Bộ đề cương 30 câu hỏi Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật được biên soạn tỉ mỉ, nhanh chóng và chính xác nhất. Chắc chắn đây là bộ tài liệu không thể thiếu đối với các bạn sinh viên đang học trong trường và các anh chị chuẩn bị ôn thi công chức, viên chức. Chúc mọi người ôn tập thật tốt
Trang 1Câu4: Kiểu nhà nước là gì? Phân tích khái niệm kiểu nhà nước? 11
Câu 5: Phân tích quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin về thay thế kiểu nhànước 15
Câu 6: Chức năng Nhà nước là gì? Phân tích Chức năng của nhà nước?.17Câu 7: Phân tích khái niệm và đặc trưng của nhà nước 22Câu 8: Phân tích tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước 25Câu 9: Tính xã hội của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 32Câu 10: Phân biệt nhà nước với các tổ chức xã hội khác 36
Câu 11: Bộ máy nhà nước là gì? Mối liên hệ với chức năng của nhà nước 40
Câu 12: Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước trong bộ máy nhà nước 42
Câu 13: Phân tích nguyên tắc bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt độngtrên cơ sở Hiến pháp và pháp luật (nguyên tắc pháp chế) 44
Câu 14: Phân tích các đặc điểm của Bộ máy Nhà nước cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam hiện nay 46
Câu 15: Hình thức chính thể là gì? Phân tích khái niệm hình thức chínhthể? 47
Câu16: Hình thức cấu trúc là gì? Phân biệt nhà nước đơn nhất với nhànước liên bang 51
Trang 2Câu 18: Phân tích vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị 57
Câu 19: Chế độ chính trị là gì? Phân biệt chế độ dân chủ với phản dân chủ .60
Câu 20: Phân tích vai trò của Nhà nước đối với các tổ chức chính trị – xã hội khác 63
Câu 21: Phân tích các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền 65
Câu 22: Phân tích các giá trị của nhà nước pháp quyền 70
Câu 23: Phân biệt “Pháp luật”, “Tập quán” và “Đạo đức” 72
Câu 24: Phân tích vai trò của pháp luật đối với nhà nước 74
Câu 25: Tập quán pháp là gì? Phân tích khái niệm tập quán pháp? 77
Câu 26: Văn bản quy phạm pháp luật là gì? Phân tích khái niệm VBQPPL? 78
Câu 27: Quan hệ pháp luật là gì? Các đặc điểm của quan hệ pháp luật? 80
Câu 28: Thực hiện pháp luật là gì? Đặc điểm và ý nghĩa thực hiện pháp luật? 82
Câu 29: So sánh, Phân biệt trách nhiệm pháp lý với các trách nhiệm xã hội khác 84
Câu 30: Phân tích vai trò của ý thức pháp luật đối với xây dựng và thực hiện pháp luật 87
Trang 3ĐỀ CƯƠNG
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Câu 1: Trình bày đối tượng và phương pháp nghiên cứu của Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
1 Đối tượng nghiên cứu của Lý luân chung về Nhà nước và Pháp luật
Đối tượng nghiên cứu của Lý luận chung về nhà nước và pháp luật là cácvấn đề mà khoa học này đề cập Nói một cách khái quát thì khoa học này nghiêncứu về nhà nước và pháp luật, song nó không nghiên cứu tất cả các vấn đề vềnhà nước và pháp luật mà chỉ nghiên cứu một số vấn đề sau:
– Sự phát sinh, phát triển, tồn tại và thay thế của các kiểu nhà nước vàpháp luật để từ đó khái quát hóa và nêu lên quy luật phát sinh và phát triển củanhà nước và pháp luật
– Những đặc tính chung, cơ bản và những biểu hiện chủ yếu của nhà nước
và pháp luật trong đời sống xã hội như bản chất, chức năng, vai trò, hình thức…,bao gồm sự biểu hiện ở từng kiểu nhà nước, pháp luật cụ thể trong lịch sử và ởnhà nước, pháp luật Việt Nam hiện nay
– Mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật với nhau và với một số hiệntượng xã hội khác như: kinh tế, chính trị, các tổ chức xã hội, đạo đức…
Tóm lại: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật là hệ thống tri thức vềnhững quy luật phát sinh, phát triển đặc thù, những đặc tính chung và nhữngbiểu hiện chủ yếu của nhà nước và pháp luật nói chung, của nhà nước và phápluật Việt Nam nói riêng
2 Phương pháp nghiên cứu của Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Trang 4a) Cơ sở phương pháp luận của Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Cơ sở phương pháp luận của Lý luận chung về nhà nước và pháp luật làlập trường xuất phát, quan điểm tiếp cận và nghiên cứu của ngành khoa học này,bao gồm quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối, chính sách của Đảng ta Điều đó có nghĩa, Lý luận chung nghiêncứu tất cả các vấn đề về nhà nước và pháp luật trên cơ sở quan điểm duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Ví
dụ, quan hệ giữa nhà nước và pháp luật với kinh tế được xem xét theo quanđiểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúcthượng tầng của xã hội
b) Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể của Lý luận chung là những cách thức
mà khoa học này sử dụng để làm sáng tỏ những vấn đề thuộc đối tượng củamình
- Phương pháp phân tích là phương pháp chia các vấn đề phức tạp thànhnhững bộ phận, những yếu tố đơn giản đế nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề Vídụ: làm sáng tỏ các khái niệm về nhà nước và pháp luật bằng việc phân tích cácđặc điểm của chúng
- Phương pháp tổng hợp thường sử dụng khi liên kết các yếu tố đã phântích, khái quát hoá để nêu lên kết luận
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học là dùng các thao tác tư duy đểtách cái chung ra khỏi cái riêng, tạm thời gạt bỏ cái riêng để giữ lấy cái chungnhằm xây dựng nên những khái niệm chung, ví dụ, đề cập bản chất, kiếu nhànước…
- Phương pháp xã hội học là thông qua phỏng vấn, đàm thoại, đối thoại,điều tra xã hội học… để tìm hiểu dư luận xã hội về một vấn đề nào đó, ví dụ, tìmhiểu về ý thức pháp luật…
Trang 5- Phương pháp so sánh là tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữanhà nước và pháp luật với các hiện tượng xã hội khác để hiểu sâu về bản chất vàđặc điểm của chúng.
Ngoài ra, còn có các phương pháp nghiên cứu khác như giải thích phápluật, lịch sử, hệ thống…
Câu 2: Phân tích vai trò của khoa học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật đối với các khoa học pháp lý chuyên ngành
1 Giới thiệu khái quát về Lý luận chung về nhà nước và pháp luật và các khoa học pháp lý chuyên ngành
Lý luận chung về nhà nước và pháp luật và các khoa học pháp lý chuyênngành đều là những khoa học thuộc hệ thống khoa học pháp lý Trong đó:
– Lý luận chung về nhà nước và pháp luật là hệ thống tri thức về nhữngquy luật phát sinh, phát triển đặc thù, những đặc tính chung, những biểu hiệnchủ yếu của nhà nước và pháp luật nói chung, của nhà nước và pháp luật ViệtNam nói riêng
– Khoa học pháp lý chuyên ngành như luật dân sự, luật hôn nhân và giađình, luật hình sự… là hệ thống những quan điểm, khái niệm, kết luận hìnhthành trên cơ sở nghiên cứu các quy phạm pháp luật của một ngành luật nhấtđịnh trong hệ thống pháp luật Việt Nam
2 Phân tích cụ thể vai trò của khoa học Lý luận chung về nhà nước
và pháp luật đối với các khoa học pháp lý chuyên ngành
Lý luận chung về nhà nước và pháp luật có vai trò cung cấp cơ sở lý luận
và phương pháp luận cho các khoa học pháp lý chuyên ngành, bởi vì:
Trang 6– Lý luận chung về nhà nước và pháp luật nghiên cứu về nhà nước vàpháp luật một cách chung nhất, khái quát và toàn diện nhất Nó nghiên cứu hoạtđộng của nhà nước và sự điều chỉnh của pháp luật trên tất cả các lĩnh vực hoạtđộng cơ bản của đời sống, nó nghiên cứu về nhà nước và pháp luật đồng thời,song song với nhau Trên cơ sở nghiên cứu đó, Lý luận chung về nhà nước vàpháp luật nêu lên những khái niệm, kết luận, quan điểm, quy luật cơ bản về nhànước và pháp luật
Tất cả các khái niệm, kết luận, quan điểm, quy luật đó trở thành cơ sở lýluận và phương pháp luận cho các khoa học pháp lý chuyên ngành Chẳng hạn,khi nghiên cứu về các hiện tượng pháp lý cơ bản như quy phạm pháp luật, quan
hệ pháp luật, vi phạm pháp luật…, Lý luận chung về nhà nước và pháp luật giớithiệu cụ thể về khái niệm, các dấu hiệu, đặc điểm, cấu thành… của các hiệntượng trên Các khái niệm, dấu hiệu, đặc điểm… đó trở thành cơ sở lý luận vàphương pháp luận chung cho các khoa học pháp lý chuyên ngành
– Các khoa học pháp lý chuyên ngành chỉ nghiên cứu hoạt động của nhànước và sự điều chỉnh của pháp luật trong một lĩnh vục cơ bản của đời sống nênkhi nghiên cứu các vấn đề thuộc đối tượng của mình, các khoa học này đều phảidựa trên cơ sở các khái niệm, kết luận, quan điểm khoa học do Lý luận chung vềnhà nước và pháp luật cung cấp, đồng thời, kết quả nghiên cứu của các khoa họcpháp lý chuyên ngành lại minh hoạ, làm rõ thêm, cụ thể hơn các khái niệm, kếtluận, quan điểm khoa học mà Lý luận chung về nhà nước và pháp luật đã nêu ra
Ví dụ, dựa trên cơ sở các kiến thức về định nghĩa, đặc điểm và cơ cấu của quyphạm pháp luật mà Lý luận chung về nhà nước và pháp luật nêu lên, các khoahọc luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật hình sự… sẽ xây dựng nên địnhnghĩa, đặc điểm và cơ cấu của quy phạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luậthôn nhân và gia đình, quy phạm pháp luật hình sự… Chính các kiến thức về quyphạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, quy phạmpháp luật hình sự… do các khoa học pháp lý chuyên ngành cung cấp sẽ minhhọa, làm rõ và sâu sắc thêm các kiến thức của Lý luận chung về nhà nước và
Trang 7pháp luật Vì thế, khoa học này thường được gọi tắt là Lý luận chung vì nó cungcấp cơ sở lý luận chung cho tất cả các khoa học pháp lý chuyên ngành.
