Từ lâu, Xquang không những có giá trị như một tiêu chuẩn vàng trongchẩn đoán LR qua chụp đại tràng thụt baryt với các hình ảnh điển hình củaLR được rất nhiều tác giả mô tả, mà Xquang còn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐINH XUÂN HẬU
GI¸ TRÞ CñA SI£U ¢M TRONG CHÈN §O¸N Vµ H¦íNG DÉN TH¸O LåNG §IÒU TRÞ LåNG RUéT
TRÎ EM T¹I BÖNH VIÖN XANH P¤N
Trang 3MỤC LỤC
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 6Từ lâu, Xquang không những có giá trị như một tiêu chuẩn vàng trongchẩn đoán LR qua chụp đại tràng thụt baryt với các hình ảnh điển hình của
LR được rất nhiều tác giả mô tả, mà Xquang còn đóng góp rất lớn tronghướng dẫn kiểm tra trong các phương pháp tháo lồng không mổ bằng thụtbaryt hay bơm hơi với tỷ lệ thành công cao [5] Tuy nhiên nhược điểm lớn củaphương pháp tháo lồng này là nhiễm tia X cho bệnh nhân và người thực hiện,không miêu tả được nguyên nhân gây lồng [6]
Trong 25 năm đã qua, siêu âm (SA) đã phát triển và mở ra một hướng
đi mới trong chẩn đoán [7] Cùng với việc đưa SA vào chẩn đoán bệnh lývùng bụng, có nhiều nghiên cứu lớn chứng tỏ rằng SA đạt hiệu quả cao trongchẩn đoán và đánh giá kết quả tháo lồng Siêu âm góp phần cung cấp nhữnghiểu biết cặn kẽ hơn về giải phẫu và sinh lý bệnh lồng luột (LR) Như là mộtphương tiện chẩn đoán chính xác và an toàn, SA có thể phát hiện nguyên nhân
LR và phát hiện các chẩn đoán bệnh lý khác [6]
Trang 7Từ những năm 1970, siêu âm đã được sử dụng tại Việt Nam Kể từ đó,
SA là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được ứng dụng phổ biến trong nhiềuchuyên khoa khác nhau [8]
Tại bệnh viên Xanh Pôn với hàng trăm lượt bệnh nhi khám hàng ngày,
tỷ lệ LR xuất hiện với tần số cao Chẩn đoán LR trên siêu âm đã được ứngdụng từ lâu và tỏ ra rất hiện quả trong vấn đề đánh giá kết quả tháo lồng, tuynhiên mô hình điều trị tháo lồng bằng bơm hơi dưới sự theo dõi của SA cònmới và ít được áp dụng [9] Để góp phần nâng cao giá trị của siêu âm trong
chẩn đoán lồng ruột ở trẻ em, chúng tôi tiến hành đề tài: “Giá trị của siêu âm
trong chẩn đoán và hướng dẫn tháo lồng điều trị lồng ruột trẻ em tại bệnh viện Xanh Pôn” với hai mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và hình ảnh siêu âm của lồng ruột
trẻ em.
2 Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán và theo dõi điều trị lồng ruột
trẻ em.
