Việc chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh là một yêu cầu tất yếu, thể hiện quyền tự do của vợ chồng đối với tài sản chung, đồng thời tạo điều kiện cho vợ chồng có thể thực hiện
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS DƯƠNG QUỲNH HOA
Hà Nội, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi – Phạm Xuân Lộc cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu chưa được công bố ở bất kỳ đâu Các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi cam đoan chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Phạm Xuân Lộc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được thành quả như ngày hôm nay, tôi vô cùng cảm ơn gia đình, cảm
ơn quý thầy cô cán bộ quản lý, quý nhân viên khoa Luật học của Học viện Khoa học
xã hội, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức
vô cùng bổ ích cho tôi mà trước đó tôi chưa từng được tiếp cận tới
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Dương Quỳnh Hoa người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Người thực hiện
Phạm Xuân Lộc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh 8 1.2 Sự cần thiết của việc chia tài sản chung vợ chồng trong sản xuất kinh doanh 18 1.3 Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh
doanh 22
Kết luận chương 1 32 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH Ở VIỆT NAM 34
2.1 Căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh 34 2.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh
doanh 38
2.3 Quyền yêu cầu chia sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh 49 2.4 Phương thức chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh 52
2.5 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh 56
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH TẠI VIỆT NAM 74
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh 74
Trang 63.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong
hoạt động kinh doanh 76
3.3 Giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam 82
Kết luận Chương 3 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HN&GĐ Hôn nhân và gia đình
TNHH HĐXX HĐQT ĐHĐCĐ BLDS
Trách nhiệm hữu hạn Hội đồng xét xử Hội đồng quản trị Đại hội đồng cổ đông
Bộ Luật Dân sự
Trang 8MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Đó là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để giáo dục và hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Sự phát triển và ổn định lâu dài của gia đình góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng và
vị trí của gia đình tới đời sống kinh tế xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và phát triển bền vững Bên cạnh yếu
tố tình cảm, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng thì điều kiện vật chất cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự bền vững của quan hệ hôn nhân Khi hôn nhân được xác lập đòi hỏi phải có một khối tài sản chung để đảm bảo nhu cầu của gia đình Tuy nhiên,
để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình, pháp luật Hôn nhân và gia đình cho phép vợ chồng có thể chia tài sản chung
Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại, chấm dứt hay một trong hai bên vợ hoặc chồng chết thì tài sản chung vẫn còn tồn tại Trên thực tế hiện nay, việc chia tài sản chung vợ chồng trong trong hoạt động kinh doanh xuất phát từ nhiều lý do khác nhau: có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống, xuất phát từ việc vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm dẫn đến ly hôn, xuất phát từ việc vợ hoặc chồng chết thì tài sản chung được chia cho người còn lại Việc chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh là một yêu cầu tất yếu, thể hiện quyền tự do của vợ chồng đối với tài sản chung, đồng thời tạo điều kiện cho vợ chồng có thể thực hiện được các yêu cầu về nghề nghiệp, tiếp tục duy trì kinh doanh, và các nghĩa vụ riêng của mình một cách độc lập mà không ảnh hưởng đến đời sống chung của gia đình Từ thực tiễn cho thấy, vợ chồng có thể xác lập rất nhiều giao dịch liên quan đến tài sản và sẽ không thể tránh khỏi những rủi ro như kinh doanh thua lỗ, dẫn đến phá sản… Việc chia tài sản chung vợ chồng trong sản xuất kinh doanh vừa để đảm bảo duy trì hoạt động doanh nghiệp vừa để ngăn chặn những
Trang 9hậu quả rủi ro từ hoạt động sản xuất kinh doanh đó đối với gia đình, đảm bảo cho lợi ích của gia đình Khi xuất hiện những rủi ro trong kinh doanh thì việc giải quyết hậu quả của những rủi ro này trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của cả gia đình, ảnh hưởng đến các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, ảnh hưởng đến lợi ích của những người khác có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng và hoạt động của doanh nghiệp có tài sản chung của vợ chồng Do vậy, quy định về chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh sẽ góp phần ổn định các quan
hệ hôn nhân gia đình, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng Từ thực tiễn nêu trên, tác giả chọn tên đề tài của Luận văn là: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Gia đình có vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội nên các vấn đề liên quan đến Hôn nhân và gia đình luôn được nhiều độc giả cũng như các nhà lập pháp quan tâm Do đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nói chung và việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng Cụ thể như:
“Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”,
Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Cừ (2005) Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Luận văn thạc sĩ Luật học của
Nguyễn Hồng Hải, trường Đại học Luật Hà Nội (2003) với đề tài “Xác định tài sản của vợ chồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Tác giả Lê Thị Hà với luận văn Thạc sĩ “Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”; Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thanh Huệ với đề tài
“Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”; Khóa luận tốt nghiệp của
Tô Quang Đô, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh với đề tài “Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Quy định pháp luật và thực tiễn”, Luận
văn cao học của Phạm Thị Tươi, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài
“Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trang 10- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Tuy nhiên các đề tài này chủ yếu nghiên cứu
một vài khía cạnh của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Nguyễn Phương Lan (chủ nhiệm đề tài) (2008), Tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học
Luật Hà Nội Công trình này đã tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý về tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 Nhìn chung, đề tài đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về việc sử dụng tài sản của vợ chồng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến loại tài sản này
Bên cạnh đó còn có một số giáo trình có đề cập đến việc chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; Tập bài giảng Luật Hôn nhân và gia đình, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Đại học Huế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2003 Một số sách chuyên sâu như: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của hai tác giả Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam của Tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008; Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Nxb
Trẻ, 2002, và còn có một số sách và giáo trình khác nhưng chưa có công trình nào đi sâu phân tích các vụ việc thực tế về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân
Một số bài báo, tạp chí nghiên cứu về vấn đề này như: “Chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại” của tác giả Nguyễn Văn Cừ trên Tạp chí
Tòa án nhân dân số 11 năm 2003, và Tạp chí Tòa án nhân dân số 9 năm 2000,
tr.18-21; “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành” của tác giả Nguyễn Hồng Hải đăng trên Tạp chí Luật học số 5/2003; bài viết “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ
