1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai

76 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình giải quyết các vụ án phạm tội trộm cắp tài sản vẫn còn những hạn chế, vướng mắc trong định tội danh và quyết định hình phạt đã làm giảm hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm phá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH PHONG

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH PHONG

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, được thu thập trong thực tế, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Phạm Thanh Phong

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

HVKHXH Học viện khoa học xã hội

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH, QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 8

1.1 Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản 8

1.2 Lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản 15

Chương 2 23

THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 23

2.1 Khái quát tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 23

2.2 Thực tiễn định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 24

2.3 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 35

2.4 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc, sai lầm trong định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản 48

Chương 3 51

YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI TAND THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 51

3.1 Yêu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật về tội trộm cắp tài sản 51

3.2 Các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt chính xác đối với tội trộm cắp tài sản tại TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 53

KẾT LUẬN CHUNG 61

DANH MỤC PHỤ LỤC 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giai đoạn vừa qua, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân tỉnh Đồng Nai

đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội Căn cứ các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh

ủy, UBND tỉnh Đồng Nai đã xây dựng các kế hoạch triển khai thực hiện chương trình phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Trên cơ sở đó, tỉnh Đồng Nai nói chung, thành phố Biên Hòa nói riêng đã thực hiện nhiều giải pháp phòng chống tội phạm như: Các cấp, các ngành quan tâm sâu sát trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động đấu tranh, phòng ngừa tội phạm; Lực lượng chức năng chủ động triển khai các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng công an đã

mở các đợt cao điểm đấu tranh, tấn công trấn áp tội phạm trên các lĩnh vực,

bố trí công an chính quy về đến cơ sở Đối với các cơ quan tố tụng đã có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giải quyết các vụ án, tránh để án kéo dài, tồn đọng gây bức xúc trong nhân dân

Tuy nhiên, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, trên thực tế vẫn còn nhiều tồn tại Giai đoạn năm 2015 đến năm 2019, TAND thành phố Biên Hòa đã thụ lý và xét xử 2.537 vụ án, với 4.442 bị cáo phạm tội

Trong đó tội trộm cắp tài sản, không chỉ chiếm một mức độ cao trong tình hình tội phạm nói chung, mà còn có diễn biến ngày càng phức tạp, tính chuyên nghiệp ngày càng cao, đã gây nên những thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần cho dân cư, các cơ quan, doanh nghiệp, trường học… và bất ổn trong đời sống của nhân dân Giai đoạn năm 2015 đến năm 2019, TAND thành phố Biên Hòa đã thụ lý và xét xử 1.152 vụ án trộm cắp tài sản với 1.439 bị cáo phạm tội, chiếm 45.41% trong tổng số các vụ án đã được xét xử trên địa bàn thành phố

Trang 7

Quá trình giải quyết các vụ án phạm tội trộm cắp tài sản vẫn còn những hạn chế, vướng mắc trong định tội danh và quyết định hình phạt đã làm giảm hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hình sự…

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có nhiều điểm mới, tuy nhiên thực tiễn áp dụng vẫn còn những vướng mắc Vấn đề áp dụng những quy định của pháp luật hình sự để xử lý tội trộm cắp tài sản vẫn có những mặt nhận thức chưa được thống nhất và còn khác nhau Các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền ban hành kịp thời

Từ các lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tội trộm cắp tài sản từ

thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” làm luận văn Thạc sĩ với

mong muốn kiến nghị được một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản, từ đó góp phần hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng và chống tội trộm cắp tài sản tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trên thực tế, trong những năm gần đây có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu lý luận về pháp luật hình sự để áp dụng cho tội trộm cắp tài sản,

có thể chia thành ba nhóm lớn như sau:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu làm rõ lý luận về tội trộm cắp

tài sản và lý luận áp dụng pháp luật về tội trộm cắp tài sản (lý luận định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản) như: Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Phần các tội phạm – Quyển 1, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Cao Thị Oanh (2015), Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Đinh Văn Quế (2018), Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 - Phần thứ hai - Các tội phạm, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà

Trang 8

Nội; Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm – Quyển 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm – Quyển 1, Nxb Hồng Đức, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (2014), Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; … Các công trình nghiên cứu này là những thành quả đóng góp vô cùng to lớn của các tác giả, đây là nền tảng cơ bản để nghiên cứu

về lý luận về tội trộm cắp tài sản, các tác giả đã phân tích, làm rõ rất nhiều vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam Từ đó làm cơ sở quan trọng trọng việc nghiên cứu, học tập áp dụng trong thực tiễn

về khoa học hình sự đối với tội trộm cắp tài sản cho tất cả các đối tượng có nhu cầu

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật (thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt) đối với tội trộm cắp tài

như: Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2016), Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình

sự Việt Nam từ thực tiễn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội; Hoàng Thị Hoa (2016), Tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn của thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội; Nguyễn Bá Vinh (2019), Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội; … Các công trình nghiên cứu này đã phân tích, làm rõ được một số vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam như: Khái niệm, đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản cũng như lịch sử hình thành và phát triển của chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam Bên cạnh đó các luận văn đều đã đề cập rất kỹ thực tiễn áp dụng PLHS về tội trộm cắp tài sản tại địa

Trang 9

phương nghiên cứu Tuy nhiên có rất ít công trình nghiên cứu thực tiễn áp dụng PLHS về tội trộm cắp tài sản tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu các giải pháp bảo đảm áp dụng