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Trên thế giới
Lồng ruột (LR) có từ tên gốc la tinh là Invaginatio hay Intussusceptio,
là một trạng thái bệnh lý mà trong đó một đoạn ruột sa vào lòng đoạn ruột kếtiếp gây nên một hội chứng tắc ruột cơ học với cơ chế vừa bịt vừa nghẽn
Bệnh đã biết từ lâu, từ thời Hippocrate, nhưng hầu hết các tác giả thờibấy giờ không phân biệt được LR với tắc ruột do nhiều nguyên nhân khácnhau Chỉ trong vòng 300 năm gần đây, bệnh lý LR mới được biết đến như làmột bệnh lý tách biệt
Với phát minh tia Roentgen (1985), y học đã bước sang thời kỳ mới vớinhững ứng dụng Xquang trong y học Trong LR, Xquang được sử dụng đểchẩn đoán và theo dõi kiểm tra trong tháo lồng, làm thay đổi cơ bản phươngpháp tháo lồng bằng áp lực thủy tĩnh
Năm 1927, Retan và Srtephens đã mô tả các sử dụng chất cản quangbarium để tháo lồng
Năm 1963, Shen Ya Hsiung đã thực hiện tháo lồng bằng bơm hơi đạitràng trên 455 bệnh nhân với tỷ lệ thành công là 95,6%
Năm 1982, Bowerman là tác giả đầu tiên mô tả hình ảnh LR ở trẻ emtrên siêu âm Càng ngày càng có nhiều tác giả ứng dụng siêu âm trong chẩnđoán và điều trị LR [10]
Del-Pozo ngoài việc ghi nhận hình ảnh đặc hiệu của LR trên SA, ôngcòn tìm ra mối liên quan giữa chiều dày thành ruột lồng, sự hiện diện của dịch
tự do ổ bụng, dịch trong lòng khối lồng (KL) với kết quả tháo lồng (TL) [1]
Woo (1992) đã sử dụng SA chẩn đoán LR sau đó thụt đại tràng bằngnước mối sinh lý để TL dưới hướng dẫn của SA với tỷ lệ thành công cao(85%) [11]
1.1.2 Việt nam
Trang 9Năm 1991, Huỳnh Thị Tuyết Tâm và Nguyễn Phước Bảo Quân đã ứngdụng siêu âm trong chẩn đoán lồng ruột tại BV Trung Ương Huế [2].
Năm 1996, Nguyễn Hữu Thuấn đã báo cáo kết quả bước đầu sử dụngsiêu âm trong chẩn đoán lồng ruột và ứng dụng phương pháp tháo lồng bằngnước dưới sự hướng dẫn của siêu âm tại BV Sóc Trăng [12]
Năm 2011, Hoàng Minh Lợi đã báo cáo kết quả sử dụng siêu âm trongchẩn đoán, tiên lượng và theo dõi điều trị lồng ruột bằng phương pháp bơmhơi không khí vào đại tràng tại BV Trung Ương Huế [13]
Năm 2013, Nguyễn Tử Anh đã báo cáo kết quả sử dụng siêu âm trongchẩn đoán và đánh giá điều trị lồng ruột trẻ em tại BV Xanh Pôn [9]
Như vậy, tại Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về LR, TL và đã cónghiên cứu về LR trên SA, tuy nhiên cỡ mẫu nhỏ, do vậy chúng tôi tiến hànhnghiên cứu này là cần thiết
1.2 DỊCH TỄ HỌC
LR là một cấp cứu khá thường gặp ở trẻ em Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc
LR ở trẻ em dưới 1 tuổi tại Hà Nội là 302/100.000, tại TP.Hồ Chí Minh là296/100.000, tại Hải Phòng là 559/100.000 [14]
LR có thể gặp ở bất kỳ tuổi nào, song thường gặp nhất ở trẻ dưới 24tháng tuổi, tỷ lệ 80-90% [4], [ 9], [ 15] trong đó tập trung ở lứa tuổi 4-9 thángtuổi chiếm 75% [4]