Trang 11chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Nguyễn Phương Lan, Tạp chí Luật học số
6/2002…
Nhìn chung, các công trình kể trên hầu như các tác giả đã đề cập đến chế độ tài sản của vợ chồng và vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Một số công trình cùng đã dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu Một số công trình mà người viết đã dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên các đề tài trên chưa nói đến các quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy định đó cũng như hậu quả pháp lý phát sinh từ việc chia tài sản chung
vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh ngay cả trường hợp khi hôn nhân chấm
dứt từ đó đưa ra hướng hoàn thiện Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam” với nhiều khía
cạnh khác nhau như khi hôn nhân còn tồn tại hay khi hôn nhân chấm dứt, từ góc độ quy định của pháp luật Việt Nam nêu lên thực trạng thực tiễn phát sinh để có cơ sở đưa ra kiến nghị phù hợp là điều nên làm trong giai đoạn hiện nay
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, luận văn sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chia tài sản chung
của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh như khái niệm tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh, đặc điểm của chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh;
Trang 12Làm rõ các nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Làm rõ sự cần thiết của chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Làm rõ khái niệm, nội dung pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Thứ hai, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện về chia
tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh, chú trọng nghiên cứu việc vận dụng quy định pháp luật, tìm hiểu những bất cập, hạn chế của pháp luật khi vận dụng những quy định trên trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ chồng
Thứ ba, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chia tài
sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh Vấn đề vận dụng những quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu những nội dung của đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin với phép duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, gắn với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và Pháp luật nói chung và trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình và luật doanh nghiệp nói riêng
Trang 13Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, tổng hợp, so sánh để nghiên cứu đề tài Tác giả tập trung đi sâu phân tích nội dung pháp luật, tổng hợp các quy định pháp luật từ đó đánh giá thực tiễn thực hiện, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế khi chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp so sánh những điểm mới của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 so với quy định trước đó để thấy những điểm tiến bộ của Luật mới cũng như những điểm vẫn còn bất cập Thêm nữa tác giả sử dụng thêm phương pháp đánh giá để tổng hợp và đưa ra được nhận xét chung về tình hình xét
xử chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay Các phương pháp trên được áp dụng xuyên suốt tại các chương của đề tài, riêng phương pháp đánh giá, nhận xét sẽ được tác giả nêu cụ thể hơn tại Chương 2, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có điểm mới nhất định, bên cạnh việc hệ thống hóa và phân tích những khái niệm, đặc điểm của vấn đề chia tài sản chung vợ chồng, luận văn còn đi sâu làm rõ trường hợp chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ chồng, hậu quả pháp lý đối với doanh nghiệp trong trường hợp chia tài sản chung vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại, hôn nhân chấm dứt hoặc một trong hai
vợ chồng chết
Điểm mới cơ bản của luận văn là phân tích việc chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh nhằm mục đích để đánh giá khách quan về vấn đề tài sản trong doanh nghiệp, hậu quả pháp lý về tài sản chung của vợ chồng trong doanh nghiệp sau khi chia tài sản chung Trên cơ sở đó luận văn xem xét, nghiên cứu các trường hợp chia tài sản trong doanh nghiệp của vợ chồng như tài sản trong: Công ty
cổ phần, Công ty TNHH hay Doanh nghiệp tư nhân và những hệ quả pháp lý của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó đối với vợ, chồng, đối với gia đình cũng như cách giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình vợ, chồng trong kinh doanh Cùng với thực tiễn hành nghề công chứng, luận văn cũng nêu lên những bất cập tồn
Trang 14tại cần giải quyết trong việc công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Từ việc phân tích những nội dung trên luận văn đã nêu lên được những quy định chưa phù hợp, những hạn chế còn tồn tại của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam ở cả góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật Trên cơ sở đó luận văn kiến nghị một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Chương 2: Thực trạng chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chia tài sản
chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1 Khái niệm, đặc điểm về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Khái niệm tài sản
Ngày nay, trong mọi lĩnh vực của đời sống, trong các hoạt động kinh tế - xã hội, tài sản nói chung và các điều kiện vật chất, tiền bạc nói riêng đóng một vai trò cần thiết, đặc biết quan trọng Tài sản là đối tượng của các giao dịch dân sự diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội, từ những giao dịch phổ biến nhằm đáp ứng những nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống như ăn, mặc, đi lại đến những giao dịch có giá trị lớn liên quan đến nhà ở, đất đai [14] Ở Việt Nam, khái niệm về tài sản được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất, theo từ điển bách khoa toàn thư mở, tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng, đây là cách hiểu thông
thường Nghĩa thứ hai trong lĩnh vực pháp lý, theo Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản
là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Có thể thấy rằng, theo quy định của BLDS thì tài sản được phân thành 4
nhóm chính, đó là:
Vật: vật được hiểu là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan, con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Tuy nhiên, với lĩnh vực pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa khi nó là đối tượng trong quan hệ pháp luật Con người phải chiếm hữu, chi phối, kiểm soát được vật để đáp ứng lợi ích (nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần) của con người
Tiền: Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, là vật ngang giá chung thống nhất, được sử dụng làm thước đo giá trị cho các loại tài sản Tiền đem lại các công dụng hữu ích trong cuộc sống như trao đổi, kinh doanh, tiêu dùng, dự trữ, bình ổn giá… Ở Việt Nam, tiền do Nhà
Trang 16nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc quyền phát hành mang đơn vị tiền tệ là Việt Nam Đồng (VNĐ)
Giấy tờ có giá: Ngày nay, giấy tờ có giá thuộc loại tài sản giao dịch phổ biến trong giao dịch dân sự, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và
tổ chức tín dụng Theo Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, thì giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhấ định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác Giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao dịch dân sự Có thể kể tên một
số loại giấy tờ có giá như: Séc, tín phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công
ty, cổ phiếu…
Quyền tài sản: Quyền tài sản là quyền gắn liền với tài sản, quyền của cá nhân, pháp nhân được pháp luật cho phép thực hiện quyền đối với tài sản của mình, khi thực hiện quyền này, lợi ích vật chất sẽ phát sinh đối với chủ sở hữu Theo Điều 115 BLDS năm 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác
Khái niệm tài sản chung vợ chồng
Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng phát sinh, tồn tại cùng với sự phát sinh và tồn tại của quan hệ hôn nhân Tài sản của vợ chồng là một phạm trù pháp lý gắn với quyền sở hữu của vợ chồng Xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, chung công sức trong việc xây dựng gia đình, đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó như: chăm sóc, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, phát triển kinh tế nên pháp luật quy định giữa vợ chồng phát sinh tài sản thuộc sở hữu chung
Có thể thấy rằng, sự hình thành và phát triển của khối tài sản chung gắn liền với hôn nhân: nếu không có hôn nhân thì không có tài sản chung; hôn nhân càng dài thì khối tài sản chung càng có điều kiện tốt về thời gian để phát triển lớn mạnh Trong chừng mực nào đó, người ta nói rằng khối tài sản chung của vợ chồng được sinh ra
Trang 17từ hôn nhân, bởi vì tất cả các tài sản mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn đều
là tài sản riêng Chính từ ngày kết hôn mà khối tài sản chung bắt đầu được tích tụ từ con số không Có thể xếp các tài sản này thành bốn nhóm: Tài sản tạo lập trong thời
kỳ hôn nhân; tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi lợi tức từ tài sản riêng; tài sản mà vợ chồng thừa kế chung hoặc được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng thỏa thuận được gọi là tài sản chung vợ chồng
Tài sản chung của vợ chồng là vật và lợi ích vật chất khác thuộc sở hữu chung của cả vợ và chồng Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu chung của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng [35, tr.686]
Tài sản chung vợ chồng là các loại tài sản được nhận diện trên cơ sở Điều 105 BLDS năm 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật HN&GĐ; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng
có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng [25, Điều 33] Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là khối tài sản thuộc quyền sở hữu của họ do tạo lập trong thời kỳ hôn nhân mà được pháp luật công nhận Mặt khác sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất tức là phần quyền sở hữu của vợ, chồng không được xác định đối với khối tài sản chung và vợ, chồng có quyền ngang nhau đối với tài sản chung
1.1.2 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Khái niệm về kinh doanh
Kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế - xã hội Kinh doanh
là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người Theo từ điển bách khoa toàn thư mở, hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh
Trang 18như tập đoàn, công ty nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất-buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh
tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh
tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên
cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất [34] Dưới góc độ pháp luật Doanh nghiệp, Khoản 16, Điều 4, Luật
Doanh nghiệp năm 2014 nêu rằng: “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất nên trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản này đòi hỏi phải có sự ưng thuận của hai vợ chồng [14] Trong quá trình chung sống, vợ chồng có thể thoả thuận sử dụng khối tài sản chung này cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có trường hợp vợ chồng thoả thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh với mục đích là sinh lời và phát sinh lợi nhuận thu được
Khái niệm tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Sự phát triển sôi động của nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã tác động rất lớn đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Việc vợ chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh hoặc trực tiếp tham gia kinh doanh diễn ra khá phổ biến Ví dụ, hộ gia đình (trong đó có vợ, chồng) thực hiện hoạt động kinh doanh với quy mô nhỏ như cửa hàng, sạp chợ, quán ăn [33, tr 93] Hay vợ chồng có thể tham gia vào đầu tư, sản xuất kinh doanh trong rất nhiều lĩnh vực với nhiều loại hình doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình… Khi đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như loại hình kinh doanh (hộ kinh doanh, doanh nghiệp có hoặc không có tư cách pháp nhân) [14] Có thể phân loại tài sản thành hai loại là tài sản vô hình và tài sản hữu hình Theo Luật Doanh nghiệp 2014, chủ sở hữu cổ phần hay phần vốn góp trong công ty TNHH, công ty hợp danh được
Trang 19hưởng lợi từ quyền nắm giữ cổ phần hay phần vốn góp đó, ví dụ như quyền biểu quyết, quyền hưởng cổ tức, quyền ưu tiên mua cổ phẩn nên về bản chất chính là quyền tài sản (tài sản vô hình) Tài sản hữu hình, là loại tài sản hiện hữu có thể nhìn thấy được bao gồm: tiền mặt, trụ sở, nhà xưởng, công trình xây dựng, máy móc thiết
bị, cửa hàng, hàng hoá, nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá… Như vậy, tài sản trong Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh bao gồm tài sản vô hình và tài sản hữu hình Đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc kinh doanh hộ cá thể là tài sản hữu hình
Tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa hẹp hơn so với tài sản chung của vợ chồng Khi nói đến tài sản chung vợ chồng, ta có thể hiểu nôm na bao gồm nhà cửa, xe cộ, tiền, vàng, trang sức…, các tài sản này được vợ chồng, tạo lập trong thời kỳ hôn nhân Đối với nhà cửa, xe cộ dù vợ hoặc chồng đứng tên một mình trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng thì nó không mặc nhiên là tài sản riêng mà vẫn là tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ Đối với tài sản trong hoạt động kinh doanh của vợ chồng, thì tài sản này phải được đưa vào kinh doanh rồi như nhà cửa, xe cộ, tiền, vàng, vốn góp…, tài sản được vợ chồng góp vào công ty cổ phần, công ty TNHH hay công ty hợp danh thì sẽ trở thành cổ phần hoặc vốn góp, còn các loại tài sản khác phải làm thủ tục đăng ký chuyển quyền cho doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các luật khác có liên quan
Tài sản chung vợ chồng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Theo đó:
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, không đòi hỏi phải có sự chuyển giao trong giao dịch dân sự Đối với quyền tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự phải đáp ứng được hai yêu cầu là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự Quyền tài sản bao gồm quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê, quyền trị giá bằng tiền, quyền thực hiện hợp đồng, quyền sở hữu
Trang 20trí tuệ Những quyền tài sản khác gắn với nhân thân thì không được chuyển giao như quyền thừa kế, quyền cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe Quyền tài sản bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền
sử dụng đất và các quyền tài sản khác [50]
Câu hỏi đặt ra là quyền sở hữu trí tuệ có phải là tài sản chung vợ chồng hay không, việc xác định tài sản là chung hay riêng sẽ có ý nghĩa thiết thực nếu có xảy ra tranh chấp về tài sản nếu vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh
Theo Điều 43 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định những tài sản sau đây là tài sản riêng của vợ chồng: Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng [24, Khoản 1, Điều 44]; Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này [24, Khoản 2, Điều 44]
Căn cứ Khoản 1, Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng
sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ
Như vậy, theo quy định nêu trên thì quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, qua đó, quyền sở hữu trí tuệ không được xem
là tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Chung quy lại, việc vợ chồng tham gia quan hệ kinh doanh với mục đích chủ yếu vẫn là phát triển khối tài sản chung của vợ chồng, mang đến cuộc sống gia đình sung túc hơn Trong quá trình kinh doanh, khối tài sản chung của vợ chồng có thể được “sản sinh” thêm, đó có thể là hiện vật hoặc giá trị và vợ chồng là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia
Trang 21quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật liên quan có quy định khác
Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vợ chồng với tư cách là chủ thể của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải chịu sự chi phối của Luật Doanh nghiệp, dẫn đến việc thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của
vợ chồng phải theo một phương thức riêng, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng cũng phải được phân định tỉ mỉ cụ thể hơn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của gia đình và đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ chồng tuân thủ
các quy định của pháp luật về kinh doanh thương mại
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Khái niệm chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Trong thời kỳ hôn nhân, là khoảng thời gian quan hệ hôn nhân tồn tại và được pháp luật thừa nhận Đối với một quan hệ hôn nhân thông thường được pháp luật thừa nhận, thời kỳ hôn nhân sẽ bắt đầu từ ngày hai bên nam nữ ký vào giấy chứng nhận kết hôn, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên, công nhận họ là vợ chồng hợp pháp cho đến thời điểm chấm dứt hôn nhân do một bên vợ hoặc chồng chết, vợ hoặc chồng bị tuyên bố chết hay do ly hôn bằng bản án hoặc quyết định thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, ở một số trường hợp nam nữ có quan hệ chung sống vợ chồng khác thì pháp luật cũng
có những cách xác định thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân khác nhau
Hôn nhân chấm dứt, có hai trường hợp hôn nhân chấm dứt đó là khi ly hôn và chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết theo quy định tại Điều 65 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Khi ly hôn, theo Từ điển Luật học, ly hôn là chấm dứt quan
hệ vợ chồng do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng Pháp luật bảo đảm quyền yêu cầu giải quyết ly hôn trong khuôn khổ pháp luật nhằm tránh việc lạm dụng quyền này gây ảnh hưởng theo hướng tiêu cực đến gia đình và xã hội Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ, chồng hoặc công nhận thuận tình ly hôn của vợ chồng phải dựa vào thực chất quan hệ vợ chồng và phải
Trang 22phù hợp với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định Kể từ ngày bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật [14] Dưới khía cạnh quy định pháp luật, Khoản
14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 đưa ra khái niệm “ly hôn là việc chấm dứt quan
hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Khi vợ hoặc
chồng chết hay bị tòa án tuyên bố là đã chết, thì vợ, chồng chết được tính kể từ thời điểm vợ, chồng chết (trường hợp này gọi là chết sinh học) Trường hợp Tòa án tuyên
bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án
Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì chế độ tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản chung này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý như ly hôn hay một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết Trong giai đoạn này, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, vì vậy không có
sự phân biệt ai là người có đóng góp nhiều hơn trong việc tạo lập, gìn giữ và phát triển khối tài sản chung Tuy nhiên, khi quan hệ hôn nhân không thể duy trì thì tài sản chung cần được phân định rạch ròi phần của từng người để giúp họ ổn định cuộc sống Tài sản chung có thể được chia bằng hiện vật (đất đai, nhà ở, phương tiện đi lại,…) hoặc bằng giá trị nếu không chia được bằng hiện vật Đối với hoạt động kinh doanh, sau khi chia tài sản chung, tài sản mà các bên được nhận có thể là nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, phương tiện vận chuyển hay số cổ phần cụ thể trong công ty
mà hai bên có quyền nắm giữ sau khi chia Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc chia này, trong thời kỳ hôn nhân có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung, cũng có thể xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…[43] Khi ly hôn, tình cảm vợ chồng mâu thuẫn hoặc ly tán dẫn đến “tàn đàn xẻ nghé” khi đó kéo nhau ra tòa yêu cầu chia tài sản chung, còn nếu mọi chuyện êm ấm thì vợ chồng hòa giải và thỏa thuận chia trong yên bình Khi vợ hoặc chồng chết hay bị tòa án tuyên bố là đã chết
Trang 23thì vợ chồng còn sống có quyền yêu cầu chia tài sản chung đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của gia đình của các cá nhân tổ chức có liên quan đến tài sản chung
Cho đến nay, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh chưa có một khái niệm cụ thể, nhưng qua các phân tích khái niệm nêu trên tác giả xin
đưa ra khái niệm như sau: Chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh là phân định khối tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng đã đưa vào thực hiện thường xuyên, liên tục các công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng khi quan hệ hôn nhân tồn tại, chấm dứt theo bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật Có nghĩa
là việc chia tài sản chung trong trường hợp này là một trường hợp đặc biệt, khối tài sản này đã được vợ chồng đưa vào trong hoạt động kinh doanh rồi, được làm thủ tục chuyển quyền cho doanh nghiệp và vợ chồng yêu cầu chia khối tài sản chung này theo quy định của pháp luật
Theo đó, bản chất của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh chính là việc chấm dứt quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc một phần khối tài sản chung của
vợ chồng đối với những tài sản đã được đưa vào hoạt động của doanh nghiệp Những tài sản khác không được vợ chồng thỏa thuận hay yêu cầu tòa án chia vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Sau khi phân chia, tài sản chung sẽ được chia thành từng phần tài sản xác định và xác lập quyền sở hữu riêng của của vợ, chồng đối với phần tài sản được chia [10, tr.15]
Một trong những điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 là không quy đinh phải
có lý do chính đáng thì vợ chồng mới có quyền chia tài sản chung Theo quy định cũ tại Điều 6 Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân phải ghi rõ các nội dung trong đó có nội dung là:“1 Lý do chia tài sản” và theo quy định tại Khoản 1, Điều 29, Luật HN&GĐ năm 2000 chia tài sản chung vợ chồng phải “có lý do chính đáng” Qua cuộc khảo sát, trả lời câu
hỏi về các lý do chia tài sản chung của vợ chồng thì 126/454 người (27,75%) cho
Trang 24rằng chia để đầu tư kinh doanh riêng, 104/454 người (22,9%) cho là chia để sống riêng, 28,5% cho là do một bên có hành vi phá tán tài sản là lý do phổ biến [8, tr.11]
Có thể thấy rằng, theo quy định cũ vợ chồng phải có lý do chính đáng thì mới có thể tiến hành chia tài sản chung được, đây là một điểm bất cập mà hiện nay, pháp luật HN&GĐ hiện hành đã bỏ quy định này Theo đó, không vì bất cứ lý do gì mà vợ hoặc chồng đều có thể yêu cầu chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh Vợ chồng
có quyền thỏa thuận những tài sản nào được chia, phần tài sản nào không chia; tỷ lệ phần chia cho mỗi bên; các yêu cầu khác mà không trái với quy định của pháp luật
Đặc điểm chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh: Một là, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
được thực hiện trong những trường hợp pháp luật quy định Hiện nay, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh được thực hiện khi hôn nhân còn tồn tại hoặc hôn nhân chấm dứt theo quy định của pháp luật Tùy vào từng trường hợp mà vấn đề chia tài sản chung vợ chồng sẽ được giải quyết theo các cách khác nhau Vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung Việc chia phải đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc chung theo quy định của Luật HNGĐ hiện hành Đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh cũng mang những nét rất riêng Bởi lẽ, đối với từng loại hình kinh doanh, pháp luật đưa ra các điều kiện khác nhau về năng lực chủ thể, khả năng huy động vốn, trình độ chuyên môn, số lượng thành viên tham gia kinh doanh… Vì thế, đối với những tranh chấp về tài sản khi yêu cầu Tòa án giải quyết có liên quan đến loại tài sản này, Tòa
