Thực tế cho thấy, chưa có nghiên cứu về các mối liên kết và áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng trong nuôi cá tra sẽ mang lại hiệu quả như thế nào cũng như lợi ích kinh tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã ngành: 62620115
HUỲNH VĂN HIỀN
NGHIÊN CỨU CÁC MỐI LIÊN KẾT VÀ TIÊU THỤ THEO CHỨNG NHẬN CHẤT LƯỢNG NGÀNH HÀNG CÁ TRA
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Cần Thơ, 2020
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Người hướng dẫn chính: PGS.TS Nguyễn Văn Sánh
Người hướng dẫn phụ: GS.TS Nguyễn Thanh Phương
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại:
Vào lúc … giờ … ngày … tháng … năm …
Phản biện 1: Phản biện 2:
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1 Huỳnh Văn Hiền, Nguyễn Văn sánh, Nguyễn Thanh Phương,
2020 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng của các mô hình liên kết
trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở Đồng bằng
sông Cửu Long Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ
56(3D): 204-212
2 Huỳnh Văn Hiền, Nguyễn Văn sánh, Nguyễn Thanh Phương,
2020 Phân tích hiệu quả sản xuất của các cơ sở nuôi cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus) đạt tiêu chuẩn chứng nhận ở
Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 56(3B): 112-120
Trang 4Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành hàng cá tra được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), sản lượng cá tra hàng năm là 1,42 triện tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 2,0 đến 2,26 tỷ USD (VASEP, 2018; VASEP, 2019) Năm 2019, cá tra Việt Nam đã xuất khẩu sang 132 thị trường các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới trong đó có 41 quốc gia và vùng lãnh thổ yêu cầu nghiêm ngặt về kiểm soát chất lượng và yêu cầu chứng nhận chất lượng (VASEP, 2020) Bên cạnh đó, một số thị trường nhập khẩu trên thế giới cũng đòi hỏi yêu cầu về các tiêu chuẩn chứng nhận (Global GAP, ASC) trong nuôi cá tra và truy suất nguồn gốc sản phẩm Theo nghiên cứu của Trương Hoàng Minh và Trần Hoàng Tuân (2014) thì cá tra nuôi theo tiêu chuẩn chứng nhận sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm tác động môi trường và đáp ứng được yêu cầu chất lượng ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu khó tính Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2020) đã ban hành Quyết định số 1802/QĐ-BNN-QLCL ngày 22/05/2020 về việc ban hành “Chương trình kiểm soát an toàn thực phẩm cá và các sản phẩm cá thuộc bộ Siluriformes xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ” Bộ công thương ban hành Thông tư số 11/2020/TT-BCT ngày 15/06/2020 “Quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong hiệp định thương mại tự do giữa việt nam và liên minh Châu Âu” nhằm quy định về chứng nhận và kiểm tra xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam, thông qua đó có qui định về nguyên liệu, sản phẩm và xuất xứ hàng hóa sản phẩm thủy sản tại Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu
Âu Thủ tướng chính phủ ký Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/06/2020
về việc “Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030” bao gồm nông nghiệp và thủy sản, trong đó mục tiêu đến năm 2030 thì giá trị sản xuất trên cùng diện tích của sản phẩm hữu cơ cao gấp 1,5-1,8 lần so với sản phẩm phi hữu cơ Điều này cho thấy xu hướng sản xuất trong thời gian tới sẽ áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận và sản phẩm hữu cơ để nâng cao chất lượng và giá trị trên cùng một đơn vị sản xuất Tuy nhiên, việc áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận trong nuôi cá tra theo yêu cầu của nhà nhập khẩu đòi hỏi phải đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất theo qui định của từng loại tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng Thực tế cho thấy, chưa có nghiên cứu về các mối liên kết và áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng trong nuôi cá tra sẽ mang lại hiệu quả như thế nào cũng như lợi ích kinh tế mang lại cho các tác nhân tham gia trong ngành hàng ra sao Xuất
