1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương “động lực học chất điểm” vật lý lớp 10 trung học phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính

307 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 307
Dung lượng 12,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, Chương trình giáo dục phổ thông quy định việc triển khai thựchiện phải hình thành và phát triển cho HS 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái,chăm chỉ, trung thực; những NL ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



TRẦN QUỲNH

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC

SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Mã số: 9140111

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THANH HẢI

TS QUÁCH NGUYỄN BẢO NGUYÊN

Trang 2

Thừa Thiên Huế, Năm 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnghiên cứu là khách quan, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳmột công trình nào khác

Thừa Thiên Huế, ngày … tháng … năm 2020

Tác giả luận án

Trần Quỳnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cố NGƯT PGS.TS Lê Công Triêm Người đã giúp đỡ tôi tận tình trong việc xây dựng ý tưởng, đặt những nền móng khoa học đầu tiên cho toàn bộ luận án, cũng như đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn trong gần suốt thời gian tôi thực hiện luận án.

-Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Nguyễn Thanh Hải và TS Quách Nguyễn Bảo Nguyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và triển khai thực hiện luận án.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Đào tạo Sau đại học – Đại học Huế, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Vật lí đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án này.

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT A Lưới, THPT Đặng Huy Trứ - Tỉnh Thừa Thiên Huế đã nhiệt tình phối hợp, giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thực nghiệm sư phạm.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, các bạn bè đồng nghiệp - những người đã luôn động viên, giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình.

Thừa Thiên Huế, ngày … tháng … năm 2020

Tác giả luận án

Trần Quỳnh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

Hệ thống kĩ năngHọc sinh

Học tập hợp tácHợp tác

Kĩ năngMáy vi tínhNghiên cứuNăng lựcNăng lực hợp tácNăng lực thành tốNhà xuất bảnPhương tiện dạy họcPhương pháp

Phương pháp dạy họcQuá trình dạy họcSách giáo khoaTrung học phổ thôngThí nghiệm

Thực nghiệmThực nghiệm sư phạmVật lí

CNTTDHĐCĐGĐGNLGVHTKNHSHTHTHTKNMVTNCNLNLHTNLTTNXBPTDHPPPPDHQTDHSGKTHPTTNgTNTNSPVL

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BẢNG, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ Hình ảnh

Sơ đồ

Bảng

Đồ thị

Biểu đồ

Trang 7

Thế giới ngày nay, với các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đạiđang diễn ra rộng khắp, đã thúc đẩy nhiều lĩnh vực phát triển mạnh mẽ, trong đó cóGiáo dục và Đào tạo Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có đủ phẩm chất và NL, thíchứng tốt với sự phát triển không ngừng của xã hội đang trở thành tối quan trọng vàcấp bách hơn bao giờ hết Điều đó gắn liền với sự thay đổi về quan điểm trong việcđào tạo nguồn nhân lực của các quốc gia; gắn liền với sự thay đổi quan điểm vềmục tiêu trong việc học của con người Ngay từ khi chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI,UNESCO đã thành lập Nhóm chuyên trách NC về Giáo dục cho thế kỷ XXI Năm

1996, Chủ tịch Ủy ban UNESCO về Giáo dục cho thế kỷ XXI Jacques Delors đã

công bố bản báo cáo có tiêu đề “Learning: The Treasure Within” (Giáo dục: Kho tàng tiềm ẩn), trong đó đã khẳng định vai trò cơ bản của giáo dục trong sự phát triển

của xã hội và của mỗi cá nhân; nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa đểmỗi cá nhân thích ứng với những thách thức của thế kỷ XXI, đồng thời đưa ra “Bốntrụ cột của giáo dục”: Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại; Học để chung sống[8], [31], [58]

Giáo dục nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sựphát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnhtranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới.Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lựccũng như về khoa học và công nghệ Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỉXXI là tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục Bối cảnh trong nước và

Trang 8

quốc tế vừa tạo ra thời cơ lớn, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho nền giáodục nước nhà Để bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, Ngành giáo dục cần phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung,phương tiện và hình thức DH Đổi mới DH ở trường phổ thông là một trong nhữngvấn đề đã và đang được Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục hết sức quan tâm, đượcthể chế hóa thông qua nhiều văn bản luật, nghị quyết, chỉ thị về đổi mới giáo dục.

Luật Giáo dục (2019) quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng PP tự học, hứng thú học tập, KN HT, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và NL của người học; tăng cường ứng dụng CNTT và truyền thông vào quá trình giáo dục”

[40]

Xác định tầm quan trọng đặc biệt của đổi mới giáo dục trong giai đoạn mớicủa đất nước, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ViệtNam khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điềukiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó

nêu rõ: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, NL công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục

lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, NL và KN thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn,…” [1] Có thể nói đây là vấn đề mang tính thời sự

và cấp bách của giáo dục hiện nay

Về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổimới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết

số 88/2014/QH13, trong đó nêu rõ mục tiêu đổi mới: “Đổi mới chương trình, sáchgiáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chấtlượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướngnghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền

Trang 9

giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và NL, hài hòa đức, trí, thể, mỹ vàphát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi HS” [39].

Ngày 26/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành Chươngtrình giáo dục phổ thông tổng thể và Chương trình Giáo dục phổ thông các môn học(Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo) Theo đó, Chương trình giáo dục phổ thông quy định việc triển khai thựchiện phải hình thành và phát triển cho HS 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái,chăm chỉ, trung thực; những NL chung được hình thành, phát triển thông qua tất cảcác môn học và hoạt động giáo dục là NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và HT, NLgiải quyết vấn đề và sáng tạo; những NL đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếuthông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: NL ngôn ngữ, NL tínhtoán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất [6]

Theo quan điểm của nhiều nhà NC giáo dục, tất cả các NL cốt lõi nêu trên đềurất quan trọng, mỗi NL đều có tác dụng riêng của nó, trong đó, NLHT cũng khôngngoại lệ Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, HT không chỉ là nhu cầu tăng thêm sứclực hoặc trí lực để hoàn thành những mục tiêu chung, mà quan trọng hơn là do mỗi cánhân, mỗi cộng đồng đang ngày càng có mối quan hệ khá chặt chẽ và không kémphần phức tạp, quan hệ “phụ thuộc” lẫn nhau càng rõ nét hơn bao giờ hết Nếu NLHTcủa mỗi cá nhân còn hạn chế thì không chỉ cá nhân mà cả tập thể sẽ trở nên trì trệ,kém phát triển Đời sống xã hội trong bối cảnh mới đòi hỏi mỗi cá nhân phải nhậnthức đúng vai trò của NLHT như một giải pháp chủ yếu để con người chung sống vàphát triển

Để thực hiện đổi mới giáo dục, việc đổi mới chương trình mới chỉ là bướckhởi đầu, vấn đề quan trọng góp phần quyết định vào sự thành công của đổi mới nằm

ở chỗ triển khai thực hiện Suy cho cùng, việc tổ chức DH thực tế của GV gắn với sựlinh hoạt trong đổi mới PP, hình thức DH, ứng dụng tốt CNTT và sử dụng hợp lý cácPTDH hiện đại, phù hợp trong DH là một trong những yếu tố mang tính quyết định.Xác định rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong DH, Bộ Giáo dục và Đàotạo đã ban hành Chỉ thị số 29/2001/CT-BGDĐT về việc tăng cường ứng dụng CNTTtrong DH và Chỉ thị 55/2008 CT – BGDĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và

Trang 10

ứng dụng CNTT vào trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 -2012, trong đó nêu rõ:

“Đẩy mạnh ứng dụng CNTT ở tất cả các cấp học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới PP giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” [5].