án cũng phải cân nhắc một cách cặn kẽ những hệ quả có thể phát sinh sau khi chia tài sản trong hoạt động kinh doanh đối với các bên trong mối quan hệ vừa mang yếu tố tình cảm, lại vừa mang tính kinh tế này
Hai là, chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh chịu sự
điều chỉnh về pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật về kinh doanh Luật HN&GĐ mang vai trò chủ đạo điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình như kết hôn, ly hôn, quan hệ vợ chồng, khi một trong hai bên vợ chồng chết…
Do đó, đối với vấn đề chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh, đây cũng là
Trang 25một trong những nội dung chủ yếu khi yêu cầu Tòa án giải quyết cũng chịu sự điều chỉnh của luật này Kinh doanh là hoạt động tương đối phức tạp với đa dạng các loại hình, ngành nghề kinh doanh và ứng với mỗi loại hình, ngành nghề, pháp luật lại đặt
ra những yêu cầu, điều kiện nhất định Do vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh không chỉ phải tuân thủ các quy định chung trong pháp luật về hôn nhân và gia đình mà còn phải đảm bảo thoả mãn các quy định có liên quan trong pháp luật về kinh doanh và luật khác có liên quan
Thứ ba, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
không được ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Pháp luật Việt Nam ghi nhận nhiều loại hình kinh doanh khác nhau Cụ thể, quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 điều chỉnh đối với các loại hình doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công
ty hợp danh, công ty TNHH (bao gồm một thành viên và hai thành viên), công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, Luật Hợp tác xã năm 2012 cũng điều chỉnh đối với mô hình kinh doanh hợp tác xã; hay Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp cũng ghi nhận cơ chế pháp lý điều chỉnh đối với loại hình hộ kinh doanh… Nói chung, dù với loại hình kinh doanh nào thì cũng tạo ra cho Nhà nước những khoản thu góp phần trong công cuộc phát triển kinh tế Vì thế, không có lý do để việc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt kinh doanh ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh như làm thay đổi loại hình kinh doanh vốn có hay khiến cho doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động
1.2 Sự cần thiết của việc chia tài sản chung vợ chồng trong sản xuất kinh
doanh
Việc chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh là cần
thiết trong cuộc sống vợ chồng đặc biệt là trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay
Bởi vì các lý do sau:
Một là, vợ chồng bình đẳng về tài sản, nên vợ chồng có quyền bình đẳng khi
tham gia các giao dịch liên quan đến hoạt động kinh doanh, được pháp luật bảo vệ, khuyến khích nhằm phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế
Trang 26Khi bước vào hôn nhân để duy trì cuộc sống gia đình thì vợ chồng phải có nguồn thu nhập nhất định Nguồn thu nhập này mang lại từ nhiều kênh khác nhau
Đó có thể là tiền lương phát sinh từ các hoạt động mang tính chất nghề nghiệp hoặc các lợi tức phát sinh trong quá trình kinh doanh hay trong các giao dịch dân sự khác Trong đó nguồn thu nhập mang lại từ các hoạt động sản xuất kinh doanh luôn chiếm
tỷ trọng lớn, mang lại cho vợ chồng những nguồn thu nhập cao hơn so với các thu
nhập khác “Sản xuất là hoạt động tạo ra của cải vật chất nói chung" [31] Hoạt động
sản xuất kinh doanh là nhu cầu khách quan, tự nhiên của đời sống đặc biệt trong nền kinh tế thị trường Tài sản chung của vợ chồng là do vợ chồng cùng chung sức tạo lập, không cần biết công sức đóng góp là bao nhiêu Theo quy định thì vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Việc pháp luật quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh là cơ sở pháp lý đề giải quyết các yêu cầu của vợ chồng phát sinh trong nền kinh tế thị trường Nó nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia đối với các giao dịch dân sự là tài sản kinh doanh của vợ chồng và đảm bảo để công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện hành
Hai là, chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ
sở pháp lý quan trọng và cần thiết trong doanh nghiệp khi vợ chồng tham gia hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay thì yếu tố “vốn” được coi
là then chốt, có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự hoạt động, duy trì cũng như phát triển và thành công của quá trình kinh doanh Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được dùng để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận Nó được xem là yếu tố để mở rộng phạm vi kinh doanh, quyết định vị thế của chủ thể kinh doanh trên thương trường [34]
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành công ty cổ phần, TNHH, hợp danh… được xem là một pháp nhân, pháp nhân được định nghĩa là những tổ chức có tư cách pháp lý độc lập để tham gia các hoạt động pháp lý khác như chính trị, kinh tế, xã
Trang 27hội Một cá nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân thì cũng không được pháp luật công nhận có quyền ký kết các văn kiện pháp lý về kinh tế, chính trị, xã hội (nếu
cố tình ký kết thì văn bản đó vẫn sẽ bị coi là vô hiệu lực) [34] Có thể xem pháp nhân
đã gán cho tổ chức này quyền năng như thể một con người độc lập Chính sự “độc lập” về tài sản và trách nhiệm này đã tạo ra một bức tường ngăn bảo vệ khối tài sản tiêu dùng của doanh nhân khỏi sự lây lan rủi ro từ hoạt động kinh doanh của thương nhân; mọi rủi ro kinh doanh chỉ giới hạn lại trong phạm vi phần vốn đã chuyển vào công ty [49]
Khi tham gia quan hệ pháp luật với tư cách là những người sở hữu vốn góp trong doanh nghiệp, thì việc chia tài sản chung vợ chồng sẽ nhằm tránh được rủi ro cho gia đình khi doanh nghiệp hoạt động bị thất bại hoặc ngược lại là hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp hoặc các cổ đông, thành viên góp vốn trong công ty khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trong việc sử dụng tài sản chung Có thể thấy rằng, việc chia này đảm bảo được sự năng động, linh hoạt cho vợ chồng tham gia kinh tế thị trường mà vẫn đảm bảo sự an toàn cho gia đình và các quan hệ được pháp luật doanh nghiệp và luật có liên quan bảo vệ
Ba là, chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh để
đảm bảo quyền lợi cho gia đình, lợi ích của vợ chồng cũng như của những người thứ
ba có liên quan
Việc vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh còn góp phần tạo ra sự công khai, minh bạch tài sản của người trực tiếp kinh doanh Có thể nói, đây cũng chính là yếu tố đảm bảo cho quyền và lợi ích của đối tác, bên thứ
ba khi tham gia quan hệ kinh doanh với vợ hoặc chồng
Đối với trường hợp vợ hoặc chồng chết hay bị tòa án tuyên bố là đã chết thì viêc chia này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp đối với những cá nhân yếu thế hơn được pháp luật bảo vệ như những người được thừa kế di sản do người chết
để lại (người không phụ thuộc nội dung di chúc, con chưa thành niên, người mất khả năng lao động…), phần tài sản được hưởng đó có thể là cổ phần, số vốn góp vào công
ty hay nhà cửa xe cộ…
Trang 28Bốn là, chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
là cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp phát sinh
Thực tiễn đời sống kinh tế xã hội cho thấy, khi có tranh chấp về tài sản giữa
vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với những người thứ ba có liên quan tới quyền
và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng từ hoạt động sản xuất kinh doanh thường rất phức tạp và tranh chấp gay gắt, thường khó xác định trách nhiệm của vợ chồng
Nhìn chung, dù vợ chồng kinh doanh chung hay việc kinh doanh từ tài sản chung chỉ được tiến hành bởi vợ/chồng thì vợ, chồng vẫn phải có trách nhiệm liên đới nếu phát sinh nghĩa vụ đối với người thứ ba Trường hợp vợ chồng kinh doanh