phát từ thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu các mối liên kết và tiêu thụ theo
chứng nhận chất lượng ngành hàng cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện
Trang 51.2 Mục tiêu nghiên cứu
a) Phân tích được hiện trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến các loại hình liên kết và tiêu thụ sản phẩm được chứng nhân chất lượng của các cơ sở nuôi cá tra;
b) Phân tích và so sánh được hiệu quả kỹ thuật giữa hình thức nuôi đạt chứng nhận với chưa chứng chứng nhận chất lượng của các cơ sở nuôi cá tra; c) Phân tích được chuỗi cung ứng và các chỉ tiêu tài chính của ngành hàng cá tra theo các loại chứng nhận chất lượng của các cơ sở nuôi cá tra; d) Đề xuất được các giải pháp tổ chức sản xuất và tiêu thụ theo tiêu chuẩn chứng nhận gắn với phân khúc thị trường xuất khẩu để nâng cao giá trị ngành hàng cá tra và cơ chế chính sách góp phần phát triển ổn định ngành hàng cá tra trong tương lai
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngành hàng cá tra vùng ĐBSCL với chủ thể là các cơ sở nuôi cá tra, cung ứng đầu vào (giống, thức ăn, thuốc thủy sản), NMCB, thương lái thu mua, cán bộ quản lý thủy sản tại địa phương và chuyên gia trong lĩnh vực thủy sản
Phạm vị nghiên cứu là các địa phương có diện tích nuôi cá tra đại diện cho vùng ĐBSCL bao gồm: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ với tổng diện tích năm năm 2017 chiếm 80,5% diện tích nuôi cá tra của toàn vùng ĐBSCL Vì vậy địa bàn nghiên cứu của luận án được lựa chọn mang tính khoa học và đại diện được cho vùng ĐBSCL
Thời gian nghiên cứu của luận án là tập trung thu số liệu sản xuất đồng nhất trong năm 2018 Thời gian khảo sát số liệu từ tháng 02 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Các nghiên cứu về mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Ứng dụng khung lý thuyết mô hình liên kết trong sản xuất của ngành nông nghiệp nói chung nhằm phân tích các mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi cũng như phân tích mối liên kết ngang và liên kết dọc của ngành hàng (Nguyễn Văn Nên, 2015; Đỗ Thị Nga, 2016) Theo Huỳnh Kim Thừa (2018) cho rằng vai trò của nông dân rất quan trọng trong mối liên kết sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL cũng như các yếu tố góp phần tạo nên vùng sản xuất đủ lớn để cung ứng nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu, tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường và giải quyết việc làm cũng như tận dụng hiệu quả nguồn lực đất đai Liên kết khâu cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra đồng thời tiến tới áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng như VietGAP và Global GAP nhằm nâng cao năng suất, chất lượng
và giá thành ổn định trong sản xuất (Nguyễn Thị Lan Anh và Đào Thị
Trang 6Hương, 2017) Phạm Thị Kim Oanh và Trương Hoàng Minh (2012) ghi nhận liên kết ngang gồm các hộ nuôi cá tra riêng lẻ liên kết theo hình thức HTX/THT và được hình thành khoảng từ 2004 Hình thức liên kết dọc giữa nông dân với NMCB cũng được hình thành như thời gian trên thông qua ký kết hợp đồng tiêu thụ giữa người nuôi và NMCB Kết quả nghiên cứu này còn chỉ ra rằng hình thức nuôi liên kết dọc (người nuôi với NMCB) sẽ tiết kiệm được chi phí nuôi và có giá thành nuôi thấp hơn các hình thức nuôi còn lại Mặc dù mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ có nhiều thuận lợi nhưng cần phải xác định lại nhu cầu thực sự tham gia liên kết để nâng cao hiệu quả mô hình liên kết hiện nay (Nguyễn Mạnh Dũng, 2012; Huỳnh Kim Thừa, 2018)
2.2 Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật
Tsue et al (2013) sử dụng hàm sản xuất biên dạng Cobb-Douglas để
nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật (TE) của nông hộ sản xuất cá da trơn ở Nigeria Theo Ugwumba (2011) nhận thấy qui mô sản xuất có ảnh hưởng tới
TE Theo Ekunwe and Emokaro (2009) ghi nhận TE của hộ nuôi cá da trơn tại Nigeria phụ thuộc vào các yếu tố như: kích cỡ cá giống, số lao động, diện tích ao nuôi và lượng thức ăn Do vậy cần có những chính sách tín dụng về thức ăn cũng như những định hướng lâu dài nhằm phát triển ổn định ngành hàng cá da trơn tại địa bàn nghiên cứu (Ugwumba and Chukwuji, 2010)
Rahman et al., (2019) ghi nhận hiệu quả kỹ thuật của mô hình ao nuôi
cá da trơn và cá rô phi ở Bangladesh thông qua dạng hàm Cobb-Douglas cũng xác định được các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật bao gồm qui mô diện tích nuôi, thức ăn, lao động, các chi phí khác và đối tượng nuôi ghép trong ao có ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật của mô hình Hiệu quả kỹ thuật (TE) của các mô hình nuôi cá rô phi trong ao ở Philippines
và ở Trung Quốc cho thấy các yếu tố đầu vào có tác động đến TE gồm mật
độ thả nuôi, lao động tham gia và các khoản chi phí khác Bên cạnh, thì các yếu tố kém hiệu quả TE bao gồm diện tích nuôi, trình độ học vấn và kinh
nghiệm nuôi cá (Dey et al., 2005; Dey et al., 2000; Reddy et al, 2008; Yuan
et al., 2019) Tuy nhiên, trong thời gian gần đây chưa có công trình nghiên
cứu về hiệu quả kỹ thuật trong nuôi cá tra áp dụng tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng
2.3 Tổng quan các nghiên cứu về chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Theo Gudmundsson et al (2006) phân phối thu nhập thông qua chuỗi giá trị hải sản ở một số nước như Iceland, Tanzania, Moroccan và Đan Mạch
có sự khác nhau giữa các tác nhân trong chuỗi Phân tích về phân phối lợi ích và chi phí trong chuỗi giá trị cá tra ở ĐBSCL cho thấy sự phân phối thu nhập và giá trị gia tăng thuần cũng có sự khác biệt nhau giữa các kênh (Theo
Trang 7Võ Thị Thanh Lộc (2009); Lê Xuân Sinh và ctv., 2011) Theo Phan Đình
Quyết (2011) vận dụng chuỗi giá trị tri thức nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam thông qua tăng thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm đồng thời đổi mới sáng tạo để cho ra đời nhiều sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu thị trường Còn nghiên cứu của Lê Văn Gia
Nhỏ và ctv (2012) sử dụng phương pháp tiếp cận khung phân tích chuỗi giá
trị của tổ chức GTZ để nghiên cứu về chuỗi giá trị cá tra ở ĐBSCL Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuỗi cung ứng và phân tích các chỉ tiêu tài chính giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi ngành hàng cá tra áp dụng tiêu chuẩn chứng nhận chưa được đề cập
Chương 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp tiếp cận trong phân tích mô hình liên kết
Tiếp cận theo mô hình liên kết trong chuỗi cung ứng của Cooper et al.,
(1997) Liên kết trong chuỗi cung ứng cũng còn được mô tả là có nhiều hoạt động có liên quan để quản lý và vận hành chuỗi cung ứng đạt hiệu quả và thành công và là hoạt động nhằm chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các tác nhân, kiểm soát được nguyên liệu, tiết kiệm chi phí và đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng Khung lý thuyết nghiên cứu về mô hình liên kết được tổ chức dự án làm cho chuỗi giá trị tốt hơn đối với người nghèo được M4P (2008) xây dựng từ công cụ phân tích về mối liên kết giữa các tác nhân trong sản xuất của chuỗi giá trị Bên cạnh đó, việc quản lý chuỗi cung ứng thành công mang lại hiệu quả thì các nhà sản xuất không chỉ quan tâm đến việc tiết giảm chi phí từng khâu sản xuất mà còn phải xem xét toàn chuỗi cung ứng
để nâng cao khả năng cạnh tranh Việc làm này thông qua kết quả đạt được
