Nếu như việc hủy bản án của Tòa án cấp dưới chính là việc Tòa án cấp trên không thể khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án cấp dưới hoặc do có nh
Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM ANH QUÂN
HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TÒA
ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào
Người cam đoan
Phạm Anh Quân
Trang 4Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỦY BẢN
ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Tình hình hủy bản án sơ thẩm hình sự tại Tòa án nhân dân cấp cao
Thành phố Hồ Chí Minh………
2.2 Thực tiễn thi hành các quy định về căn cứ hủy bản án sơ thẩm tại Tòa
án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh
32
32
35
Chương 3: NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG SAI SÓT, VI PHẠM
TRONG HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
3.1 Nguyên nhân của những sai sót, vi phạm trong hủy bản án sơ thẩm
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT Cơ quan điều tra
ĐTV Điều tra viên
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng, chống tội phạm không chỉ dừng lại ở việc ban hành Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định hành vi nào là hành vi phạm tội, hình phạt và trách nhiệm hình sự (TNHS) kèm theo mà còn thể hiện ở việc đưa tội phạm ra xét xử theo các thủ tục do pháp luật quy định Với tinh thần đó, các cơ quan tố tụng nói chung và Tòa án các cấp nói riêng đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu trong công tác xét xử, qua đó đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thể hiện qua chất lượng của lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử với nhiều chuyển biến tích cực; tình trạng bắt giữ người trái pháp luật, truy tố oan, sai được hạn chế đến mức thấp nhất, công tác xét xử được thận trọng, hoạt động tranh tụng được đề cao, tính dân chủ, công khai, khách quan của phiên tòa ngày càng được phát huy
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được hoạt động xét xử các vụ án hình sự vẫn chưa đạt được yêu cầu, mục tiêu đề ra vì trong thực tế nhiều bản
án của tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên tuyên hủy, sửa theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vẫn còn xảy ra Khi Tòa án cấp trên quyết định hủy bản án hay sửa bản án hình sự của Tòa án cấp dưới ít nhiều có ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, tính chất mức độ hành vi vi phạm, cũng như việc xác định lỗi của người bị kết tội Chính vì vậy, hủy bản án có ý nghĩa hết sức quan trọng Nếu như việc hủy bản án của Tòa án cấp dưới chính
là việc Tòa án cấp trên không thể khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án cấp dưới hoặc do có những tình tiết mới phát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án mà ở giai đoạn xét xử sơ thẩm không có tình tiết đó thì việc hủy bản án (trừ trường hợp hủy và đình chỉ
vụ án) chủ yếu là nhằm tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp
Trang 7dưới khắc phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng để tiến hành điều tra, xét xử lại hoặc chỉ để xét xử lại vụ án một cách khách quan và đúng đắn Nếu đánh giá sửa bản án hay hủy bản án hình sự ở góc độ liên hệ cùng với hiệu lực thi hành của bản án thì bản án bị sửa có hiệu lực ngay cho dù quyết định sửa đúng hay sai nhưng đối với bản án bị hủy thì phải quay trở lại giai đoạn tố tụng trước đó, có thể phải điều tra lại hoặc xét xử lại Do đó, việc
để nhiều vụ án phải xử lý lại, làm kéo dài thời hạn tố tụng không chỉ gây thiệt hại lớn cho ngân sách của nhà nước, xã hội, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng và nhất là làm mất lòng tin của nhân dân vào công
lý Ngoài ra, mặc dù vấn đề hủy bản án hình sự là rất quan trọng nhưng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 và một số văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật đối với vấn đề này vẫn chưa thật sự chặt chẽ, chưa đồng bộ, nhất là quy định hủy bản án trong một số trường hợp cụ thể nên đã tạo ra không ít khó khăn, lúng túng cho Tòa án cấp trên khi áp dụng và trong một số ít trường hợp là kẽ hở gây ra nhũng nhiễu, tiêu cực
Chính vì vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể các bản án hình sự bị hủy là yêu cầu đặt ra cấp thiết, có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp làm sáng tỏ về mặt khoa học mà còn là cơ sở để đánh giá tính thực tiễn của pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), hiệu quả về mặt xã hội trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm Tất cả những vấn đề nêu
trên là lý do mà học viên chọn đề tài “Hủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thực tế hiện nay, hủy bản án là một vấn đề được các cấp các ngành hết sức quan tâm, cũng như những cán bộ làm công tác khoa học, trong
đó cũng có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như sau:
Trang 8- Về luận văn: Huỳnh Lập Thành (2001) Giai đoạn xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn
thạc sỹ, Đại học Luật, Hà Nội; Nguyễn Đức Mai (2004), Luận án tiến sỹ Luật học, Phúc thẩm trong tố tụng hình sự, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam); Nguyễn Văn
Huyên (2002) Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học Luật, Hà Nội; Phan Thị Thanh Mai (2003) Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học
Quốc gia Hà Nội
- Về bài báo khoa học: Đinh Văn Quế (2004) “Những trường hợp Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003”, Tạp chí Tòa án, số 20; Đinh Văn Quế (2004) “Những trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm”, Tạp chí Tòa án số 17; Đỗ Đại Hữu (2006) “Xác định Tòa án xét xử lại, khi Tòa án tối cao hủy bản án, quyết định của Tòa cấp dưới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 72; Phạm Thanh Hải (2007) “Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án
sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án”, Tạp chí Tòa án, số 4; Vũ Gia Lâm (2012)
“Về quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại của Tòa
án cấp phúc thẩm”, Tạp chí Luật học, số 11; Đinh Văn Quế (2013) “Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng có tội – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án, số 8; Hoàng Thị Liên (2005)
“Xử lý thế nào trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại theo hướng nặng hơn đối với bị cáo”, Tạp chí dân chủ và Pháp luật, số 5
Tuy nhiên các tài liệu, bài báo khoa học, luận văn trên do phạm vi nghiên cứu nên chỉ phân tích, bình luận, giải thích một số vấn đề về hủy bản
án mà chưa đi sâu phân tích làm rõ quá trình thực hiện hủy bản án sơ thẩm
Trang 9như thế nào, cũng chưa có tài liệu nào đề cập đến hủy bản án sơ thẩm hình sự
từ thực tiễn Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết và phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử án hình sự trong cải cách tư pháp hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hủy bản
án sơ thẩm, đánh giá việc hủy bản án sơ thẩm từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế những sai sót của tòa án nhân dân cấp dưới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hủy bản án, mục đích, ý nghĩa của hủy bản án; các nguyên tắc áp dụng đối với hủy bản án sơ thẩm hình sự
- Phân tích đánh giá từng trường hợp cụ thể về thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm hình sự Nêu kết quả và những hạn chế trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của tòa án nhân dân cấp dưới thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Nêu một số kiến nghị nhằm hạn chế những sai sót của TAND cấp dưới dẫn đến việc TAND cấp cao hủy bản án, bảo đảm tốt hơn chất lượng xét xử của các tòa án cấp tỉnh và cấp huyện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự hiện hành về hủy bản án và thực tiễn áp dụng ở Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Về thời gian: Từ năm 2017 đến năm 2019
Về không gian: Vấn đề hủy bản án sơ thẩm từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM trên địa bàn 23 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền Các kiến nghị luận văn đưa ra được nghiên cứu dựa trên các quan điểm định hướng chỉ đạo của Đảng
và nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự như: phân tích, đối chiếu, tổng hợp Luận văn tiến hành thu thập số liệu thống kê về thực tiễn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp cao TPHCM trong các năm 2017, 2018, 2019
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trang 11nhân để xảy ra tình trạng hủy bản án sơ thẩm hình sự và đưa ra kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng này trong thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn được sắp xếp gồm các chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về hủy bản án sơ thẩm
hình sự
Chương 2 Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về hủy bản án sơ
thẩm hình sự của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Nguyên nhân của những sai sót, vi phạm trong hủy bản án sơ
thẩm và các giải pháp khắc phục
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỦY BẢN ÁN SƠ
THẨM HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hủy bản án sơ thẩm hình sự
1.1.1 Khái niệm hủy bản án sơ thẩm hình sự
Trong từ điển Tiếng Việt có nêu khái niệm về “hủy” đó là làm cho không còn tồn tại hoặc không còn có giá trị nữa Tuy nhiên, với cách tiếp cận này còn rất chung chung, chưa xác định được các căn cứ để thực hiện việc hủy bản án, chưa quy định rõ phạm vi áp dụng cũng như chủ thể nào sẽ trực tiếp được giao quyền hủy bản án?
