậy, tình hình phạm tội về ma túy không những không giảm đi, màtiếp tục gia tăng với những diễn biến ngày càng phức tạp hơn Mặc dù các cơ quantiến hành tố tụng ở Trung ương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn xử lý hành vi
có liên qua đến ma túy nhưng cũng không thể ngăn chặn được tệ nạn ma túy và tộiphạm về ma túy
Đến năm 1992, cuộc đấu tranh phòng chống ma túy đã chính thức được quyđịnh trong Hiến pháp năm 1992 Điều 61 của Hiến pháp năm 1992 quy định:
"Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốcphiện và các chất ma túy khác Nhà nước quy định về chế độ bắt buộc cai nghiện vàchữa các bệnh xã hội nguy hiểm"
Cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp năm 1992, Đảng và Nhà nước ta
đã đổi mới chính sách hình sự đối với tội phạm về ma túy Ngày 22/12/1992, Quốchội khóa IX thông qua Luật sủa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 Trên
cơ sở đó, các cơ quan có thẩm quyền cũng đã ban hành nhiều văn bản dưới luật đểtiếp tục ngăn chặn một cách có hiệu quả hơn sự gia tăng của tội phạm về ma túy.Song, hệ thống pháp luật vẫn chưa hoàn chỉnh nên đã gây ra nhiều khó khăn chothực tiễn đấu tranh phòng, chống ma túy và tội phạm về ma túy Do đó, có thể nóirằng việc sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 lần này cũng chỉ là biện pháp mang tínhtình thế Theo hướng dẫn tại thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20/3/1993 củaTAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp về một số quy định củaBLHS thì:
Đối với những người buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biêngiới hàng hóa là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chất nổ, chất cháy,chất độc, chất phóng xạ, các chất ma túy, văn hóa phẩm đồi trụy, từ nay chỉ đượctruy cứu trách nhiệm hình sự về tội "buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng
Trang 25hóa qua biên giới" theo Điều 97 mà không truy cứu thêm về tội phạm tương ứngtheo quy định tại các điều 05, 96, 96a, 99 như hướng dẫn trước đây.
Tiếp theo liên ngành tư pháp trung ương tiếp tục ban hành Thông tư liênngành số 06/TTLN ngày 14/2/1995 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Nội vụ,
Bộ Tư pháp hướng dẫn lại cụ thể như sau:
Sau một thời gian thực hiện thông tư liên tịch số 05/TTLT nói trên, thực tiễncông tác điều tra, truy tố, xét xử cho thấy đối với các hành vi buôn bán trái phéphoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hóa là các chất ma túy thì tội danhbuôn bán hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 96a BLHS là đúng hơn
và đề cao hơn ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống loại tội phạm này Vì vậy, đối vớimọi hành vi buôn bán trái phép, vận chuyển trái phép qua biên giới chất ma túy chỉtruy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 96a BLHS năm 1985
Tuy nhiên, theo quy định của BLHS năm 1985 (sau khi luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của BLHS được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 22/12/1992) thì: Cáchành vi khác như tàng trữ, chiếm đoạt, sản xuất, sử dụng, vận chuyển trong nướcđối với các chất ma túy chưa bị coi là tội phạm Chính vì vậy, năm 1997 Quốc hội
đã tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985, trong đó tội phạm về ma túy được quyđịnh thành một chương riêng: Chương VIIA “Các tội phạm về ma túy” để bổ sungvào “Phần các tội phạm” của BLHS năm 2985 gồm 14 điều với 13 tội danh cụ thể.Trong lần sửa đổi, bổ sung này, các hành vi phạm tội “sản xuất”, “tàng trữ”, “muabán”, “vận chuyển” trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 96a Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 đã được tách ra thành các tội danh riêng