Thực tế DH cho thấy, MVT là phương tiện DH hiện đại, trong giai đoạn hiệnnay có thể xem đó một công cụ không thể thiếu trong việc hỗ trợ giúp GV thực hiệnmục tiêu bài dạy Với nhiều chức năng như trình diễn hình ảnh, video, tìm kiếm thôngtin hoặc sử dụng như một công cụ kiểm tra đánh giá, MVT còn có một ưu điểm nổitrội mà các PTDH khác không có được là hỗ trợ quá trình tương tác giữa HS và GV,giữa HS với nhau thông qua mạng Internet Nó có thể giúp người học tham gia cácdiễn đàn học tập trên mạng như WebQuest, email hoặc mạng xã hội (Facebook,Zalo, ), trên cơ sở đó tăng cường HT, hỗ trợ nhau giải quyết tốt các nhiệm vụ họctập được giao, qua đấy góp phần phát triển NLHT cho người học Có thể nói, việc sửdụng MVT hỗ trợ cho QTDH là một hướng đi tất yếu trong quá trình đổi mới PPDH

ở trường phổ thông, việc khai thác các chức năng của MVT nhằm góp phần phát triểnNLHT cho HS là một hướng đi tốt

Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, sau hơn 30 năm đổi mới, mặc dầu đã

có những chuyển biến tích cực, song Giáo dục - Đào tạo nước ta vẫn đang bộc lộnhiều hạn chế, bất cập Một trong những hạn chế đó là chất lượng và hiệu quả giáodục còn thấp so với yêu cầu phát triển đất nước, chưa tiếp cận nhanh với trình độ vàkết quả giáo dục của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Nội dungchương trình (trước năm 2018) còn thiên về lí thuyết, ít nhiều còn mang tính hàn lâm,nặng về thi cử, PP dạy và học ở nhiều địa phương còn nặng về truyền thụ một chiều,

ít phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS, chưa thực sự chú trọng đến việc phát triểnphẩm chất, NL cho HS Vấn đề sử dụng MVT trong DH nhiều khi còn mang tínhhình thức, chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong đợi Điều đó thể hiện thông quađánh giá ghi trong Chiến lược giáo dục 2011 – 2020 ban hành kèm theo quyết định số

711/QĐ/TTg ngày 13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ: “Nội dung chương trình,

PP dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, PPDH lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của

Trang 11

các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và các đối tượng người học; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục KN sống, phát huy tính sáng tạo, NL thực hành của HS, sinh viên” [44]

Vật lí là môn khoa học thực nghiệm Sự phong phú về kiến thức, sự đa dạng

về các hình thức TNg và mối liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức vật lí với tự nhiên, vớithực tế đời sống và kỹ thuật là những lợi thế không nhỏ đối với tiến trình đổi mớiPPDH bộ môn, để thực hiện tốt những yêu cầu về nội dung và PP giáo dục, pháttriển phẩm chất, NL cho HS như Luật Giáo dục và Chương trình Giáo dục phổthông đã quy định Những lợi thế về mối liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức VL với tựnhiên, với thực tế đời sống và kỹ thuật nêu trên cũng là những ưu thế lớn trong việc

có thể sử dụng MVT như một phương tiện hỗ trợ DH một cách hiệu quả, nhằm pháttriển NL cho HS, đặc biệt là NLHT

Tuy vậy, qua nhiều kênh thông tin khác nhau, có thể thấy việc dạy và học VL

ở một số trường THPT còn nhiều hạn chế, đó là việc đổi mới PPDH còn chậm, cácPPDH tích cực chưa được vận dụng một cách có hiệu quả như mong muốn, vấn đềứng dụng MVT vào DH đã triển khai trên diện rộng, song vẫn còn thiếu hiệu quả

PP học tập của HS còn thụ động, việc phát triển phẩm chất, NL thông qua DH VLcòn chưa được đặt ra một cách đúng mực và việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập

Nguyên nhân của thực trạng trên là việc đổi mới PP chưa có tính đồng bộ,đối với một bộ phận GV việc tiếp cận với các PPDH tích cực còn là vấn đề chưađược giải quyết thỏa đáng Chương trình Giáo dục phổ thông trước 2018 chưa đềcập mạnh về vấn đề phát triển phẩm chất, NL, vẫn còn nặng theo hướng tiếp cận nộidung, do đó chưa có nhiều biện pháp cụ thể để phát triển phẩm chất, NL cho HS,hình thức và nội dung trong kiểm tra đánh giá còn chưa gắn kết tốt với thực tiễn,chưa tạo được động lực đủ mạnh để HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa cá nhân người học Các biện pháp để phát triển NL nói chung và NLHT nóiriêng chưa đủ mạnh, nên hiệu quả của quá trình hình thành và phát triển NL của HSthông qua DH vật lí còn rất hạn chế

Trang 12

Những hạn chế nêu trên chưa đáp ứng được những quy định của Luật Giáodục và mục tiêu của Chương trình Giáo dục phổ thông (2018) đã đề ra Với sự pháttriển chung của toàn xã hội, tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa, mà cần phải

có những động thái tích cực hơn, NC những biện pháp cụ thể hơn để GV và HS cóthể điều chỉnh PP dạy và học của mình theo đúng định hướng

Căn cứ vào những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và của Ngành, nhậnthức được tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH và ý nghĩa của phát triển NL nóichung và NLHT nói riêng của HS thông qua QTDH, nhằm góp phần nâng cao hơn

nữa chất lượng DH VL ở trường THPT, chúng tôi NC đề tài: “Phát triển NLHT cho học sinh trong DH chương “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10 trung học phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính”.

2 Mục tiêu của đề tài

Đề xuất được quy trình tổ chức DH theo định hướng phát triển NLHT cho

HS với sự hỗ trợ của MVT, sử dụng quy trình này để thiết kế các tiến trình DH

và vận dụng vào DH các bài học thuộc chương “Động lực học chất điểm” Vật lílớp 10 THPT

3 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được quy trình tổ chức DH có sự hỗ trợ của MVT theo hướngphát triển NLHT cho HS và vận dụng quy trình này vào DH chương “Động lực họcchất điểm” vật lí lớp 10 THPT thì sẽ góp phần phát triển được NLHT cho HS, qua

đó, nâng cao hiệu quả DH môn Vật lí ở trường phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đặt ra, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc tổ chức DH nhằm góp phần phát triểnNLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT

- Xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá NLHT của HS

- Nghiên cứu thực trạng về việc tổ chức DH theo hướng phát triển NLHT cho

HS THPT hiện nay

- Xây dựng các biện pháp tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho

HS với sự hỗ trợ của MVT

Trang 13

- Xây dựng được quy trình tổ chức DH nhằm góp phần phát triển NLHT cho

hs trong DH vật lí, thiết kế một số bài học thuộc chương “Động lực học chất điểm”theo hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT và vận dụng quy trình

đã đề xuất vào DH

- Tiến hành TNSP nhằm kiểm nghiệm giả thuyết, đánh giá tính khả thi của đềtài

5 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động DH chương “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10 THPT theohướng phát triển NLHT cho HS THPT với sự hỗ trợ của MVT

6 Phạm vi nghiên cứu

Về kiến thức: Tập trung NC hoạt động DH trong chương “Động lực học chấtđiểm” Vật lí lớp 10 THPT theo định hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợcủa MVT

Về địa bàn: TNSP ở một số trường THPT tỉnh Thừa Thiên Huế

- Về thời gian: Quá trình NC và TNSP được thực hiện từ năm học 2017 đếnnăm học 2020

Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong giáo dục:

+ Từ năm 2017 đến cuối năm 2018: Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Đề ánđổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, xây dựng dự thảoChương trình Giáo dục phổ thông mới

+ Tháng 12/2018: Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình Giáo dụcphổ thông mới và chưa có SGK phổ thông mới Chương trình Giáo dục phổ thông

và SGK phổ thông hiện hành (2006) vẫn tiếp tục được áp dụng

+ Từ 2018 đến 2020: Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai công tác bồi dưỡng

GV theo Chương trình mới Chương trình Giáo dục phổ thông mới và Chương trìnhGiáo dục phổ thông hiện hành (2006) vẫn song song tồn tại

Những thay đổi về Chương trình giáo dục phổ thông diễn ra trong thời gian

NC đề tài đã có tác động không nhỏ đến quá trình NC cả về những thuận lợi và khó

khăn.

7 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trang 14

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- NC văn kiện của Đảng, Nhà nước và của ngành Giáo dục về vấn đề đổi mớiPPDH hiện nay ở các cấp, các bậc học

- NC cơ sở tâm lí học và cơ sở lí luận việc tổ chức DH theo hướng phát triểnNLHT cho HS trong DH Vật lí với sự hỗ trợ của MVT

- NC vấn đề ứng dụng CNTT nói chung và sử dụng MVT nói riêng trong hỗtrợ DH vật lí

- NC nội dung các công trình NC, sách, báo, tạp chí chuyên ngành về vấn đềphát triển NLHT, chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham khảo

“Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10, chương trình sách giáo khoa Vật lí 10 trunghọc phổ thông và các tài liệu liên quan

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Thu thập ý kiến đánh giá của GV và HS để biết thực trạng các vấn đề sau:

 Điều tra GV

Vấn đề 1 Việc sử dụng PPDH và PTDH của GV trong QTDH Vật lí ởtrường phổ thông

Vấn đề 2 Việc bồi dưỡng NLHT cho HS trong DH Vật lí

Vấn đề 3 Việc bồi dưỡng NLHT cho HS trong DH Vật lí với sự hỗ trợ củaMVT

 Điều tra HS

Hệ thống câu hỏi của phiếu điều tra HS xoay quanh các vấn đề: Nhận thứccủa HS về việc phát triển NLHT trong DH Vật lí, tình hình sử dụng MVT của HStrong việc hỗ trợ học tập môn Vật lí