chung, căn cứ khoản 1 Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2014 thì “vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh đó, vợ chồng có thoả thuận khác hoặc luật này và các luật có liên quan có quy định khác” và theo Điều 27 Luật
HN&GĐ năm 2014 thì vợ, chồng có trách nhiệm liên đới khi thực hiện các giao dịch phù hợp với quy định về đại diện tại Điều 25 Trường hợp còn lại mặc dù chỉ có một bên vợ/chồng tham gia kinh doanh nhưng việc các bên lập thoả thuận theo Điều 36 Luật HN&GĐ năm 2014 đồng nghĩa với việc người vợ/chồng trực tiếp tham gia kinh doanh trao cho người chồng/vợ của mình quyền tự mình tham gia các giao dịch dân
sự liên quan đến tài sản chung đó Điều này dẫn đến khi phát sinh những khoản nợ từ việc kinh doanh liên quan đến khối tài sản chung này, vợ, chồng phải có trách nhiệm liên đới Cơ sở pháp lý cho nhận định này là sự kết hợp quy định tại khoản 2 Điều 27
Luật HNGĐ 2014 “vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này” và khoản 3 Điều 37 Luật HNGĐ năm 2014, theo đó, “nghĩa
vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” được coi là nghĩa
vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vì vậy, việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng phát sinh với người thứ ba là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết những phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của hai vợ chồng
Trang 291.3 Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
1.3.1 Khái niệm
Khái niệm của pháp luật là: Hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước được ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù
hợp với lợi ích của giai cấp mình [34] Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối
quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Cho đến nay, khái niệm về tài sản vẫn chỉ mang tính chất liệt kê, khái quát chưa mang tính tổng hợp tài sản Việc chia tài sản chung vợ chồng trong sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo cho lợi ích của gia đình vừa để đảm bảo duy trì hoạt động của doanh nghiệp một cách bền vững, ngăn chặn những hậu quả không đang có làm ảnh hưởng đến uy tín hoặc khả năng kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay có tài sản chung vợ chồng Việc xuất hiện những tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi tiến hành chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh thì lúc giải quyết hậu quả này trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của cả gia đình, ảnh hưởng đến các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, ảnh hưởng đến lợi ích của những thành viên trong công ty, lợi ích cổ đông trong công ty Hiện nay, nhà làm luật mới chỉ dự liệu về những quy định chung liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Luật chưa dự liệu về cách thức giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh Việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng cũng như trách nhiệm tài sản của vợ chồng đối với người khác, tổ chức, doanh nghiệp… khi vợ chồng sử dụng tài sản chung, tài sản riêng trong hoạt động kinh doanh chưa được quy định Khi có tranh chấp sảy ra, cơ quan có thẩm quyền không có cơ sở để giải quyết một cách thống nhất, nên mỗi nơi giải quyết một cách khác nhau cùng một vấn đề
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi tham gia vào các hình thức kinh doanh khác nhau, vợ chồng sẽ chịu sự điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm pháp lý tương ứng với mỗi hình thức kinh doanh đó Về cơ bản có hai chế độ trách nhiệm khi
vợ, chồng tham gia các loại hình doanh nghiệp khác nhau, đó là trách nhiệm hữu hạn
và trách nhiệm vô hạn Chế độ trách nhiệm hữu hạn được áp dụng đối với các công
Trang 30ty cổ phần, công ty TNHH, trong đó thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty Chế độ trách nhiệm
vô hạn được áp dụng với doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ kinh doanh cá thể, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, đều phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ trong hoạt động kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của mình, kể cả tài sản mà vợ chồng không đem vào kinh doanh Mặt khác, vấn đề hưởng lợi phát sinh từ hoạt động kinh doanh được xác định căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được chia lợi nhuận tương ứng với tỉ lệ vốn góp sau khi nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác
Tuy nhiên, đây chỉ là những quy định chung, khái quát đối với cá nhân tham gia kinh doanh Việc xác định quyền sở hữu tài sản, trách nhiệm tài sản sẽ phức tạp hơn khi người tham gia vào các hình thức kinh doanh đó là người đang có vợ, có chồng và họ có thể tham gia với các tư cách khác nhau trong quản trị doanh nghiệp
Để giải quyết vấn đề này cần xác định cụ thể một số nội dung sau: Vận dụng quy định Luật HN&GĐ và luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp để xác định tài sản chung trong hoạt động kinh doanh của vợ chồng; Khi vợ chồng tham gia hoạt động kinh doanh cần phân biệt các trường hợp chia tài sản chung vợ chồng như trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn, một bên vợ hoặc chồng chết hay bị tòa án tuyên bố là đã chết, đồng thời cần xem xét việc chia tài sản cần phải được công bằng, phù hợp với lợi ích của các bên có liên quan; tiếp theo, các tranh chấp giữa vợ, chồng với nhau về tài sản
áp dụng Luật HN&GĐ để giải quyết Các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau nhưng liên quan đến những người khác trong hoạt động kinh doanh (như trách nhiệm đối với các cổ đông khác, trách nhiệm liên đới với các khoản nợ của doanh nghiệp, khoản nợ khác trong kinh doanh…) cần áp dụng các quy dịnh của pháp luật thương mại để giải quyết, sau đó áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ giải quyết vấn đề tài sản giữa vợ chồng
Do vậy, việc tìm hiểu khái niệm pháp luật về chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh và đi vào nội dung về việc chia này sẽ làm hiểu rõ hơn các vấn đề xung quanh pháp luật quy định về chia tài sản chung cũng như tài sản trong hoạt động
Trang 31kinh doanh của vợ chồng, góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân gia đình, các mối quan hệ khác mà pháp luật doanh nghiệp và luật khác có liên quan bảo vệ, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
1.3.2 Nội dung pháp luật chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong
kinh doanh thông thường bao gồm những nhóm quy phạm sau:
+ Nhóm quy phạm về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Một là, nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng về tài sản
Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng về tài sản là một trong những quyền bình đẳng cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Đây là sự cụ thể hóa quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân giữa công dân nam và công dân nữ, hay còn gọi là quyền bình đẳng giới Chính vì vậy, để tạo điều kiện và cơ hội phát triển ngang bằng cho vợ chồng, pháp luật nước ta đã ghi nhận sự bình đẳng giữa nam
và nữ nói chung và sự bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản chung nói riêng Trong hoạt động kinh doanh, nguyên tắc này cũng thể hiện sự bình đẳng tài sản của vợ chồng về quyền sở hữu, quyền định đoạt đối với tài sản trong kinh doanh, người chồng hoặc người vợ có quyền ngang nhau về sở hữu định đoạt khi có sự đồng
ý của người còn lại Nếu không có sự đồng ý của người còn lại thì vợ chồng không thể tự mình định đoạt tài sản đó
Chẳng hạn, Luật HN&GĐ cho phép thẩm phán chỉ được “suy đoán công bằng” rằng mọi tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ
chồng để phân chia theo nguyên tắc 50/50, nếu không có thỏa thuận riêng hay có sự phản đối của một bên [40] Như vậy, khi có sự giao thoa giữa các luật khác nhau liên quan đến phân chia tài sản chung thì phải chăng nguyên tắc “luật riêng đè luật chung” phải được áp dụng? Có nghĩa rằng đối với tài sản là doanh nghiệp, bởi Luật Doanh nghiệp như là “luật riêng” đã yêu cầu kê khai rõ tên và tỷ lệ nắm giữ cổ phần của người chủ khi thành lập doanh nghiệp, trong trường hợp đăng ký doanh nghiệp có