Thống kê của nước ngoài cho thấy 65-79% bệnh nhân bị bệnh trongnăm đầu của cuộc đời Tại Việt Nam: Phạm Thu Hiền [4] gặp 76,2% BN dưới
12 tháng tuổi, Đào Quang Vinh [16] gặp 65,1% BN dưới 12 tháng tuổi Hiếmgặp BN dưới 1 tháng tuổi bị LR [4]
Trang 10Hầu như ít gặp LR ở trẻ suy dinh dưỡng, đa số ở trẻ bú mẹ, bụ bẫm,khỏe mạnh [17] Theo nghiên cứu, khoảng 60% trẻ mắc LR nuôi bằng sữa
mẹ, 40% trẻ nuôi bằng sữa nhân tạo [4]
Ưu thế mắc bệnh ở nam, tỷ lệ nam/nữ khoảng 3/1 đến 2/1 [9],[17], [18], [19]
Gặp quanh năm nhưng nhiều nhất vào mùa đông xuân, là mùa thường
có tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp cao [18] Tại Việt Nam, miền Bắc hay gặpvào mùa đông xuân, miền nam hay gặp mùa hè thu Nguyễn Xuân Thụ [20]gặp 63,7% BN mắc bệnh từ tháng 11-4, Đặng Thị Hương [21] gặp 47% vàomùa Thu, 21,9% vào mua Đông
Với tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị đã giảm tỷ lệ tử vong đáng kể,khoảng 1% ở nước phát triển [22]
1.3 GIẢI PHẪU BỆNH
1.3.1 Định nghĩa
LR là trạng thái bệnh lý trong đó hai khúc ruột trên và dưới chui lồngvào nhau gây nên hội chứng tắc ruột cơ học, tạo nên KL bít lòng ruột [17]
1.3.2 Cấu tạo khối lồng
Bổ dọc một KL thông thường cho ta thấy 3 lớp:
− Ống vỏ ngoài chứa khối ruột lồng vào thường là ống ruột dưới
− Ống vỏ trong là ruột lồng vào
− Ống vỏ giữa được hình thành từ ống vỏ ngoài lộn vào hoặc ống
vỏ trong lộn ngược lại tùy theo kiểu lồng
Đầu KL là điểm mút của ống vỏ giữa và ống vỏ trong
Cổ KL là điểm mút của ống vỏ ngoài và ống vỏ giữa [22]
Trang 11Hình 1.1 Cấu tạo khối lồng
1-Đầu KL; 2-Khối lồng;3-Thành KL;4-Ống vỏ ngoài; 5-Cổ KL;
7-Ruột phía dưới; 8-Ruột phía trên; 9-Thanh mạc; 10-Niêm mạc ruột
Nguồn: Nguyễn Tòng [22]
1.3.3 Các kiểu lồng ruột
Các hình thức giải phẫu của LR được xác định bởi điểm khởi đầu của
LR và vị trí của ruột bị lồng vào:
− LR non (hỗng-hỗng tràng, hỗng-hồi tràng, hồi-hồi tràng)
− LR già (manh-đại tràng, đại-đại tràng) Nhưng thường gặp nhất làlồng phần cuối hồi tràng vào manh tràng hay đại tràng
− LR có thể đơn giản (3 lớp, một đầu, một cổ) hoặc lồng kép (5 lớp, 2đầu, 2 cổ) [4]
1.3.3.1 Phân loại theo giải phẫu:
Trang 12hồi-hồi-Hình 1.3: Các kiểu lồng hồi-đại tràng, Nguồn: Nguyễn Tòng [22]
a) LR hồi-manh tràng: Đầu KL là van Bauhin cố định
b) LR hồi – đại tràng: cổ KL là van Bauhin cố định
c) LR hồi-hồi-đại tràng
1.3.3.2 Các thể lồng ruột
Trang 13LR cấp tính: 80-90% trẻ em dưới 24 tháng, chủ yếu là trẻ 4-9 tháng.
Các triệu chứng của LR cấp tính thường điển hình Gồm LR nguyên phát và
LR thứ phát
LR bán cấp và LR mạn tính: chủ yếu xảy ra ở trẻ em trên 25 tháng tuổi,
gặp nhiều ở 3-4 tuổi Trẻ có những triệu chứng sau [23]:
- Đau bụng: kéo dài từng đợt, các cơn đau thưa, không dữ dội như trẻnhỏ, vài cơn đau trong ngày, mỗi đợt khoảng 2-6 ngày rồi hết đau, KL cũngbiến mất, sau đó tái diễn lại Tình trạng này có thể kéo dài hàng tháng