là chia sẻ rủi ro, chia sẻ lợi ích và giám sát chuỗi cung ứng hiệu quả (Romano, 2003) Cách tiếp cận về mô hình liên kết trong chuỗi cung ứng được đề xuất nhằm tăng giá trị kinh tế và lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm khác trong dài hạn Sản xuất đát hiệu quả cao nếu liên kết của toàn chuỗi cung ứng được thực hiện thay vì liên kết ở một cấp độ hoặc lĩnh vực
riêng lẻ hoặc chỉ một khâu tổ chức nào đó (Porter, 1985; Kankainen et al.,
2016) Mô hình liên kết để có qui mô sản xuất lớn hơn sẽ có lợi ích hơn về khía cạnh kinh tế như tiết kiệm được chi phí lao động, tăng hiệu quả kinh tế
và giảm thiểu tác động xấu tới môi trường (Coelli et al., 2005; Huỳnh Kim Thừa, 2018)
3.1.2 Phương pháp tiếp cận phân tích hiệu quả kỹ thuật
Nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật được Coelli et al., (2005) thực hiện
thông qua áp dụng mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas, tác giả cho rằng hiệu quả kỹ thuật (TE) liên quan đến sử dụng các yếu tố đầu
Trang 8vào của người sản xuất để đạt sản lượng tối đa từ một tập hợp các yếu tố đầu vào cho trước hoặc có được khi tối thiểu hóa đầu vào từ đầu ra cho trước
Theo Tsue et al (2013) sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên dạng
Cobb-Douglas để phân tích hiệu quả kinh tế của cá da trơn Phương pháp này tiếp tục được nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp Theo Ugwumba (2011) cũng như Ekunwe and Emokaro (2009) đều ứng dụng phương pháp tiếp cận theo mô hình sản xuất biên dạng Cobb-Douglas để phân tích hiệu quả kỹ thuật nuôi cá da trơn tại Nigeria Theo Farrel (1957) áp dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas rất thích hợp để đánh giá hiệu quả sản xuất dựa vào sử dụng các yếu tố đầu vào
và hiệu quả phân phối Các nghiên cứu của một số tác giả trước đây đã áp dụng mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas để phân tích hiệu quả kỹ thuật trong ngành thủy sản như của Bhattacharya (2008),
Sivaraman et al., (2015) và Lê Kim Long và Đặng Hoàng Xuân Huy (2015)
Từ đó nghiên cứu này sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để ước lượng
TE của mô hình nuôi cá tra đạt tiêu chuẩn chứng nhận ở ĐBSCL và mô hình thực nghiệm dạng hàm Cobb-Douglas để phân tích hiệu quả kỹ thuật của các
cơ sở nuôi cá tra
3.1.3 Phương pháp tiếp cận phân tích chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Theo Lambet and Cooper (2000) thì chuỗi giá trị của ngành thuỷ sản có bốn đặc trưng cơ bản gồm (1) chuỗi giá trị bao gồm nhiều công đoạn phối hợp với nhau tạo thành liên kết theo chiều dọc; (2) chuỗi giá trị gồm nhiều tác nhân độc lập do vậy cần có mối liên kết với nhau về tổ chức sản xuất (3) các chủ thể trong chuổi có kế hoạch và định hướng tổ chức sản xuất; và (4) các tác nhân trong chuỗi có chung mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của mình Kaplinsky and Morris (2001) cũng cho rằng việc phân tích chuỗi giá trị là rất quan trọng vì (1) sự phân bố lao động trong sản xuất và sự cạnh tranh ngành hàng; (2) hiệu quả sản xuất là điều kiện cần thiết cho việc thâm nhập thành công thị trường toàn cầu; và (3) xâm nhập thị trường toàn cầu sẽ có được thu nhập bền vững nhưng đòi hỏi phải hiểu được tất cả các tác nhân trong toàn chuỗi và các tác
nhân phải thật sự năng động Theo Gudmundsson et al (2006) phân phối thu
nhập thông qua chuỗi giá trị hải sản ở một số nước như Iceland, Tanzania, Moroccan và Đan Mạch cho thấy cấu trúc của chuỗi giá trị ở các nước có sự khác nhau thì sẽ có sự phân phối về thu nhập của các tác nhân trong chuỗi
sẽ khác nhau Theo Võ Thị Thanh Lộc (2009) phân tích về phân phối lợi ích
và chi phí trong chuỗi giá trị cá tra ở ĐBSCL cho thấy có bốn kênh thị trường chính trong chuỗi và sự phân phối về thu nhập cũng như giá trị gia tăng thuần cũng có sự khác biệt nhau giữa các kênh và phụ thuộc vào cấu trúc của từng
Trang 9kênh thị trường Kaplinsky và Morris (2001) cũng nhấn mạnh rằng không có cách nào “đúng” để phân tích chuỗi giá trị; mà phương pháp được chọn chủ yếu dựa vào câu hỏi nghiên cứu đang tìm câu trả lời.