1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin về nguồn gốc nhà nước
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì nhà nước nảy sinh từ xãhội và là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người Nhà nước không ra đờingay từ khi xã hội loài người mới xuất hiện mà chỉ ra đời khi xã hội đã pháttriển đến giai đoạn nhất định Đó là giai đoạn có sự phân chia con người thànhgiai cấp, thành kẻ giàu, người nghèo, thành người tự do, chủ nô và nô lệ, thành
kẻ giàu có đi bóc lột và kẻ nghèo khó bị bóc lột, tức là thành những lực lượng xãhội có khả năng kinh tế và địa vị xã hội khác biệt nhau, mâu thuẫn và đấu tranhvới nhau; đồng thời có sự tích tụ của cải và tập trung quyền lực vào tay một số ítngười, một lực lượng xã hội nào đó Trong lịch sử xã hội loài người đã có thời
kỳ chưa có nhà nước, đó là thời kỳ cộng sản nguyên thủy, song tất cả nhữngnguyên nhân và điều kiện dẫn đến sự ra đời của nhà nước lại nảy sinh trong thời
kỳ này
2 Quá trình hình thành nhà nước
Quá trình hình thành nhà nước diễn ra như sau:
– Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, con người sống với nhau thànhtừng bầy người nguyên thủy rồi tiến đến các đơn vị như thị tộc, bào tộc, bộ lạc
và liên minh các bộ lạc Thị tộc là một nhóm người cùng huyết tộc về phía nữ vàkhông có quyền lấy nhau, họ có một bà mẹ tổ chung Thị tộc được tổ chức theohuyết thống và lúc đầu là thị tộc mẫu quyền, tức là quan hệ huyết tộc và thừa kếđược tính theo mẹ, về sau là thị tộc phụ quyền Khi dân số tăng lên thì mỗi thịtộc đầu tiên đó lại chia nhỏ ra thành các thị tộc con và thị tộc mẹ trở thành bào
Trang 8nhất của xã hội là liên minh các bộ lạc Như vậy, các đơn vị tổ chức trong xã hộicộng sản nguyên thủy bao gồm thị tộc, bào tộc, bộ lạc và liên minh các bộ lạc,chúng được hình thành và được duy trì bởi các quan hệ huyết tộc.
– Cơ sở kinh tế của xã hội được đặc trưng bằng chế độ sở hữu chung về tưliệu sản xuất và sản phẩm lao động, “Cái gì cùng nhau làm ra và dùng chung, thìcái đó là tài sản chung” Mọi thành viên của thị tộc đều tự do, có địa vị xã hộinhư nhau, không có kẻ giàu người nghèo, kẻ thống trị và người bị thống trị.Bình đẳng là nguyên tắc xử sự cao nhất trong lao động cũng như trong phânphối sản phẩm Nền kinh tế của nó là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp và tự túc, sănbắn và hái lượm “Sự phân công lao động hoàn toàn còn có tính chất tự nhiên,
nó chỉ được thực hiện giữa nam và nữ thôi Đàn ông thì đánh giặc, đi săn bắn vàđánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn và kiếm những công cụ cần thiết choviệc đỏ Đàn bà chăm sóc việc nhà, chế biến thức ăn và chuẩn bị cái mặc: họlàm bếp, dệt, may vá Mỗi bên đều làm chủ trong lĩnh vực hoạt động riêng củamình… Mỗi bên đều là chủ sở hữu những cồng cụ do mình chế tạo và sửdụng… Kinh tế gia đình là nền kinh tế cộng sản chung cho nhiều gia đình”
Tuy cách tổ chức xã hội còn đơn giản như vậy song đã xuất hiện nhu cầuquản lý, điều hành các hoạt động chung của thị tộc, bộ lạc Do vậy, quyền lực vàmột hệ thống thực hiện quyền lực đã xuất hiện, mặc dù còn rất đơn giản Cơquan quyền lực cao nhất của thị tộc là Hội đồng thị tộc, bao gồm tất cả các thànhviên đã trưởng thành của thị tộc, nam cũng như nữ Hội đồng này bàn bạc dânchủ và quyết định tập thể về tất cả các vấn đề quan trọng của thị tộc: tổ chức laođộng sản xuất, quyết định vấn đề chiến tranh hoặc hoà bình, quyết định việc nộp
lễ vật xin xá tội, việc báo thù cho những người trong thị tộc bị giết hại… TrongHội đồng mọi người đều có quyền phát biểu và biểu quyết như nhau nên cácquyết định của Hội đồng thế hiện ý chí chung của các thành viên và có tính chấtbắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với mọi người Họ thực hiện chúngmột cách tự nguyện, song cũng có những biện pháp cưỡng chế nhất định củacộng đồng đối với những người vi phạm các quyết định đó
Trang 9Hội đồng bầu ra tù trưởng và thủ lĩnh quân sự để thay mặt Hội đồng chỉđạo các hoạt động chung và chỉ huy lực lượng quân sự của thị tộc Những ngườinày có quyền lực rất lớn nhưng quyền lực của họ không phải dựa vào một bộmáy cưỡng chế nào mà dựa vào tập thể cộng đồng, trên cơ sở uy tín cá nhân, sựtín nhiệm và sự ủng hộ của các thành viên trong thị tộc Tù trưởng và thủ lĩnhquân sự cùng sống, cùng lao động và hưởng thụ như những người khác, không
có đặc quyền, đao lợi, họ chịu sự kiểm tra của Hội đồng thị tộc và có thể bị Hộiđồng bãi miễn Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực ở bào tộc, bộ lạc vàliên minh các bộ lạc cũng tương tự như ở thị tộc, song đã thế hiện sự tập trungquyền lực cao hơn vì tham gia vào Hội đồng của các tổ chức này chỉ gồm tùtrưởng và thủ lĩnh quân sự của các thị tộc
Trong xã hội nguyên thủy, lực lượng sản xuất tuy phát triển rất chậm chạpsong không ngừng Nhờ vậy, xã hội đã trải qua ba lần phân công lao động xã hộilớn Lần thứ nhất: Chăn nuôi trở thành một ngành sản xuất; lần thứ hai: Thủcông nghiệp tách khỏi nông nghiệp và lần thứ ba: Thương nhân xuất hiện
3 Hệ quả của các lần phân công lao động
– Các lần phân công lao động đó đã dẫn đến nhiều hệ quả làm thay đổi xãhội Đó là:
+) Nền kinh tế đã chuyển từ nền kinh tế tự nhiên, tự cấp và tự túc, săn bắn
và hái lượm sang nền kinh tế sản xuất và trao đổi Các ngành nghề sản xuất khácnhau lần lượt xuất hiện và phát triển: chăn nuôi, trồng trọt, thủ công nghiệp,thương nghiệp Nền sản xuất hàng hoá đã ra đời và phát triển
+) Sở hữu tư nhân xuất hiện để thay thế cho sở hữu công cộng của thị tộc
và ngày càng được củng cố, lúc đầu là tư hữu về gia súc và sau là tư hữu vềruộng đất và các tài sản khác
+) Sự phân hoá xã hội xuất hiện và ngày càng sâu sắc Đó là những sựphân hóa sau:
Trang 10Thứ nhất, những người trong cùng thị tộc, bộ lạc được phân hoá thành
những nhóm người làm các ngành nghề khác nhau, có nhu cầu và lợi ích khácnhau
Thứ hai, công cụ sản xuất được cải tiến, từ đồ đá đến đồ đồng sau đó là đồ
sắt Năng suất, hiệu quả lao động, nhu cầu và giá trị sức lao động ngày càngtăng, tù binh trong chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc được giữ lại để làm nô lệnên nô lệ đã xuất hiện và ngày càng đông hơn Xã hội có sự phân hoá thànhngười tự do và nô lệ
Thứ ba, sự xuất hiện của sở hữu tư nhân đã dẫn đến sự phân hoá xã hội
thành kẻ giàu và người nghèo Cùng với sự xuất hiện của thương nhân, của sự sởhữu tự do và hoàn toàn về mộng đất thì đồng tiền, nạn cầm cố mộng đất, nạncho vay nặng lãi xuất hiện làm cho sự phân hoá giàu nghèo, phân hoá thànhngười tự do và nô lệ càng thêm sâu sắc; của cải trong xã hội có sự tích tụ và tậptrung vào tay một số ít người, dân nghèo và nô lệ tăng lên rất đông
Gia đình riêng rẽ bắt đầu trở thành đơn vị kinh tế của xã hội Sự liên minh
và hợp nhất của những bộ lạc cùng thân tộc đã dẫn đến sự hợp nhất những lãnhthổ riêng của các bộ lạc thành lãnh thổ chung của bộ tộc Thủ lĩnh quân sự của
bộ tộc trở thành một viên chức cần thiết, thường trực, đại hội nhân dân đượcthành lập
Chiến tranh xảy ra liên miên làm tăng thêm quyền lực của thủ lĩnh quân
sự và tập quán lựa chọn những người kế thừa các thủ lĩnh quân sự trong cùngmột gia đình hình thành, làm cho quyền lực của thủ lĩnh quân sự dần dần trởthành một quyền lực thế tập, đó là cơ sở của vương quyền thế tập và quý tộc thếtập
Tình trạng những người trong cùng thị tộc, bộ lạc thống nhất với nhau vềquyền lợi và chung sống trên cùng một lãnh thổ mà chỉ có mình họ cư trú khôngcòn nữa Trên vùng lãnh thổ đó đã có người của các thị tộc, bộ lạc khác nhau
Trang 11cùng chung sống; họ được phân chia thành người tự do và nô lệ, thành nhữngngười giàu có đi bóc lột và những người nghèo khó bị bóc lột, những người cónhu cầu, lợi ích xung đột với nhau Những người giàu có, chủ nô đã lợi dụng địa
vị kinh tế của mình khống chế bộ máy quản lý của xã hội chủ yếu vì lợi ích của
họ và trở thành lực lượng thống trị, những người nghèo và nô lệ trở thành lựclượng bị trị, mâu thuẫn và đấu tranh giữa hai lực lượng đó xuất hiện và ngàycàng gay gắt hơn