Vì vậy, theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành “Hủy bản án” là việc Toà án cấp trên có thẩm quyển ra quyết định bằng văn bản nhằm chấm dứt hiệu lực thi hành đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án cấp dưới khi phát hiện bản án, quyết định đó có sai sót Qua đó, có thể đưa ra khái
niệm hủy bản án trong TTHS như sau: “Hủy bản án là một trong những quyền của Tòa án cấp trên đối với bản án quyết định của Tòa án cấp dưới khi
có kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp trên xét thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật nhằm hủy bỏ một phần hay toàn bộ nội dung trong quyết định của Tòa án cấp dưới để tiến hành điều tra, xét xử lại những nội dung trong vụ
án đó hoặc quyết định đình chỉ vụ án”
Từ khái niệm trên, có thể đưa ra một số đặc điểm của hủy bản án trong TTHS như sau:
Thứ nhất, Tòa án cấp trên có quyền hủy bản án của Tòa án cấp dưới để
xét xử lại khi bản án đó bị kháng cáo, kháng nghị
Thủ tục phúc thẩm được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử, nội dung của nguyên tắc này là bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phải
Trang 13được xét xử lại ở cấp phúc thẩm, còn nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành
Thứ hai, quyền hủy bản án được thực hiện khi có các căn cứ theo luật
định, tức là phải tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc pháp chế trong tố tụng
Như vậy, trong trường hợp vụ án đó có đầy đủ các căn cứ theo luật quy định thì cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện quyền hủy bản án, tức phải tuân thủ các quy định mà pháp luật tố tụng hình sự đã đặt ra, không được làm sai hoặc cố tình vi phạm những quy định đó khi áp dụng
1.1.2 Mục đích
Thứ nhất, việc hủy bản án trong TTHS nhằm mục đích giúp cho các cơ
quan tiến hành tố tụng cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án phát hiện ra những sai phạm, thiếu sót của mình qua đó có cách thức khắc phục, tạo điều kiện để đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật Đây được xem
là yếu tố quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được những bản án có vi phạm, tính chất mức độ như thế nào, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền lợi cơ bản của công dân ra sao để quyết định có tiếp tục thi hành bản án hay hoãn thi hành bản án
Thứ hai, Đối với trường hợp bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật hay Viện
Kiểm sát (VKS) có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu hủy bản án, sửa bản án hay giữ nguyên bản án Trong trường hợp này thì tòa án mới quyết định thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm để đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật … cũng như nhằm xác định các tình tiết còn chưa đầy đủ trong vụ án, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án được đầy đủ, đúng đắn, khách quan và công bằng
Thứ ba, Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước để thực thi pháp luật, vì
vậy đây được xem là chủ thể quan trọng góp phần làm sáng tỏ vụ án, chứng minh được các tình tiết trong vụ án đó, ai là người có hành vi vi phạm, tính
Trang 14chất, mức độ thiệt hại cũng như hậu quả xảy ra từ những hành vi đó như thế nào và tất nhiên hình phạt đưa ra phải tương xứng với hành vi vi phạm đó mà pháp luật quy định Như vậy rõ ràng Tòa án phải xác định được những kháng cáo, kháng nghị đó có căn cứ và hợp pháp hay không để đưa ra quyết định có hủy bản án theo đúng thẩm quyền nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội danh, đúng quy định của pháp luật Đồng thời, qua đó đảm bảo tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội; tạo uy tín lòng tin của người dân vào các cơ quan thi hành pháp luật, nhất
là tòa án
Như vậy, mục đích của hủy bản án chính là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; đồng thời phát hiện, xử lý kịp thời các vi phạm không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, để bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, các lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức
1.1.3 Ý nghĩa
Hủy bản án, quyết định của Tòa án là một biện pháp quan trọng góp phần hạn chế tình trạng oan, sai đối với các bản án, quyết định của Tòa án; nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, phù hợp với định hướng cải cách tư pháp ở nước ta và xu thế phát triển chung của thời đại trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, hủy bản án có ý nghĩa hết sức quan trọng trên các mặt sau:
- Về mặt xã hội: Nếu như trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử của vụ
án có những sai sót thì việc hủy bản án sẽ góp phần khẳng định tính khách quan, dân chủ của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như quyền lợi của người tham gia tố tụng, trong việc chứng minh tính công bằng được xã hội thừa nhận Đồng thời qua đó góp phần làm sáng tỏ những vấn đề còn bất cập, những tình tiết chưa rõ ràng của vụ án, đảm bảo sự tin tưởng của người dân
Trang 15nói chung và những người đang trong quá trình áp dụng các biện pháp nhằm phục vụ quá trình điều tra xử lý án nói riêng an tâm vào chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và đảm bảo tính công bằng về mặt xã hội được nêu cao Việc hủy bản án cũng góp phần khẳng định vai trò và đảm bảo uy tín của các
cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng, tránh để xảy ra tình
trạng oan sai hay bỏ lọt tội phạm
- Về mặt pháp lý: Việc hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là căn cứ, cơ
sở pháp lý quan trọng để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một số nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, là cơ sở để hình thành nguyên tắc “Thực hiện chế
độ hai cấp xét xử”
- Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức: Việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đây được xem là một trong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước ta nhằm xây dựng một xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy, việc tôn trọng và bảo đảm quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức là một trong những nhiệm vụ của pháp luật nói chung cũng như pháp luật TTHS nói riêng Tại Điều 8 BLTTHS năm 2015 [15, tr.4] quy định cụ thể và chi tiết trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo
vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Như vậy, hủy bản án sẽ là căn cứ, điều kiện để các cơ quan thực thi pháp luật xem xét, đánh giá lại tính chất vụ án, mức độ hành vi của bị can, khung hình phạt… đã đúng, khách quan và chính xác chưa, qua đó nhằm bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tăng cường dân chủ trong TTHS Đồng thời, nguyên tắc này cũng góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm việc xác định sự thật vụ án được khách quan, toàn diện, chính xác và đầy đủ
Trang 161.2 Các căn cứ hủy bản án sơ thẩm hình sự
Khoa học luật tố tụng hình sự phân chia các căn cứ hủy bản án sơ thẩm thành hai nhóm: Các căn cứ của luật hình thức (do BLTTHS quy định) và các căn cứ luật nội dung (do BLHS quy định)