biệt (Điều 185b Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Điều 185c Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Điều 185d Tội vận chuyển trái phép chất ma túy và Điều 185đ Tội mua bán trái phép chất ma túy) Như vậy, có thể nói đây là lần đầu tiên pháp
luật hình sự Việt Nam quy định “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy” thành những tội danh riêng biệt Đặc biệt là trong số các Điều 185b, Điều186c, Điều 186d, Điều 186đ này, trọng lượng, số lượng, thể tích, loại ma túy cũngnhư chất ma túy đã được quy định một cách cụ thể tương ứng với từng khung
Trang 26hình phạt cụ thể và tương ứng với từng tội danh cụ thể Vấn đề này tạo ra nhiềuthuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyềntrong việc nhận thức đúng đắn về mặt lý luận cũng như trong việc áp dụng pháp luật
để xử lý tội phạm về ma túy một cách đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Chính sách hình sựnày thể hiện thái độ kiên quyết và triệt để của Đảng và Nhà nước ta trong việc trừngtrị nghiêm khắc các tội phạm về ma túy Hơn thế nữa, điểm nhấn quan trọng nhấttrong chính sách hình sự của Việt Nam đối với bọn tội phạm về ma túy trong thời kỳnày chính là việc Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số: 798/QĐ-CTN ngày01/09/1997 về việc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia ba Côngước của Liên hợp quốc về kiểm sát ma túy gồm: Công ước thống nhất về các chất
ma túy băm 1961, công ước về các chất hướng thần năm 1971 và công ước vềchống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988
Để đảm bảo thống nhất trong việc xử lý các tội phạm về ma túy nói chungtheo quy định tại Chương VIIA “Các tội phạm về ma túy” mới được sửa đổi, bổsung năm 1997, trong việc xử lý các tội “tàng trữ”, “vận chuyển”, “mua bán” tráiphép chất ma túy nói riêng, các cơ quan chức năng hữu quan đã ban hành nhiều vănbản sưới luật gồm Thông tư liên ngành, Thông tư liên tịch để hướng dẫn thực hiện.Trong đó, Thông tư liên tịch số: 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày02/01/1998 và Thông tư liên tịch số: 02/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BNV ngày05/8/1998 của TAND tối cao, VKSND tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) vềviệc hướng dẫn áp dụng Chương VIIA “Các tội phạm về ma túy” mới được sửa đổi,
bổ sung năm 1997 và được đánh giá là các văn bản hướng dẫn đầy đủ và toàn diệnnhất trong việc thống nhất áp dụng pháp luật và xử lý các tội “tàng trữ”, “vậnchuyển”, “mua bán” trái phép chất ma túy
Tại Thông tư liên tịch số: 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày02/01/1998 của TAND tối cao, VKSND tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)
về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa BLHS về các chất ma túy được giải thích một cách cụ thể rõ ràng hơn:
Trang 27Chất ma túy là những chất được xác định và có tên riêng trong khoa học.Trong Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều cua BLHS 1985 đã quy định một sốchất ma túy cụ thể thường gặp như: Heroin, nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, caococa… Ngoài ra, trong điều luật còn quy định các chất ma túy khác ở thể rắn hoặc ởthể lỏng mà không liệt kê cụ thể đó là các chất gì Vì vậy, trong thực tiễn, khi ápdụng pháp luật các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng cầnhiểu các chất ma túy khác là các chất ma túy được quy địn cụ thể trong các Côngước quốc tế về kiểm soát ma túy mà Việt Nam đã tham gia ngoài các chất ma túy đãđược quy định cụ thể trong Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHSnăm 1985 (Kèm theo Thông tư này có Danh mục các chất ma túy theo quy địnhtrong các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia).