đúng pháp luật hình sự (bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng) đối với tội trộm cắp tài sản như: Trần Mạnh Hà, Một số dấu hiệu đặc trưng của tội “trộm cắp tài sản” cần nhận biết khi định tội danh, Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật, (số 3/2007), trang 70-77; Đỗ Lường Thiện, Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản, Tạp chí Nghề luật-Học viện tư pháp, (số 4/2017), trang 71-73; Võ Văn Trung, Định tội danh phải phù hợp các yếu tố cấu thành tội phạm, Diễn đàn Luật sư Việt Nam, (số 7/2016), trang 22-25; Lê Hoàng Tấn, Nâng cao chất lượng định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu, Diễn đàn Luật sư Việt Nam, (số 3/2016), trang 21-24 Các bài viết khoa học nêu trên đã làm rõ thêm vấn đề về lý luận của tội TCTS trong PLHS Việt Nam, trong đó làm rõ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, phân biệt giữa tội TCTS với các tội trong chương các tội phạm xâm phạm sở hữu khác

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Luận văn có mục đích đề xuất được các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội TCTS và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng PLHS đối với tội TCTS trên địa bàn thành phố Biên Hòa nói riêng và tỉnh Đồng Nai nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Nhằm đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ thứ nhất:

Trang 10

- Phân tích đánh giá làm rõ một số vấn đề lý luận về tội TCTS trong BLHS Việt Nam

- Phân tích làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội TCTS trong PLHS Việt Nam, bao gồm: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan của tội TCTS

- Phân tích làm rõ nội dung lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội TCTS

- Phân tích làm rõ những tồn tại và hạn chế trong áp dụng các quy định PLHS Việt Nam về tội TCTS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Nhiệm vụ thứ ba:

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của PLHS về tội TCTS

- Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định PLHS về tội TCTS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận về tội TCTS; các quy định của PLHS Việt Nam về tội TCTS và thực tiễn áp dụng PLHS đối với tội TCTS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2015-

2019

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 11

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tội TCTS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn từ 2015 - 2019 và trong khuôn khổ luận văn cao học này, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hai hoạt động

áp dụng PLHS cơ bản là định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội TCTS Việc định tội danh diễn ra trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, tuy nhiên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu định tội danh trong quá trình xét xử

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Triết học Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nhà nước và pháp luật trong phòng chống tội phạm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê…

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức chung cho nhân dân cũng như các tổ chức, cá nhân áp dụng pháp luật về tội TCTS trong PLHS Việt Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong thực tiễn công tác giải quyết các vụ án TCTS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức khi có nhu cầu

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

Trang 12

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội TCTS và lý luận về định tội

danh, quyết định hình phạt đối với tội TCTS

- Chương 2: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội

TCTS tại TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả định tội

danh và quyết định hình phạt đối với tội TCTS tại TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH, QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1.1 Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản

1.1.1 Khái niệm tội trộm cắp tài sản

Theo Khoản 1 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,

tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác [24, tr.24]

Theo Điều 158 BLDS năm 2015 quy định: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản theo quy định của pháp luật [26, tr.88]

Qua đó, quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu (Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản) [26, tr 98], quyền sử dụng (Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản) [26, tr 101] và quyền định đoạt (Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản,

từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản) [26, tr 102]

Để bảo vệ quyền sở hữu của công dân, Nhà nước có nhiều công cụ và biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp nghiêm khắc nhất là sử dụng PLHS, bằng cách quy định những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu là tội phạm và quy định các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người thực hiện tội phạm ấy

Hành vi TCTS thuộc nhóm hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất

chiếm đoạt Dưới góc độ khoa học luật hình sự, hành vi "chiếm đoạt tài sản"

có thể được hiểu theo định nghĩa sau: “Chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển

Trang 14

dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình” [35, tr.184]

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về tội TCTS, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất: “(Tội) trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý” [35, tr.209]

Theo định nghĩa này, nội hàm quan trọng của tội TCTS gồm hai dấu hiệu:

- Hành vi lén lút

- Hành vi chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý

Quan điểm thứ hai: “TCTS là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết án về tội CĐTS, chưa được xóa

án tích mà còn vi phạm” [38, tr.192]

Định nghĩa này cũng cho thấy các dấu hiệu:

- Hành vi lén lút

- Hành vi chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác

- Trị giá tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng người thực hiện đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Như vậy, so với định nghĩa trên, định nghĩa này đã cụ thể hóa hơn dấu hiệu trị giá tài sản bị chiếm đoạt làm ranh giới phân biệt giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác

Quan điểm thứ ba: “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” [18, tr.207]

Trang 15

Định nghĩa này cho thấy 2 dấu hiệu:

- Hành vi lén lút

- Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác

So với hai định nghĩa trên, định nghĩa này có sự khác biệt: Trong khi hai định nghĩa trên đều xác định tội TCTS là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý thì định nghĩa này lại định nghĩa là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác

Tài sản đang có người quản lý được hiểu là tài sản đó có thể thuộc sở hữu của người quản lý hoặc có thể không thuộc sở hữu của người quản lý, mà người đó chỉ được giao quản lý

Tài sản của người khác được hiểu là tài sản thuộc sở hữu của người khác chứ không thuộc tài sản của người đang đề cập đến Tài sản đó có thể đang do chính người khác đó sở hữu quản lý hoặc có thể đang giao cho một người nào