Trước thực trạng trên, chế độ thị tộc tỏ ra bất lực, không đủ khả năng điềuhành và quản lý xã hội Nhu cầu khách quan của sự quản lý xã hội có sự phânhoá, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới, có sứcmạnh quản lý và cưỡng chế lớn hơn thị tộc, bộ lạc thì mới đủ khả năng điềuhành và quản lý xã hội, làm dịu xung đột giai cấp trong xã hội hoặc giữ choxung đột đó ở trong vòng một trật tự nhất định để xã hội có thể tồn tại và pháttriển được Tổ chức đó chính là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện
Tóm lại
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì nhà nước ra đời do hainguyên nhân chính là kinh tế và xã hội Nguyên nhân kinh tế là sự phát triển củalực lượng sản xuất dẫn đến sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện củanền kinh tế sản xuất và trao đối, của sở hữu tư nhân Nguyên nhân xã hội là sựphân hoá con người trong xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, thành người tự do
và nô lệ, thành các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội có khả năng kinh tế vàđịa vị xã hội khác biệt nhau, mâu thuẫn và đấu tranh với nhau Đồng thời có sựtích tụ của cải và tập trung quyền lực vào tay một nhóm người, một lực lượng xãhội nhất định
Trang 12Câu4: Kiểu nhà nước là gì? Phân tích khái niệm kiểu nhà nước?
2 Các cách phân loại kiểu nhà nước
Có thể phân kiểu nhà nước theo nhiều cách khác nhau dựa vào các tiêuchí khác nhau Cụ thể:
Dựa vào sự phân chia các thời kỳ lịch sử của các nhà sử học
Dựa vào sự phân chia các thời kỳ lịch sử của các nhà sử học, có thể phânchia nhà nước thành các kiểu tương ứng với các thời kỳ lịch sử như: Nhà nước
cổ đại, nhà nước trung đại, nhà nước cận đại và nhà nước hiện đại Riêng đối vớicác nhà nước hiện đại, nếu dựa vào các chỉ số phát triển của quốc gia do Ngânhàng Thế giới đưa ra thì có thể chia thành nhà nước ở các nước có thu nhập cao,nhà nước ở các nước có thu nhập trung bình cao, nhà nước ở các nước có thunhập trung bình thấp và nhà nước ở các nước có thu nhập thấp Các mức thunhập này thay đổi từng năm tùy theo sự tăng trưởng của kinh tế thế giới Nhànước ở những nước có thu nhập cao là các nhà nước phát triển, còn lại là cácnhà nước đang phát triển
Dựa vào các nền văn minh
Dựa vào các nền văn minh, có thể phân chia thành các kiểu nhà nước:Nhà nước trong nền văn minh nông nghiệp, nhà nước trong nền văn minh công
Trang 13nghiệp, thậm chí ngày nay còn nói đến nhà nước trong nền văn minh hậu côngnghiệp (văn minh tri thức).
Dựa vào cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước
Dựa vào cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, có thể phânchia thành các kiểu nhà nước: Nhà nước chuyên chế và nhà nước dân chủ
Nhà nước chuyên chế là nhà nước mà quyền lực nhà nước không bị hạnchế, không bị kiểm soát bởi bất cứ thể chế, thiết chế nào, quan hệ giữa nhà nướcvới người dân là quan hệ mệnh lệnh, phục tùng một chiều một cách tuyệt đối,nhà nước sử dụng biện pháp bạo lực để thực hiện quyền lực nhà nước
Nhà nước dân chủ là nhà nước mà quyền lực tối cao trong xã hội thuộc vềnhân dân, nhân dân tổ chức nên nhà nước và kiểm soát hoạt động của nhà nước
Dựa vào yếu tố địa lý
Dựa vào yếu tố địa lý, nhiều nhà sử học, luật học, chính trị học đã phânchia nhà nước thành các kiểu: Nhà nước phương Đông, nhà nước phương Tây.Quan niệm này lúc đầu là của người Hy Lạp và Roma cố đại, về sau được dùngphổ biến trên thế giới Ngày nay, sự phân biệt nhà nước phương Đồng và nhànước phương Tây không chỉ đơn thuần dựa trên yếu tố địa lý mà còn dựa vàonhiều tiêu chí khác (nhân chủng, ngữ hệ, văn hóa, kinh tế, chính trị…)
Dựa vào quan niệm về hình thái kinh tế – xã hội của Mác
Dựa vào quan niệm về hình thái kinh tế – xã hội của Mác, có thể chia nhànước thành các kiểu tương ứng với các hình thái kinh tế – xã hội có giai cấp
Mác phân chia lịch sử phát triển của xã hội loài người thành năm giaiđoạn tương ứng với năm hình thái kinh tế – xã hội là cộng sản nguyên thủy,chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Mỗi hìnhthái kinh tế – xã hội đó có một kiểu quan hệ sản xuất riêng biệt, đặc trưng cho xãhội đó, đồng thời có một cơ sở hạ tầng và một kiến trúc thượng tầng tương ứng
Trang 14Trong thượng tầng kiến trúc của xã hội có giai cấp luôn tồn tại nhà nước Dovậy, tương ứng với một hình thái kinh tế – xã hội có giai cấp là một kiểu nhànước, đó là các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa.Mỗi kiểu nhà nước trên là một loại hay một nhóm nhà nước ra đời, tồn tại vàphát triển trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
Như vậy, căn cứ đế xác định kiểu nhà nước chính là hình thái kinh tế – xãhội mà nhà nước đã ra đời, tồn tại và phát triển Đặc điểm của mỗi kiểu nhànước là do kiểu quan hệ sản xuất đặc thù trong xã hội tương ứng quy định
3 Phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về thay thế kiểu nhà nước
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, sự thay thế kiểu nhà nước này bằngkiểu nhà nước khác tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu, phù hợp với quy luậtthay thế các hình thái kinh tế – xã hội Cụ thể, kiểu nhà nước phong kiến ra đời
để thay thế cho kiểu nhà nước chủ nô, kiểu nhà nước tư sản ra đời để thay thếcho kiểu nhà nước phong kiến và kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời để thaythế cho kiểu nhà nước tư sản Kiểu nhà nước sau luôn tiến bộ hơn kiểu nhà nướctrước vì nó được xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất phù hợp hơn với trình độcủa lực lượng sản xuất đã phát triển cao hơn, cơ sở xã hội của nhà nước rộng rãihơn; xung đột giai cấp trong xã hội đó thường đỡ gay gắt hơn Tuy nhiên, đốivới mỗi nước cụ thể, do điều kiện lịch sử khách quan, có thể bỏ qua một hoặcmột số kiểu nhà nước nhất định Ví dụ: ở Việt Nam không có kiểu nhà nước chủ
nô và kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa
Nguyên nhân sâu xa của sự thay thế kiểu nhà nước là mâu thuẫn giữaquan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong một phương thức sản xuất xã hội.Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì phương thức sản xuất mới được thiết lập,cùng với nó có một kiểu kiến trúc thượng tầng mới và tương ứng là một kiểunhà nước mới
Trang 15Lịch sử cho thấy, có nhiều con đường đưa đến sự thay thế các kiểu nhànước, có thể thông qua cách mạng xã hội dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang,cũng có thể thông qua các cuộc cải cách xã hội một cách toàn diện, trong đókiểu quan hệ sản xuất cũ dần dần bị thay thế bởi kiểu quan hệ sản xuất mới tiến
bộ hơn Đó chính là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượngsản xuất giữ vai trò quyết định
Thực tế, sự phát triển của nhà nước rất đa dạng và phức tạp, do vậy, sựphân chia kiểu nhà nước theo tiêu chí này chỉ có ý nghĩa tương đối bởi vì: Sựhình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế – xã hội là cả một quá trình, từhình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác đều phải trảiqua một thời kỳ gọi là thời kỳ quá độ Trong thời kỳ đó sẽ có những nhà nướckhông thuộc kiểu nào trong bốn kiểu nhà nước đã nêu Đó là những nhà nướchình thành ở thời kỳ mà các giai cấp đang đấu tranh với nhau đã đạt tới một thếcân bằng lực lượng hoặc các lực lượng xã hội khác nhau có thể tạm thời hoàhoãn với nhau vì một mục đích chung nào đó, khiến cho chính quyền nhà nướctạm thời có sự độc lập nhất định đối với các giai cấp, các lực lượng xã hội, tựa
hồ như một bên trung gian đứng giữa các giai cấp, lực lượng đó Ví dụ: Chế độquân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII, chế độ Bô-na-pac của Đế chế thứnhất và thứ hai ở Pháp, chế độ Bi-xmac ở Đức,…
Thực tế cho thấy, giữa các kiểu nhà nước không thế có ranh giới táchbạch, dứt khoát về mặt thời gian tại một thời điểm nhất định Ngay trong cùngmột kiểu, nhà nước ở thời kỳ đầu của mỗi hình thái kinh tế – xã hội có thể cónhiều điểm khác biệt so với nhà nước ở thời kỳ sau đó
Như vậy, việc phân chia kiểu nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩaMác – Lênin không chỉ giúp chúng ta nhìn nhận quá trình vận động, phát triểncủa nhà nước mà qua đó còn có thể nhận thức được điều kiện tồn tại và pháttriển của nhà nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định Trên cơ sở đó, có
Trang 16thể nhận thức và giải thích đúng đắn bản chất, chức năng, bộ máy cũng như hìnhthức nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển của nó.