Mặt khác, các hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy cũng được xác định cụ thể hơn như sau:
- Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 185c là hành vi cấtgiữ bất hợp pháp các chất ma túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích muabán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không
có ý nghĩa đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự
Người cất giữ bất hợp pháp chất ma túy hộ cho người khác mà biết mục đíchmua bán trái phép chất ma túy này của người đó, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội “mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò của người đồng phạm (người giúpsức)
- Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại Điều 185d là hành vichuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác được thực hiện dướibất kỳ hình thức nào mà không nhằm mục đích mua bán
- Hành vi mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 185d là hành vibán hay mua, tàng trữ để bán lại hoặc để sản xuất ra chất ma túy khác để bán lại tráiphép, cũng được coi là hành vi mua bán trái phép chất ma túy hoặc dùng chất ma túy để trao đổi, thanh toán… bất hợp pháp
Trang 28Thông tư liên tịch số: 02/TTLT-TANDTC-VNSNDTC-BNV ngày 05/8/1998của TAND tối cao, VKSND tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) tiếp tụchướng dẫn cụ thể hơn các hành vi (mua bán trái phép chất ma túy) như sau:
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 285d BLHS là mộttrong các hành vi sau đây
- Bán trái phép chất ma túy cho người khác;
- Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
- Xin chất ma tuy nhằm bán trái phép cho người khác;
- Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
- Vận chuyển chất ma túy để bán trái phép cho người khác;
- Dùng chất ma túy để trao đổi, thanh toán… trái phép;
- Dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán… lấy chất matúy để bán lại trái phép cho người khác
Đồng thời, thông tư liên tịch này cũng nêu rõ một số trường hợp cụ thể để áp dụng pháp luật trong thực tiễn:
Người nào thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các điểm a và
e đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội (mua bán trái phép chất ma túy)theo Điều 185d BLHS không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có và(để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện một trong các hành viđược hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và g về tội mua bán trái phép chất ma túytheo Điều 185d BLHS, thì cần phải chứng minh được mục đích thực hiện một trongcác hành vi này của họ là bán trái phép chất ma túy đó) Trong trường hợp khôngchứng minh được mục đích bán trái phép chất ma túy của họ, thì tùy từng trườnghợp cụ thể mà căn cứ vào hướng dẫn tại tiết b, điểm 4, mục II, phần B của Thông tưliên tịch số: 01/1998 ngày 02/01/1998 để xử lý hành chính hoặc truy cứu tráchnhiệm hình sự về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 185c BLHS hoặc vềtội “vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Điều 185d BLHS Mặc khác, Thông tưliên tịch số 02/TTLT ngày 05/8/1998 này còn hướng dẫn cụ thể về việc xử lý đối với
đồng phạm: “người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người nào thực
Trang 29hiện một trong các hành vi trên đây đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
“mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 185d BLHS”.
Như vậy, qua bốn lần sửa đổi, bổ sung (theo các Luật Sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLHS năm 1985 được quốc hội thông qua vào các ngày 28/12/1989,ngày 12/8/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/5/1997) cùng với việc ban hành nhiềuvăn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành BLHS năm 1985, pháp luật hình sự ViệtNam nói chung và các chế định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy nói riêng đã từng bước được xây dựng một cách hoàn thiện, chặt chẽ và rõràng hơn Đây cũng là những cơ sở vững chắc ban đầu cho việc pháp điển hóaBLHS lần thứ hai vào năm 1999 nhằm giải quyết kịp thời và đáp ứng yêu cầu dothực tiễn đặt ra trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phòngchống tội phạm về ma túy nói riêng
1.2.3 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung, quan liêu, bao cấp Mặc dù đã góp phần giải quyết được một phầnnhu cầu bức xúc của xã hội và của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm vào thời
kỳ đó, nhưng những hạn chế về kỹ thuật lập pháp và thiếu sự đồng bộ, chặt chẽcũng như việc phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần đã làm cho BLHS năm 1985 khôngcòn là một chỉnh thể hoàn chỉnh và thống nhất Hơn nữa, công cuộc đổi mới ở nước