Như phân tích ở trên, hành vi TCTS có một số đặc trưng như sau:

(1) Hành vi “lén lút”

Đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của tội “Trộm cắp tài sản” là hành vi

“lén lút”, bởi vì không có việc lén lút thì không phải là trộm cắp

(2) Đối tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi “lén lút” là tài sản thuộc sở hữu của người khác hoặc đang có người quản lý

Trang 16

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc tài sản đang có người quản lý

Chủ sở hữu tài sản

Theo pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản là người có đầy đủ 3 quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định pháp luật Có đầy đủ 3 quyền này mới là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản và được pháp luật bảo vệ Hay nói cách khác, chủ sở hữu là người có quyền: tự nắm giữ, quản lý, chi phối tài sản theo ý mình mà không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian; có quyền khai thác các công dụng, lợi ích, giá trị của tài sản và quyết định về số phận của tài sản đó

Người quản lý tài sản

Người quản lý tài sản không phải là chủ sở hữu tài sản và không có quyền định đoạt tài sản mà chỉ được chủ tài sản giao cho nắm giữ hoặc trông coi, bảo vệ tài sản

Có thể nói, trộm cắp là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút

Từ phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về tội TCTS cụ thể như sau:

"Trộm cắp tài sản là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự

và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý bằng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác hoặc đang do người khác quản lý và theo quy định của BLHS hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự"

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản

1.1.2.1 Chủ thể của tội trộm cắp tài sản

Chủ thể của tội TCTS là chủ thể thường Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về tội TCTS thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 173 BLHS, vì theo quy định tại khoản 2

Trang 17

Điều 12 BLHS thì, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169,

170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290,

299, 303 và 304 của BLHS, trong khi đó khoản 1 Điều 173 là tội phạm ít nghiêm trọng và khoản 2 Điều 173 là tội phạm nghiêm trọng [18, tr 209]

1.1.2.2 Khách thể của tội trộm cắp tài sản

Khách thể của tội TCTS là quan hệ sở hữu: “tội TCTS xâm hại quan hệ

sở hữu” [45, tr.183]

Hành vi phạm tội TCTS xâm phạm đến quan hệ sở hữu, cụ thể là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ tài sản đối với tài sản bị trộm cắp [38, tr.192]

1.1.2.3 Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản

Hành vi khách quan của tội phạm

Đặc điểm của tội TCTS là có hành vi “chiếm đoạt” bằng hình thức lén lút, thủ đoạn là lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản

Tội TCTS có thể diễn ra trong một số trường hợp đặc thù sau:

- Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản, khi

có điều kiện mới lén lút chiếm đoạt tài sản

- Người phạm tội lợi dụng địa điểm đông người, như nhà ga, bến xe để chiếm đoạt tài sản của người khác

- Người phạm tội lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt tài sản nơi công cộng vì không có người trông coi

Dấu hiệu đặc trưng của tội TCTS thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản Trong ý thức chủ quan của người phạm tội, họ mong muốn che giấu hành vi phạm tội

Trang 18

của mình, họ sợ người quản lý tài sản phát hiện ra hành vi chiếm đoạt tài sản của mình [38, tr.193]

Hậu quả của tội phạm

Tội TCTS gây ra hậu quả là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản

bị chiếm đoạt Tài sản bị chiếm đoạt do hành vi trộm cắp gây ra thường là tiền các loại, ngoại tệ, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như phiếu công trái, ngân phiếu, vàng, bạc, kím khí quý, đá quý và các động sản có giá trị khác …

1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản

Người phạm tội TCTS có lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, họ mong muốn chiếm đoạt được tài sản của nạn nhân Mục đích chiếm đoạt bao giờ cũng có trước hành vi chiếm đoạt Do đó, có thể nói dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội TCTS là mục đích chiếm đoạt tài sản

1.1.2.5 Hình phạt của tội trộm cắp tài sản

Điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định hình phạt cho tội trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Khung 1: Có mức hình phạt: bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

1.1.3 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với các tội có liên quan

1.1.3.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Trang 19

Điều 172, BLHS hiện hành quy định tội công nhiên CĐTS Tội công nhiên CĐTS là hành vi lợi dụng chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản không

có điều kiện ngăn cản để công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ, không dùng bất kỳ thủ đoạn nào khác như: Dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần… Điểm khác nhau cơ bản giữa tội TCTS và tội công nhiên CĐTS là hành vi TCTS được thực hiện hoàn toàn lén lút đối với chủ tài sản hoặc người người quản lý tài sản Ngược lại, hành vi công nhiên CĐTS lại được thực hiện hoàn toàn công khai ngay trước mắt của người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản

1.1.3.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp giật tài sản

Điều 173, BLHS hiện hành quy định tội tội cướp giật tài sản Đó là hành

vi CĐTS, mà người phạm tội thực hiện một cách công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản (giật) của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát Trong tội TCTS thì trị giá tài sản tối thiểu được quy định trong CTTP để làm cơ sở truy cứu TNHS, còn ở tội cướp giật tài sản thì không quy định giá trị tài sản tối thiểu, mà chỉ quy định hành vi “người nào cướp giật tài sản của người khác…” tức chỉ cần có hành vi cướp giật là phạm tội

1.1.3.3 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Về mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm là vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả Còn đối với tội TCTS thì người thực hiện hành vi phạm tội một cách lén lút để chiếm đoạt tài sản, tức chiếm đoạt tài sản mà chủ sở hữu không hề biết