7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

TNSP có đối chứng tại một số trường THPT để đánh giá hiệu quả và tính khảthi của đề tài

7.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng thống kê mô tả và thống kê kiểm định để đánh giá kết quả TNSP.Với số lượng HS tham gia thực nghiệm lớn thì với PP này sẽ cho các kết quả chínhxác có độ tin cậy cao

Trang 15

8 Đóng góp mới của luận án

8.1 Về lí luận

- Bổ sung và làm rõ thêm về cơ sở lí luận của việc tổ chức DH với sự hỗ trợcủa MVT nhằm góp phần phát triển NLHT trong DH

- Xây dựng các biện pháp nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS

- Xây dựng được quy trình tổ chức DH với sự hỗ trợ của MVT nhằm pháttriển NLHT cho HS trong DH vật lí

- Thiết kế được một số tiến trình DH chương “Động lực học chất điểm” Vật

lí 10 trung học phổ thông theo hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ củaMVT và tiến hành áp dụng tại các trường trung học phổ thông

9 Cấu trúc của luận án

Cấu trúc của luận án bao gồm những phần chính như sau:

Phần I Mở đầu (9 trang)

Phần II Nội dung (162 trang)

Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu (23 trang)

Chương 2 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực hợp tác chohọc sinh trong dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông (66 trang)

Chương 3 Tổ chức dạy học chương “động lực học chất điểm” vật lí lớp 10trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh với sự hỗtrợ của máy vi tính (27 trang)

Chương 4 Thực nghiệm sư phạm (48 trang)

Phần III Kết luận (3 trang)

Ngoài ra, trong luận án còn có các phần: Tài liệu tham khảo (7 trang) và phụlục (104 trang)

Trang 16

NỘI DUNGChương 1

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Phát triển NL và phát triển NLHT cho HS đã và đang được nhiều nhà NC,nhà lí luận DH quan tâm Mỗi một công trình NC đều đóng vai trò quan trọng đốivới người đọc, người học và là nguồn tư liệu tham khảo quý giá dành cho học viêncao học, nghiên cứu sinh cũng như những nhà NC khoa học giáo dục

1.1 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh

Việc phát triển NL và phát triển NLHT cho HS đã được nhiều nhà NC nướcngoài đề cập đến Luận án này chỉ tập trung phần lớn vào kết quả của những NCtrong khoảng thời gian từ thế kỷ XX cho đến nay

1.1.1 Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài

Những công trình NC về NL được quan tâm và trình bày trong nhiều báo cáocủa các nhà khoa học nước ngoài

1.1.1.1 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực

Có nhiều định nghĩa khác nhau về NL, theo đó, trong đề tài NC Các khái niệm về NL (Concepts of Competence), tác giả Franz E Weinert (1999) đã xác định

NL dựa trên nền tảng kiến thức, KN, nhận thức và chiến lược học tập của HS, trong

đó, tập trung chủ yếu vào việc đánh giá kiến thức HS Việc hiểu NL theo hướng này

sẽ có ít nhất bốn ưu điểm như sau: 1) Đối với các cá nhân có NL khác nhau thì sẽgiải quyết được những bài kiểm tra ở các mức độ khác nhau, điều đó dẫn tới việckhông cần thiết phải sử dụng những PP phức tạp để đánh giá sự khác biệt về NLtiếp thu kiến thức của HS; 2) Có thể xem các bài kiểm tra được phân thành các mức

độ từ dễ đến khó giống như là các tiêu chí đánh giá NL của HS; 3) Trái ngược vớiquan niệm lấy khả năng làm trung tâm của NL, việc định nghĩa NL tập trung vàokiến thức giúp người dạy có thể ngay lập tức đánh giá được NL của HS thông quaviệc đánh giá kết quả giải quyết các nhiệm vụ học tập; 4) Định nghĩa NL theohướng tập trung vào kiến thức có thể được áp dụng cho số lượng lớn các loại nhiệm

Trang 17

vụ được giao trong cuộc sống hàng ngày, trường học và các hoạt động cụ thể Tuynhiên, ngoài bốn ưu điểm này, định nghĩa NL tập trung vào kiến thức còn có mộtnhược điểm cần phải giải quyết, đó là khả năng về mặt trí tuệ của HS sẽ quyết địnhmức độ và lượng kiến thức mà HS đó đạt được, điều này dẫn tới việc đánh giá theo

NL chỉ cung cấp một thước đo rất chung về kiến thức của HS [71]

Công bố kết quả NC của Serik Praliyev và các cộng sự (2013) về sự hìnhthành NL của HS đã cho thấy: Về mặt bản chất NL là sản phẩm của quá trình họctập, rèn luyện và là kết quả của quá trình tự phát triển, tự cải thiện của cá nhân mỗi

HS, không chỉ tiến bộ về mặt kiến thức mà còn về KN được thể hiện qua hành động

và kinh nghiệm của bản thân các em Tác giả còn cho rằng, NL là sự tổng hợp củakiến thức, KN, thái độ của người học, theo đó, NL được chia làm ba loại: 1) Các NL

cơ bản được hình thành trên cơ sở kiến thức, KN và được thể hiện qua các hoạtđộng nhất định; 2) Các NL cốt lõi được thể hiện trong tất cả các loại hoạt động, cáckhía cạnh của mỗi cá nhân, phản ánh bản chất bên trong và ý nghĩa hoạt động củanó; 3) Các NL đặc thù phản ánh chi tiết, cụ thể về một lĩnh vực hoặc chủ đề nhấtđịnh thông qua hoạt động mang tính chuyên biệt Cả ba loại NL này có mối liênquan chặt chẽ đến nhau và phát triển cùng một lúc trong quá trình học tập của HS,đồng thời, người học cần phải biết được PP tự kiểm tra, đánh giá và cải thiện cáchành động thông qua việc sử dụng bộ tiêu chí đánh giá được xây dựng sẵn nhằmphân chia rõ được các mức độ NL Có thể thấy, nhóm NC đã đưa ra được địnhnghĩa về NL cũng như xây dựng được thang đo các tiêu chí đánh giá NL, từ đó,giúp đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm góp phần phát triển NL cho HS [65]

Trong đề tài NC Phương pháp đánh giá NL của HS (Students’competence assessment methods), tác giả Olga Berestneva và các cộng sự (2015) đưa ra nhận

định rằng NL là một đặc tính tích hợp (có nghĩa là phẩm chất mới đạt được bằngviệc kết hợp kiến thức và khả năng thông qua quá trình rèn luyện), đây chính là kếtquả của quá trình DH mà ở đó HS đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các nhiệm

vụ học tập liên quan đến việc phát triển NL Qua những NC, phân tích và đánh giá

cụ thể về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn đối với vấn đề đánh giá NL, tác giả cho rằnghiện tại có những khó khăn nhất định về việc xác định cơ chế hình thành và phát

Trang 18

triển NL, chưa có ý kiến chung về cấu trúc của NL Do đó, cần phải đưa ra phương

án tiếp cận một cách có hệ thống đối với vấn đề NL của HS, cũng như các cơ chếhình thành và phát triển của NL [54]

1.1.1.2 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh

Vấn đề NLHT cũng được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm NC và tìmhiểu từ khá sớm:

Đầu thế kỉ XX, tác giả John Dewey đã chỉ ra rằng muốn cùng chung sốngtrong xã hội thì người học phải trải nghiệm thực tế cuộc sống bằng việc học cách

HT với các thành viên trong lớp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Theoông, sự HT của người học cần phải tuân theo hai nguyên tắc: Đảm bảo nhiệm vụcủa các thành viên luôn được thực hiện liên tục và có sự tác động qua lại lẫn nhau[9]

Những công trình NC về học tập HT và nhất là NLHT bắt đầu có sự pháttriển mạnh mẽ vào những năm cuối của thế kỉ XX và thật sự bùng nổ vào nhữngnăm đầu của thế kỉ XXI với nhiều kết quả đáng chú ý Trong đó, phải kể đến David

W Johnson cùng anh trai Roger T Johnson và các cộng sự đã có rất nhiều những

công trình NC chuyên sâu về học tập HT như: Cùng nhau học tập và học một mình: Tổng quan (Learning together and alone: An Overview), Cùng nhau học tập và học một mình: Tổng quan và phân tích tổng hợp (Learning Together and Alone: Overview and Meta-analysis) Các tác giả không ủng hộ cho việc học tập theo tư

tưởng cạnh tranh lẫn nhau và chủ nghĩa cá nhân trong trường học, ngược lại, đề caoviệc học tập theo nhóm, theo đó các công trình NC của ông và các cộng sự tập trungvào những vấn đề sau: Tổng hợp những hiểu biết về mối liên hệ giữa học tập HT,cạnh tranh và hoạt động cá nhân thông qua việc tìm tòi đánh giá toàn diện các tàiliệu hiện có Xây dựng mô hình lý thuyết liên quan đến bản chất của sự HT và cácthành phần cần thiết để điều chỉnh và mở rộng lý thuyết về các mối ràng buộc xãhội Các tác giả đã tiến hành một chương trình NC có hệ thống để kiểm tra những lýthuyết mà mình đã đưa ra Chuyển đổi lý thuyết đã được kiểm chứng thành một bộcác chương trình hành động và PP cụ thể để đưa mô hình HT vào sử dụng trongtrường học Kết quả NC của Johnson và các cộng sự khẳng định rằng HS đạt năng