Câu 5: Phân tích quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin về thay thế kiểu nhà nước
1 Kiểu nhà nước là gì?
Kiểu nhà nước là tổng thể những đặc điểm, đặc thù của một nhóm nhànước, qua đó phân biệt với nhóm nhà nước khác
2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về kiểu nhà nước
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì có thể phân chia kiểu nhànước dựa vào sự phân chia các hình thái kinh tế – xã hội Mác phân chia lịch sửphát triển của xã hội loài người thành 5 giai đoạn tương ứng với 5 hình thái kinh
tế – xã hội là cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủnghĩa và xã hội chủ nghĩa Mỗi hình thái kinh tế – xã hội đó có một kiểu quan hệsản xuất riêng biệt, đặc trưng cho xã hội đó, đồng thời có một cơ sở hạ tầng vàmột kiến trúc thượng tầng tương ứng Trong thượng tầng kiến trúc của xã hội cógiai cấp luôn tồn tại nhà nước Do vậy, tương ứng với một hình thái kinh tế – xãhội có giai cấp là một kiểu nhà nước, đó là các kiểu nhà nước chủ nô, phongkiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa
Mỗi kiểu nhà nước trên là một loại hay một nhóm nhà nước ra đời, tồn tại
và phát triển trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định Như vậy, căn cứ đểxác định kiểu nhà nước chính là hình thái kinh tế -xã hội mà nhà nước đã ra đời,tồn tại và phát triển Đặc điểm của mỗi kiểu nhà nước là do kiểu quan hệ sảnxuất đặc thù trong xã hội tương ứng quy định
Trang 17Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, sự thay thế kiểu nhà nước này bằngkiểu nhà nước khác tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu, phù hợp với quy luậtthay thế các hình thái kinh tế – xã hội Cụ thể, kiểu nhà nước phong kiến ra đời
để thay thế cho kiểu nhà nước chủ nô, kiểu nhà nước tư sản ra đời đế thay thếcho kiểu nhà nước phong kiến và kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời để thaythế cho kiểu nhà nước tư sản Kiểu nhà nước sau luôn tiến bộ hơn kiểu nhà nướctrước vì nó được xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất phù hợp hơn với trình độcủa lực lượng sản xuất đã phát triển cao hơn, cơ sở xã hội của nhà nước rộng rãihơn; xung đột giai cấp trong xã hội đó thường đỡ gay gắt hơn Tuy nhiên, đốivới mỗi nước cụ thể, do điều kiện lịch sử khách quan, có thể bỏ qua một hoặcmột số kiểu nhà nước nhất định (ví dụ: nhà nước ở Việt Nam không có kiểu nhànước chủ nô và kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa)
Nguyên nhân sâu xa của sự thay thế kiểu nhà nước là mâu thuẫn giữaquan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong một phương thức sản xuất xã hội.Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì phương thức sản xuất mới được thiết lập,cùng với nó có một kiểu kiến trúc thượng tầng mới và tương ứng là một kiểunhà nước mới
Lịch sử cho thấy, có nhiều con đường đưa đến sự thay thế các kiểu nhànước, có thể thông qua cách mạng xã hội dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang,cũng có thể thông qua các cuộc cải cách xã hội một cách toàn diện và triệt đế,trong đó kiểu quan hệ sản xuất cũ dần dần bị thay thế bởi kiểu quan hệ sản xuấtmới tiến bộ hơn Đó chính là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất vớilực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định
Thực tế, sự phát triển của nhà nước rất đa dạng và phức tạp, do vậy, sựphân chia kiểu nhà nước theo tiêu chí này chỉ có ý nghĩa tương đối bởi vì: Sựhình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế – xã hội là cả một quá trình, từhình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác đều phải trảiqua một thời kỳ gọi là thời kỳ quá độ Trong thời kỳ đó sẽ có những nhà nước
Trang 18không thuộc vào kiểu nào trong bốn kiểu nhà nước đã nêu Đó là những nhànước hình thành ở thời kỳ mà các giai cấp đang đấu tranh với nhau đã đạt tớimột thế cân bằng lực lượng hoặc các lực lượng xã hội khác nhau có thể tạm thờihoà hoãn với nhau vì một mục đích chung nào đó khiến cho chính quyền nhànước tạm thời có sự độc lập nhất định đối với các giai cấp, các lực lượng xã hội,tựa hồ như một bên trung gian đứng giữa các giai cấp, lực lượng đó Ví dụ: Chế
độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII, chế độ Bô-na-pac của Đế chếthứ nhất và thứ hai ở Pháp, chế độ Bi-xmac ở Đức,…
Như vậy, giữa các kiểu nhà nước không thể có ranh giới tách bạch, dứtkhoát về mặt thời gian tại một thời điểm nhất định Ngay trong cùng một kiểu,nhà nước ở thời kỳ đầu của mỗi hình thái kinh tế – xã hội có thể có nhiều điểmkhác biệt so với nhà nước ở thời kỳ sau đó
Câu 6: Chức năng Nhà nước là gì? Phân tích Chức năng của nhà nước?