Theo Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2013) áp dụng phương pháp tiếp cận trong phân tích chuỗi giá trị của ngành hàng có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển bền vững ngành hàng, nhất là trong nông nghiệp
Bên cạnh đó, tiếp cận phương pháp phân tích chuỗi giá trị ở Việt Nam thực hiện theo phương pháp luận của mô hình liên kết chuỗi cung ứng và phân tích chuỗi giá trị (GTZ Eschborn, 2007) Đây là một bộ công cụ được sử dụng nhằm tăng cường năng lực thể chế và quan hệ hợp tác trong các tiểu ngành, tạo cơ hội cho các nhà sản xuất tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế, gia tăng giá trị cho sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, qua đó tăng thu nhập cho người sản xuất Tổ chức này đã nghiên cứu các chuỗi giá trị ở Việt Nam như vải, nhãn, mây tre, cà phê, hạt điều, trái bơ, cá tra – cá basa và rau (GTZ Eschborn, 2007)
3.1.4 Tiếp cận theo phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia (KIP)
Sử dụng bản câu hỏi bán cấu trúc để hỏi những chuyên gia về vấn đề ngành hàng cá tra mà những người này rất am hiểu về nó Điều quan trọng
là những chuyên gia này đưa những thông tin có liên quan về ngành hàng cá tra theo quan điểm, theo mức am hiểu và theo nhận định cá nhân của của chuyên gia Sau đó, sử dụng những thông tin này để phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu nhằm khách quan và chính xác
3.1.5 Tiếp cận theo khung phân tích SWOT (Strengths – Weakness – Opportunities – Threats)
Bảng 2.1: Khung phân tích ma trận SWOT và các chiến lược
SWOT O: Những cơ hội T: Những nguy cơ/thách
Các chiến lược ST: vượt
qua các nguy cơ bằng cách tận dụng những điểm mạnh
Các chiến lược WT: tối
thiểu những điểm yếu
và tránh các nguy cơ
Nguồn: Võ Thị Thanh Lộc & Nguyễn Phú Son, 2013
Trang 103.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Sơ đồ khung nghiên cứu
Hiện trạng các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cá tra hiện nay được tổ chức như thế nào và các yếu tố nào để quyết định tham gia mô hình liên kết/chứng nhận hiện nay cần được quan tâm Nuôi cá tra áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận thì có hiệu quả kỹ thuật (TE) cao hơn so với nuôi thông thường,
Hình 3.1: Sơ đồ khung nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu các mối liên kết và tiêu thụ theo chứng nhận chất lượng ngành hàng cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long
Giải pháp cải tiến tổ chức sản xuất góp phần nâng cao chất lượng, giá trị xuất khẩu và phát triển ổn định cho ngành
trong nuôi cá tra
So sánh hiệu quả kỹ thuật các cơ sở
nuôi cá tra đạt chứng nhận và chưa chứng nhận chất lượng
Phân tích chuỗi cung ứng và so sánh các chỉ tiêu tài chính theo từng kênh phân phối và tiêu chuẩn chứng nhận chất
Giả định các yếu tố đầu vào của hình thức nuôi cá tra đạt chứng nhận
có tác động tới TE
Chuỗi cung ứng và các chỉ tiêu tài chính theo từng loại chứng nhận và chưa chứng nhận xuất khẩu
Giả định lợi nhuận từng kênh của sản phẩm chứng nhận xuất khẩu và chưa chứng nhận có sự chênh lệch
Trang 113.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu của luận án này là tập trung tại địa phương có diện tích nuôi các tra vùng ĐBSCL gồm: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và
Cần Thơ
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Được tổng hợp từ các báo cáo tổng kết hàng năm của Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tại các địa phương trong địa bàn nghiên cứu qua năm năm (2015-2019) Tổng quan từ các tài liệu từ các nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện trước đây trên các tạp chí và các website có liên quan đến ngành hàng cá tra