1.2.1 Các căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
Thủ tục tố tụng thể hiện tính chặt chẽ của quá trình điều tra, truy tố, xét
xử, tính dân chủ của hoạt động tư pháp Vì vậy việc vi phạm thủ tục tố tụng ở mức độ nghiêm trọng là căn cứ để hủy bản án
Thứ nhất, người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật: Quyết định đình chỉ vụ án là quyết định tố tụng do VKS đưa ra trong giai đoạn truy tố và do Tòa án quyết định trong giai đoạn xét xử làm chấm dứt hoạt động tố tụng giải quyết vụ án Chính vì vậy, đối với những vụ án đã có quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án thì nghiễm nhiên quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật và trong trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố, điều tra, truy tố hay xét xử đối với họ Khi đã xác định được người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án hình sự (VAHS), trừ trường hợp họ thực hiện một hành vi khác mà luật hình
sự coi là tội phạm
Thứ hai, tội phạm mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố: Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là một trong những quy định của pháp luật TTHS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại Tuy nhiên,
trong thực tiễn có những trường hợp việc khởi tố VAHS để truy cứu trách
nhiệm người thực hiện hành vi phạm tội có thể gây thêm những tổn thất khác cho bị hại so với việc không khởi tố VAHS như gây thêm những tổn thất về tinh thần, làm lộ bí mật đời tư của bị hại, phá vỡ sự tha thứ, hòa giải và thỏa
Trang 17thuận bồi thường giữa các bên Chính vì vậy, pháp luật TTHS quy định đối với một số trường hợp tội phạm xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người hoặc xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, không phải là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không phải là rất lớn hoặc đặc biệt lớn, không có tình tiết định khung tăng nặng thì việc khởi tố vụ án chỉ có thể được thực hiện khi có yêu cầu khởi tố
của bị hại hoặc người đại diện của họ
BLTTHS năm 2015 quy định có 10 tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại, gồm khoản 1 các Điều 134, 135, 136,
138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS
So với BLTTHS năm 2003, quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu của
bị hại trong BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm mới như: BLTTHS năm 2015
mở rộng phạm vi chủ thể có tư cách bị hại, đồng nghĩa với phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố VAHS cũng được mở rộng Ngoài ra, tại khoản 3 Điều
155 BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định “Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức” [15, tr.69] Quy định của BLTTHS năm
2015 là hợp lý vì cả bị hại và người đại diện của họ đều là chủ thể của quyền rút yêu cầu khởi tố, việc quy định cả hai chủ thể trên đều không được yêu cầu khởi tố lại là phù hợp về kỹ thuật lập pháp
Thứ ba, cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm: Có nhiều dạng bỏ lọt tội phạm khác nhau, chẳng hạn VKS truy tố bị cáo ba tội nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét
xử bị cáo hai tội; các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can (bị cáo) đã thực hiện cấu thành một tội hoặc nhiều tội khác nhưng VKS không truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm không thể xét xử các hành vi mà VKS không truy tố… Đối với trường hợp bỏ lọt người phạm tội (có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi
Trang 18tố bị can hoặc đã khởi tố bị can nhưng được đình chỉ điều tra…) việc giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm cũng tương tự như đối với trường hợp bỏ lọt tội phạm
Như vậy có thể thấy, trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra (CQĐT)
đã điều tra không đầy đủ (vi phạm trong việc lập biên bản hiện trường, thu giữ vật chứng, nhận định tội danh…), bỏ lọt tội phạm, quá trình kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên (KSV) thụ lý vụ án không phát hiện ra những sai sót, vi phạm trên để khắc phục, Toà án cấp sơ thẩm trước và trong khi xét xử cũng không phát hiện, làm rõ Những sai sót trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, dẫn tới khi bản án bị kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm phát hiện thấy những vi phạm trên của bản án sơ thẩm; Quan điểm xử lý vụ án và mức hình phạt đối với các bị cáo giữa hai ngành Kiểm sát và Toà án trong một số tình tiết của vụ án vẫn chưa thống nhất
Thứ tư, việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được: Tại điểm b, khoản 1, Điều 358 BLTTHS năm 2015
quy định về hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại như sau: “việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được” [15, tr.141], điều đó cho thấy, người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố
không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm hình sự để Tòa án cấp sơ thẩm xem xét lại theo trình tự sơ thẩm kết án người đó phạm tội Do đó, nếu VKS đã truy tố một người về một tội quy định tại BLHS năm 2015 nhưng Tòa án cấp
sơ thẩm tuyên bố người đó không phạm tội, thì VKS mới có quyền kháng nghị và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại
Tuy nhiên, nếu một người đã bị khởi tố nhưng trong quá trình điều tra, truy tố CQĐT hoặc VKS đã đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với người đó
mà khi xét xử sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm cũng thấy có căn cứ xác định
Trang 19người đó phạm tội thì VKS không được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu tại phiên tòa sơ thẩm, qua xét hỏi và tranh luận, VKS thấy việc đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án đối với một người rõ ràng là không đúng pháp luật và Tòa án cấp sơ thẩm không có kiến nghị phục hồi điều tra thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật VKS sẽ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
để hủy bản án sơ thẩm hoặc quyết định phục hồi điều tra để truy tố người mà CQĐT hoặc VKS đã đình chỉ (nếu việc điều tra không ảnh hưởng đến các bị cáo khác trong cùng vụ án)
Thứ năm, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử để xảy ra vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Ở đây các cơ quan tiến hành tố tụng đã không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của các bước trong quá trình giải quyết vụ án, cũng có thể vì thiếu các tài liệu chứng cứ mà đánh giá sai các tình tiết vụ án dẫn đến việc xác định sai sự thật vụ án cũng như tính khách quan và toàn diện của vụ án đó
Theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về xét xử sơ thẩm VAHS thì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là:
- Có hành vi không thực hiện những quy định bắt buộc trong BLTTHS khi tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;
- Có hành vi thực hiện nhưng thực hiện không đúng theo trình tự, thủ tục