ta đã bắt đầu được thực hiện từ năm 1986, sau Đại hội Đảng lần thứ VI Trong điềukiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hìnhkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong nước và quốc tế cũng như thực tiễn đấutranh phòng chống tội phạm nói chung, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
về ma túy nói riêng đã có nhiều biến đổi nhanh chóng Thực tế này đòi hỏi BLHScủa nước ta phải được sửa đổi, bổ sung toàn diện, đặc biệt là trong điều kiện tộiphạm về ma túy đang có xu hướng trở thành tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vàViệt Nam cũng đã chính thức tham gia ba công ước của Liên Hợp quốc về kiểm soát
ma túy từ ngày 01/09/1997 Do đó, chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta
Trang 30cũng cần phải điều chỉnh kịp thời Chính vì vậy, từ ngày 21/12/1999 BLHS mới đãđược Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 8 thông qua Trong BLHS mới ban hành năm
1999, các tội phạm về ma túy được quy định tại chương XVIII gồm 10 điều luật quyđịnh và bổ sung một số tội danh mới cụ thể: Điều 192 Tội trồng cây thuốc phiệnhoặc các cây khác có chứa chất ma túy; Điều 193 Tội sản xuất trái phép chất matúy; Điều 194 Tội tràng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tráiphép chất ma túy; Điều 196 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển mua bán các phươngtiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy; Điều 197.Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Điều 198 Tội chứa chấp việc sử dụngtrái phép chất ma túy; Điều 1999 Tội sử dụng trái phép chất ma túy; Điều 200 Tộicưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; Điều 201 Tội viphạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác
Theo đó, tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy đã đượcghép với tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy thành một tội chung quy định tại Điều
194 BLHS năm 1999: “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếmđoạt chất ma túy” So với các quy định của BLHS năm 1985 về các tội tàng trữ, vậnchuyển, mua bán trái phép chất ma túy (và cả tội chiếm đoạt chất ma túy), thì quyđịnh tại Điều 194 BLHS năm 1999 bước đầu đã được đánh giá là có nhiều tiến bộ
về mặt lập pháp và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng chống các loạitội phạm về ma túy Về kỹ thuật lập pháp, việc quy định các hành vi tàng trữ, vậnchuyển, mua bán trái phép chất ma túy (và cả hành vi chiếm đoạt chất ma túy) trongcùng một điều luật, đồng thời chuyển quy định hình phạt bổ sung từ một điều luậtriêng (Điều 185 trong BLHS năm 1985) thành khoản 5 trong Điều 194 BLHS năm
1999 đã giảm thiểu được một cách đáng kể số lượng điều luật Đồng thời giảm sốlượng điều luật có hình phạt tử hình trong điều kiện nước ta đã gia nhập hiệp hội cácquốc gia Đông Nam á năm 1985 (Asean) và trở thành thành viên chính thức củaApec năm 1998 là hết sức cần thiết nhằm đề cao vấn đề nhân quyền Trong nhữngnăm đầu thi hành BLHS năm 1999, việc áp dụng pháp luật để xử lý các hành viphạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy cũng như việc quyết
Trang 31định hình phạt và hình phạt bổ sung đã được đánh giá là đơn giản hơn, thuận tiệnhơn và hiệu quả hơn Lí do là khi các cơ quan tiến hành tố tụng chưa chứng minhđược một hành vi phạm tội cụ thể nào đó là hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”hành vi “vận chuyển trái phép chất ma túy” hay là hành vi “ mua bán trái phép chất
ma túy”, thì các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể áp dụng Điều 194 BLHS đểgiải quyết vụ án trong tất cả các giai đoạn tố tụng Tuy nhiên, theo cấu trúc của Điều
194 của BLHS năm 1999 thì việc quy định về định lượng chất ma túy trong cáckhung hình phạt cụ thể, các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự cũngnhư khung hình phạt cụ thể đối với các hành vi phạm tội “tàng trữ” “vận chuyển” và
“mua bán” trái phép chất ma túy là hoàn toàn giống nhau Điều này cũng có nghĩa làcác nhà làm luật đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành
vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”, hành vi “vận chuyển trái phép chất ma túy” vàhành vi “mua bán trái phép chất ma túy” là hoàn toàn giống nhau hoặc tương đươngvới nhau Đây cũng chính là một trong những vấn đề dẫn đến giải quyết các vụ ántrong thời gian này gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và bất cập cả về lý luận và thựctiễn
Nhìn chung, BLHS năm 1999 đã chính thức định lượng hóa một cách cụ thểcác chất ma túy trong từng khung hình phạt, tăng nặng mức hình phạt, nâng caohình phạt tiền và tịch thu tài sản, đồng thời có thêm một số hình phạt bổ sung khác