1 Chức năng nhà nước là gì?
Chức năng của nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhà nướcphù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của nhà nước và được xác định bởiđiều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn phát triển của nó
2 Phân tích chức năng của nhà nước
– Định nghĩa trên cho thấy, nói đến chức năng nhà nước là nói đến nhữnghoạt động của nhà nước để thực hiện những công việc mà nhà nước phải làm, đó
là tổ chức và quản lý các mặt của đời sống xã hội
Những công việc đó gắn liền với nhà nước mà không một thực thể nàotrong xã hội có thể làm thay nhà nước, đồng thời, nhà nước có đủ khả năng để
Trang 19làm Nói cách khác, chức năng nhà nước là khái niệm dùng để chỉ những hoạtđộng, phần việc quan trọng của riêng nhà nước mà chỉ nhà nước mới có đủ khảnăng, điều kiện để thực hiện những hoạt động đó Do vậy, có thể hiếu, chứcnăng nhà nước là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà nước nhằmthực hiện các nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước Đó là những mặt hoạt động,hướng hoạt động chủ yếu của nhà nước, phát sinh từ bản chất, mục tiêu, nhiệm
vụ, vai trò và điều kiện tồn tại của nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển củanó
– Chức năng của nhà nước luôn phản ánh bản chất của nhà nước hay dobản chất của nhà nước quyết định Ví dụ, với bản chất là bộ máy chuyên chínhcủa giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến và bộ máy quản lý xã hội nhằm thiếtlập và giữ gìn trật tự của xã hội phong kiến nên chức năng đàn áp và nô dịchnông dân bằng quân sự và về tư tưởng, tiến hành chiến tranh xâm lược nướckhác khi có điều kiện… là các chức năng phổ biến của các nhà nước phong kiến.Còn với bản chất là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và là bộmáy chuyên chính vô sản, các chức năng tổ chức và quản lý kinh tế, tổ chức vàquản lý văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật… là chức năng phổ biến của cácnhà nước xã hội chủ nghĩa
– Chức năng của nhà nước còn phụ thuộc vào nhiệm vụ cơ bản của nhànước Giữa chức năng và nhiệm vụ của nhà nước vừa có sự thống nhất, vừa có
sự khác biệt, vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau Nhiệm vụ của nhà nước lànhững công việc đặt ra đòi hỏi nhà nước phải giải quyết theo những mục tiêu đãđịnh sẵn Nhà nước có hai loại nhiệm vụ là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài
và nhiệm vụ trước mắt, cấp bách Nhiệm vụ chiến lược, lâu dài là những vấn đềnhà nước phải giải quyết trong suốt chặng đường phát triển của đất nước Nhiệm
vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài được thực hiện thông qua các chức năng nhà nướcnên chức năng nhà nước có phạm vi hẹp hơn so với nhiệm vụ chiến lược củanhà nước và nhiệm vụ chiến lược của nhà nước có vai trò quyết định đối với
Trang 20chủ nghĩa xã hội, Nhà nước Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tất cả các chứcnăng của Nhà nước ta đều được xác định và thực hiện nhằm thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược này Nhiệm vụ trước mắt, cấp bách là những công việc mà nhànước phải giải quyết trong ngắn hạn, ngay lập tức để thực hiện một chức năngnào đó của nhà nước, do vậy, nhiệm vụ trước mắt, cấp bách có phạm vi hẹp hơn
so với chức năng nhà nước, được xác định nhằm thực hiện chức năng, do chứcnăng quyết định Ví dụ, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luậtmôi trường của các doanh nghiệp hiện nay được xác định và thực hiện nhằmthực hiện chức năng quản lý môi trường của nhà nước
– Giữa chức năng và vai trò của nhà nước vừa có sự thống nhất, vừa có sựkhác biệt Chức năng của nhà nước thường nói tới việc nhà nước được sinh ra đểlàm gì, còn vai trò của nhà nước thường đề cập công dụng, tác dụng của nhànước Trong trường hợp này, chức năng và vai trò của nhà nước có ý nghĩa gầnnhư tương tự nhau Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa trên, vai trò của nhà nước còn được
sử dụng để nói về tầm quan trọng của nhà nước (chẳng hạn vai trò của nhà nướcđối với xã hội)
3 Các yếu tố ảnh hưởng chức năng nhà nước
Chức năng của nhà nước chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
– Điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ pháttriển của nó Thực tế cho thấy, nhà nước phải làm gì, làm như thế nào, điều đóphụ thuộc rất lớn vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước, do đó, các nhànước khác nhau có thể có chức năng khác nhau Ví dụ, chức năng của nhà nướcphong kiến Việt Nam trước đây khác với chức năng của Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Trong một nhà nước cụ thể, ở các giai đoạnphát triển khác nhau, số lượng chức năng, tầm quan trọng của mỗi chức năng,nội dung, cách thức thực hiện từng chức năng cũng có thể khác nhau Ví dụ,trước năm 1986, quản lý, bảo vệ môi trường chưa phải là chức năng của Nhà
Trang 21nước ta nhưng hiện nay nó trở thành chức năng có tầm quan trọng đặc biệt vàkhông thể thiếu Hoặc, thiết lập và phát triển các mối quan hệ ngoại giao, hữunghị và hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế là chức năng không thể thiếu của cácnhà nước đương đại…
– Chức năng của nhà nước còn phụ thuộc vào bản chất, mục tiêu, nhiệm
vụ của nhà nước và hoàn cảnh quốc tế Điều này đã được phân tích ở trên
4 Mối quan hệ giữa các chức năng của nhà nước
Một nhà nước thường có nhiều chức năng và các chức năng đó có liên hệchặt chẽ với nhau, việc thực hiện chức năng này thường có ảnh hưởng đến việcthực hiện chức năng khác Chẳng hạn, nhà nước chỉ có thể thực hiện tốt việc tổchức và quản lý kinh tế khi thực hiện tốt hoạt động bảo vệ tổ quốc, tương tự cáchoạt động về mặt xã hội như phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bảo trợ xã hội…chỉ có thể thực hiện tốt khi thực hiện có hiệu quả hoạt động tổ chức và quản lýkinh tế
5 Các phương thức (hình thức và phương pháp) thực hiện chức năng của nhà nước
– Để thực hiện chức năng của mình, đòi hỏi nhà nước phải sử dụng cáchình thức khác nhau, trong đó có các hình thức cơ bản (hình thức mang tínhpháp lý) là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật
Muốn tổ chức và quản lý các mặt của đời sống xã hội, thiết lập trật tự xãhội, nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật để hướng dẫn cách xử sự chomọi người, xác định rõ những việc được làm, không được làm, phải làm cho các
cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội nhất định để làm cho cácquan hệ đó phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn Ví dụ, muốn thiếtlập trật tự an
Trang 22toàn giao thông đường bộ, nhà nước phải ban hành luật giao thông đường
bộ để hướng dẫn cách tham gia giao thồng đường bộ cho tất cả mọi người; đểbảo đảm sự ổn định của gia đình, nhà nước phải ban hành luật hôn nhân và giađình để hướng dẫn cách xử sự của các thành viên trong gia đình với nhau…Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, hệ thống pháp luật được từng bướchình thành và hoàn thiện
Pháp luật sau khi được ban hành thường không thể tự đi vào đời sống, cónhiều quy định mà các cá nhân, tổ chức trong xã hội không tự thực hiện được,
do đó, nhà nước phải tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm tổ chức cho cácchủ thể trong xã hội thực hiện các quy định của pháp luật, chẳng hạn, nhà nướctiến hành phổ biến pháp luật cho người dân, giải thích, tuyên truyền, động viên,khuyến khích tính tích cực của họ, cung cấp nhân lực, vật lực, tháo gỡ nhữngkhó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật… Cónhư vậy, những mong muốn, yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước thế hiện trong phápluật mới có thể được thực hiện một cách có hiệu quả
Trong quá trình thực hiện pháp luật, vì những lý do khác nhau, việc viphạm pháp luật là khó tránh khỏi Khi đó, nhà nước phải bảo vệ pháp luật bằngcách thực hiện các hoạt động để xử lý người vi phạm, giáo dục, cải tạo họ cũngnhư răn đe, phòng ngừa chung nhằm bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật,bảo đảm các yêu cầu của nhà nước được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, triệt
Trang 23hoặc một cá nhân phải làm hay không được làm một việc gì đó, hoặc phải gánhchịu sự thiệt hại về nhân thân, về tự do hoặc về tài sản… đã được quy định trongpháp luật Ngoài hai phương pháp ừên còn có các phương pháp khác nhưphương pháp kinh tế, phương pháp hành chính…
Trong số các chức năng của Nhà nước Việt Nam hiện nay thì ba chứcnăng quan trọng nhất là chức năng kinh tế, chức năng xã hội và chức năng bảo
2 Phân tích các đặc trưng của nhà nước
a) Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội
– Nhà nước là một trong các tổ chức của xã hội nhưng có quyền quản lý
xã hội Để quản lý xã hội, nhà nước phải có quyền lực Quyền lực nhà nước làkhả năng và sức mạnh của nhà nước có thể bắt các tổ chức và cá nhân trong xãhội phải phục tùng ý chí của nó