đã quy định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;
- Các hành vi trên phải xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can,
bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…;
- Bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thủ tục làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện (như đối với các vụ án mà bị cáo
là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc bị truy tố ở khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì trong quá
Trang 20trình điều tra, truy tố, xét xử bắt buộc phải chỉ định Luật sư, nhưng bỏ qua không thực hiện là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã được pháp luật quy định)
Những vi phạm thuộc các trường hợp trên đều coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và phải được điều tra, truy tố lại hoặc xét xử lại nên Tòa phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm; còn những vi phạm ngoài phạm vi khái niệm này thì được coi là những vi phạm tố tụng không nghiêm trọng và chỉ thực hiện việc kiến nghị sửa chữa, khắc phục như vi phạm về thời hạn điều tra, thời hạn xét xử … cũng là vi phạm tố tụng nhưng không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng
1.2.2 Các căn cứ theo quy định của Bộ luật Hình sự
Thứ nhất, không có sự việc phạm tội: Không có sự việc phạm tội tức có
thể thông tin về tội phạm là không chính xác, hoàn toàn không có sự việc xảy
ra như thông tin mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận hoặc có sự việc xảy ra nhưng sự việc đó không có dấu hiệu của tội phạm Ví
dụ như một người không thực hiện hành vi phạm tội, mà Tòa án cấp sơ thẩm
có sai lầm trong việc kết án người đó phạm tội, sai lầm này có thể do CQĐT hoặc VKS trong quá trình điều tra, cũng có thể do Tòa án Việc VKS truy tố không đúng người, đúng tội, nhưng quá trình xét xử Hội đồng xét xử không căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa để làm căn cứ kết án dẫn đến làm oan người vô tội
Thứ hai, hành vi không cấu thành tội phạm: Cấu thành tội phạm là tổng
hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cho một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS Hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi của người hoặc pháp nhân nào đó không thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS Ví dụ như người thực hiện hành vi gây thiệt hại, không có năng lực trách nhiệm hình sự, không có lỗi; người
Trang 21thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do sự kiện bất ngờ, hành vi thực hiện
là hành vi phòng vệ chính đáng, là hành vi thực hiện trong tình thế cấp thiết… Hành vi không cấu thành tội phạm là trường hợp người bị kết án có thực hiện hành vi đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội, nhưng theo quy định của pháp luật, thì hành vi của họ không bị xử lý bằng biện pháp hình sự như: gây thiệt hại trong trường hợp không có năng lực chịu TNHS; chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng; sự kiện bất ngờ; phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; cố ý gây thương tích nhưng tỷ lệ thương tật dưới 11%; vô ý gây thiệt hại chưa nghiêm trọng đến tài sản; vô ý gây thương tích nhẹ và một số loại tội đòi hỏi người có hành vi phạm tội phải là người đã bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc một số hành vi phải gây ra thiệt hại đáng kể (hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại nghiêm trọng) mới bị coi là tội phạm và một số trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Thứ ba, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi
chịu trách nhiệm hình sự: Đối với tuổi chịu TNHS được quy định cụ thể tại Điều 12 BLHS năm 2015 [17, tr.5]
Thứ tư, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Thời hiệu truy cứu
TNHS là thời hạn do BLHS quy định cho phép cơ quan có thẩm quyền được tiến hành các hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội, khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS được quy định tại Điều 27 BLHS [17, tr.10] Việc xác định được đã hết thời hiệu truy cứu TNHS là căn
cứ không khởi tố VAHS
Thứ năm, tội phạm đã được đại xá: Đại xá là một biện pháp khoan hồng
đặc biệt của Nhà nước, do Quốc hội quyết định mà nội dung của nó là tha hoàn toàn đối với hàng loạt người phạm tội đã phạm một hoặc một số loại tội phạm nhất định Văn bản đại xá thường được ban hành khi có sự kiện chính
Trang 22trị đặc biệt quan trọng của đất nước và có hiệu lực đối với những tội phạm xảy ra trước và khi văn bản đại xá đó được ban hành Tội phạm đã được đại
xá là căn cứ để không khởi tố VAHS
Thứ sáu, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ
trường hợp cần tái thẩm đối với người khác: Mục đích của việc áp dụng TNHS và hình phạt đối với người phạm tội là nhằm giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới Do vậy, trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
mà xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra quyết định không khởi tố VAHS, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
1.2.3 Khi có vi phạm nghiêm trọng quy định của các ngành luật khác
BLTTHS năm 2015 bổ sung một trường hợp hủy bản án sơ thẩm để xét
xử lại là do “bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án…”, hay sửa đổi căn cứ hủy bản án để điều tra, xét xử lại là “Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự” thành “Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” Việc bổ sung vấn đề vi phạm pháp luật nói chung hoặc thay thế từ “Bộ luật Hình sự” bằng từ “pháp luật” cho thấy quan điểm của nhà làm luật là những sai lầm nghiêm trọng không chỉ đối với BLTTHS hay BLHS mà còn đối với các quy định của pháp luật nói chung gồm cả luật dân sự, luật hành chính, luật doanh nghiệp, luật giao thông đường bộ… Vì vậy, khi xét xử VAHS thì Tòa án cấp trên vừa phải căn cứ vào quy định của BLHS, BLTTHS vừa phải căn cứ vào các ngành luật khác có liên quan đến vụ án để xem xét đánh giá tính có căn cứ trong bản án của Tòa án cấp dưới, nếu phát hiện có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
Trang 23hoặc có những tình tiết mới phát sinh thì buộc phải tuyên hủy bản án của Tòa
- Nguyên tắc suy đoán vô tội
Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, là những quy phạm pháp luật cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống pháp luật quốc gia Chính vì vậy suy đoán vô tội có ý nghĩa hết sức quan trọng và được quy định tại Điều
31 trong Hiến pháp năm 2013 [14] Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, tại Điều
13 BLTTHS năm 2015 được xây dựng và thực hiện theo 27 nguyên tắc cơ bản (từ Điều 7 đến Điều 33), bổ sung và quy định nguyên tắc suy đoán vô tội:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật…” [15, tr.5]
Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng mang ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTHS, tạo ra một hành lang pháp lý trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể tố tụng, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho việc phát huy, bảo đảm các quyền cá nhân, sự công bằng, khách quan Nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự
và lợi ích chính đáng của người bị truy cứu TNHS, đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm: cơ quan tư pháp, điều tra có trách nhiệm phải tìm được bằng chứng chứng minh vô tội
Trang 24song song với việc tìm bằng chứng chứng minh có tội Đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trước số phận chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, nguyên tắc suy đoán vô tội là “lá chắn thép” bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo, phòng chống oan sai, được xem là yếu tố căn bản, thể hiện rõ nhất việc tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người
- Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
Điều 27 BLTTHS năm 2015 quy định về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong TTHS [15, tr.7] Xét xử hai cấp là một nguyên tắc tiến bộ được áp dụng phổ biến trên thế giới và nhiều quốc gia Theo đó, bản án, quyết định sơ thẩm (xét xử lần thứ nhất) nếu có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì được chuyển lên Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại (xét xử lần thứ hai - phúc thẩm)
Thứ nhất, xét xử sơ thẩm là quá trình xét xử vụ án đó về nội dung, là thủ tục bắt buộc, theo đó Tòa án tổ chức phiên tòa, xem xét đánh giá chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đưa ra bản án, quyết định Trong thời gian theo pháp luật quy định mà bản án đó không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực thi hành và dĩ nhiên Tòa án sẽ không xét xử lại vụ án đó nữa (trừ trường hợp xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có căn cứ và theo thủ tục đặc biệt)
Thứ hai, nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì trong trường hợp này bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực thi hành Việc xét xử ở cấp tiếp theo là bắt buộc, đây được gọi là xét xử ở cấp phúc thẩm
Thứ ba, xét xử phúc thẩm có ý nghĩa đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được phán quyết thận trọng, khách quan, chính xác, có căn cứ, đúng pháp luật; đảm bảo cho Tòa án cấp trên giám sát hoạt động xét xử của Tòa án
Trang 25cấp dưới, khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, của cá nhân
- Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử
Nguyên tắc này thay thế cho nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước toà án được quy định tại BLTTHS năm 2015 với những nội dung mới bảo
đảm tranh tụng trong xét xử, thực hiện yêu cầu của cải cách tư pháp
Trên cơ sở bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, BLTTHS năm
2015 có các nội dung sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa nguyên tắc này, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đầy đủ sẽ bảo vệ các quyền của người bị buộc tội, nhất
là quyền tự bào chữa, quyền nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Cụ
thể: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án” [Điều 16, tr.7] Các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng
nhằm bảo đảm quyền tự bào chữa, bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa của bị can, bị cáo Bên cạnh đó, tại Điều 75 BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể về quyền lựa chọn người bào chữa, tạo thuận lợi về thủ tục cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được tiếp cận với người bào chữa, đồng thời còn bổ sung quy định người thân thích của người
bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa [15, tr.36]
Để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, BLTTHS năm 2015 đã
bổ sung nhiều quy định, cụ thể: Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho KSV,
bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án; Quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của KSV, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; sự có mặt của
Trang 26người bào chữa; người giám định, người định giá, người dịch thuật; Điều tra viên (ĐTV) và những người khác (quy định tại các Điều 279, 291, 292, 293,
294, 295, 296)
Như vậy, có thể thấy rằng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử có
ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở, điều kiện bình đẳng giống nhau trong việc thu thập, củng cố đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, tạo cơ sở, căn cứ vững chắc cho việc truy tố, buộc tội và đưa ra các ý kiến tranh tụng nhằm bảo vệ quyền lợi cho cá nhân, tổ chức, cũng như qua đó giúp chứng minh các tình tiết đúng đắn, khách quan của vụ án Đồng thời, thông qua đó cũng cho thấy rằng ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng thì người tham gia tố tụng cũng có quyền tranh luận giữ ý kiến của mình về những vấn đề đưa ra trong vụ án tại phiên tòa
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
Ở nước ta, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS được ghi nhận tại tất cả các bản Hiến pháp Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm
2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, BLTTHS năm 2015 đã có các sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS Cụ thể: BLTTHS năm 2015 đã dành một chương (chương V) với 11 Điều, từ Điều 72 đến Điều 82 để quy định các vấn đề liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội nhằm bảo đảm quyền này được thực hiện tốt, khả thi trong thực tế Việc sắp xếp các quy định liên quan đến bào chữa thành một chương riêng tạo sự thống nhất, khoa học của các quy định; đồng thời giúp cho việc áp dụng quy định thuận lợi hơn, khẳng định vị trí quan trọng của bào chữa Với các điều chỉnh quan trọng trên, BLTTHS năm 2015 đã tạo cơ chế, điều kiện để người có quyền bào chữa, người bào chữa thực hiện tốt quyền của mình; các bên chủ thể trong tố tụng bình đẳng với nhau trong việc thu thập, kiểm tra chứng cứ, bình đẳng trong
Trang 27việc bày tỏ quan điểm, đưa ra các yêu cầu và tranh luận trước các cơ quan tiến hành tố tụng; đồng thời ràng buộc, đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa cho người bị buộc tội, bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử VAHS khách quan, toàn diện
và đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội
- Nguyên tắc độc lập xét xử của thẩm phán, hội thẩm
Đây là nguyên tắc hiến định bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được tiếp tục ghi nhận trong BLTTHS với tư cách là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất của TTHS
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập Nội dung này bảo đảm tính khách quan, công bằng của các quyết định do Tòa án đưa ra, đề cao trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm, bảo đảm chất lượng của hoạt động xét xử Tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm thể hiện trong mối quan hệ của họ và Tòa án với các cơ quan, với những người khác, trong quan hệ với các cấp xét xử