Đó cũng chính là những điểm mới quan trọng nhất trong chính sách hình sự củaĐảng và Nhà nước ta đối với tội phạm về ma túy Để hoàn thiện thêm hệ thống phápluật về phòng, chống ma túy, Quốc hội khoa X (kỳ họp thứ 8) đã thông qua LuậtPhòng chống ma túy vào ngày 09/12/2000 Sau đó, luật Sửa đổi, bổ sụng một sốđiều của luật phòng chống ma túy do Quốc hội ban hành năm 2008 tiếp tục thể hiệnquyết tâm của Đảng và Nhà nước ta cũng như nỗ lực của toàn xã hội trong việcngăn chặn các tệ nạn về ma túy trong việc phòng chống tội phạm về ma túy nóichung và tội phạm về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng
Trong quá trình thi hành BLHS năm 1999, TAND tối cao, VKSND tối cao,Chính phủ và một số cơ quan chức năng khác đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn
Trang 32áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999 Trong số đó, có các văn bản hướngdẫn các quy định của BLHS về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất matúy như các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao gồm: Nghị quyết số01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định của cácĐiều 139, Điều 193, Điều 194, Điều 278, Điều 279 và Điều 289 BLHS; Nghị quyết
số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số trường hợp cụ thểcủa BLHS; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụngmột số điều của BLHS Cả ba Nghị quyết này đều tập trung hướng dẫn áp dụng một
số vấn đề cụ thể nhằm phục vụ cho hoạt động xét xử của ngành Tòa án, đặc biệttrong Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phánTAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều BLHS, vấn đề xác định trách nhiệmhình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội muabán trái phép chất ma túy đã được hướng dẫn cụ thể
Cùng với những văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
xử của ngành Tòa án như đã nêu, chính phủ, TAND tối cao, VKSND tối cao, BộCông an, Bộ Tư pháp và một số cơ quan chức năng khác cũng đã ban hành nhiềunghị định, thông tư liên ngành, thông tư liên tịch để hướng dẫn chi tiết hơn, cụ thểhơn các quy định của BLHS năm 1999 như: Thông tư liên tịch số:17/2007/TTLT/BCA/TANDTC/VKSNDTC/BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an,TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ tư pháp quy định về việc hướng dẫn áp dụngmột số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999
đã trở thành văn bản pháp lý quan trọng trong việc áp dụng một cách chi tiết, đầy đủ
và thống nhất các quy định của BLHS về tội phạm ma túy
Để tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS nói chung và các quy định củaBLHS về các tội phạm ma túy nói riêng ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hộikhóa XII đã thông qua luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 Việcban hành việc sửa đổi, bổ sung này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trìnhhoàn thiện pháp luật hình sự của nhà nước ta, góp phần khắc phục những hạn chế,bất cập của BLHS năm 1999, từng bước đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra
Trang 33và đảm bảo yêu cầu nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạmtrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Luật Sửa đổi, bổ sụng BLHS năm 2009 đã thể chế hóa chính sách nhân đạocủa Đảng, Nhà nước; hình sự hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội đòi hỏi phải xử
lý về hình sự mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, côngnghệ và hội nhập quốc tế; phi hình sự hóa một số hành vi bị coi là tội phạm trongBLHS năm 1999 nay không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Theo đó, luật sửa đổi,
bổ sung BLHS năm 2009 loại bỏ hình phạt tử hình ở 8 điều luật (trong đó có khoản
4, Điều 197 tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy) BLHS năm 1999 quy địnhngười thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc mộttrong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: “gâytổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên; gây chếtnhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” Theo luật sửa đổi, bổsung BLHS năm 2009 người thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phépchất ma túy thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì chỉ bị phạt tù đến 20 nămhoặc tù chung thân
Tại khoản 3 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2009, các nhà làm luật
đã loại bỏ (hoàn toàn) 4 tội danh trong BLHS năm 1999, trong đó có tội “sử dụngtrái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 199 Việc bãi bỏ điều luật này thể hiệntính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam và cũng khẳng định một thực tế là:Thực tiễn thi hành BLHS năm 1999 đã cho thấy các hành vi sử dụng trái phép chất