Trang 32ghi (hoặc không) tên vợ hay chồng, thì tình trạng sở hữu cụ thể đó phải được tôn trọng Trên thực tế, khác với trường hợp bán bất động sản là tài sản trong thời kỳ hôn nhân mà theo Bộ luật Dân sự bắt buộc phải có ý kiến của bên kia là vợ hoặc chồng, khi chuyển nhượng cổ phần công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp, chỉ cần quyết định duy nhất của chủ sở hữu cổ phần có tên trên đăng ký doanh nghiệp là đủ Tuy nhiên, bởi Luật HN&GĐ ra đời nhằm mục đích hiện thực hóa các ý tưởng cao quý và nhân đạo về tôn trọng quyền của phụ nữ, tại nhiều nước đã có sự tách bạch giữa quyền quản lý, định đoạt cổ phần công ty (vốn chỉ dành cho người nắm giữ cổ phần công ty) và quyền hưởng lợi nhuận được chia từ công ty Bởi vì, người vợ dù không tham gia kinh doanh nhưng lại đảm nhiệm chức năng chăm sóc con và gia đình thay cho chồng, pháp luật cho họ quyền được hưởng thành quả, được chia sẻ tiền cổ tức hay đồng sở hữu các tài sản được tạo lập từ kết quả kinh doanh do người chồng làm chủ nhằm bảo vệ người phụ nữ yếu thế hơn
Hai là, nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung Đây hoàn toàn là sự thỏa thuận riêng của vợ chồng, người thứ ba và các chủ thể có liên quan không thể can thiệp đến thỏa thuận chia này Hiện nay, việc chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh xuất phát từ nhu cầu thực tế của vợ hoặc chồng Ngoài những trường hợp chia bị coi là vô hiệu như quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ năm 2014 thì vợ chồng hoàn toàn có quyền thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản chung Tuy nhiên sự thỏa thuận này chỉ được coi
là hợp pháp khi nó được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, cưỡng ép đồng thời đó là ý chí độc lập của vợ, chồng dựa trên sự nhận thức đầy đủ
và rõ ràng về những hậu quả pháp lý phát sinh sau khi chia tài sản chung
Ba là, nguyên tắc sự thỏa thuận của vợ chồng chia tài sản chung không được
trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội
Việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ cho phép vợ chồng có quyền tự thỏa thuận Quy định này đã thể hiện sự tự do của vợ chồng đối với khối tài sản chung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho vợ chồng tiếp tục
Trang 33duy trì hoạt động kinh doanh của của doanh nghiệp Dựa trên nguyên tắc này, khi vợ chồng có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật HN&GĐ và pháp luật dân sự có thể thỏa thuận với nhau bất kỳ các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, nếu vợ chồng có yêu cầu Tuy nhiên thỏa thuận chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của vợ chồng khi thỏa thuận đó phù hợp với ý chí của nhà nước Hay nói cách khác, sự tự do ý chí trong thỏa thuận của vợ chồng phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định - giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Nếu để vợ chồng tự do thỏa thuận vô hạn thì thỏa thuận đó có thể sẽ trái với quy định của pháp luật, trở thành phương tiện để trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự với người khác và ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế phát triển trên cơ sở tự do sở hữu, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, tự phát triển, tự điều chỉnh Yêu cầu tham gia thị trường của mỗi chủ thể đều cần có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, lắp đặt thiết bị sản xuất,… Trong đời sống hôn nhân, các bên với tư cách là vợ, chồng của nhau nhưng xét về bản chất, họ vẫn
là một cá nhân độc lập, có quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật, trong đó có quyền tự do kinh doanh Ngày nay, “hôn nhân không còn là rào cản lớn đối với mỗi cá nhân khi họ muốn tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại, kinh tế Quyền tự do cá nhân ngày càng được thể hiện rõ nét trong xã hội hiện đại”[13] Điều này dẫn đến ngày nay kinh tế gia đình không chỉ bó hẹp trong phạm
vi thoả mãn, đáp ứng nhu cầu cuộc sống cho các thành viên gia đình, mà kinh tế gia đình đã tham gia tích cực vào đời sống kinh tế - xã hội [14]
+ Nhóm quy phạm về căn cứ chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Căn cứ vào Luật HN&GĐ, Luật Doanh nghiệp, Luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, việc chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh được quy định cụ thể trong các điều khoản áp dụng luật và việc chia tài sản này của vợ chồng được chia theo nguyên tắc tài sản được chia đôi nhưng có tính
Trang 34đến các yếu tố đó là hoàn cảnh gia đình và của vợ chồng, xác định công sức đóng góp của vợ, chồng trong tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung vợ chồng, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tụ tạo thu nhập và xác định lỗi của vợ chồng để quyết định chia tài sản Trong đó, công sức đóng góp là những đóng góp của các bên vào việc tạo lập, giữ gìn, phát triển tài sản chung Trong hoạt động kinh doanh, công sức đóng góp của
vợ chồng trong tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng rất là quan trọng Một mặt là để xác định nguồn vốn, tạo lập, một mặt là để xác định công sức đóng góp
và duy trì hoạt động trong các loại hình hoạt động doanh nghiệp để từ đó có căn cứ chia tài sản chung vợ chồng
Điểm b Khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định việc chia tài sản chung vợ chồng phải xem xét đến công sức đóng góp của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung trong chia tài sản chung của vợ chồng Kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, vì vậy việc một bên kinh doanh từ tài sản chung của vợ chồng có thể được xem như đã có sự đóng góp công sức trong việc tạo lập và phát triển khối tài sản chung nếu như quá trình kinh doanh mang lại kết quả Nhìn từ phương diện công sức, nếu chỉ một bên vợ/chồng tiến hành hoạt động kinh doanh từ tài sản chung thì theo lẽ thông thường, người trực tiếp kinh doanh nên được xem xét có công sức lớn hơn so với người còn lại trong vấn đề quản lý, tạo lập và phát triển khối tài sản chung trong hoạt động kinh doanh này Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của vợ, chồng, Luật HNGĐ 2014 xem xét lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập và Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP xác định thu nhập của người vợ/chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính tương đương với thu nhập của chồng/vợ đi làm Điều này có nghĩa rằng, nếu một bên trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh, và bên còn lại thực hiện một số công việc trong gia đình như nội trợ, hay chăm sóc, giáo dưỡng con cái thì công sức của họ được tính ngang bằng nhau
Mặt khác, nguyên tắc xét lỗi khi giải quyết việc chia tài sản chung vợ chồng
là điểm son pháp lý đã được Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 ghi nhận Quy định
Trang 35áp dụng lỗi để phân chia tài sản cho các bên là hợp lý, bởi lẽ nó bảo vệ cho bên vợ hoặc chồng bị yếu thế, nâng cao trách nhiệm của vợ, chồng trong việc việc vun đắp, xây dựng gia đình hạnh phúc, gìn giữ, phát triển khối tài sản chung Ví dụ: người chồng kinh doanh thua lỗ nhiều tài sản chung, trường hợp này cần xác định lỗi làm cho tài sản chung bị giảm sút là do người chồng ảnh hưởng đến đời sống gia đình, nếu yêu cầu Tòa án chia thì nên xem xét chia cho người vợ nhiều tài sản hơn để duy trì đời sống gia đình và con cái
Khi tham gia hoạt động kinh doanh, vợ chồng có thể linh hoạt dùng tài sản chung thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần trong công ty Do vậy, khi phát sinh vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh khi giải quyết tranh chấp, tuỳ từng vụ việc cụ thể, hàng loạt vấn đề pháp lý có thể được đặt ra mà Toà án
cần giải quyết, ví dụ như: Thứ nhất, trong trường hợp vợ chồng cùng kinh doanh, khi
chia tài sản chung, ai là người được tiếp tục kinh doanh, cơ chế nào được vận dụng
để bảo vệ quyền lợi của bên còn lại?; Thứ hai, những cơ sở nào có thể được xem xét,
viện dẫn khi xác định công sức đóng góp của vợ, chồng trong hoạt động kinh doanh?,