Trang 19

suất làm việc cao hơn khi HT cùng nhau để giải quyết các vấn đề học tập, từ đóthành tích học tập cũng tăng lên Ngoài ra, việc học tập HT cũng giúp giải quyết tốthơn các xung đột giữa HS với nhau và một trong những khía cạnh hữu ích nhất họctập HT là việc nâng cao tính chính xác trong việc đánh giá chất lượng học tập của

HS [61] Để sử dụng học tập HT có hiệu quả, GV phải hiểu bản chất của việc HTtích cực, trách nhiệm cá nhân, khuyến khích HS trao đổi lẫn nhau, từ đó góp phầnhình thành và phát triển NL xã hội trong hoạt động nhóm Điều này giúp GV thíchứng với học tập HT trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của

HS trong học tập, cũng như có những điều chỉnh trong việc sử dụng PP học tập HT

để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình HS làm việc cùng nhau Có thể thấyviệc sử dụng các PP học tập HT có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành vàphát triển NLHT, mặc dù không trực tiếp nhắc đến NLHT, tuy nhiên, những côngtrình đã công bố của các nhà khoa học về học tập HT là nguồn tư liệu quý giá giúpnhững nhà NC về NLHT có thêm những cơ sở, nhận định quan trọng của việc DHnhằm góp phần phát triển NLHT cho HS [62)

Trong giai đoạn từ năm 1978 đến năm 2015, Robert E Slavin và các cộng sự

đã có rất nhiều những NC về học tập HT Theo Slavin, học tập HT là việc GV sửdụng các PP giảng dạy để tổ chức cho HS làm việc trong một nhóm nhỏ, qua đó, HS

hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau tìm hiểu nội dung bài học Phương pháp họctập HT được NC rộng rãi và trong một số những điều kiện nhất định, đây là PP cảithiện đáng kể thành tích HS trong hầu hết các môn học và lớp học khác nhau [69]

Có bốn PP học tập HT được thể hiện thông qua các quy tắc giao tiếp, đã được cácnhà khoa học tiến hành NC tại các trường học Các PP này có những đặc điểm sauđây: Không tốn nhiều chi phí, dễ thực hiện trong lớp học, có thể áp dụng rộng rãivới các môn học và các lớp học khác nhau, dễ dàng đưa vào các trường học hiệnnay và đã được kiểm chứng là có khả năng cải thiện thành tích nhiều hơn so vớicách dạy truyền thống Hai trong số những PP này đã được phát triển, đánh giá tạitrường Đại học Johns Hopkins và được sử dụng rộng rãi trong các trường học ở Hoa

Kỳ Phương pháp thứ ba là PP giảng dạy Jigsaw (Jigsaw teaching, Aronson, 1978)

đã được sử dụng rộng rãi trong một số trường học và được sửa đổi bởi Slavin

Trang 20

Phương pháp cuối cùng được phát triển và đánh giá tại Đại học Minnesota, đượcgọi là PP “học cùng nhau” (learning together, D.W Johnson & R T Johnson,1975), PP này đã được đưa vào NC tại nhiều trường học Như vậy, mặc dù không đềcập đến việc phát triển NLHT cho HS, tuy nhiên, kết quả NC của các tác giả đãgiúp khẳng định được các PPDH HT theo nhóm có thể góp phần cải thiện thành tíchhọc tập của HS, nhờ đó mà chất lượng học tập được nâng lên [68].

Simon Veenman và các cộng sự (2002) đã có công trình NC về vấn đề Học tập HT và việc giảng dạy của GV (Cooperative learning and teacher education),

NC được tiến hành tại hai trường đại học khác nhau ở Hà Lan Mặc dù tại thời điểm

đó, trên thế giới đã có nhiều NC chứng minh những ảnh hưởng tích cực của học tập

HT, tuy nhiên tại Hà Lan, các nhà làm giáo dục chưa chú ý tới việc phát triển NLHTcho HS Tư tưởng cạnh tranh lẫn nhau đã ăn sâu vào tiềm thức của đại đa số GV và

HS Mặc dù HS ngồi trong một nhóm, tuy nhiên các em không thực sự HT với nhau

và nhóm hiếm khi có dịp làm việc cùng nhau Nói cách khác, các HS làm việc cùngnhưng không phải là nhóm Nhóm NC của Johnson & Johnson đưa ra năm thànhphần thiết yếu trong hoạt động giảng dạy bao gồm: Sự phụ thuộc lẫn nhau, tráchnhiệm cá nhân, tương tác mặt đối mặt, KN xã hội và xử lý Kế thừa kết quả NC củaJohnson & Johnson, Simon Veenman cùng các cộng sự đã NC tổ chức một khóa học

HT dành cho HS, đồng thời hướng dẫn GV thực hiện quy trình và đã nhận được sựhưởng ứng tích cực từ phía GV cũng như HS Sau khi hoàn thành khóa học, kết quảmang lại những dấu hiệu khả quan, điểm số của HS được tăng lên đáng kể, cácthành viên của nhóm dành nhiều thời gian cho nhiệm vụ chung hơn là dành thờigian cho công việc cá nhân, tính cạnh tranh không còn bộc lộ trong NC này Có thểthấy rằng các tác giả một mặt khẳng định việc sử dụng quy trình học tập HT mộtcách phù hợp đã khắc phục được các nhược điểm của HS trong quá trình tự họchoặc hoạt động nhóm nhưng không hiệu quả, mặt khác kết quả học tập được cảithiện đáng kể thông qua các hoạt động nhóm mà ở đó HS giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhauhoàn thành nhiệm vụ được giao [70]

Trong năm 2011, Dave Sims đã công bố kết quả NC về việc xác định các NLcần thiết cho sự HT thành công và phát triển NLHT thông qua giáo dục chuyên

Trang 21

nghiệp Kết quả đó được rút ra sau khi đánh giá chương trình đào tạo theo hướng

HT và tăng cường công tác xã hội ở nước Anh, đồng thời thảo luận về những kinhnghiệm và quan điểm của HS đã tốt nghiệp NC cũng chỉ ra những bài học cho việcphát triển NLHT cho HS được đào tạo công tác xã hội Dave Sims cho rằng cơ hộihọc tập chuyên nghiệp là một trong những thành phần quan trọng góp phần pháttriển các NL của HS và việc nâng cao NLHT cho HS đóng vai trò quan trọng trongcông tác giáo dục hiện nay Tuy nhiên, cách xác định này chưa thể hiện rõ được cácNLTT của NLHT và chưa đưa ra được quy trình cụ thể nhằm góp phần phát triểnNLHT cho HS [67]

Đối với tác giả Douglas J Gilbert (2013) thông qua đề tài NC Năng lực hợp tác: Xác định lại vấn đề về quản lý giáo dục thông qua việc xây dựng xã hội (Collaborative Competence: Redefining Management Education Through Social Construction), đã định nghĩa NLHT như sau: NLHT là khả năng (NL) của các cá

nhân nằm trong nhóm tương tác (HT) cùng nhau thực hiện nhiệm vụ mà một cánhân hoặc một nhóm cá nhân rời rạc không thể thực hiện được Gilbert khẳng địnhrằng nền tảng của việc quản lý giáo dục trong xây dựng xã hội thông qua mô hìnhphát triển NLHT là một sự thay thế đầy hứa hẹn cho một mô hình cũ của chươngtrình đào tạo và giảng dạy Có thể thấy NLHT được nhà NC rất coi trọng trong môhình giáo dục hiện nay, điều đó càng khẳng định mức độ quan trọng của việc hìnhthành và phát triển NLHT cho HS [60]

Về vấn đề phát triển NLHT của HS, tại hội thảo quốc tế về Nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa: Truyền thống và đổi mới (Linguistic and Cultural Studies: Traditions and Innovations), tổ chức tại liên bang Nga, tác giả Svetlana Pozdeeva

(2015) đã đưa ra nhận định rằng PP tiếp cận về NL trong giáo dục là một xu hướngtoàn cầu liên quan tới mọi cấp học: Từ bậc học mẫu giáo cho đến trung học phổthông Điều này có nghĩa là giáo dục cần được xây dựng dựa trên việc phát triển NLcho HS và những NL đó phải được hình thành từ các lứa tuổi khác nhau Ví dụ, khi

tổ chức DH, GV có thể phân chia lớp học thành các nhóm và hoạt động học tậpđược diễn ra với sự hỗ trợ của GV, từ đó, chính HS sẽ là người trực tiếp giải quyếtvấn đề và rút ra được kiến thức cho riêng mình, điều này làm góp phần hình thành

Trang 22

và phát triển NLHT Pozdeeva cũng nhấn mạnh rằng NLHT là một trong những NLquan trọng phản ánh sự thay đổi của xã hội nói chung và giữa các cá nhân nói riêng.