1.1.3.4 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Hành vi CĐTS của tội lừa đảo, chủ yếu dựa vào thủ đoạn gian dối, làm cho chủ tài sản tin tưởng giao tài sản sau đó chiếm đoạt một cách công khai

Trang 20

Tóm lại để phân biệt được tội TCTS với các loại tội khác chúng ta cần

chú ý phân biệt được người phạm tội dùng phương thức, thủ đoạn nào để

chiếm đoạt Đối với tội trộm cắp thì chiếm đoạt một cách lén lút, tội cướp thì

dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt, tội lừa đảo thì dùng thủ

đoạn gian dối đưa ra các thông tin giả làm cho chủ tài sản giao tài sản rồi

chiếm đoạt,…

1.2 Lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội

trộm cắp tài sản

1.2.1 Lý luận định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản

Đối với tội TCTS, đòi hỏi cần làm rõ các dấu hiệu đã xảy ra trong thực

tiễn, đặc biệt chú ý đến các dấu hiệu:

- Tính chất lén lút của hành vi chiếm đoạt tài sản

- Giá trị của tài sản bị chiếm đoạt

- Nhân thân của người phạm tội (Đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc

Từ phân tích trên, có thể định nghĩa: Định tội danh đối với tội TCTS là

việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu

hiệu của hành vi tội phạm TCTS đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu

thành tội phạm TCTS đã được quy định trong khoản 1 Điều 173 BLHS

Để việc định tội danh được đúng đắn, nhận thức của người áp dụng pháp

luật phải bao quát đầy đủ, chính xác, khách quan các loại yếu tố sau:

- Xác định chính xác, đầy đủ các tình tiết thực tế của vụ án;

Trang 21

- Nhận thức đúng nội dung của quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến tội phạm đã thực hiện;

- Nhận thức đầy đủ, đúng đắn về mối liên hệ giữa các tình tiết thực tế của hành vi và các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự

Như vậy, định tội danh tội TCTS là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tại Điều 173 BLHS và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm quy định tại Điều 173 BLHS với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [50, tr 26-27]

Các dấu hiệu cần lưu ý trong định tội danh tội trộm cắp tài sản

* Trường hợp tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, Theo quy định mới trong BLHS năm 2015, trường hợp trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng “gây hậu quả nghiêm trọng” được thay bằng “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”

Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Tình tiết “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” có

thể hiểu là hành vi trộm cắp tài sản đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống bình thường của dân cư trong một khu vực nhất định

* Trường hợp tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng người phạm tội trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt

Theo Mục 6, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì:

Trang 22

Trong thời hạn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nếu người đã bị xử phạt hành chính lại có hành vi trộm cắp tài sản và dù giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng, thì hành vi này cấu thành tội trộm cắp tài sản

* Trường hợp tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích

Khi đã bị kết án về tội CĐTS, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm

tội TCTS thì vẫn cấu thành tội phạm TCTS dù tài sản trộm cắp dưới hai triệu đồng

* Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng hành vi trộm cắp tài sản, nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu

TNHS theo quy định của BLHS và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu TNHS (gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính;

đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích ) Đồng thời, trong các hành vi xâm phạm đó chưa lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu TNHS

Trong trường hợp này, theo quy định tại Mục 5 phần II của Thông tư liên tịch số: 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001, người thực hiện hành vi TCTS nhiều lần, phải bị truy cứu TNHS

về tội TCTS tương ứng theo tổng giá trị tài sản các lần bị xâm phạm, nếu:

Thứ nhất, các hành vi TCTS được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian

Thứ hai, việc thực hiện các hành vi TCTS có tính chất chuyên nghiệp,

lấy tài sản trộm cắp làm nguồn sống chính

Trang 23

Thứ ba, với mục đích TCTS, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan,

nên việc TCTS được thực hiện nhiều lần, nên giá trị tài sản bị xâm phạm mỗi lần dưới 2.000.000 đồng

* Việc áp dụng hướng dẫn tình tiết “hành hung để tẩu thoát” và chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản sang tội cướp tài sản

Theo quy định tại Mục 6 Phần I Thông tư liên tịch số: TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 thì:

02/2001/TTLT-Khi áp dụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999, nay là điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015) cần chú ý:

“6.1 Phạm tội thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” là trường hợp

mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã, nhằm tẩu thoát

6.2 Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.”

1.2.2 Lý luận về quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản

“Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để

áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội” [44, tr 386]

Trang 24

Từ định nghĩa trên ta có thể suy ra: Quyết định hình phạt đối với tội TCTS là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng PLHS thể hiện ở việc Tòa

án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong Điều 173 BLHS theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội TCTS thể

hiện trong bản án buộc tội

Từ định nghĩa trên cho thấy quyết định hình phạt có các đặc điểm sau:

- Quyết định hình phạt là một dạng hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận thức của con người cụ thể;

- Quyết định hình phạt là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Hội đồng xét xử thực hiện trên thực tế, để quyết định một mức hình phạt hoặc có thể miễn TNHS, miễn hình phạt đối với bị cáo, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật;

- Quyết định hình phạt đối với tội TCTS mang tính tùy nghi cao, thể hiện trong việc lựa chọn loại hình phạt áp dụng, mức hình phạt,…được quy định tại Điều 173 BLHS