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử có nghĩa là khi tiến hành xét
xử họ không bị lệ thuộc vào những ý kiến của những cơ quan, tổ chức, người
có chức vụ quyền hạn hay một người nào đó, không phụ thuộc vào ý kiến của những cơ quan, những người tiến hành và tham gia tố tụng Không một ai, không một cơ quan, tổ chức nào có quyền can thiệp vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm; không ai, không một tổ chức nào có thể dùng áp lực
và tác động đối với họ trong quá trình giải quyết vụ án Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau Thẩm phán và Hội thẩm là thành viên của Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm, không lệ thuộc vào quan điểm, chính kiến của thành viên khác trong Hội đồng xét xử Để bảo đảm sự độc lập của Hội thẩm trong khi xét xử
Trang 28BLTTHS quy định Thẩm phán phải là người biểu quyết sau cùng để không ảnh hưởng đến tính độc lập của Hội thẩm, các vấn đề của vụ án đều phải được giải quyết bằng cách biểu quyết và quyết định theo đa số Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử được bảo đảm bằng một loạt các yếu tố, trong đó có các chế độ bổ nhiệm Thẩm phán và chế độ bầu Hội thẩm nhân dân, tính tự chủ của họ
Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử còn được thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét xử Tòa án cấp trên không được quyết định hoặc gợi ý cho Tòa án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể Đồng thời, khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, Thẩm phán cũng không bị lệ thuộc bởi các nhận định, những phán quyết của Tòa án cấp dưới
Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật Điều này có nghĩa rằng khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tuân thủ, phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án, chứ không được tùy tiện, chủ quan trong việc áp dụng pháp luật Khi thực hiện hoạt động xét xử, hoạt động gắn liền với việc củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, Thẩm phán
và Hội thẩm càng phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật
- Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Tòa án xét xử tập thể có nghĩa là một bản án hay quyết định của Tòa án không do cá nhân một Thẩm phán hay Hội thẩm nhân dân quyết định mà phải
do một tập thể hội đồng (ít nhất là ba thành viên) quyết định và được tiến hành theo đúng thủ tục tố tụng đã được pháp luật quy định Việc xét xử của tòa án liên quan đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân, tài sản của nhà nước, của tập thể, an ninh quốc gia, trận tự
an toàn xã hội, trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì vậy cần phải được tiến hành một cách thận trọng Do đó, hiến pháp và pháp luật quy định tòa án phải xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Trang 29Ngoài ra, để đảm bảo cho việc xử lí vụ án được thận trọng, khách quan
tại Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 [16] và tại Điều 24
BLTTHS năm 2015 cũng quy định Toà án xét xử tập thể và quyết định theo
đa số: "Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định" [15, tr.7] Kết quả của hoạt
động xét xử là kết quả hoạt động chung của Hội đồng xét xử
Như vậy, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số góp phần bảo đảm cho quá trình tiến hành tố tụng thực hiện một cách thống nhất,
là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong TTHS; góp phần động viên, tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức và mọi người tham gia vào việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tăng cường dân chủ trong TTHS; góp phần định hướng xây dựng pháp luật TTHS
1.3.2 Quy định về hủy bản án trong giai đoạn phúc thẩm
Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được nêu
rõ tại Khoản 1 Điều 355 BLTTHS năm 2015 Trong đó, thẩm quyền “không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm” và “đình chỉ việc xét xử phúc thẩm” là kết quả thể hiện sự nhất quán trong đường lối xét
xử giữa hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm Điều cần chú ý ở đây đó là thẩm quyền
“hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án” ở những nội dung này có thể hiểu rằng, khi Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện bản án của Tòa án cấp sơ thẩm có những sai lầm, vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, áp dụng điều luật hay có vi phạm
tố tụng ở mức độ đáng kể, đồng thời những vi phạm này Tòa cấp phúc thẩm không thể giải quyết, khắc phục được thì được quyền hủy bỏ bản án sơ thẩm này Tùy theo tính chất vi phạm của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm quyết định hủy án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án
Trang 30Quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại được quy định tại khoản 1 Điều 358 BLTTHS năm 2015 Trong trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy quá trình điều tra tại cấp sơ thẩm có những căn cứ chưa được làm sáng tỏ như: có sự việc phạm tội xảy ra hay không? ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội đó? Hành vi đó do lỗi cố ý hay vô ý? Có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ mức hình phạt không? Quá trình điều tra được tiến hành chưa đầy đủ, chưa khách quan, còn nhiều tình tiết nghi vấn trong vụ án chưa được làm sáng tỏ, dẫn đến việc xác định sự thật của vụ án không được khách quan
và toàn diện Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ hủy án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại khi xác định rằng việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ, chưa chính xác mà những thông tin, tài liệu thu thập chưa đầy đủ đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình xác định sự thật vụ án, không đảm bảo tính khách quan của hoạt động xét xử, còn nếu Tòa án cấp phúc thẩm xác định không ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án thì không được hủy bản án sơ thẩm Ngoài căn cứ cho rằng Tòa án sơ thẩm còn có nhiều tình tiết chưa điều tra, chứng minh chính xác, khách quan, cụ thể thì việc hủy bản án sơ thẩm còn phải bảo đảm điều kiện là Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được, còn nếu Tòa án cấp phúc thẩm có khả năng bổ sung các căn cứ, tài liệu, chứng cứ mới thì bản
án sơ thẩm không bị hủy mà Tòa án cấp phúc thẩm phải bổ sung Ví dụ: nếu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm bị cáo không có biểu hiện mắc bệnh tâm thần, nhưng trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo lại có biểu hiện tâm thần Trong trường hợp này Tòa cấp phúc thẩm phải trưng cầu giám định để xác định năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo, chứ không lấy lý do này để hủy
án sơ thẩm
Quyết định hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại từ cấp sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 358 BLTTHS năm 2015, theo quy định tại khoản 2 Điều 358 cho thấy trong trường hợp Hội đồng xét xử sơ