– Quyền lực nhà nước tồn tại trong mối quan hệ giữa nhà nước với các cánhân, tổ chức trong xã hội Trong mối quan hệ này, nhà nước là chủ thể củaquyền lực, các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội là đối tượng của quyền lực ấy,
họ phải phục tùng ý chí của nhà nước
Trang 24– Quyền lực nhà nước cũng tồn tại trong mối quan hệ giữa nhà nước vớicác thành viên cũng như các cơ quan của nó, trong đó thành viên phải phục tùng
tổ chức, cấp dưới phải phục tùng cấp trên
– Quyền lực nhà nước có tác động bao trùm lên toàn xã hội, tới mọi tổchức, cá nhân, mọi khu vực lãnh thổ và các lĩnh vực cơ bản của đời sống: kinh
tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…
– Để quản lý xã hội, nhà nước có một lớp người tách ra khỏi lao động sảnxuất để chuyên thực thi quyền lực nhà nước, họ tham gia vào bộ máy nhà nước
để làm hình thành nên một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địaphương, trong đó có các cơ quan bạo lực, cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòaán…
Quyền lực và bộ máy chuyên thực thi quyền lực đó thì trong xã hội chỉmột mình nhà nước có nên quyền lực nhà nước là đặc biệt, nhờ có quyền lực và
bộ máy chuyên thực thi quyền lực đó mà nhà nước có thể điều hành và quản lý
xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, phục vụ và bảo vệ lợi ích chung củatoàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền
b) Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ
Neu như các tố chức xã hội khác tập hợp và quản lý dân cư theo mụcđích, chính kiến, lý tưởng, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính… thì nhà nướcluôn lấy việc quản lý dân cư theo lãnh thổ làm điểm xuất phát Người dân khôngphân biệt huyết thống, dân tộc, giới tính… cứ sống trên một khu vực lãnh thổnhất định thì chịu sự quản lý của một nhà nuớc nhất định và do vậy, họ thựchiện quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước ở nơi mà họ cư trú
Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc giacủa mình cũng theo địa bàn cư trú của họ hay theo các đơn vị hành chính – lãnhthổ Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ và
Trang 25quản lý toàn bộ dân cư của minh theo từng đơn vị đó, vì thế, nhà nước là tổ chức
có cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất trong quốc gia
c) Nhà nước nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia là khái niệm chỉ quyền quyết định tối cao của quốcgia trong quan hệ đối nội và quyền độc lập tự quyết của quốc gia trong quan hệđối ngoại
Hiến pháp của các nước tuyên bố chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân,nhưng nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện nên nhà nước là đại diệnchính thức cho toàn quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội và đối ngoại.Trong quan hệ đối nội, quy định của nhà nước có giá trị bắt buộc phải tôn trọnghoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan; nhà nước có thế chophép các tố chức xã hội khác được thành lập và hoạt động hoặc nhà nước côngnhận sự tồn tại và hoạt động hợp pháp của các tổ chức xã hội khác Trong quan
hệ đối ngoại, nhà nước có toàn quyền xác định và thực hiện các đường lối, chínhsách đối ngoại của mình Các tổ chức khác chỉ được tham gia vào những quan
hệ đối ngoại mà nhà nước cho phép
d) Nhà nước ban hành pháp luật và dùng pháp luật làm công cụ quản lý
xã hội
Nhà nước ban hành pháp luật, tức là hệ thống các quy tắc xử sự chung cógiá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tố chức và cá nhân cóliên quan trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng nhiều biện pháp:tuyên truyền, phố biến, giáo dục, thuyết phục, tố chức thực hiện, động viên,khen thưởng, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, do đó, pháp luật đượctriển khai và thực hiện một cách rộng rãi trong toàn xã hội
Trang 26Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, điều chỉnh các quan hệ xãhội theo mục đích của nhà nước và pháp luật là một trong những công cụ quản
lý có hiệu quả nhất của nhà nước
e) Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế
Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân buộc phải nộp cho nhànước theo quy định của pháp luật Nhà nước là một bộ máy được tách ra khỏilao động sản xuất trực tiếp để chuyên thực hiện chức năng quản lý xã hội nên nóphải được nuôi dưỡng từ nguồn thuế do dân cư đóng góp, không có thuế bộ máynhà nước không thể tồn tại được và thuế luôn là quốc sách của mọi nhà nước.Thuế còn là nguồn của cải quan trọng phục vụ cho việc phát triển các mặt củađời sống Ngoài thuế, nhà nước còn có quyền phát hành tiền, công trái, vì thế,nhà nước có lực lượng vật chất to lớn, không chỉ có thể trang trải cho các hoạtđộng của nó, những hoạt động cơ bản của xã hội, mà còn có thế hỗ trợ một phầnkinh phí hoạt động cho một số tổ chức khác
Những đặc trưng trên chỉ một mình nhà nước có và thể hiện đầy đủ kháiniệm nhà nước
Câu 8: Phân tích tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước
1 Nhà nước là gì?
Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớpngười được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức vàquản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lựclượng cầm quyền
2 Phân tích tính giai cấp của nhà nước
Trang 272.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính giai cấp
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì tính giai cấp là thuộc tính
cơ bản và không thể thiếu của tất cả các nhà nước
2.3 Biểu hiện tính giai cấp của nhà nước
Tính giai cấp của nhà nước thể hiện ở chỗ: nhà nước là bộ máy chuyênchính giai cấp, tức là công cụ để thực hiện, củng cố và bảo vệ lợi ích, quyền vàđịa vị thong trị của lực lượng hoặc giai câp câm quyền trong xã hội trên cả balĩnh vực: Kinh tế, chính trị và tư tưởng
Sự thống trị xã hội thể hiện chủ yếu ở ba lĩnh vực: Kinh tế, chính trị và tưtưởng, trong đó lĩnh vực tiền đề và giữ vai trò quyết định là kinh tế Thôngthường, giai cấp hoặc lực lượng nắm quyền sở hữu phần lớn tư liệu sản xuấthoặc tài sản của xã hội sẽ trở thành lực lượng thống trị về kinh tế hay chủ thểcủa quyền lực kinh tế, có thể bắt lực lượng khác phải phụ thuộc nó về mặt kinh
tế hoặc bóc lột các lực lượng khác Do vậy, sự thống trị về kinh tế tạo ra tiền đề,
cơ sở cho sự thống trị giai cấp
Trang 28Tuy nhiên, quyền lực kinh tế không đủ khả năng duy trì sự thống trị, vìlực lượng hay giai cấp bị thống trị luôn tìm cách chống lại để thoát ra khỏi sựphụ thuộc Vì thế, để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, lực lượng thống trị phảidùng bộ máy nhà nước để trấn áp sự phản kháng, sự chống đối của các giai cấp,lực lượng khác và nhà nước trở thành bộ máy cưỡng chế đặc biệt, thành công cụ
để bảo vệ lợi ích kinh tế của lực lượng cầm qưyền
Nhà nước bảo vệ lợi ích kinh tế của lực lượng cầm quyền bằng cách dùng
bộ máy bạo lực như quân đội, cảnh sát, toà án… để trấn áp sự phản kháng,chống đối của các lực lượng khác Đồng thời, nhà nước thể hiện ý chí của mình
mà trước tiên là ý chí của lực lượng cầm quyền thông qua pháp luật, thông quacác quy định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện trong xã hội, bắt cả
xã hội phải phục tùng ý chí của nó Vì thế, nhà nước chính là công cụ nằm trongtay lực lượng cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế và thực hiện sự thống trị vềchính trị trong xã hội
Sự thống trị của lực lượng cầm quyền, sự tồn tại của nhà nước chỉ lâu dài,chắc chắn khi có sự phục tùng tự giác của các lực lượng khác Vì thế, nhà nước
tổ chức, quản lý và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ sở vănhóa, giáo dục; dùng các phương tiện và cơ sở đó tác động đến đời sống tinh thầncủa toàn xã hội, nhằm làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị giữ địa vịthống trị trong xã hội và nhằm tạo ra sự phục tùng tự giác của các giai cấp, lựclượng khác đối với quyền thống trị của lực lượng cầm quyền, sự quản lý của nhànước Do vậy, nhà nước trở thành công cụ xác lập và bảo vệ hệ tư tưởng thốngtrị trong xã hội
Tóm lại, nhà nước là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực lượngcầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thống trị về chính trị vàthực hiện sự tác động về tư tưởng của lực lượng này đối với toàn xã hội
2.4 Sự thay đổi tính giai cấp của nhà nước qua các kiểu nhà nước
Trang 29Biếu hiện chung là như vậy, song nếu xem xét những biểu hiện cụ thể thìtính giai cấp của nhà nước có sự thay đổi rất lớn qua các kiểu nhà nước Cụ thể:
– Ở các nhà nước chủ nô, phong kiến, do điều kiện kinh tế, xã hội
và trình độ phát triển của xã hội lúc đó nên các nhà nước này chủ yếu bảo
vệ lợi ích của giai cấp chủ nô, địa chủ, quý tộc phong kiến, tăng lữ, đàn áp nô lệ,nông dân và những người lao động khác nên tính giai cấp của các nhà nước nàythể hiện cực kỳ công khai và rõ rệt