Theo quy định trong khoản 1 của Điều 50 BLHS, các căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội bao gồm:

- Các quy định của BLHS;

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;

- Nhân thân người phạm tội;

- Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự [35, tr 266]

* Về căn cứ thứ nhất – các quy định của BLHS

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của BLHS để lựa chọn loại và xác định hình phạt cụ thể áp dụng đối với người phạm tội Những quy định này bao gồm các quy định trong Phần thứ nhất của BLHS – Những quy định chung và các quy định trong Phần thứ hai của BLHS – Các tội phạm

Trang 25

*Về căn cứ thứ hai – tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Các khung chế tài của các tội phạm được xây dựng chủ yếu dựa trên tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm nhưng khi quyết định hình phạt

cụ thể trong phạm vi khung chế tài xác định, đòi hỏi tòa án vẫn phải cân nhắc tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm

Vì quyết định hình phạt là quyết định trong phạm vi khung hình phạt cho phép nên khi quyết định hình phạt chủ yếu căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội phụ thuộc trước hết vào những yếu tố sau:

- Tính chất của hành vi phạm tội như thủ đoạn, công cụ, phương tiện, hình thức thực hiện…;

- Tính chất và mức độ của hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra;

- Mức độ lỗi như tính chất của động cơ, quyết tâm phạm tội…;

- Hoàn cảnh phạm tội;

- Những tình tiết về nhân thân có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội…[35, tr.269]

*Về căn cứ thứ ba – nhân thân của người phạm tội

Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội cần cân nhắc trong tổng thể khi quyết định hình phạt là những đặc điểm nhân thân sau:

- Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội có ảnh hưởng đến mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như phạm tội lần đầu hay đã có tiền án, tiền sự, tái phạm thường hay tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hay không, là người chưa thành niên phạm tội hay đã thành niên…;

- Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội phản ánh khả năng giáo dục họ như có thái độ tự thú hoặc hối cải, lập công chuộc tội hay có thái độ ngoan cố…;

Trang 26

- Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ như là người bị bệnh hiểm nghèo, già yếu, phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ hoặc là người có hoàn cảnh bản thân hay gia đình đặc biệt khó khăn…[35, tr 269]

*Về căn cứ thứ tư – các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình

sự

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được nêu trong căn cứ này là những tình tiết đã được quy định cụ thể tại Điều 51 và Điều 52 BLHS

Khoản 2 của Điều 50 BLHS xác định, ngoài các căn cứ nêu tại khoản 1, khi quyết định hình phạt tiền đối với người phạm tội, Tòa án còn phải căn cứ vào tình hình tài sản và khả năng thi hành của người phạm tội Đây là các căn

cứ đảm bảo cho hình phạt này được thi hành trên thực tế để đạt được mục đích của hình phạt

Tiểu kết chương 1

Các tội xâm phạm sở hữu nói chung, Tội TCTS nói riêng đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà theo quy định của

BLHS phải bị xử lý hình sự Trong chương 1 của Luận văn, tác giả đã nghiên

cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tội TCTS, cụ thể:

1 Luận văn đã đưa ra được định nghĩa về tội TCTS được xây dựng từ đặc trưng của tội TCTS cũng như lý luận về các yếu tố cấu thành tội TCTS

2 Luận văn đã nghiêu cứu về lý luận định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội TCTS, qua đó làm cơ sở để nghiên cứu thực tiễn định tội danh

và quyết định hình phạt đối với tội TCTS ở chương 2

3 Qua phân tích như trên cho thấy BLHS năm 2015 đã xây dựng quy định về Tội TCTS một cách chi tiết, rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan

Trang 27

tiến hành tố tụng áp dụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án nhất định để những cơ quan này có điều kiện giải quyết các vụ án khác phức tạp hơn

Trang 28

Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH

PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Khái quát tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Tình hình xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Biên Hòa: Căn cứ vào số liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm trên phạm vi thành phố Biên Hòa từ năm 2015 đến năm 2019, số liệu cụ thể như sau:

- Năm 2015: Tội trộm cắp tài sản/Tội phạm khác là 276/587 vụ: chiếm 47.02% về số vụ, 347/1062 bị cáo: chiếm 32.67% về bị cáo

- Năm 2016: Tội trộm cắp tài sản/Tội phạm khác là 228/576 vụ: chiếm 39.58% về số vụ, 290/1071 bị cáo: chiếm 27.08% về bị cáo

- Năm 2017: Tội trộm cắp tài sản/Tội phạm khác là 193/489 vụ: chiếm 39.47% về số vụ, 241/819 bị cáo: chiếm 29.43% về bị cáo

- Năm 2018: Tội trộm cắp tài sản/Tội phạm khác là 204/407 vụ: chiếm 50.12% về số vụ, 250/721 bị cáo: chiếm 34.67% về bị cáo

- Năm 2019: Tội trộm cắp tài sản/Tội phạm khác là 251/478 vụ: chiếm 52.51% về số vụ, 311/751 bị cáo: chiếm 41.41% về bị cáo

Trong 5 năm, từ năm 2015 đến năm 2019, tổng số vụ án Tội trộm cắp tài sản/Tội phạm khác là 1152/2537 vụ, chiếm 45.41% về số vụ án, và 1439/4424

bị cáo chiếm 32.53% về số bị cáo

Qua số liệu trên cho thấy, tình hình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Biên Hòa luôn ở mức rất cao về số vụ và số bị cáo Đặc biệt, tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ rất lớn trong tình hình tội phạm của thành phố Biên Hòa, lớn hơn rất nhiều lần so với các tội chiếm đoạt tài sản