HT trở thành một hoạt động thường xuyên trong cuộc sống hiện đại, nó liên quanđến mọi hoạt động của con người và là điều kiện cốt lõi cho sự thành công của các cánhân Như vậy, NLHT của HS được quan tâm và tìm hiểu một cách nghiêm túc, tuynhiên, PP tiếp cận vẫn còn chung chung và chưa làm rõ các biện pháp nhằm góp phầnphát triển NLHT cho HS [64]

Từ những dẫn chứng trên có thể nhận thấy các nhà NC khoa học giáo dục ởnước ngoài đã tập trung vào việc tìm hiểu về NL cũng như NLHT từ cách đây khálâu và đã thu được những kết quả đáng quan tâm Mặc dù các nhà NC đưa ra nhữngquan niệm khác nhau về NL nhưng hầu hết đều có chung nhận định rằng cần phải

có phương án tiếp cận một cách có hệ thống đối với vấn đề NL, cũng như các cơchế hình thành và phát triển NL cho HS Bên cạnh đó, các tác giả đều đánh giá caovai trò của sự HT trong việc nâng cao chất lượng DH, từ đó, khẳng định tầm quantrọng của NLHT và phát triển NLHT cho HS Tuy nhiên, những NC này được tiếnhành áp dụng với các nước có điều kiện kinh tế, nền văn hóa, cách thức kiểm trađánh giá trong giáo dục khác nhiều so với nước ta Do đó, để có thể đưa những lýluận về NL và NLHT vào áp dụng một cách hiệu quả tại Việt Nam thì cần phát triểnhoặc tiến hành những NC mới, có sự quan tâm đến đặc thù về điều kiện kinh tế xãhội cũng như đặc điểm tâm sinh lý của HS trong nước

1.1.2 Các kết quả nghiên cứu ở trong nước

Vấn đề về NL được các tác giả trong nước để tâm và đề cập đến trong nhiều

đề tài Tiêu biểu như:

1.1.2.1 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực

Trong NC về NL làm việc với SGK, tác giả Đỗ Văn Năng (2015) đã đưa rakhái niệm NL và xây dựng được quy trình phát triển NL làm việc với SGK Vật lítrong DH ở trường THPT Qua đó khẳng định: Muốn phát triển NL nào đó phảithông qua rèn luyện các KN cần thiết tương ứng với loại NL đó Việc phát triển NLlàm việc với SGK Vật lí cho HS được thực hiện thông qua việc rèn luyện có chủđích, có PP cho HS hệ thống các KN làm việc với SGK Vật lí Cụ thể, muốn phát

Trang 23

triển NL làm việc với SGK Vật lí phải thông qua rèn luyện các KN làm việc vớikênh hình, kênh chữ, kênh hình kết hợp với kênh chữ HS có KN làm việc với SGKVật lí thành thạo và vận dụng tốt vào các tình huống mới thì HS đã có NL làm việcvới SGK Vật lí Như vậy, NC này đã có sự liên hệ đến thực tiễn của Việt Nam, đồngthời, đưa ra khái niệm về NL, hệ thống KN và bộ tiêu chí đánh giá NL làm việc vớisách giáo khoa của HS, từ đó, đề xuất các biện pháp, mức độ sử dụng quy trình và

PP để rèn luyện được các KN làm việc với SGK Vật lí [34]

Đối với vấn đề về NL, tác giả Hoàng Hòa Bình (2015) nhận định rằng “NL làthuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình họctập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhấtđịnh, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Hai đặc trưng cơ bảncủa NL là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệuquả, đạt kết quả mong muốn” Theo đó, NL có 2 đặc trưng cơ bản: 1) Được bộc lộqua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả Ở đầu vào (cấu trúc bề mặt), NLđược tạo thành từ tri thức, KN và thái độ, ở đầu ra (cấu trúc bề sâu), các thành tố đótrở thành NL hiểu, NL làm và NL ứng xử Mỗi NL ứng với một loại hoạt động, cóthể phân chia thành nhiều NL bộ phận; bộ phận nhỏ nhất, gắn với hoạt động cụ thể

là KN (hành vi) Các NL bộ phận có thể đồng cấp với nhau, bổ sung cho nhau,nhưng cũng có thể là những mức độ phát triển khác nhau Cách hiểu về NL là cơ sở

để đổi mới PPDH và đánh giá kết quả giáo dục Theo cách phân giải cấu trúc NLnói trên có thể thấy cần phải hình dung được đầy đủ các NL bộ phận và hành vi biểuhiện của chúng thì mới có thể xác định được các yếu tố đầu vào (nguồn lực), đồngthời, nội dung đánh giá kết quả giáo dục sẽ dựa trên bộ tiêu chí đánh giá NL bộphận cũng như tiêu chí đánh giá NL hiểu, NL làm và NL ứng xử Ví dụ, GV có thểđưa ra các nhiệm vụ học tập, yêu cầu HS hoạt động nhóm nhằm giải quyết nhữngnhiệm vụ đó, từ đây, người dạy có thể đánh giá NL hiểu, NL làm và NL ứng xử của

HS qua mỗi hành vi: Nhận biết tình huống có vấn đề; thiết lập tiến trình thực hiệnnhiệm vụ; thu thập, sắp xếp, đánh giá thông tin; xác định chiến lược giải quyết vấnđề; đánh giá giải pháp đã thực hiện; khái quát hóa cho những vấn đề tương tự,…Tùy theo mức độ quan trọng của các thành tố hiểu, làm và ứng xử đối với việc giải

Trang 24

quyết câu hỏi này mà GV xác định biểu điểm cho mỗi thành tố ấy Có thể thấy, đềtài này đã đưa ra những bàn luận chuyên sâu về khái niệm NL và cấu trúc của NL,

từ quan niệm về NL như trên sẽ giúp những nhà NC hình dung việc DH theo địnhhướng phát triển NL cho người học cần phải chú trọng vào khâu tổ chức hoạt độngcho HS, qua đó, HS bộc lộ được tiềm năng, góp phần hình thành và phát triển NL[4] Ngoài ra, để rèn luyện ngày càng hoàn thiện hơn những hành động nhận thức

VL, các thao tác phổ biến, cần dùng trong hoạt động nhận thức VL, tác giả NguyễnThanh Hải đã sử dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong DH VL ở trườngTHPT Theo đó, việc sử dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong QTDH VLchắc chắn sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức, nângcao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS, góp phần nâng cao chấtlượng DH VL ở trường THPT [12], [13], [15]

Còn trong luận án tiến sĩ Xác định và rèn luyện hệ thống KN học tập cho HS trong DH phần “Điện học”, vật lí 11, tác giả Quách Nguyễn Bảo Nguyên (2016) đã

định nghĩa về KN học tập và hệ thống KN học tập, xác định được hệ thống KN họctập, xây dựng được thang đo gồm 5 mức độ thành thạo KN của HS thông qua cáchành vi cá nhân sau quá trình rèn luyện, xây dựng được sáu biện pháp rèn luyện hệthống KN học tập cho HS, xây dựng được quy trình thiết kế bài DH theo hướng tổchức rèn luyện hệ thống KN học tập cho HS và quy trình phối hợp giữa các biệnpháp rèn luyện và các PPDH Ở khía cạnh này, tác giả nhận định rằng trong QTDHkhông thể tiến hành rèn luyện từng KN cụ thể cho HS mà phải tiến hành rèn luyện

hệ thống KN một cách tổng hợp dựa trên cơ sở xác định những KN hay nhóm KNchính yếu được tổ chức rèn luyện và những KN hay nhóm KN phụ trợ được tổ chứcrèn luyện đồng thời ở mức độ thấp hơn [35]

1.1.2.2 Những nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh

Bên cạnh việc tìm hiểu về NL thì những NC về NLHT cũng được các nhàkhoa học trong nước đặc biệt quan tâm trong giai đoạn gần đây:

Trong đó có tác giả Đặng Thành Hưng với các bài: Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật [23], Hệ thống KN học tập hiện đại [24], Nhận diện và đánh giá KN [25], Cơ sở tâm lý học giáo dục [26] đã bàn luận khá sâu sắc về vấn đề