ma túy không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Việc bỏ tội sử dụng trái phép chất matúy trong BLHS lần này xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ởViệt Nam trong thời gian qua Thực tế đã chứng minh hiệu quả răn đe, phòng ngừachung của việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật này làkhông cao Hiệu quả giáo dục, cải tạo, phục hồi đối với người sử dụng trái phépchất ma túy bằng các chế tài hình sự cũng rất hạn chế Hơn nữa, số lượng người sửdụng trái phép chất ma túy trong thực tế rất nhiều, nên nhà nước không thể xử lý hết
số người này bằng các biện pháp, chế tài hình sự Việc tiếp tục quy định hành vi sử
Trang 34dụng trái phép chất ma túy là tội phạm trong BLHS rất dễ dẫn đến tình trạng không công bằng khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
1.2.4 Các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các tội phạm ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Sau hơn 14 năm thi hành BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã
có những tác động tích cực đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nóichung, các tội phạm về ma túy trong đó có tội tàng trữ trái phép chất ma túy nóiriêng; bảo đảo thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, góp phầntích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên kể từ khi BLHSnăm 1999 ban hành đến nay tình hình đất nước ta đã có nhiều thay đổi lớn về mọimặt Để thể chế hóa quan điểm của Đảng về đường lối chính sách đấu tranh phòngchống tội phạm và yêu cầu cải cách tư pháp cũng như cụ thể hóa các quy định củaHiến pháp về quyền con người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng Tại kỳ họp thứ
10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).Việc ban hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã đánh dấu một bướcquan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật là cơ sở pháp lý để đấutranh phòng chống tội phạm ngày càng có hiệu quả
- Đối với các tội phạm về ma túy các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017) có một số điểm mới so với các quy định của BLHS năm 1999(sửa đổi, bổ sung năm 2009) ở một số điểm sau đây:
+ Về số lượng tội phạm, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cáctội phạm về ma túy được quy định tại chương XVIII với 9 điều bao gồm từ điều 192đến điều 201 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các tội phạm về matúy được quy định tại chương XX gồm 13 điều (từ điều 247 đến điều 259), tức lànhiều hơn 4 điều so với BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
+ Tách điều 194 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thành 4 điều:điểm mới đáng lưu ý đầu tiên là BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đãtách điều 194 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thành 4 tội riêng biệt
Trang 35đó là tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249; tội “vậnchuyển trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 250; tội “ mua bán trái phépchất ma túy” được quy định tại Điều 251 và tội “chiếm đoạt chất ma túy” được quyđịnh tại điều 252.
Việc thay đổi này được dựa trên thực tiễn cho thấy việc gộp chung các tộidanh trong cùng một điều luật gặp không ít khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụngtrong việc xác định tội danh và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội tàng trữ,vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
+ Quy định về định lượng: về định lượng các chất ma túy, BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã pháp điển hóa quy định cụ thể, rõ ràng mức tốithiểu đến mức tối đa định lượng chất ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự trongtừng điều luật, đó là các Điều 249, Điều 250, Điều 252; quy định cụ thể việc địnhlượng các tiền chất, các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất trái phép chất
ma túy tại các Điều 253 và Điều 254
+ Quy định thêm về một số chất ma túy: Đồng thời BLHS năm 2015 (sửađổi, bổ sung năm 2017) đã quy định thêm một số chất ma túy nằm trong danh mụccác chất ma túy đã được chính phủ quy định vào các điều luật cụ thể như chất matúy Methamphetamine, Amphetamine, MDMA…
+ Thay đổi về đơn vị tính: BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có
sự thay đổi về đơn vị tính, các vụ án ma túy từ trước đến nay khi thu giữ được vậtchứng đều được xác định bằng gam, kilogam,… đây chính là đơn vị tính khối lượngchứ không phải trọng lượng Vì vậy, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
đã thay đổi đơn vị tính từ “trọng lượng” thành”khối lượng” trong các điều luật đểđảm bảo tính chính xác của đơn vị tính
- Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nội dung cụ thể như sau:
Điều 249 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1 Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
Trang 36a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc
đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và