Trang 29

khác Do đó, công tác cải cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn thành phố Biên Hòa cần tiếp tục tăng cường vì tội phạm hoạt động với phương thức mới ngày càng phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn

Căn cứ vào số liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trong 05 năm, từ năm

2015 đến năm 2019 từ TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cho thấy

tội TCTS trong thực tiễn với số liệu cụ thể như sau:

Nhìn vào bảng 2.2 phần phụ lục cho thấy: trong vòng 5 năm từ năm

2015 đến năm 2019, đã khởi tố điều tra 1.152 vụ với 1.439 bị cáo về tội trộm cắp tài sản thì đưa ra xét xử có 1.014 vụ (chiếm tỉ lệ 88%) và 1.261 bị cáo (chiếm tỷ lệ 88%)

2.2 Thực tiễn định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2.2.1 Những kết quả đạt được trong định tội danh tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Nhìn chung, phần lớn các vụ án phạm tội trộm cắp tài sản được định tội danh chính xác, chưa có trường hợp nào bị xét xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm, thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng hình sự, không để án quá thời hạn luật định

- Định tội danh đúng đối với trường hợp phạm tội đơn lẻ:

Ví dụ 1: Bản án hình sự sơ thẩm số 560/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Tóm tắt nội dung vụ án: Khoảng 17 giờ ngày 13/7/2019, Lê Văn Tr (sinh năm 1986) đi bộ trên Quốc Lộ 51 thuộc phường LBT, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện có một chiếc xe mô tô biển số 70K1-233.57, số máy 039107, số khung 039102 của anh Nguyễn Văn T đang bán trái cây, chìa

Trang 30

khóa xe cắm ở trên ổ khóa điện xe mô tô, nên Tr đã lén lút đến lấy trộm chiếc

Khách thể: Hành vi phạm tội của Tr đã xâm phạm quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn T đối với chiếc xe mô tô biển số 70K1-233.57

Hành vi thuộc mặt khách quan: Hành vi của Tr đã lén lút đến lấy trộm chiếc xe của anh T

Hậu quả: Anh T đã mất quyền sở hữu đối với chiếc xe mô tô biển số 70K1-233.57

Lỗi của Tr là lỗi cố ý trực tiếp

Như vậy, việc Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/NQ-QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý

và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên bố bị cáo Lê Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt: Bị cáo Lê Văn Tr 01 (một) năm tù là đúng người, đúng tội

Trang 31

Bản án này sau đó đã bị Tr kháng cáo Ngày 26/02/2020, tại trụ sở TAND tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/HS-PT ngày 02/01/2020 đối với bị cáo Lê Văn Tr Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Bản án sơ thẩm đã đánh giá chính xác mọi tình tiết của

vụ án và tuyên Lê Văn Tr phạm tội TCTS là đúng người đúng tội Hình phạt một năm tù cho hành vi phạm tội của Tr là hoàn toàn tương xứng Điều này càng cho thấy bản án sơ thẩm đã đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Ví dụ 2: Bản án số: 104/2019/HSST, Ngày: 7/03/2019 của TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 12/10/2018, Nguyễn Văn T đi bộ đến nhà số B1, tổ

6, khu phố 5, phường A, thành phố B để trộm cắp tài sản Khi đến nơi T thấy cửa phòng không khóa và có hai người đàn ông đang nằm ngủ, đèn điện sáng nên T đã lén lút đi vào trong phòng lấy trộm tài sản

Tổng tài sản mà T chiếm đoạt là 8.314.000 đồng (kết luận định giá tài sản số 355/TCKH-HĐĐG ngày 16/10/2018 của hội đồng định giá thành phố B) nên hành vi của T đã thỏa CTTP tội TCTS quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS

* Trong vụ án này, khi định tội danh TAND thành phố Biên Hòa đã dựa trên các căn cứ như sau:

Dấu hiệu chủ thể: Bị cáo Nguyễn Văn T sinh năm 1986, đến năm 2018

bị cáo T hoàn toàn đủ tuổi chịu TNHS và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 21 BLHS

Dấu hiệu khách thể: Quyền sở hữu của anh D đối với chiếc điện thoại Iphone 6 plus và anh Q đối với chiếc điện thoại Sam sung galaxy J7 Prime bị xâm phạm

Trang 32

Hành vi thuộc mặt khách quan: T có hành vi đã lén lút đi vào trong phòng lấy trộm tài sản là hai chiếc điện thoại của anh D và anh Q, khi bị mất tài sản thì chủ sở hữu tài sản là anh D, anh Q không hề hay biết

Hậu quả: Anh D và anh Q đã bị mất tài sản là hai chiếc điện thoại Như vậy quyền sở hữu của anh D và anh Q đối với hai chiếc điện thoại đã bị xâm phạm Hậu quả này có mối quan hệ nhân quả với hành vi trộm cắp của T Mặt chủ quan: Lỗi của T là lỗi cố ý trực tiếp; mục đích: chiếm đoạt tài sản của người khác

Bị cáo Nguyễn Văn T có 03 tiền án:

+ Ngày 16/11/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt

18 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 13/2006/HSST ngày 16/11/2006

+ Ngày 12/09/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 193/20013/HSST ngày 12/09/2013

+ Ngày 21/7/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 130/20015/HSST ngày 21/7/2015