Trang 25

nhóm HT, NLHT và DH HT Tác giả cho rằng: Quan hệ giữa người học với nhautrong quá trình DH hiện đại nói chung mang tính HT và tính cạnh tranh tương đối,tính chất này của DH làm cho nó năng động hơn, có động lực công khai và có chiềuhướng hiệu quả hơn Trên cơ sở khái quát các công trình NC của Johnson &Johnson, Davison N và Slavin R., Đặng Thành Hưng đưa ra khái niệm nhóm HT sosánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng KN HT và cácnguyên tắc đảm bảo cho DH HT thành công Ngoài ra, ông còn chỉ ra hệ thống các

KN học tập trong môi trường hiện đại Thông qua hệ thống KN học tập đó có thểthấy, học tập là việc thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giảiquyết các vấn đề đặt ra, đây chính là những KN HT được nhận diện trong môitrường học tập hiện đại

Trong cuốn sách Phương pháp DH truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy

Tuyên (2008) đã nêu ra những vấn đề như: HT là gì? Tầm quan trọng của HT, bồidưỡng KN HT Sự HT là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống Sự HT diễn ratrong suốt cuộc đời mỗi con người, diễn ra trong mọi gia đình, trong mọi cộng đồngkhi các thành viên cùng hoạt động để đạt mục đích chung Trong các tình huống

HT, các cá nhân nhận thấy họ có thể đạt đến mục tiêu của mình, khi và chỉ khi cácthành viên khác cũng đạt được điều đó HT đóng vai trò quan trọng trong cuộc sốngcon người Nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội Ông cũngkhẳng định rằng KN HT là một loại KN quan trọng đối với con người cũng như đốivới HS, bởi vì hầu hết các mối quan hệ của con người đều là HT Mọi KN có liênquan tới cá nhân, nhóm và tổ chức đều được coi là KN HT Qua đó có thể thấy, việcrèn luyện các KN HT ngay từ khi trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường là rất quan trọng.Đồng thời, việc dạy các KN HT cho HS cần được coi trọng như việc dạy kiến thức

và các KN cơ bản khác [49]

Đối với Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012) thì những quan điểm về HT đượcthể hiện như sau: Học HT là một vấn đề được quan tâm NC từ rất lâu trong lịch sửgiáo dục, KN HT là một dạng hành động/hoạt động học tập được người học thựchiện một cách tự giác dựa trên những tri thức, kinh nghiệm đã có của họ vào việcgiải quyết các nhiệm vụ học tập chung của nhóm trên cơ sở có sự phụ thuộc tích

Trang 26

cực, sự tương tác trực diện và trách nhiệm cá nhân cao của mỗi thành viên Tác giảcho rằng, sự phát triển của các KN HT cũng như các nhóm KN HT của sinh viên sưphạm không đồng đều Song, nhìn một cách khái quát thì mức độ phát triển của cácnhóm KN HT theo thứ tự giảm dần từ nhóm KN hình thành nhóm HT đến nhóm

KN giao tiếp học tập trong nhóm, nhóm KN xây dựng và duy trì sự tin tưởng lẫnnhau và cuối cùng là nhóm KN giải quyết bất đồng trên tinh thần xây dựng Trongquá trình hoạt động nhóm nhiều KN học HT của sinh viên được rèn luyện và pháttriển, đặc biệt là các KN trình bày, diễn đạt vấn đề, KN lắng nghe, tiếp nhận thôngtin, KN chia sẻ những ý kiến, cảm nhận cá nhân, Sự hình thành và phát triển KN

HT của sinh viên sư phạm trong hoạt động nhóm chịu tác động của nhiều yếu tốkhách quan và chủ quan, trong đó các yếu tố chủ quan đóng vai trò quan trọng hơn.Mặc dù khẳng định hoạt động nhóm có tác động tích cực đến việc rèn luyện các KN

HT, đồng thời, đưa ra các biện pháp rèn luyện KN HT, tuy nhiên, những kết quảđược trình bày trong đề tài này chỉ tập trung vào đối tượng sinh viên đại học sưphạm chứ chưa đề cập đến những đặc điểm của HS THPT [38]

Các tác giả Phạm Thị Phú và Nguyễn Lâm Đức (2015) khẳng định rằng DHtheo hướng phát triển NL cho HS thực chất là việc mở rộng các hoạt động giảng dạybằng cách tạo ra một môi trường và các tình huống cụ thể giúp HS có cơ hội sửdụng kiến thức và KN để thể hiện ý tưởng của mình, từ đó, kiến thức và KN đượchình thành và phát triển Nhóm NC cũng đã đưa ra bốn nhóm NLTT cần thiết cho

HS trong việc giảng dạy Vật lí tại trường THPT, bao gồm: Nhóm NL liên quan đếnviệc sử dụng kiến thức Vật lí, nhóm NL liên quan đến PP luận, nhóm NL liên quan

đến trao đổi thông tin, nhóm NL cá nhân Đặc biệt, trong đó có nhóm NL liên quan đến trao đổi thông tin: Trong quá trình học Vật lí, HS có thể trao đổi kiến thức Vật

lí, đánh giá các nguồn thông tin khác nhau, mô tả cấu trúc và các nguyên tắc hoạtđộng của thiết bị kĩ thuật cũng như thảo luận và tham gia vào các hoạt động nhóm;

GV đưa ra các bài tập tình huống và tổ chức, khuyến khích cho HS tham gia vàocác hoạt động nhóm để thảo luận về các kết quả Từ đó, giúp rèn luyện các KN HTnhằm góp phần phát triển NLHT Tuy nhiên, vì những mục tiêu riêng nên đề tài cũngchưa quan tâm đến những biểu hiện của NLHT, chưa đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm

Trang 27

HS được trải nghiệm thực tiễn qua đó góp phần phát triển NLHT Cụ thể là: Trang

bị kiến thức, khuyến khích nhu cầu và giáo dục thái độ HT cho HS; Tổ chức các tròchơi đòi hỏi HS phải có sự HT với nhau; Sử dụng các tình huống giả định tronghoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm tạo ra môi trường giải quyết vấn đề theohướng HT; Tạo môi trường trải nghiệm thực tế cho HS qua các hoạt động xã hộitheo nhóm; Tổ chức các câu lạc bộ theo hướng tăng cường sự HT Đóng góp chínhcủa đề tài là tác giả đã đưa ra được cấu trúc khung NLHT được xác định bao gồm

hệ thống tri thức về HT, KN HT, thái độ và giá trị HT Trên cơ sở cấu trúc củaNLHT, nội dung phát triển NLHT cho HS trung học cơ sở được xác định là: Bồidưỡng và phát triển hệ thống tri thức về hoạt động HT; Phát triển hệ thống KN HTcho HS; Phát triển ở HS giá trị, thái độ, tình cảm, động cơ đối với việc HT, giúp các

em thấy được sự cần thiết phải HT với nhau, nâng cao trách nhiệm cá nhân trongquá trình thực hiện hoạt động làm cơ sở giúp HS tích cực, tự nguyện HT với nhaucùng thực hiện công việc chung và trong cuộc sống Xuất phát từ cơ sở lý luận vàthực tiễn, luận án đã xây dựng năm biện pháp giáo dục nhằm góp phần phát triểnNLHT cho HS trung học cơ sở qua hoạt động ngoài giờ lên lớp theo hướng vậndụng lý thuyết học HT và lý thuyết giáo dục giá trị đưa HS vào các hình thức hoạtđộng khác nhau nhằm tạo cơ hội cho HS được trải nghiệm thực tiễn qua đó gópphần phát triển NLHT Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đề cập đến quy trình DH cụ thểnhằm góp phần hình thành và phát triển NLHT cho HS, chưa đưa ra được các tiêuchí đánh giá một cách rõ ràng để có thể đánh giá được NLHT đối với đối tượng là

HS THPT [19]

Trang 28

Còn theo Lê Thị Diễm My (2017), NLHT được hiểu là khả năng tương táccủa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tíchcực, tự giác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, KN của bảnthân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ chung NLHT cho thấy khả năng làmviệc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tươngtrợ lẫn nhau để cùng hướng tới mục đích chung Theo tác giả, NLHT được hìnhthành và phát triển thông qua việc rèn luyện những KN HT bao gồm: KN tổ chứcnhóm HT, KN đánh giá và tự đánh giá, KN cộng tác, KN xây dựng và duy trì bầukhông khí thân thiện tin tưởng lẫn nhau, KN giải quyết mâu thuẫn Từ việc xác định

hệ thống KN HT thì các biện pháp bồi dưỡng NLHT cho HS thông qua việc sửdụng TNg được xây dựng như: Cung cấp cho HS kiến thức về NLHT và tăng cườngrèn luyện các KN HT, tổ chức cho HS làm TNg theo nhóm góp phần tạo môi trườnglàm việc HT, xây dựng môi trường học tập lành mạnh để tạo hứng thú HT cho HS.Bên cạnh đó, để có thể đánh giá được NLHT của HS, bộ tiêu chí đánh giá NLHT đãđược xây dựng nhằm giúp GV có cơ sở trong quá trình kiểm tra đánh giá Tuynhiên, đề tài chỉ tập trung vào việc phát triển NLHT cho HS thông qua việc sử dụngTNg, đồng thời, các kết quả định lượng chỉ đánh giá về mặt kiến thức của HS, cònviệc kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển NLHT chỉ chủ yếu dựa vào định tính,thậm chí có phần chủ quan của tác giả [33]