– Ở nhà nước tư sản, biểu hiện tính giai cấp của nhà nước có sự thay đổiqua các giai đoạn phát triển của nhà nước tư sản Trong thời kỳ của chủ nghĩa đểquốc, khi các nhà nước tư sản chủ yếu bảo vệ lợi ích của các tập đoàn tư bản độcquyền lũng đoạn nhà nước thì tính giai cấp của nhà nước này cũng thể hiện rõrệt Ở giai đoạn của chủ nghĩa tư bản hiện đại, do sự thay đổi trong điều kiệnkinh tế, sự phát triển của xã hội, của khoa học kỹ thuật và của nền dân chủ, tínhgiai cấp của nhà nước có xu hướng thể hiện ít sâu sắc, rõ rệt hơn giai đoạn trước.Trong các chính sách của nhà nước, bên cạnh việc tính đến lợi ích của các tậpđoàn tư bản độc quyền, của giai cấp tư sản, nhà nước tư sản còn tính đến lợi íchcủa các giai cấp, tầng lớp khác, của cả cộng đồng
– Ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa sau này và nhà nước quá độ lên chủnghĩa xã hội hiện nay, tính giai cấp của nhà nước thể hiện mờ nhạt, hạn chế hơnnhiều so với tính xã hội Nhà nước bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân vànhững người lao động khác dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, nhà nước làcông cụ để thực hiện và bảo vệ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, là công cụ chủyếu để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
3 Phân tích tính xã hội của nhà nước
3.1 Quan điểm của Mác Lênin về tính xã hội của nhà nước
Cùng với tính giai cấp thì tính xã hội cũng là thuộc tính cơ bản, khách
Trang 30– Nhà nước là một hình thức tổ chức của xã hội nhằm bảo đảm sự tồn tại
và phát triển của xã hội
3.3 Biểu hiện tính xã hội của nhà nước
Tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ: Nhà nước là bộ máy để tổ chức
và quản lý xã hội, nhằm thiết lập, giữ gìn trật tự và sự on định của xã hội, bảo vệlợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển của xã hội
– Bất cứ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển được cũng phải có trật tự và
sự ổn định tương đối, tức là phải được tổ chức và quản lý chặt chẽ Xã hội nàocũng có hàng loạt các vấn đề mang tính chất chung như: Sản xuất, thiên tai, địchhọa, trật tự, an toàn xã hội… Để giải quyết các vấn đề chung đó cần có một tổchức thay mặt xã hội, nhân danh xã hội để tổ chức, tập hợp, quản lý toàn xã hội,
tổ chức đó phải thiết lập quyền lực chung (quyền lực công) của toàn xã hội Tổchức đó chính là nhà nước
– Trước khi có nhà nước, các công việc chung của xã hội do thị tộc, bộlạc giải quyết Khi nhà nước xuất hiện thì trách nhiệm đó thuộc về nhà nước.Nhà nước phải thay mặt xã hội, đứng ra tổ chức dân cư, giải quyết các vấn đềchung vì sự ổn định, sống còn của cả xã hội chứ không phải của riêng giai cấp,lực lượng xã hội hay cá nhân nào
– Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội nên ở mức độ này haymức độ khác phải có trách nhiệm xác lập, thực hiện và bảo vệ các lợi ích cơ bản,
Trang 31lâu dài của quốc gia, dân tộc và công dân của mình; phải tập hợp và huy độngmọi tầng lớp trong xã hội vào việc thực hiện các nhiệm vụ chung để bảo vệ chủquyền, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; duy trì trật tự xã hội và giải quyết cácvấn đề phát sinh trong nước và quốc tế, tạo điều kiện cho các lĩnh vực hoạt độngcủa xã hội được tiến hành bình thường, có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển của
xã hội Nhà nước nhân danh và đại diện cho cả xã hội để quản lý xã hội, giảiquyết các công việc chung của cả cộng đồng xã hội
– Nhà nước có nhiều hoạt động vì lợi ích của các giai cấp, lực lượng khácnhau trong xã hội, của cả cộng đồng như: Xây dựng và phát triển giáo dục, y tế,xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội (đường sá, cầu cống,trường học, bệnh viện…); tổ chức, điều hành và quản lý các dịch vụ công…
– Nhà nước là bộ máy cưỡng chế để bảo vệ công lý, công bằng xã hội,bảo vệ trật tự chung trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Bảo vệ trật tự
an ninh, an toàn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông và thông tin liên lạc,bảo vệ môi trường sống…
– Nhà nước thay mặt xã hội thực thi chủ quyền quốc gia, phòng, chốngngoại xâm, bảo vệ Tố quốc… Không những thế, nhà nước còn là công cụ để giữgìn và phát triển những tài sản văn hoá tinh thần chung của xã hội, những giá trịđạo đức, truyền thống và phong tục, tập quán phù hợp với ý chí của nhà nước
– Mặc dù tính xã hội là thuộc tính chung của tất cả các nhà nước, song cácnhà nước khác nhau sẽ khác nhau ở mức độ biểu hiện cụ thể của thuộc tính đó,tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội, hoàn cảnh lịch sử cụ thể
+) Ở các nhà nước chủ nô và phong kiến, do cơ sở kinh tế – xã hội vàtrình độ phát triển của xã hội lúc đó nên tính xã hội của các nhà nước đó thể hiệnkhá mờ nhạt và hạn chế Nhà nước chủ nô đã thực hiện một số hoạt động vì lợiích chung của xã hội như xây dựng và bảo vệ các công trình thuỷ nông, xâydựng đường sá, cầu cống, thúc đẩy một số ngành nghề sản xuất phát triển
Trang 32+) Hoạt động tham gia giải quyết các vấn đề chung của xã hội của nhànước phong kiến cũng chưa nhiều nên tính xã hội của nó thể hiện còn mờ nhạt
và hạn chế Mọi quyền lực đều thuộc về các vua, chúa phong kiến, do đó nềnchính trị tốt hay xấu trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào nhân cách, phấmhạnh của vua, chúa và tầng lớp quan lại trong nước Việc đưa đất nước đến hưngthịnh hay suy vong, nhân dân ấm no hay đói khổ, lầm than trong nhiều trườnghợp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò, sự sáng suốt, nhân từ hay sự ngu muội, bạongược của vua, chúa trong đất nước
+) Khi nhà nước tư sản ra đời, do yêu cầu và sự phát triển của xã hội, củanền dân chủ nên tính xã hội của nhà nước tư sản thể hiện rõ rệt và rộng rãi hơnnhiều so với các nhà nước chủ nô và phong kiến, đặc biệt là ở giai đoạn hiện tại.Nhà nước tư sản đã thực hiện khá nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triểnchung của xã hội, của nền văn minh nhân loại, nhưng tất nhiên là không phươnghại nhiều đến lợi ích của giai cấp tư sản, của lực lượng cầm quyền
+) Ở các nhà nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, tính xã hội đã thểhiện khá rộng rãi và rõ rệt, phần lớn các hoạt động của nhà nước là vì lợi íchchung của xã hội, của cả cộng đồng
+) Nhà nước xã hội chủ nghĩa sau này sẽ là kiểu nhà nước thể hiện tính xãhội rộng rãi, rõ rệt và sâu sắc nhất Bởi lẽ, cơ sở kinh tế của kiểu nhà nước này
là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng chế độ công hữu vềcác tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội và quan hệ hữu nghị, bình đẳng và hợptác giữa những người lao động Cơ sở xã hội của nhà nước này là những ngườilao động mà chủ yếu là công nhân, nông dân và trí thức, những người có lợi ích
và địa vị xã hội tương đối thống nhất Vì thế, nhà nước sẽ dần dần trở thành nhànước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là công cụ để phục vụnhân dân, phục vụ xã hội và là công cụ chủ yếu để xây dựng thành công chủnghĩa xã hội – xã hội đủ khả năng mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúccho mọi người dân
Trang 33Cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, dân chủ và văn minh màtính xã hội của nhà nước có xu hướng thể hiện ngày càng rõ rệt, rộng rãi và sâusắc hơn; sự giới hạn quyền lực nhà nước được xác định ngày càng chặt chẽ hơn;tính minh bạch, công khai và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ngày càngđược thực hiện có hiệu quả hơn; quá trình xã hội hoá một số hoạt động của nhànước diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn.
Câu 9: Tính xã hội của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Nhà nước ta đang được xây dựng theo hướng trở thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là nhà nước có tính xã hội rộng rãi và rõ rệt
a) Nhà nước ta đã và đang được xây dựng theo hướng thực sự trở thành nhà nước của nhân dần, do nhân dân, vì nhân dân
Tức là nhà nước đáp ứng được các tiêu chí sau:
– Nhà nước phải là của toàn thể nhân dân mà không phải là của riêng giaicấp, tầng lớp nào Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nên quyền lựccủa nhà nước cũng như của mỗi cơ quan nhà nước đều nhận được từ nhân dân,
do nhân dân ủy quyền cho, nhà nước chỉ là công cụ để đại diện và thực hiệnquyền lực của toàn thể nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằngdân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân
và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước
– Nhân dân có thể trực tiếp làm việc trong các cơ quan nhà nước khi đượcbầu, bổ nhiệm hoặc tuyển dụng, qua đó, trực tiếp nắm giữ và thực hiện quyềnlực nhà nước
Trang 34– Nhân dân có quyền quyết định tối cao và cuối cùng mọi vấn đề liênquan đến vận mệnh quốc gia, bảo vệ chủ quyền quốc gia.