Hành vi phạm tội của T trong trường hợp là thuộc trường hợp tái phạm

nguy hiểm "Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý" (điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS)

Như vậy, đối chiếu tất cả các hành vi phạm tội của T đều phù hợp với CTTP cơ bản của tội TCTS, vì vậy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” Mặt khác, T phạm tội TCTS trong trường hợp đã tái phạm nguy hiểm nên hành vi của T thỏa mãn điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS Việc TAND Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai căn cứ quy định tại khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS

Trang 33

năm 2015 để định tội TCTS cho T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Ví dụ 3: Bản án số 578/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Tóm tắt nội dung vụ án: Nguyễn Hiếu N, sinh năm 1978, nghiện ma túy, không nghề nghiệp Tiền án:

- Ngày 29/10/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”

- Ngày 18/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”

Ngày 11/12/2018, N rủ T Đen (chưa rõ lai lịch) đến lẻn vào công trình xây dựng nhà số 276, khu 5, phường T, thành phố Biên Hòa (được rào bên ngoài) do chị Ngọc N là chủ sở hữu để trộm cắp 04 chân giàn giáo mang đi bán

Tại bản kết luận giám định số 490/TCKH-HĐĐG ngày 29/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Biên Hòa kết luận: 4 chân gián giáo có tổng giá trị định giá là 684.000 đồng (Sáu trăm tám mươi bốn nghìn đồng)

Phân tích vụ án:

Chủ thể: Hiếu N sinh năm 1978, thời điểm phạm tội (ngày 11/12/2018)

đã đủ tuổi chịu TNHS và không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS theo Điều 21 BLHS

Hành vi thuộc mặt khách quan: Hiếu N cùng T Đen lén lút lẻn vào khu công trường đang xây của nhà chị Ngọc N để trộm cắp 4 chân gián giáo Hậu quả: Chị Ngọc N bị mất 4 chân giàn giáo

Khách thể: Quyền sở hữu của chị Ngọc N đối với 4 chân giàn giáo

Lỗi thuộc mặt chủ quan: lỗi của Hiếu N là lỗi cố ý trực tiếp

Trang 34

Đối chiếu với cấu thành tội phạm của tội TCTS quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS cho thấy: Tài sản bị trộm cắp là 04 chân giàn giáo chỉ có giá trị 684.000 đồng Tuy nhiên, hành vi phạm tội của Hiếu N thuộc trường hợp

đã bị kết án về tội TCTS, bị xử phạt 10 tháng tù về tội: TCTS, chưa được xóa

án tích mà lại đi thực hiện hành vi TCTS Vì vậy, hành vi của Hiếu N thỏa mãn điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS nên TAND thành phố Biên Hòa định tội TCTS đối với Hiếu N là hoàn toàn đúng người, đúng tội

Định tội danh trong trường hợp phạm tội có đồng phạm:

Ví dụ 4: Bản án số: 571/2019/HS-ST, Ngày: 26/11/2019 của TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 02/8/2019, Nguyễn Tấn Đ rủ Trần Hoàng S và đối tượng tên

B (chưa rõ họ, địa chỉ) đi TCTS bán lấy tiền tiêu xài thì S, B đồng ý

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 02/8/2019, B chở Đ, S bằng xe mô tô hiệu Attila (không rõ biển số) đi ngang qua đoạn đường trước nhà ông L Đình T, sinh năm 1968 tại địa chỉ: số 34/15, tổ 32, khu phố A, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện xe mô tô hiệu AirBlade màu xanh biển

số 77G1-378.85 của ông T dựng trước cổng nhà, trên xe còn cắm chìa khóa

Đ nói B dừng xe lại để Đ quay lại lấy trộm xe thì B và S đồng ý, B điều khiển

xe dừng cách nhà ông T khoảng 30m để Đ đi bộ đến lấy trộm xe của ông T Kết luận định giá tài sản số 343/TC H-HĐĐG ngày 14/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Biên Hòa Tài sản là chiếc xe

mô tô hiệu AirBlade màu xanh biển số 77G1-378.85 trị giá là 24.500.000

đồng (Hai mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng)

* Trong vụ án này, khi định tội danh TAND thành phố Biên Hòa đã căn

cứ như sau:

Trang 35

Chủ thể: Bị cáo Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1993, tính đến thời điểm phạm tội thì bị cáo được xác định là 26 tuổi Bị cáo Trần Hoàng S, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1998, tính đến thời điểm phạm tội thì bị cáo được xác định là 21 tuổi Bị cáo Nguyễn Tấn Đ và Trần Hoàng S vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, không mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, như vậy bị cáo Nguyễn Tấn

Đ và Trần Hoàng S có đủ năng lực chịu TNHS đối với hành vi phạm tội của mình Do đó kết luận các bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu TNHS là đúng quy định pháp luật

Khách thể: Quyền sở hữu của ông T với chiếc xe mô tô hiệu AirBlade màu xanh biển số 77G1-378.85 bị xâm hại

Hành vi thuộc mặt khách quan: Đ và S đã dùng xe mô tô làm phương tiện để trộm cắp tài sản (xe mô tô hiệu AirBlade màu xanh biển số 77G1-378.85 của ông T)

Hậu quả: Ông T bị mất tài sản là chiếc xe mô tô hiệu AirBlade màu xanh biển số 77G1-378.85