- Nôn: hay gặp
- Ỉa máu: tỷ lệ không cao như LR cấp, khoảng 44%
- Sờ thấy KL: tỷ lệ khoảng 89%
1.4.NGUYÊN NHÂN BỆNH SINH
1.4.1 Lồng ruột có nguyên nhân thực thể.
LR có nguyên nhân thực thể ở trẻ em chiếm tỷ lệ thấp, trung bìnhkhoảng từ 5-10% trường hợp LR [4]
Túi thừa Meckel là nguyên nhân hàng đầu trong các trường hợp LR cónguyên nhân Đó là khởi điểm của lồng hồi-hồi tràng, hồi-hồi-manh tràng hayhồi-hồi-đại tràng [4] Theo Đặng Thu Hương (2013) [21] trong 76 ca LR phảiphẫu thuật, 81,7% không tìm thấy nguyên nhân, 7,9% do túi thừa Meckel
LR còn do polyp trong lòng ruột hoặc u ác tính, u máu gây ra
Những bệnh lý khác của ống tiêu hóa như ruột đôi, dây chằng góc hồimanh tràng cũng có thể là nguyên nhân gây LR [4]
Ngoài ra một số nguyên nhân gây LR như bệnh lý toàn thân, hóa trịliệu… [9]
1.4.2 Lồng ruột tự phát ở trẻ nhũ nhi
Trang 14Trường hợp LR không thể tìm thấy bất thường giải phẫu được gọi là
LR vô căn hay LR tự phát LR tự phát chiếm tỷ lệ cao từ 75-90% [1], [ 18].Tuy nhiên người ta vẫn đưa ra một số giả thuyết để giải thích các nguyênnhân gây LR tự phát:
− Giả thuyết về sự phì đại của các mảng Peyer và các hạch mạc treo ruột
− Yếu tố thần kinh: ưu thế thần kinh X ở trẻ làm LR dễ xuất hiện
− Yếu tố sinh lý: bé trai hay gặp hơn bé gái do áp suất trong ổ bụng vànhu động ruột của bé trai hơn bé gái
− Yếu tố giải phẫu: 80% trẻ dưới 12 tháng có manh tràng di động
− Giải thuyết về sự mất cân đối nghiêm trọng giữa kích thước của hồimanh tràng so với van hồi manh tràng [18]
1.5 SINH LÝ BỆNH VÀ TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU
1.5.1 Sinh lý bệnh
LR gây ra các rối loạn sinh lý tùy theo tính chất và thời gian diễn biếncủa bệnh [17], [ 22]
1.5.1.1 Rối loạn tại chỗ
Cản trở lưu thông của ống tiêu hóa:
- KL làm tắc lòng ruột, lúc đầu tắc ít, còn lưu thông một phần, sau tắchoàn toàn gây ứ đọng hơi và dịch trong lòng ruột ở phía trên chỗ tắc
- Giai đoạn đầu, do cơ chế thần kinh thể dịch, ruột tăng nhu động đưa
KL vào sâu đồng thời còn gây nên sóng nhu động bất thường, gây nên cơnđau bụng dữ dội từng đợt
- Giai đoạn sau, nhu động giảm, ruột giãn nhiều do ứ đọng, BN nônnhiều Sự ứ đọng hơi và dịch do lưu thông ngưng trệ gây kích thích đám rốiAurebach làm tăng tiết dịch tiêu hóa Sự cản trở tuần hoàn tĩnh mạch cũnglàm tăng tiết dịch Hậu quả làm mất nhiều dịch, điện giải Na, K
Trang 15- Trên chỗ tắc, vi khuẩn lên men thối tăng sinh và hoạt động thoát vào ổbụng, hấp thụ vào máu gây nên tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc toàn thân.
Cản trở tuần hoàn của đoạn ruột lồng:
- Khi LR, mạc treo đoạn ruột lồng bị ép giữa các lớp của KL, các tĩnhmạch mạc treo bị ứ máu, quai ruột lồng bị phù nề lại làm các tĩnh mạch bịchèn ép thêm Tĩnh mạch ứ máu gây chảy máu vào lồng ruột kết hợp với niêmmạc ruột tăng tiết chất nhày gây nên hiện tượng phân nhày máu mũi
- Lúc đầu áp lực động mạch còn thắng được áp lực tĩnh mạch nên ruộtvẫn được nuôi dưỡng Về sau, ruột bị ép ngày càng nhiều, áp lực tĩnh mạchngày càng tăng, dẫn đến không còn sự chênh áp giữa động mạch và tĩnh mạchmạc treo Các tiểu động mạch thiếu oxy nuôi dưỡng làm cho KL bị hoại tử.Thường ống ruột giữa bị hoại tử trước, sau đó là ống trong, ống ruột ngoài ít
bị hoại tử [17]