Trang 31thẩm không đúng thành phần tham gia thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền yêu cầu hủy bản án đó, bởi vì theo quy định tại Điều 254 BLTTHS năm 2015 thì:
“Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trường hợp
vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm” [15,
tr.108] Qua đó có thể thấy khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản
2 Điều 358 BLTTHS năm 2015 thì Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại tại cấp sơ thẩm
Ngoài quyền hạn hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại, Tòa án cấp phúc thẩm còn có quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án được quy định tại Điều 359 BLTTHS năm 2015 [15, tr.142]
Như vậy, khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều 157 của BLTTHS năm 2015: “Không có sự việc phạm tội hay hành vi không cấu thành tội phạm” thì Tòa án cấp phúc thẩm phải tuyên bị cáo không
có tội để đảm bảo khôi phục danh dự, cũng như quyền lợi cho bị cáo và đình chỉ vụ án Trường hợp hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là khi Tòa án cấp phúc thẩm xác định có một trong các căn cứ như bị cáo chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hay quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm….Các căn cứ trên cũng chính là các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự và cũng là những sai lầm, vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS và BLTTHS Những căn cứ này có thể xuất hiện trước khi khởi tố vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không phát hiện được nên vẫn kết án bị cáo
nhưng cũng có thể xuất hiện sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
Trang 32Qua đó có thể thấy thủ tục hủy bản án theo cấp phúc thẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng, là quá trình Tòa án cấp phúc thẩm đưa ra phán quyết bằng bản án nhằm chấm dứt việc thi hành đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực để giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ án khi phát hiện vụ
án đó có những tình tiết, những căn cứ chưa đầy đủ, chưa chính xác hay đưa
ra bản án, quyết định có sai sót
1.3.3 Quy định về hủy bản án trong giai đoạn xét xử giám đốc thẩm
Để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, những quan điểm nhận thức chưa chính xác về xét xử, cấp xét xử thể hiện trong quy định pháp luật TTHS trước đây về cơ bản đã được BLTTHS năm 2015 khắc phục Các quy định của BLTTHS về giám đốc thẩm đã tương đối hoàn thiện và cụ thể giúp cho việc
áp dụng dễ dàng trên thực tế Mặc dù vậy, khi nghiên cứu các quy định của BLTTHS về giám đốc thẩm cũng như tham khảo thực tiễn áp dụng các quy định về giám đốc thẩm vẫn còn tồn tại không ít vướng mắc cần khắc phục Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện các hoạt động TTHS thủ tục giám đốc thẩm có thể tiến hành theo các bước như sau:
Thứ nhất, việc bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm trong việc xử lý vụ án được quy định tại Điều 372 BLTTHS năm 2015 [15, tr.148] Như vậy, khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm trong bản án thì báo cho những người có thẩm quyền để xem xét việc kháng nghị Ở đây Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các chủ thể được quyền xem xét bản
án hoặc quyết định bị đề nghị, nếu có căn cứ cho rằng bản án đó có vi phạm pháp luậtthì chủ thể có thẩm quyền sẽ trực tiếp ban hành văn bản kháng nghị, đây là căn cứ làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự
Trang 33Thứ hai, trong giai đoạn giám đốc thẩm, phần lớn các phiên tòa không được tiến hành công khai do tính chất đặc biệt của thủ tục này, chính vì vậy trong các buổi làm việc của phiên tòa giám đốc thẩm cũng có thể vắng mặt những người tham gia tố tụng, bị cáo, người bị hại, luật sư… mà chỉ có các Thẩm phán trong Hội đồng xét xử và đại diện Viện kiểm sát Như vậy, sau khi phiên tòa được tiến hành thì kết luận cuối cùng do Hội đồng giám đốc thẩm ban hành theo quy định của BLTTHS nhằm xác định tính hợp pháp hay không hợp pháp của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị Hội đồng giám đốc thẩm có thể đưa ra các quyết định được quy định tại Điều 388 BLTTHS năm 2015 [15, tr.153]
Qua đó có thể thấy rằng hủy bản án trong giai đoạn giám đốc thẩm là việc Hội đồng giám đốc thẩm ra phán quyết bằng văn bản nhằm chấm dứt việc thi hành đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật ở giai đoạn xét xử trước
đó để giải quyết lại một phần hoặc toàn bộ vụ án khi phát hiện một phần hoặc toàn bộ bản án đó có sai sót
1.3.4 Quy định về hủy bản án trong giai đoạn xét xử tái thẩm
Tái thẩm là một thủ tục đặc biệt trong TTHS, theo đó bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xem xét lại trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền khi phát hiện có những tình tiết mới có thể làm thay đổi
cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của Tòa án mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó Chính vì vậy khi có một trong những căn
cứ quy định tại Điều 398 BLTTHS năm 2015 thì Viện trưởng VKS có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm: “Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật; Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có
Trang 34hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án; Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án” [15, tr.155] Cũng giống như phiên tòa giám đốc thẩm, đa phần các phiên tòa tái thẩm tiến hành mà không có mặt những người tham gia tố tụng, bị cáo, bị hại, luật sư…
mà chỉ có các Thẩm phán trong Hội đồng xét xử và đại diện của Viện kiểm
sát Tính công khai của phiên tòa tái thẩm cũng bị hạn chế
Mục đích cuối cùng của quyết định tái thẩm do Hội đồng tái thẩm thành lập nhằm xác định tính hợp pháp hay không hợp pháp của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Vì vậy theo quy định tại Điều 402 BLTTHS năm 2015, Hội đồng tái thẩm có những
quyền sau: “Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; Hủy bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; Đình chỉ việc xét
xử tái thẩm” [15, tr.156]
BLTTHS năm 2015 không quy định cụ thể căn cứ để hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra hoặc xét xử lại theo thủ tục tái thẩm và cũng không quy định xét xử lại từ cấp sơ thẩm hay phúc thẩm Do vậy có thể đánh giá, phân loại các trường hợp hủy bản án theo thủ tục tái thẩm dựa trên cơ sở của thủ tục giám đốc thẩm như sau:
- Trường hợp tình tiết mới được phát hiện làm thay đổi kết quả điều tra, ảnh hưởng đến toàn bộ bản án, nếu không điều tra lại thì không thể khắc phục được sai lầm, chẳng hạn như: nhân chứng khai man, kết luận của giám định viên không đúng sự thật, Điều tra viên, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ
Trang 35sơ…thì Hội đồng tái thẩm hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại
từ đầu