252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam; g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;
e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;
Trang 37g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam; k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;
m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;
n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;
o) Tái phạm nguy hiểm.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01
kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng tù 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;
Trang 38g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;
h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;
b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;
c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;
d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;
e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;
g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;
h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
1.3 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy dùng để phân biệt với một số tội phạm khác về ma túy có các yếu tố tương đồng
1.3.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Trang 39Cũng như các nước trên thế giới, ở nước ta, xuất phát từ tác hại của các chất
ma túy đối với sức khỏe của con người và hệ lụy của tệ nạn về ma túy đối với giađình người nghiện ma túy và cho xã hội; Nhà nước có quy định nghiêm ngặt vàthống nhất quản lý về chất ma túy Chính vì vậy nếu có hành vi vi phạm quy địnhcủa Nhà nước về quản lý chất ma túy được quy định trong BLHS đều bị coi là tộiphạm bị xử lý nghiêm khắc
1.3.1.2 Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguyhiểm cho xã hội được thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan bao gồm hành vicất, giữ, giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào như: trong nhà, ngoài sân,vườn, chôn dưới đất, để trong valy, cho vào thùng xe, cánh cửa xe, cất trong quần
áo, tư trang cá nhân mặc trên người hoặc mang theo người
Việc cất, giữ, giấu bất hợp pháp chất ma túy phải không nhằm mục đích đểbán hoặc để sản xuất trái phép chất ma túy khác Đây cũng là yếu tố bắt buộc trongmặt khách quan của tội phạm này
Về trọng lượng, hành vi tội tàng trữ trái phép chất ma túy để cấu thành tộiphạm cần phải có trọng lượng tối thiểu theo quy định của điều luật Hậu quả củahành vi tội tàng trữ trái phép chất ma túy không phải là yếu tố bắt buộc của mặtkhách quan của tội phạm
1.3.1.3 Chủ thể
Chủ thể của tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy là bất kỳ ai, đạt được độtuổi theo quy định của pháp luật và có năng lực trách nhiệm hành vi
Trang 40Căn cứ vào Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và Điều 249 BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì đối với tội tội tàng trữ trái phép chất ma túythì người thực hiện hành vi phạm tội trở thành chủ thể của loại tội phạm này phảiđạt được độ tuổi như sau: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệmhình sự khi phạm tội thuộc trong các trường hợp quy định tại khoản 2, 3, 4 của loạitội phạm này (nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 thì không phảichịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội phạm nàyđược quy định ở tất cả các khung hình phạt
1.3.1.4 Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy được thể hiện ở chỗ tộiphạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Tức là người thực hiện hành vi phạm tộibiết được hành vi của mình là bị pháp luật nghiêm cấm, thấy trước được tác hạinguy hiểm do hành vi của mình gây ra nhưng vẫn thực hiện
1.3.1.5 Về hình phạt áp dụng
- Hình phạt chính
BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không chỉ cụ thể hóa hơn vềkhối lượng các chất ma túy mà còn quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn về các yếu tốđịnh khung cơ bản và khung tăng nặng Theo đó thì tội tàng trữ trái phép chất matúy Điều 249 BLHs năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được tách ra từ Điều
194 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất
ma túy của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) do đó có sự điều chỉnhmức hình phạt của các khung theo hướng nhẹ hơn phù hợp với tính chất mức độnguy hiểm cho xã hội của tội phạm này so với các tội phạm khác Cụ thể như sau:
+ Tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hình phạt của khung cơ bản quy định từ 01 năm đến 05 năm tù
+ Khung hình phạt tăng nặng gồm 03 khung; khung 2 quy định mức hìnhphạt từ 5 năm đến 10 năm tù; khung 3 quy định mức hình phạt từ 10 năm đến 15năm tù; khung 4 quy định từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân tùy thuộc vàokhối lượng chất ma túy mà CQĐT có thẩm quyền thu giữ