Lỗi thuộc mặt chủ quan: Đ và S nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi trộm cắp tài sản và mong muốn hậu quả xảy ra là chiếm đoạt được tài sản, như vậy cả Đ và S có lỗi cố

Trang 36

2.2.2 Những hạn chế, vướng mắc, sai lầm trong định tội danh tội trộm cắp tài sản

Do tội TCTS là tội có các tình tiết khá rõ ràng; các vụ phạm tội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 - 2019 đều có các tình tiết rõ ràng nên việc định tội danh tội TCTS là chính xác: Trong số 17 bản án bị kháng cáo, kháng nghị và đưa ra xét xử phúc thẩm (trong phần công bố bản án của TANDTC) giai đoạn 2018-2020 thì không có vụ án nào định tội danh sai Tuy nhiên, thực tiễn định tội danh trên địa bàn thành phố Biên Hòa cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc sau đây

Thứ nhất, khó khăn trong việc định giá tài sản bị chiếm đoạt

Khi định tội danh đối với hành vi TCTS, thì việc xác định trị giá tài sản

bị chiếm đoạt là rất quan trọng Xác định đúng giá trị tài sản sẽ giúp cho việc định tội danh được chính xác Ngược lại định giá tài sản không đúng thì có thể làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Việc định giá tài sản trong các

vụ án xâm phạm sở hữu nói chung và trong tội trộm cắp tài sản nói riêng luôn gặp phải những khó khăn, vướng mắc Mặc dù Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ đã quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự, tuy nhiên, việc định giá tài sản là đối tượng của tội trộm cắp tài sản luôn gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc

- Một số trường hợp, đối với một số loại tài sản không phổ biến trên thị trường, tài sản không xác định rõ thời gian mua và một số thông tin khác nên gây khó khăn cho việc định giá tài sản

Ví dụ 5: Bản án số: 104/2019/HSST, Ngày: 7/03/2019 của TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Trang 37

Vụ án xét xử Nguyễn Văn T đã trộm cắp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus loại 64GB và 01 túi xách nhãn hiệu GUCCI màu đen

để trên đầu giường của anh Đinh Văn D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy J7 Prime màu vàng, để trên đầu giường của anh Đinh Văn Q Trong vụ án này, do chiếc túi xách nhãn hiệu GUCCI không rõ thời gian mua, chủng loại, giá trị sử dụng, không đủ cơ sở định giá nên hội đồng định giá thành phố Biên Hòa đã không định giá trị chiếc túi này Rõ ràng ta thấy, trường hợp này, việc không định giá chiếc túi xách nhãn hiệu GUCCI sẽ làm cho việc xác định hậu quả của hành vi phạm tội là không chính xác GUCCI là một nhãn hiệu thời trang nổi tiếng với những sản phẩm cao cấp Một chiếc túi xách nhãn hiệu GUCCI nhiều khi có giá trị rất lớn Chỉ vì không rõ thời gian mua, chủng loại, giá trị sử dụng, nên Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa cho rằng không đủ cơ sở để định giá nên đã không định giá chiếc túi xách Đây là một hạn chế rất lớn cần có các giải pháp để bảo đảm việc xác định đúng hậu quả của tội phạm, từ đó định tội danh chính xác

- Một số trường hợp tài sản bị người phạm tội làm hư hỏng gây khó khăn cho việc định giá tài sản

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ về định

giá tài sản quy định "Tài sản bị hủy hoại, hư hỏng một phần; tài sản bị hủy hoại, hư hỏng toàn bộ nhưng vẫn có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư hỏng: Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu xác định giá trị thiệt hại của tài sản bị hủy hoại, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ, Hội đồng định giá xác định giá trên cơ sở chi phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư

Trang 38

hỏng một phần hoặc toàn bộ" Mặc dù Nghị định đã quy định rõ như vậy, tuy

nhiên, một số trường hợp, Hội đồng định giá tài sản lại cho rằng, tài sản bị hư hỏng nên không định giá, dẫn đến không xác định chính xác mức độ thiệt hại

do hành vi phạm tội gây ra

Ví dụ 6: Bản án số 314/2019/HS-ST ngày 17/7/2019 của TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Vụ án xét xử Trần Tuấn P, sinh năm 1993, trú tại 178E, tổ 35, khu phố 4, phường B, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Nội dung vụ án như sau: Khoảng 15h00 ngày 15/12/2018, Trần Tuấn P rủ Nguyễn Văn C đến tiệm game bắn cá "Bà Mỹ" chơi Khi đến trước căn nhà số 98/57, tổ 9, khu phố 3, cả hai phát hiện 1 chiếc mô tô dựng trước cửa nhà, trên tay lái bên phải

có treo một giỏ xách P và C bàn nhau trộm túi xách P dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới, C lén lút đến chỗ dựng xe và lấy được giỏ xách của chị T và lên xe P chở đi

Trong giỏ xách có các tài sản gồm: Số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4S màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galasy J8 màu vàng, 01 giấy chứng minh nhân dân và 02 thẻ ATM mang tên Nguyễn Thị T và 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Nhật L P và C chia số tài sản vừa trộm cắp sản như sau: C được số tiền 18.500.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại

di động Iphone 4S màu trắng; P được 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galasy J8 Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4S màu trắng, model A1387 qua kiểm tra, điện thoại bị hư hỏng nặng không kiểm tra được cấu hình, chủng loại nên Hội đồng thống nhất không định giá và đã giao trả lại cho chị T

Ngày đăng: 15/12/2020, 09:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w