Thứ ba, vợ/chồng vay vốn để kinh doanh mà không thông qua ý kiến của chồng/vợ
mình thì nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó được xác định là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng khi lợi ích có được từ hoạt động kinh doanh được dùng để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình? Đó có được xem là yếu tố lỗi khi phát sinh hoạt động kinh doanh thua lỗ… Nói chung, đời sống kinh tế phát triển là một trong những nguyên do mà pháp luật thừa nhận việc đưa tài sản chung vào kinh doanh và ghi nhận
cơ chế chia loại tài sản trong hoạt động kinh doanh này
+ Nhóm quy phạm về chủ thể yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong
hoạt động kinh doanh
Vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong hoạt động kinh doanh là một trong những quy định thể hiện sự bình đẳng giữa vợ chồng về tài sản Sự thừa nhận quyền yêu cầu chia tài sản chung đã cho phép vợ chồng có quyền sở hữu tài sản riêng của mỗi người, từ đó nhằm mục đích củng cố quan hệ vợ chồng đồng thời tôn trọng, bảo
Trang 36đảm tự do ý chí cá nhân trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt khối tài sản chung
Trong thời kỳ hôn nhân cũng như khi ly hôn, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết [24, Khoản 1, Điều 38] Với quy định trên, tài sản chung
vợ chồng trong hoạt động kinh doanh chỉ được chia khi có thỏa thuận của vợ chồng hoặc khi vợ chồng không thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia Như vậy, người yêu cầu chia tài sản chung chỉ có thể là vợ hoặc chồng, ngoài ra không có chủ thể nào khác có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, kể cả người có quyền lợi liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng (chẳng hạn như chủ nợ của bên vợ hoặc chồng hoặc một người thứ ba có liên quan)
Chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong trường hợp vợ hoặc chồng chết hay bị Tòa án tuyên bố là đã chết là vợ hoặc chồng còn sống và người có quyền thừa kế
+ Nhóm quy phạm về phương thức chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt
động kinh doanh
Có hai phương thức chia tài sản chung đó là: Chia một phần tài sản chung của
vợ chồng và chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh Phương thức chia này được áp dụng trong cả ba trường hợp đó là trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn, vợ chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Chia một phần tài sản chung là chỉ chia một lượng nhất định trong khối tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh Vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chỉ chia một lượng tài sản nhất định trong toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng
Chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng là trong trường hợp không thực hiện chia một phần tài sản chung, pháp luật HN&GĐ hiện hành cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung trong hoạt động kinh doanh Toàn
bộ được hiểu là: “Tất cả những thành phần, bộ phận hợp thành một khối, một chính thể” [34] Chia toàn bộ tài sản chung là chia tất cả tài sản chung mà vợ chồng tạo
Trang 37dựng được trong hoạt động kinh doanh theo khối tài sản bao gồm tất cả tài sản trong doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan Việc chia toàn bộ tài sản chung được đặt ra trong trường hợp vợ chồng là người chèo lái, tham gia điều hành doanh nghiệp hoặc người vợ, chồng có nghĩa vụ về tài sản quá lớn với người thứ ba Vì vậy, chia toàn bộ tài sản chung là giải pháp được lựa chọn trong tình huống này
+ Nhóm quy phạm về hậu quả pháp lý về chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh
Thứ nhất, về quan hệ nhân thân
Trong thời kỳ hôn nhân, về mặt pháp lý, quan hệ nhân thân của vợ chồng không có gì thay đổi Vợ, chồng vẫn có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ về nhân thân đối với nhau và với gia đình như nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, chăm sóc nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm…
Trường hợp, có quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực thì quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt Sau khi ly hôn thì quan hệ giữa cha mẹ – con vẫn tồn tại Cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Trường hợp, khi vợ hoặc chồng chết hay có quyết định của toà án tuyên bố là
đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân của người đó được giải quyết như đối với người đã chết
Thứ hai, về quan hệ tài sản
Trường hợp trong thời kỳ hôn nhân, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định Khi chia thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng Tài sản trong hoạt động kinh doanh của vợ chồng, cụ thể là cổ phần, cổ phiếu, phần vốn góp vào doanh nghiệp… khi được chia thì tài sản đứng tên người nào sẽ là tài
Trang 38sản riêng của người đó và sẽ được làm thủ tục thông báo đến doanh nghiệp để thay đổi người sở hữu cổ phần (hoặc phần vốn góp) Ngoài ra, Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng [2, Điều 14]
Trường hợp sau khi ly hôn, chia tài sản do các bên thỏa thuận; nếu bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, tài sản riêng của bên nào thuộc sở hữu bên đó Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc xác lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ chồng trong gia đình coi như lao động có thu nhập Bảo vệ quyền lợi ích hợp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình Bảo vệ lợi ích chính đáng mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động thu nhập [24, Điều 59]
Trong trường hợp, vợ hoặc chồng chết hay có quyết định của toà án tuyên bố
là đã chết thìtài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa
kế
Trang 39Kết luận chương 1
Trên đây là những vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh Trong đó, việc nghiên cứu khái niệm tài sản chung của vợ chồng, chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh và đặc điểm là cơ sở cho việc nghiên cứu đánh giá các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
và Luật Doanh nghiệp 2014 về pháp luật chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam Thông qua những phân tích nói trên tác giả rút
ra những kết luận sau đây:
1 Tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh là vật, tiền, giấy tờ
có giá và quyền tài sản, bao gồm bất động sản và động sản đã được đưa vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đứng tên vợ hoặc chồng hoặc có thể đã được chuyển quyền
sở hữu cho doanh nghiệp Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài
4 Nội dung pháp luật về chia tài sản của vợ chồng trong kinh doanh bao gồm các nhóm quy phạm sau: Nhóm quy phạm về nguyên tắc chia tài sản chung; nhóm quy phạm về căn cứ chia; nhóm quy phạm về chủ thể yêu cầu chia; phương thức chia; nhóm quy phạm về hiệu lực và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản vợ chồng trong kinh doanh Những nội dung này sẽ là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện chia tài sản chung của vợ chồng trong kinh doanh ở Việt nam tại chương 2
Kể từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời và có hiệu lực cho đến nay, các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng như các hoạt
Trang 40động chia tài sản chung của vợ chồng trong kinh doanh đã phát huy được hiệu quả, góp phần củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam; bảo vệ được quyền và lợi ích của vợ chồng, các thành viên trong gia đình và lợi ích của bên thứ ba Sự riêng biệt về tài sản giữa vợ và chồng khi chia toàn bộ tài sản chung hoặc chia một phần khối tài sản chung tạo điều kiện cho người trực tiếp kinh doanh có một khối tài sản của riêng, không bị phụ thuộc vào người còn lại Họ chủ động về vốn và chủ động thực hiện công việc kinh doanh Việc chia tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh thể hiện quyền tự do của vợ chồng đối với tài sản chung, đồng thời tạo điều kiện cho vợ chồng có thể tiếp tục phát triển doanh nghiệp, phù hợp với nền kinh
tế đang phát triển