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiệp các cơ sở nuôi cá tra, sau đó sử dụng phương pháp dòng chảy sản phẩm theo kênh phân phối để phỏng vấn các tác nhân tiếp theo bao gồm: các cơ sở chế biến, cơ sở cung ứng đầu vào (thức ăn, thuốc thủy sản, cá giống) Sử dụng bảng phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông tin từ các chuyên gia và cán bộ quản lý thủy sản tại các địa bàn nghiên cứu
Bảng 3.2: Số quan sát thu thập theo các tác nhân trong nghiên cứu
Giang
Đồng Tháp
Cần Thơ
Vĩnh Long
Tổng cộng
Cơ sở nuôi cá tra (cơ sở) 68 83 45 75 271
Cơ sở sản xuất giống 4 6 - - 10
Cơ sở ương giống 5 5 5 5 20
Công ty/Đại lý thức ăn và
thuốc thuỷ sản
5 5 5 5 20
Nhà máy CB xuất khẩu 4 4 5 2 15
Thương lái thu mua 1 - 1 - 2
Cán bộ địa phương +
Chuyên gia
3 3 3 3 12
Phương pháp phân tích số liệu:
- Thống kê mô tả: thống kê mô tả thông qua phân tích định tính cho các
chỉ tiêu để mô tả như tần suất, tỉ lệ (%) Các chỉ tiêu phân tích định lượng để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, nhỏ nhất và lớn nhất để mô tả hiện trạng ngành hàng cá tra
Trang 12- So sánh: phương pháp so sánh các giá trị trung bình (ANOVA) của các biến định lượng các hình thức liên kết, các tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng của các trại nuôi cá tra ở ĐBSCL Phương pháp kiểm định Independent-Samples T-Test (mức ý nghĩa 5%) để kiểm định giá trị trung bình của một
số biến định lượng giữa hai nhóm gồm: nuôi riêng lẻ với nhóm liên kết; giữa nhóm nuôi chưa chứng nhận và nhóm nuôi đạt chứng nhận
- Mô hình hồi qui nhị phân (binary logistic): trong trường hợp nghiên
cứu này sử dụng biến nhị phân để xem xét các yếu tổ ảnh hưởng tới liên kết, chứng nhận chất lượng nuôi cá tra Mô hình có dạng như sau:
Y = log e [
) 0 (
) 1 (
] = + b 1 X 1 + b 2 X 2 + b 3 X 3 + b 4 X 4 + + b n X n +
Trong đó: Y: là biến phụ thuộc (0= không liên kết/ không chứng nhận chất lượng, 1= Có liên kết/ có chứng nhận chất lượng)
: Là hằng số; b1 bn: Các hệ số hồi qui; sai số của mô hình
X1 Xn: là các biến độc lập có tác động để giải thích về mối tương quan trong mô hình liên kết/chứng nhận
- Phương pháp phân tích hiệu quả kỹ thuật của các cơ sở nuôi cá tra: nghiên cứu này sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên dạng hàm Cobb-Douglas để đánh giá hiệu quả kỹ thuật của các cơ sở nuôi cá tra ở ĐBSCL đồng thời so sánh hiệu quả kỹ thuật giữa nhóm cơ sở nuôi chứng nhận và chưa chứng nhận chất lượng Mô hình có dạng:
LnY i = β0+β1LnX1 + β2LnX2 + β3LnX3 + β4LnX4 + β5Ln X5 + β6LnX6 + β7LnX7
+ ei
Trong đó: Ln: Logarit nepe (logarit tự nhiên)
Yi: Năng suất cá tra của hộ thứ i (tấn/ha/vụ)
β k: Các hệ số cần được ước lượng trong mô hình (k= 1,2…7); ei: Sai số hỗn hợp của mô hình; ei= (vi - ui);
- Phương pháp phân tích chuỗi cung ứng và phân tích các chỉ tiêu tài chính trong ngành hàng cá tra: Áp dụng phương pháp tiếp cận GTZ Eschborn (2007) để mô tả sơ đồ chuỗi và hệ thống kênh phân phối Áp dụng các bước phân tích các chỉ tiêu tài chính của ngành hàng cá tra (Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son, 2013)
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Phân tích các mặt mạnh, yếu,
cơ hội và thách thức trong toàn ngành hàng Qua đó đề xuất được những chiến lược cơ bản, những cơ cơ chế chính sách đi kèm và từ đó đề xuất giải pháp nâng cao giá trị và chất lượng ngành hàng cá tra hướng tới thị trường tiêu thụ nhằm phát triển ổn định ngành hàng cá tra lâu dài