1.5.1.2 Rối loạn toàn thân.
Những biểu hiện rối loạn toàn thần thường gặp ở giai đoạn muộn củabệnh [17]
Mất nước, nguyên nhân mất nước do:
− Ứ đọng dịch trên chỗ tắc vì tăng tiết và giảm hấp thu của ruột
− Dịch thấm vào trong ổ bụng
− Nôn
Rối loạn điện giải, thăng bằng kiềm toan:
− Mất Clo do nôn nhiều
− Giảm Na máu do ứ nhiều Na trong ruột
− Có tình trạng toan chuyển hóa, dị hóa nhiều Lipid gây nên nhiều thểceto
− Nôn kéo dài làm kiềm chuyển hóa vì mất HCO3
1.5.2 Tổn thương giải phẫu.
Trang 16Thay đổi phụ thuộc vào thời gian bị bệnh, kiểu lồng, cổ KL chặt haylỏng [9], [17].
− Ruột ở trên KL có thể bình thường hay căng chứa dịch
− Mạc treo nhiều hạch, phù nề, nếu LR đến muộn có chấm xuất huyết
− Khúc ruột lồng thi tháo có thể hơi tím sau hồng trở lại hoặc không hồng trởlại
− Khi lồng quá chặt không tháo được khúc ruột lồng đã hoại tử Đầu KL phù nề,các mao mạch hạ niêm mạc bị vỡ gây xuất huyết đường tiêu hóa
1.6 CHẨN ĐOÁN LỒNG RUỘT
1.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào tam chứng kinh điển gồm:
− Đau bụng cơn: là biểu hiện nổi bật nhất, thể hiện bằng các cơn khóc thét xuấthiện đột ngột, dữ dội làm bệnh nhân ưỡn người từng cơn, mỗi cơn kéo dài 5-
10 phút, thời gian giữa các cơn khoảng 15 phút đến nửa giờ
− Nôn: thường xuất hiện sau cơn đau đầu tiên, chất nôn là sữa hoặc thức ăn vừa ănvào Nếu bệnh nhân đến muộn có thể nôn ra dịch xanh hoặc vàng
− Ỉa máu: là một dấu hiệu muộn, xuất hiện ở 95% trẻ còn bú Nguyên nhân ỉamáu do xuất huyết ruột non Phân thường nhày máu mũi hoặc có ít phân vànglẫn máu Trong nhiều trường hợp, máu chỉ được phát hiện khi thăm trực tràngthấy máu dính theo găng, trực tràng rỗng
− Chướng bụng cũng là dấu hiệu có thể gặp do tình trạng tắc nghẽn của tiểutràng do LR
Khi thăm khám thực thể trong trường hợp LR hồi – manh tràng có thể
sẽ thấy trực tiếp KL ở vị trí hố chậu phải và có thể thấy dấu hiệu Dance (hốchậu phải rỗng do manh tràng và đại tràng bị cuốn lên vào trong KL)
Trường hợp trẻ đến nhập viện muộn còn có thể thấy các dấu hiệu nặngnhư li bì, hội chứng nhiễm trung nhiễm độc và dấu hiệu mất nước do nônnhiều [9], [ 17], [ 22]
Trang 171.6.2 X quang chẩn đoán lồng ruột
Hình 1.4a: Khối mờ ở hạ sườn phải Hình 1.4b: Hình ảnh thấu kính
Hình 1.4: hình ảnh LR trên phim chụp bụng không chuẩn bị
Nguồn: Hytham Nafady, A.Prof Frank Gaillard [24], [ 25]
Chụp bụng không chuẩn bị ngày nay ít được dùng để chẩn đoán LR
Trang 181.6.2.2 Chụp đại tràng thụt baryt.