Qua một số NC kể trên có thể nhận thấy rằng ở trong nước hiện nay đã có rấtnhiều NC liên quan đến vấn đề NL, trong đó có NLHT Tất cả đều nhấn mạnh vaitrò của việc phát triển NL cho HS và trong số đó cũng có không ít nhà NC đề caotầm quan trọng của NLHT Mặc dù vậy, đa số các NC này đều tập trung vào mộtnhóm HS hoặc một số ứng dụng riêng biệt mà chưa xây dựng được các biện phápnhằm bồi dưỡng NLHT cho HS THPT trong DH Vật lí với sự hỗ trợ của MVT Bêncạnh đó, MVT là công cụ hỗ trợ đắc lực trong quá trình DH nói chung và DH theohướng phát triển NLHT nói riêng, tuy nhiên, các nhà NC vẫn chưa đi sâu tìm hiểu

và ứng dụng các chức năng cụ thể của MVT vào việc DH theo hướng phát triểnNLHT Vì vậy, việc tổ chức DH theo hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ

Trang 29

của MVT vẫn là một vấn đề mang tính thời sự và cần có thêm nhiều hơn nữa những

1.2.1 Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài

Trong đề tài NC Đồng bộ hóa NLHT trong môi trường học tập trên web ảnh hưởng của chúng đến quá trình học tập (Synchronous collaboration competencies in web conferencing environments – their impact on the learning ‐ process), tác giả Matt Bower (2011) tập trung vào việc làm thế nào để có thể đưa

-MVT vào sử dụng có hiệu quả trong việc giảng dạy, cũng như đánh giá mức độ ảnhhưởng của nó trong quá trình học tập Bower sử dụng trình duyệt web nhằm tổ chứccác buổi họp, trao đổi trực tuyến,… giữa HS – HS và giữa HS – GV, đồng thời, thuthập dữ liệu và các kết quả đạt được của NC để đánh giá việc phát triển NLHTtrong DH với sự hỗ trợ của MVT Bower khẳng định rằng NLHT là một trongnhững NL quan trọng, việc sử dụng các PPDH ảnh hưởng trực tiếp đến quá trìnhphát triển NLHT Tác giả nhấn mạnh rằng các PPDH lấy GV làm trung tâm, GV chỉthể hiện được các NL quản lý cấp thấp và HS ít có cơ hội thể hiện NL của bản thân.Với các PPDH lấy HS làm trung tâm đòi hỏi GV phải thể hiện khả năng quản lý vàxây dựng bài học cấp cao, qua đó, HS có nhiều cơ hội để thể hiện NL Khi sự tự tincủa HS tăng lên nhờ việc sử dụng CNTT, các em cũng có thể trở thành người xâydựng nên môi trường học tập cho chính mình Nếu muốn phát triển NLHT cho HScần phải liên tục rèn luyện những KN HT nhằm tránh việc HS bị lãng quên Cho tớinay, GV luôn là người chịu trách nhiệm cuối cùng về việc quản lý, thiết kế và xâydựng chiến lược DH ứng dụng CNTT, chúng có tầm ảnh hưởng quan trọng đến sựthành công trong học tập dựa trên web Tuy nhiên Bower cũng khẳng định đó làtrách nhiệm của các cơ sở giáo dục để chuẩn bị cho HS những KN HT, để các emtham gia vào xã hội và lực lượng lao động toàn cầu đang ngày càng trở nên cạnh

Trang 30

tranh Qua NC của Matt Bower có thể thấy tầm quan trọng của MVT trong việc hỗtrợ QTDH theo hướng phát triển NLHT, đồng thời, khẳng định NLHT không thểhình thành ngay lập tức mà cần có sự rèn luyện và phát triển trong một thời giandài Mặc dù vậy, vì mục tiêu NC riêng nên đề tài vẫn chưa đề cập đến bộ tiêu chíđánh giá NLHT của HS cũng như chưa đưa ra được quy trình tổ chức DH nhằm gópphần phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT [56]

Carmenado (2011) với đề tài Phát triển NL thông qua mô hình e-learning: Kinh nghiệm ở bậc Đại học tại trường Aula a Distancia Abierta (ADA) Madrid (Behavior competence development through e-learning: Experience at the undergraduate level in the context of Aula a Distancia Abierta (ADA) Madrid) đã đưa

ra khái niệm NL như sau: NL là sự kết hợp của những thuộc tính liên quan đến kiếnthức, KN, thái độ và trách nhiệm Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò hỗ trợ của e-learning trong việc phát triển NL, đồng thời chỉ ra rằng e-learning là sự kết hợp giữathư điện tử, MVT và kĩ thuật học tập để phát triển kiến thức mới và/hoặc KN của cánhân hay nhóm HT Các tính năng chính của nó có thể được tóm tắt trong ba yếu tốnhư sau: 1) tính linh hoạt về thời gian và không gian, 2) sự tương tác giữa GV và HShoặc giữa HS với nhau, 3) sử dụng CNTT nhằm hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập.Khi so sánh đặc điểm giữa đào tạo thông qua e-learning và lớp học thông thường,Cabrero (2006) nêu bật tính linh hoạt của quá trình học tập, xây dựng kiến thức và sựsẵn có của các công cụ sư phạm trong môi trường ảo Carmenado cũng khẳng địnhlàm việc theo nhóm ảo là một trong những yếu tố thiết thực sáng tạo nhất nhằm gópphần phát triển NLHT của HS Nó cho phép HS học tập, NC và giao tiếp với nhauhoàn toàn trên môi trường ảo được tạo ra trên MVT có kết nối mạng Internet Mộtkhía cạnh quan trọng khác của cách tiếp cận theo PP luận này là hệ thống đánh giá.Trong NC, Carmenado đưa ra hai yếu tố được xem là có liên quan đến sự phát triểnNL: Đánh giá liên tục giữa GV – HS và tự đánh giá Đánh giá liên tục, được hiểu làquá trình đánh giá thực hiện bởi các GV dành cho HS, đây được coi là việc giám sáttất cả các hoạt động của HS (bảng điểm, trả lời các câu hỏi, báo cáo bài tập về nhà,việc hoạt động nhóm: Xem xét chất lượng và tính liên tục của sự đóng góp) Quátrình tự đánh giá dựa trên kinh nghiệm cá nhân và kiến thức liên quan, đánh giá như

Trang 31

vậy diễn ra thường xuyên giữa các thành viên trong nhóm HT Cuối cùng, qua NCnày có thể kết luận rằng việc học tập, thiết kế và thực hiện các chủ đề với sự hỗ trợcủa e-learning sẽ mở ra một không gian mới cho sự phát triển NLHT và một chiếnlược học tập mới, trong đó, HS đóng vai trò tích cực, cho phép các kiến thức đượctiếp nhận theo hai cách: Thông qua trí tuệ và các kinh nghiệm bản thân Tuy nhiên,tác giả vẫn chưa quan tâm đến các tiêu chí cũng như công cụ đánh giá NLHT và vẫnchưa có quy trình tổ chức DH cụ thể nhằm góp phần phát triển NLHT cho HS với sự

web mở ra cơ hội để HS làm việc nhóm và cùng nhau tạo ra các sản phẩm, từ đógóp phần phát triển NLHT Học tập HT dựa trên web là một hình thức giáo dục sửdụng CNTT và truyền thông trực tuyến nhằm tạo ra mối liên hệ giữa HS - HS, HS -

GV, nền tảng giáo dục và tài nguyên giáo dục Nguyên tắc trong học tập HT dựatrên web là việc cho phép sự tương tác giữa các cá nhân thông qua công cụ trìnhduyệt web trở nên thuận tiện hơn GV đưa ra các nhiệm vụ học tập hoặc những vấn