– Nhà nước là do nhân dân tổ chức thông qua việc trực tiếp hoặc gián tiếpbầu ra các cơ quan nhà nước Các đại biểu do nhân dân bầu ra chỉ là nhữngngười được sự ủy quyền của nhân dân nên chỉ là “công bộc”, là “đầy tớ” củadân Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và nhân dân có quyền bãimiễn các đại biểu không còn xứng đáng với sự ủy quyền, sự tín nhiệm của nhândân
– Nhà nước do nhân dân ủng hộ, đóng thuế để “nuôi”, giám sát hoạt độngcủa các nhân viên và cơ quan nhà nước
– Nhân dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ để cho Nhà nước ngày càngtrong sạch, vững mạnh hơn
– Nhà nước vì nhân dân là nhà nước phục vụ cho lợi ích và đáp ứng tốtnhất những nguyện vọng chính đáng của nhân dân “Vì con người, cho conngười và bảo vệ con người” là mục tiêu cao nhất của mọi chính sách, quy địnhpháp luật và hoạt động của nhà nước Nhà nước phải liêm chính, phải kiến tạo
sự phát triển và bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước
– Cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước vừa là đầy tớ, vừa là ngườilãnh đạo, hướng dẫn nhân dân hoạt động nên phải luôn tôn trọng nhân dân, tậntụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sựgiám sát của nhân dân; phải thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công,
vô tư, không có đặc quyền, đặc lợi
Một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì cũng lànhà nước xã hội chủ nghĩa và có tính xã hội rộng rãi, rõ rệt nhất
b) Nhà nước ta đang được xây dựng theo hướng trở thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 35Tức là Nhà nước khắng định và bảo đảm sự thống trị của pháp luật trongđời sống nhà nước, đời sống xã hội, một Nhà nước luôn bị ràng buộc bởi phápluật của chính mình, tuyệt đối tôn trọng và thực hiện pháp luật trong cả tổ chứclẫn hoạt động của Nhà nước Mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa đã chính thức trở thành mục tiêu hiến định của Nhà nước ta từ năm
2001 trở lại đây, sau khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đối, bổ sung
2 Nhà nước ta vừa là bộ máy để tổ chức và xây dựng xã hộị điều hành và quản lý các lĩnh vực cơ bản của đời sống, vừa là bộ máy cưỡng chế, trấn áp để bảo vệ chính quyền của nhân dân, thiết lập trật tự xã hội
– Mục đích cao nhất của Nhà nước ta là xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội, một xã hội đủ khả năng mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc chomọi người dân Để có xã hội đó, Nhà nước ta phải trực tiếp tổ chức và quản lýcác lĩnh vực hoạt động cơ bản của xã hội, trong đó trước tiên và quan trọng nhất
là tổ chức và quản lý kinh tế
– Tuy nhiên, từ khi ra đời tới nay, Nhà nước ta luôn gặp phải sự phảnkháng, sự chống đối của các lực lượng và phần tử thù địch, phản cách mạng,phản tiến bộ, thiếu ý thức và không hướng thiện Do vậy, để bảo vệ chính quyềncủa nhân dân, bảo vệ chế độ, thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, Nhà nước ta phải
là một bộ máy cưỡng chế, một cơ quan trấn áp
3 Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
– Dân chủ hiểu một cách đơn giản là dân làm chủ, quyền làm chủ thuộc
về nhân dân hay chính quyền thuộc về nhân dân Tất cả các tổ chức trong hệthống chính trị đều là công cụ để xây dựng nền dân chủ, song Nhà nước là công
cụ chủ yếu nhất vì nó có nhiều ưu thế mà các tổ chức khác không có
– Thông qua pháp luật, Nhà nước thừa nhận các quyền tự do dân chủ rộngrãi cho công dân, thừa nhận địa vị pháp lý cho các tổ chức xã hội, đoàn thể quần
Trang 36chúng Nhà nước quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện và bảo vệ cácquyền tự do dân chủ của công dân Nhà nước có sức mạnh quản lý, cưỡng chế
và vật chất lớn nhất trong xã hội
– Trong quá trình quản lý xã hội, Nhà nước cố gắng xây dựng nền dânchủ ở cơ sở nhằm bảo đảm cho phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra, giám sát” từng bước trở thành hiện thực ở các địa phương
4 Nhà nước ta có tính dân tộc rất sâu sắc và là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
– Nhà nước ta ra đời trên cơ sở kết quả của cách mạng dân tộc dân chủnhân dân nhưng theo hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội Cách mạng nước ta trảiqua hai giai đoạn: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giành quyền độc lậpcho dân tộc, quyền dân chủ cho nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằmxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong cả hai giai đoạn cáchmạng đó, Nhà nước đều phải huy động sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, của
cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam và thực sự đã có sự tham gia tích cực củatoàn dân tộc, của cả cộng đồng các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước ViệtNam Vì thế, Nhà nước luôn là đại biểu trung thành của khối đại đoàn kết cácdân tộc Việt Nam
– Các chính sách của Nhà nước luôn hướng tới việc bảo đảm sự bình đẳng
về mọi phương diện cho các dân tộc, đa số cũng như thiểu số; khuyến khích cácdân tộc đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển Nhà nước có nhiệm
vụ giữ gìn và phát triển sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc,nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; tạo điều kiện để các dân tộcthiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước
Trang 37Câu 10: Phân biệt nhà nước với các tổ chức xã hội khác
Về quyền lực Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc
biệt của xã hộiNhà nước là tổ chức quyền lựcchung của toàn xã hội, quyền lựccủa nhà nước có tác động bao trùmlên toàn xã hội, tới mọi tổ chức, cánhân, mọi khu vực lãnh thổ quốc gia
và các lĩnh vực cơ bản của đời sống:
kinh tế, chính trị, văn hóa, giáodục Mọi cá nhân và tổ chức đangsống và hoạt động trong phạm vilãnh thổ quốc gia đều phải phụctùng quyền lực và ý chí của nhànước Do đó, nhà nước là tổ chức có
cơ sở xã hội và phạm vi tác độngrộng lớn nhất trong quốc gia
Nhà nước có một lớp người tách rakhỏi lao động sản xuất để chuyênthực thi quyền lực nhà nước, họtham gia vào bộ máy nhà nước đểlàm hình thành nên một hệ thốngcác cơ quan nhà nước từ trung ươngtới địa phương, trong đó có các cơquan bạo lực, cưỡng chế như quânđội, cảnh sát, tòa án Nhờ có quyềnlực và bộ máy chuyên thực thiquyền lực đó mà nhà nước có thể
Các tổ chức xã hội khác cũng cóquyền lực chung song quyền lực đóchỉ có tác động tới các hội viên trong
tổ chức đó và không một tổ chức nào
có bộ máy riêng để chuyên thực thiquyền lực như nhà nước Cơ sở xãhội và phạm vi tác động của các tổchức xã hội khác đều hẹp hơn nhànước, chỉ tới một bộ phận của dân cư
Trang 38điều hành và quản lý xã hội, thiếtlập và giữ gìn trật tự xã hội, phục vụ
và bảo vệ lợi ích chung của toàn xãhội cũng như lợi ích của lực lượngcầm quyền
Về quản lý
Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ
Nhà nước luôn lấy việc quản lý dân
cư theo lãnh thổ làm điểm xuất phát
Người dân không phân biệt huyếtthống, dân tộc, giới tính cứ sốngtrên một khu vực lãnh thổ nhất địnhthì chịu sự quản lý của một nhànước nhất định và do vậy, họ thựchiện quyền và nghĩa vụ đối với nhànước ở nơi mà họ cư trú Nhà nướcthực hiện việc quản lý dân cư trongphạm vi lãnh thổ quốc gia của mìnhcũng theo địa bàn cư trú của họ haytheo các đơn vị hành chính - lãnhthổ Nó phân chia lãnh thổ thành cácđơn vị hành chính và quản lý dân cưtheo các đơn vị đó
- Các tổ chức xã hội khác thường tập hợp và quản lý dân cư theo mục đích,chính kiến, lý tưởng, nghề nghiệp, độtuổi hoặc giới tính
- Các tổ chức xã hội khác chỉ đượcthành lập, tồn tại và hoạt động mộtcách hợp pháp khi được nhà nướccho phép hoặc công nhận, đồng thờichỉ có thể nhân danh chính tổ chức
đó khi tham gia vào các quan hệ đốinội, đối ngoại và chỉ dược tham gia
Trang 39thức cho toàn quốc gia, dân tộctrong các quan hệ đối nội và đốingoại Trong quan hệ đối nội, quyđịnh của nhà nước có giá trị bắtbuộc phải tôn trọng hoặc thực hiệnđối với các tổ chức và cá nhân cóliên quan; nhà nước có thể cho phépcác tổ chức xã hội khác được thànhlập và hoạt động hoặc nhà nướccông nhận sự tồn tại và hoạt độnghợp pháp của các tổ chức xã hộikhác Trong quan hệ đối ngoại, nhànước có toàn quyền xác định vàthực hiện các đường lối, chính sáchđối ngoại của mình.
vào quan hệ đối ngoại nào mà nhànước cho phép
sự chung có giá trị bắt buộc phải tôntrọng hoặc thực hiện đối với các tổchức và cá nhân có liên quan trongphạm vi lãnh thổ quốc gia Nhànước bảo đảm cho pháp luật đượcthực hiện bằng nhiều biện pháp:
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục,thuyết phục, tổ chức thực hiện, độngviên, khen thưởng, áp dụng các biệnpháp cưỡng chế nhà nước Nhànước sử dụng pháp luật đế quản lý
Các tổ chức xã hội khác chỉ cóquyền ban hành các quy định dướidạng điều lệ, chỉ thị, nghị quyết cógiá trị bắt buộc phải tôn trọng vàthực hiện với các hội viên trong tổchức; đồng thời bảo đảm cho các quyđịnh đó được thực hiện bằng sự tựgiác của các hội viên và bằng cáchình thức kỷ luật của tổ chức
Trang 40xã hội, điều chỉnh các quan hệ xãhội theo mục đích của nhà nước vàpháp luật là một trong những công
cụ quản lý có hiệu quả nhất của nhànước
Nhà nước là một bộ máy được tách
ra khỏi lao động sản xuất trực tiếp
để chuyên thực hiện chức năng quản
lý xã hội nên nó phải được nuôidưỡng từ nguồn của cải do dân cưđóng góp, không có thuế bộ máynhà nước không thể tồn tại được vàthuế luôn là quốc sách của mọi nhànước Thuế còn là nguồn của cảiquan trọng phục vụ cho việc pháttriển các mặt của đời sống Ngoàithuế, nhà nước còn có quyền pháthành tiền, công trái, vì thế, nhà nước
có lực lượng vật chất to lớn, khôngchỉ có thể trang trải cho các hoạtđộng của nó, những hoạt động cơbản của xã hội, mà còn có thể hỗ trợmột phần kinh phí hoạt động chomột số tổ chức khác
ác tổ chức xã hội khác hoạt động trên
cơ sở nguồn kinh phí do các hội viênđóng góp