Hình ảnh đặc hiệu kinh điển như:
− Hình càng cua, hình đáy chén, hình âm thoa
− Hình thấu kính, hình bia, hình cuộn lò xo [1]
Hình 1.5: Hình ảnh LR trên phim chụp đại tràng cản quang.
a) Dấu hiệu thấu kính; b)Dấu hiệu lò xo
Nguồn: Hytham Nafady [24], [ 26]
1.6.3 Siêu âm chẩn đoán lồng ruột
1.6.3.1 Hình ảnh siêu âm cơ bản của LR:
KL có cấu trúc phức tạp Ống vỏ ngoài (ruột tiếp nhận, receiving loop)chứa đoạn ruột bị lồng (đoạn ruột cho, donor loop), gồm: phần ruột đi vào KL
và phần ruột lộn ngược lại Mạc treo bị kẹp ở ống vỏ giữa và ống vỏ trong tạonên vòng tăng âm Ống vỏ ngoài kết hợp với ống vỏ giữa tạo nên vòng giảm
âm ngoài, ống vỏ trong tạo nên vòng giảm âm trung tâm [1]
Trang 19Hình 1.6: Cấu trúc của KL trên siêu âm (sơ đồ)
Gồm một hình ảnh cắt dọc và 3 hình ảnh cắt ngang (1,2,3) Trên sơ đồ, ta có thể thấy 3 lớp của KL và mạc treo (M) Ruột nhận lồng (A) chứa đoạn ruột đi vào (C) và đoạn lộn ngược (B) Mạc treo chứa vài hạch lympho (L) MS: mặt tiếp xúc niêm mạc giữa ống vỏ ngoài và ống vỏ giữa, S: mặt tiếp xúc thanh mạc giữa ống vỏ giữa và ống vỏ trong.Nguồn: del-Pozo [1]
− Trên mặt cắt ngang: hình ảnh “bánh rán”, “hình bia” (hình 1.7)
− Trên mặt cắt dọc: “hình giả thận” hay “hình bánh sandwich”, dấu hiệu “cáichĩa rơm” [1] (hình 1.8)
Trang 20Hình 1.7: Hình ảnh mặt cắt ngang KL trên SA và lát cắt mô bệnh học
3 ống vỏ của KL (A,B,C) và mạc treo M
Nguồn: del-Pozo [1]
Hình 1.8: Hình ảnh mặt cắt dọc KL trên SA.
Nguồn: del-Pozo [1]
1.6.3.2 Các trường hợp dương tính giả
− Khối phân trong đại tràng
Trang 21− Thủng túi thừa Meckel.
− Hình ảnh SA của cơ thắt lưng
- Paul Verschelden và cộng sự (1992) [28] đã tiến hành một nghiên cứu
trên 83 trường hợp nghi ngờ lồng ruột trên lâm sàng Phẫu thuật, thụt barythoặc không khí đã khẳng định 34 ca LR và 49 ca không LR Trên cơ sở đótiến hành SA Kết quả nghiên cứu chỉ ra độ nhạy của SA là 100%, độ đặc hiệu
là 88% và giá trị chẩn đoán âm tính của SA là 100%
- Susan D John (1998) [27] thực hiện nghiên cứu trên 49 ca LR và 102
ca không LR Cho thấy SA có độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 99% và 98%
- Tại Việt Nam, Phạm Thu Hiền (2000) [4] cũng thực hiện nghiên cứu trên
63 trường hợp 52 ca LR và 2 ca không LR được khẳng định bằng bơm không khívào đại tràng Từ đó xác định được độ nhạy của SA là 100%, độ đặc hiệu của SA là81,8%, giá trị chẩn đoán âm tính là 100% và giá trị chẩn đoán dương tính là 96,3%
Trong tiên lượng:
Ngoài giá trị chẩn đoán, SA còn được sử dụng để tiên lượng kết quảđiều trị LR [4], [9], [19], [21], [27], [29]:
- Sự xuất hiện dịch trong lòng KL và dịch tự do ổ bụng có liên quan đến
sự thiếu máu của ruột lồng và sự thất bại trong TL không phẫu thuật [27]
- Khi không có dòng chảy ở đỉnh của một KL trên SA Doppler liênquan tới hoại tử ruột và là một dấu hiệu của không hổi phục, do đó tỷ lệ TLthấp hơn [30], [31]
Trang 22(a) (b)
Hình 1.9: Hình ảnh SA Doppler KL
a) Đầu KL vẫn được tưới máu tốt
b) Sự vắng mặt của dòng máu, đầu KL có thể đã hoại tử.