- Trường hợp vụ án được xét xử ở hai cấp và tình tiết mới liên quan đến việc xác định sự kiện thực tế trong quá trình xét xử từ giai đoạn sơ thẩm và không được phát hiện ở cấp phúc thẩm thì Hội đồng tái thẩm tuyên hủy cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại từ cấp sơ thẩm Ngoài ra, Hội đồng tái thẩm cũng có thể tuyên hủy bản án phúc thẩm để xét xử lại từ cấp phúc thẩm trong trường hợp tình tiết mới làm thay đổi nội dung bản án phúc thẩm Việc hủy bản án của Tòa không có nghĩa là trong mọi trường hợp toàn
bộ nội dung trong bản án bị kháng nghị đều bị hủy bỏ Việc hủy một phần hay toàn bộ bản án phụ thuộc chủ yếu vào tình tiết mới được VKS xác minh làm căn cứ kháng nghị tái thẩm có ý nghĩa như thế nào đối với phán quyết mà Tòa
án đã tuyên
Như vậy, Hội đồng tái thẩm quyết định hủy một phần hay toàn bộ bản án
để điều tra, xét xử lại từ cấp nào tùy thuộc vào tình tiết mới được phát hiện, xuất hiện ở thời điểm nào của quá trình tố tụng và có ảnh hưởng như thế nào đến bản án đang xem xét
- Trường hợp hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật, đình chỉ vụ án thì BLTTHS năm 2015 không quy định căn cứ để Hội đồng tái thẩm hủy bản án Tuy nhiên từ quy định về căn cứ đình chỉ vụ án được quy định khi giải quyết
vụ án ở các giai đoạn tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm cũng như từ thực tiễn áp dụng có thể thấy rằng các căn
cứ không khởi tố vụ án cũng là căn cứ để Hội đồng tái thẩm tuyên bố hủy bản
án và đình chỉ vụ án
Tóm lại, hủy bản án trong giai đoạn tái thẩm là việc Hội đồng tái thẩm ra phán quyết bằng văn bản nhằm chấm dứt việc thi hành đối với bản án đã có
Trang 36hiệu lực pháp luật để giải quyết lại một phần hoặc toàn bộ vụ án khi phát hiện một phần hoặc toàn bộ bản án đó có sai sót
Tiểu kết chương 1
Trong quá trình tiến hành tố tụng việc một bản án bị hủy được xem là cơ
sở, điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng xem xét, thu thập, đánh giá lại những tài liệu, chứng cứ đang có Qua đó xác định được những vấn đề còn thiếu sót, tồn đọng, dẫn đến việc vụ án đó bị Tòa án tuyên hủy để điều tra lại, xét xử lại hay đình chỉ vụ án Đối tượng bị hủy có thể là bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đã có hiệu lực pháp luật và hậu quả pháp lý là chấm dứt hiệu lực thi hành để giải quyết lại một phần hoặc toàn
bộ nội dung trong quyết định của bản án do Tòa án cấp dưới tuyên
Vì vậy, việc làm rõ khái niệm về hủy bản án, thẩm quyền hủy bản án của Tòa án cấp trên sẽ là cơ sở để áp dụng các quy định pháp luật trong thực tiễn TTHS của Tòa án các cấp, đồng thời xác định việc hủy bản án đối với Tòa án cấp dưới có đúng trình tự, thủ tục và chức năng do pháp luật TTHS quy định hay không và ảnh hưởng của quyết định đó như thế nào đến quá trình giải quyết vụ án cũng như để đảm bảo quyền lợi của người bị buộc tội trong vụ án Đồng thời, quyết định hủy bản án cũng là cơ sở và tiền đề cùng với các hoạt động tố tụng khác góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, tạo nền tảng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện quản lý và điều chỉnh đất nước bằng pháp luật
Trang 37Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỦY BẢN
ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tình hình hủy bản án sơ thẩm hình sự tại Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh
Theo báo cáo tổng kết năm của TAND cấp cao tại TPHCM giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019 cho thấy số bản án bị Tòa án cấp trên tuyên hủy trong các giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm có tỷ lệ cụ thể sau:
- Tổng số bản án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án trong giai đoạn phúc thẩm từ năm 2017 đến năm 2019 là 239 vụ, trong đó:
+ Năm 2018 tổng số vụ án phúc thẩm đã thụ lý là 1039 vụ, trong đó đã xét xử 884 vụ, đạt tỷ lệ 85,1% số vụ Còn lại 155 vụ chưa xét xử, chiếm tỷ lệ
sơ thẩm là 204 vụ Hủy án sơ thẩm là 138 vụ, trong đó hủy để cấp sơ thẩm
Trang 38điều tra lại 135 vụ (97,9% trong tổng số án bị hủy), hủy để xét xử lại là 03 vụ (2,1%), đình chỉ vụ án 0 vụ (0%) [Xem bảng 2.1]
Bảng 2.1: Số bản án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại và đình chỉ vụ án trong giai đoạn phúc thẩm từ năm 2017-2019
xử
Y án
sơ thẩm
Sửa
án sơ thẩm
Hủy án sơ thẩm Hủy
điều tra lại
Tỷ
lệ (%)
Hủy xét
xử lại
Tỷ
lệ (%)
Đình chỉ
vụ
án
Tỷ
lệ (%)
Năm 2018 tổng số vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm đã thụ lý là 89 vụ trong
đó đã xét xử được 72 vụ; đạt tỷ lệ 80,9% số vụ Còn lại 17 vụ, chiếm tỷ lệ 19,1% Hủy án là 58 vụ, trong đó hủy để điều tra lại 56 vụ (66,6 %), hủy để xét xử lại là 02 vụ (11,1%), đình chỉ vụ án 0 vụ (0%)
Trang 39Năm 2019 tổng số vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm đã thụ lý là 149 vụ trong đó đã xét xử được 138 vụ; đạt tỷ lệ 92,6 % số vụ Còn lại 11 vụ, chiếm
tỷ lệ 7,4 % Hủy án là 125 vụ, trong đó hủy để điều tra lại 125 vụ (76,8%), hủy để xét xử lại là 0 vụ (10,9%), đình chỉ vụ án 0 vụ (0%)
Bảng 2.2: Số bản án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại và đình chỉ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm từ năm 2017-2019
Hủy án sơ thẩm
Hủy điều tra lại
Tỷ lệ (%)
Hủy xét xử lại
Tỷ lệ (%)
Đình chỉ
VA
Tỷ lệ (%)
- Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, so với tổng số vụ án thụ lý, số vụ án được Tòa tuyên y án sơ thẩm trong 03 năm với tổng 1495 vụ chiếm 65,1%, số
vụ án sửa án sơ thẩm là 561 vụ chiếm 24,5%, số vụ án bị tuyên hủy là 239 vụ chiếm 10,4% Như vậy rõ ràng có thể thấy các vụ án được tuyên y án sơ thẩm, sửa án sơ thẩm chiếm tỷ lệ cao, chứng tỏ rằng kết quả xét xử phúc thẩm các
vụ án hình sự bảo đảm kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; tuyệt đối không có trường hợp nào xét xử oan người vô tội
Trang 40- Số vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại và đình chỉ vụ án có xu hướng ngày càng tăng Tỷ lệ bản án bị hủy chiếm 10,4 % trong tổng số vụ án đưa ra xét xử phúc thẩm, trong đó, hủy bản án để điều tra lại chiếm tỷ lệ cao nhất (10,1%), nguyên nhân là do giai đoạn điều tra, truy tố vẫn còn để xảy ra tình trạng vi phạm
Khác với hủy bản án trong giai đoạn phúc thẩm, hủy bản án trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, có tỷ lệ hủy bản án trên tổng số vụ án được đưa
ra xét xử cao hơn (85,3%), điều này cho thấy hầu hết kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đều được chấp nhận, mà phần lớn các kháng nghị giám đốc thẩm đều đề nghị hủy bản án để điều tra hoặc xét xử lại
Trong các giai đoạn phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm thì trường hợp hủy bản án để đình chỉ vụ án vẫn còn tồn tại, tuy nhiên trong những trường hợp này trước khi tiến hành giai đoạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
vì lý do bị cáo đã chết cho nên không tiến hành xét xử theo quy định mà Tòa
án buộc phải đình chỉ vụ án Vì vậy về cơ bản có thể thấy rằng Tòa án đã xét
xử đúng quy định và không để xảy ra tình trạng oan sai trong tất cả các giai
xử lại Một trong những vi phạm đó thể hiện trong các vấn đề sau:
2.2.1.1 Vi phạm khi chưa làm rõ các căn cứ hoặc căn cứ chưa đầy đủ