Nguồn: Hyo K Lim và cộng sự [31]
- Qua hình ảnh SA có thể đánh giá được phần nào thương tổn giải phẫucủa ruột trong KL (hoại tử, thủng ruột) SA có thể can thiệp cho mọi giai đoạnchẩn đoán và điều trị LR
Với độ tin cậy cao của SA, giả rẻ, không độc hại, không cần tiền mê,đặc biệt trong trường hợp LR không điển hình, LR đến muộn, khi có thụtbaryt hay bơm hơi đại tràng để chẩn đoán là yếu tố làm nặng thêm tình trạngcủa trẻ Ngày nay, SA đã và đang khẳng định được vai trò trong chẩn đoán,tiên lượng và đánh giá điều trị LR
Trang 23Chứng nghiệm LR đã tháo:
Thuốc vào đại tràng đều đặn rồi lên hồi tràng, không còn dấu hiệu LR:Sau TL, trẻ ngủ yên, bú tốt, tươi tỉnh trở lại
Tai biến:Vỡ ruột gây tử vong do độc tính của baryt vào ổ phúc mạc.
Phương pháp này, BN và thầy thuốc nhiễm nhiều tia X, nên ngày nay ítđược sử dụng [1], [ 4], [ 9]
1.7.1.2 Phương pháp bơm không khí vào đại tràng dưới màn huỳnh quang.
TL bằng bơm không khí vào đại tràng được áp dụng rộng rãi ở nước ta
và nhiều nước trên thế giới Có thể thực hiện dưới màn huỳnh quang
Chỉ định: BN đến đước 48 giờ, chưa có dấu hiệu tắc ruột trên lâm sàng Chống chỉ định: BN đến muộn, có triệu chứng viêm phúc mạc hay tắc
ruột rõ
Trang 24Kỹ thuật: đặt ống thông vào hậu môn có bơm bóng giữ hơi Không khi
bơm vào được khống chế với áp lực trong khoảng 80-120mmHg bởi van an toàn
Chứng nghiệm LR đã được tháo: hơi đã qua đại tràng và van Bauhin
vào ruột non, có thể thấy rõ trên phim X quang hoặc màn chiếu
Nhờ có van thoát khí an toàn mà phương pháp này ít nguy hiểm [4], [ 9]
1.7.1.3 Phương pháp thụt nước muối sinh lý vào đại tràng dưới hướng dẫn của
SA.
Kỹ thuật và các bước tiến hành giống như thụt baryt vào đại tràngnhưng ở đây sử dụng nước muối sinh lý, dùng SA để theo dõi và kiểm tra đãtháo được hay chưa Phương pháp này cũng có tai biến vỡ ruột và áp lựckhông chủ động, không an toàn như bơm không khí [4]
1.7.1.4 Phương pháp bơm hơi đại tràng dưới hướng dẫn của SA.
Chỉ định: BN đến trước 48 giờ, chưa có triệu chứng viêm phúc mạc,
- SA được tiến hành trước và sau khi TL, xác định TL cho đến khi KLtiến dần về phía manh tràng và được tháo qua van hồi-manh tràng
Đây là phương pháp nhanh, sạch, rẻ, độ an toàn cao Hiện nay được sửdụng rộng rãi [4], [7], [22], [32], [33]
1.7.2 Phương pháp phẫu thuật.
Trang 251.7.2.1 Chỉ định:
− TL bằng các phương pháp không phẫu thuật thất bại
− Có các chống chỉ định của điều trị bảo tồn:
+ BN đến muộn, thường trên 48 giờ
− Khi không TL được, phải cắt ruột rồi nối tận-tận ngay hoặc dẫn lưu ra ngoàiđợi mổ thì hai [4], [9], [21], [22]
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
− Trẻ em dưới 16 tuổi
− Được làm siêu âm chẩn đoán và được tháo lồng tại BV Xanh Pôn bằng hơidưới hướng dẫn của siêu âm hoặc mổ tháo lồng
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
− LR ở bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên
− Có triệu chứng thủng ruột hoặc viêm phúc mạc
− Có nhiều bệnh lý ở các cơ quan khác đi kèm
− LR tự tháo, không cần can thiệp
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, hồi cứu
2.2.2 Cỡ mẫu
Chúng tôi áp dựng phương pháp chọn mẫu không xác suất, lựa chọn tất
cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
2.2.3 Cách thức tiến hành nghiên cứu
Lựa chọn tất cả các bệnh nhân đã được chẩn đoán lồng ruột và điều trịtháo lồng tại BV Xanh Pôn trong thời gian 2 năm từ tháng 1 năm 2015 đếntháng 1 năm 2016
2.2.4 Các biến số nghiên cứu
2.2.4.1 Các biến số về đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng
Trang 27Ghi nhận đặc điểm, tính chất, thời gian xuất hiện, diễn biến và tần suấtxuất hiện các triệu chứng lâm sàng liên quan đến LR:
− Đau bụng, quấy khóc
− Nôn
− Ỉa máu
− Sờ được KL
Khảo sát mối liên quan của các triệu chứng với kết quả TL, để qua
đó đánh giá giá trị của các triệu chứng lâm sàng trong chẩn đoán và điều trịbệnh LR
2.2.4.2 Các biến số về siêu âm trong chẩn đoán lồng ruột
− Mô tả vị trí, hình ảnh đặc thù KL trên mặt cắt ngang và dọc
− Mạc treo trong KL: hình ảnh tăng âm vùng trung tâm
− Các chỉ số đo đạc trên siêu âm của KL: đường kính KL, chiều dài KL
− Dịch khu trú trong KL: cấu trúc trống âm hình liềm trên mặt cắt ngang
− Tổng thời gian tháo lồng
− Địa điểm: Bệnh viện Xanh Pôn
− Thời gian: từ tháng 1/2015 đến 1/2016
Trang 282.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU
− Các chỉ tiêu nghiên cứu được thống kê dựa vào phương pháp thống kê toánhọc trong y học bằng phần mềm SPSS 16.0 và quản lý tài liệu tham khảobằng phần mềm Endnote X7
− Các chỉ tiêu định tính được tính bằng tỷ lệ phần trăm
− Các chỉ tiêu định lượng được tính bằng tỷ lệ phần trăm
− Tính độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán (+), giá trị dự đoán (-) với tiêuchuẩn vàng là kết quả điều trị, lâm sàng BN khỏi bệnh, ra viện của các mẫuhình ảnh SA: chẩn đoán xác định LR, chẩn đoán kết quả SA TL
− Chấp nhận mức độ tin cậy 95% hay các phép so sánh được kết luận là khácbiệt có ý nghĩa thống kê nếu p<0,05
2.5 CÁC KỸ THUẬT THU THẬP THÔNG TIN
− Kỹ thuật thu thập thông tin: Lập mẫu bệnh án nghiên cứu, khai thác hồ sơbệnh án, ghi chép đầy đủ thông tin theo mẫu bệnh án nghiên cứu Sau đó đượcnhập vào máy tính để lưu trữ và phân tích sau này
− Công cụ thu thập thông tin: mẫu bệnh án nghiên cứu
2.6 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Trang 29− Ghi chép chi tiết, trung thực các chi tiết trong hồ sơ bệnh án.
− Các thông tin về BN được đảm bảo giữ bí mật
− Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho BN, không nhằm mụcđích nào khác
− Đề cương nghiên cứu được thông qua hội đồng xét duyệt của trường Đại học
Y Hà Nội do Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định Nghiên cứu được BV XanhPôn và Trường Đại học Y Hà Nội chấp nhận
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH SIÊU ÂM CỦA LỒNG RUỘT TRẺ EM
1 Dịch tễ
3.1.1.1 Phân bố theo tuổi
Có 230 BN mắc lồng ruột từ 1/1/2015 đến 31/12/2016 Trong đó tuổimắc bệnh phân bố như sau:
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo nhóm tuổi Nhận xét:
Trong 230 đối tượng nghiên cứu, tuổi trung bình là 22,1 ± 14,5 thángtuổi Bé nhỏ nhất là 1 tuổi (4 tháng tuổi) và lớn nhất là 93 tháng tuổi (8 tuổi).Nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là nhóm 13-18 tháng tuổi với 53 trườnghợp, chiếm 23,0% Qua biểu đồ chúng tôi nhận thấy trẻ mắc LR tập trung ởnhóm <2 tuổi với 153 BN (66,5%)