đề liên quan đến kiến thức bài học cho HS và yêu cầu HS làm việc nhóm nhằm giảiquyết những vấn đề đó, điều này giúp tăng hiệu suất làm việc của HS Các cá nhân

có thể thực hiện nhiệm vụ thông qua giao tiếp bằng văn bản, âm thanh và videobằng cách sử dụng phương tiện Internet Trong môi trường học tập này HS và GV

có điều kiện thể hiện bản thân tốt hơn khi so sánh với việc học tập thông thường Cóthể thấy, nhóm NC đánh giá cao vai trò của việc sử dụng MVT, đặc biệt là công cụtrình duyệt web trong việc tổ chức DH theo hướng phát triển NLHT, tuy nhiên, vẫnchưa đề cập tới những biện pháp cụ thể nhằm góp phần hình thành và phát triểnNLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT [55]

Tác giả Ali Farhan AbuSeileek (2012) với công trình NC Hiệu quả của PP học tập HT với sự hỗ trợ của MVT và quy mô nhóm đối với thành tích học tập ngoại

Trang 32

ngữ trong kĩ năng giao tiếp (The effect of computer-assisted cooperative learning methods and group size on the EFL learners’ achievement in communications kills)

đã phân chia cách thức tổ chức lớp học thành các loại khác nhau: Cả lớp, nhóm và

cá nhân Ông khẳng định rằng học tập theo nhóm hoặc học tập HT là PPDH được

sử dụng rộng rãi nhất và đạt được nhiều thành công Nghiên cứu của Ali FarhanAbuSeileek dựa trên nhóm nhỏ từ 2 đến 7 thành viên Ưu điểm của học tập theonhóm nhỏ là nó khuyến khích HS cởi mở bản thân hơn để có những trải nghiệmmới, thúc đẩy HS tham gia thảo luận, cung cấp nguồn ý tưởng và đóng góp cho sựphát triển của chung của nhóm Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra một số khó khăn choviệc học tập theo nhóm, như: Một số thành viên trong nhóm đôi khi không làm gì,

vì vậy, sản phẩm cuối cùng của cả nhóm không đại diện cho sự đóng góp của tất cảcác thành viên, hoặc một vài thành viên trong nhóm làm tất cả mọi thứ, điều đó cóthể ngăn cản những người khác tham gia Học tập theo nhóm nhỏ đôi khi có thểthúc đẩy chủ nghĩa cá nhân và sự cạnh tranh lẫn nhau chứ không phải HT Một số

HS có thể miễn cưỡng chia sẻ ý kiến hoặc ngại viết ra suy nghĩ của mình vì họ sợlàm lỗi hoặc gây ra tranh luận NC này của AbuSeileek giới thiệu PP học tập HTtheo nhóm nhỏ và kĩ thuật để tránh những vấn đề này Trong NC, MVT được sửdụng để hỗ trợ cho quá trình HS trao đổi lẫn nhau, đồng thời, toàn bộ HS đều khôngbiết danh tính người mình đang trao đổi, mặc dù thực tế là họ ngồi trong cùng mộtlớp học, họ không thể nhận ra nhau khi trò chuyện Như vậy, việc áp dụng điều nàyvào DH nhóm có thể làm giảm lo âu của HS bắt nguồn từ những cuộc tranh luận.Môi trường trên MVT cũng khuyến khích các HS nhút nhát tự ý thức được bản thân

và quan tâm hơn đến công việc trong một môi trường không bị đe dọa khi danh tínhcủa các em không được tiết lộ Sau những bài kiểm tra, có thể rút ra kết luận rằnghoạt động nhóm nhỏ khi không tiết lộ danh tính thì HS đạt kết quả học tập tốt hơn

so với khi tiết lộ; các em trở nên cởi mở hơn, tham gia tích cực hơn trong hoạt độngchung của cả nhóm, nhất là đối với một số em có xu hướng nhút nhát, ít thể hiện.Tuy không trực tiếp nhắc đến NLHT nhưng NC này đã cho thấy mức độ hiểu quảcủa việc sử dụng MVT trong DH theo nhóm thông qua việc cải thiện được chất

Trang 33

lượng học tập của HS, điều đó góp phần khẳng định vai trò của MVT trong việc DHtheo định hướng phát triển NLHT cho HS [52].

Tại hội nghị quốc tế về NC giáo dục (CY-ICER), năm 2013, tác giả IlonaSemradova và Sarka Hubackova đưa ra những điều kiện tiên quyết cần phải có choviệc phát triển NL giao tiếp và rèn luyện những KN giao tiếp (communicationskills) nhằm góp phần phát triển NL giao tiếp (communicative competences) Nhóm

NC đã ứng dụng CNTT và truyền thông vào các bài tập và nhiệm vụ không chỉnhằm vào hoạt động của bán cầu não trái (ảnh hưởng tới khả năng phân tích, mô tả,

tư duy logic,…) mà còn kích thích bán cầu phải (cho phép khả năng tổng hợp, hiểuđược tổng thể một vấn đề nhất định, khám phá ý nghĩa của vấn đề đó, chịu tráchnhiệm cho các quá trình cảm xúc và trực giác,…) thông thường bị lãng quên hay bỏqua hoàn toàn Qua quá trình NC, Semradova khẳng định rằng: Việc DH không thể

bỏ qua những kinh nghiệm, nhận thức của con người; trường hợp sử dụng CNTT vàtruyền thông trong học tập, KN giao tiếp có liên quan đến sự phát triển nhân cáchcủa con người, điều này không chỉ giúp phát triển NLHT mà còn nâng cao KN sửdụng các thiết bị điện tử, nâng cao NL ứng dụng CNTT và truyền thông Đóng gópchính của đề tài là tác giả đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng CNTT

và truyền thông trong DH các môn học để rèn luyện KN giao tiếp và HT cho HS.Tuy nhiên, tác giả chỉ chú trọng đến việc khai thác các chức năng của MVT trong

DH nói chung với mục đích rèn luyện những KN giao tiếp nhằm góp phần pháttriển NL giao tiếp, mà chưa thấy đề cập đến các biện pháp cụ thể nhằm bồi dưỡngNLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT trong DH bộ môn Vật lí [66]

Cũng với ý tưởng đưa hệ thống công nghệ DH hiện đại vào trường học,nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực với đầy đủ kiến thức, KN, thái độ, phẩm chất xãhội, đảm bảo sự thành công của HS sau khi tốt nghiệp trong điều kiện kinh tế xã hội

mới, Agadilov Asset và các cộng sự (2015) đã tiến hành NC mối liên hệ giữa Công nghệ DH hiện đại trong việc phát triển NL giao tiếp (Modern pedagogical technologies in communicative competence formation) Agadilov Asset nhân xét

rằng: Làm việc trong hệ thống giáo dục mới với nguồn GV giỏi về chuyên môn, có

NL sáng tạo và khả năng áp dụng khoa học công nghệ trong DH chính là chìa khóa

Trang 34

mấu chốt cho sự thành công của nền giáo dục hiện đại Đề tài này đã chỉ ra việckhai thác và sử dụng các chức năng của MVT là một xu hướng tích cực, mang lạihiệu quả đáng kể trong DH và phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, tuynhiên, chưa đi vào phân tích cụ thể sự ảnh hưởng của MVT đối với việc phát triểnNLHT cho HS [53].

Như vậy, qua tìm hiểu về việc tổ chức DH theo định hướng phát triển NLHT

có sự hỗ trợ của MVT đã cho thấy các tác giả đều đánh giá cao vai trò của việc sửdụng MVT trong việc tổ chức DH nhằm góp phần hình thành và phát triển NLHT.Tuy nhiên, các chức năng của MVT chỉ được áp dụng vào việc DH nói chung màchưa đề cập một cách rõ ràng đến việc hỗ trợ trong DH bộ môn Vật lí nhằm bồidưỡng NLHT cho HS, chưa có một quy trình cụ thể, rõ rệt cho việc tổ chức DHnhằm góp phần phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ của MVT trong DH Vật lí.Ngoài ra, các biện pháp tổ chức rèn luyện KN HT có sự hỗ trợ của MVT được xâydựng dựa trên đặc điểm tâm sinh lý của HS của các nước phát triển, có điều kiện cơ

sở vật chất đầy đủ, khác biệt với đặc điểm tâm sinh lý của HS cũng như điều kiệnkinh tế xã hội tại Việt Nam Do đó, nếu muốn áp dụng, phát triển các NC này tạiViệt Nam hoặc tiến hành những NC mới thì đặc điểm tâm sinh lý của HS và điềukiện kinh tế xã hội của đất nước cần được quan tâm, tìm hiểu và vận dụng một cáchhợp lý

1.2.2 Các kết quả nghiên cứu ở trong nước

Hiện nay, giáo dục HT được NC và ứng dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia ỞViệt Nam, các NC về việc tổ chức DH theo định hướng phát triển NLHT có sự hỗtrợ của MVT được nhiều nhà NC giáo dục quan tâm tìm hiểu

Trong luận án tiến sĩ Dạy học theo hướng phát triển kĩ năng học tập HT cho sinh viên đại học sư phạm, tác giả Nguyễn Thị Thanh (2013) đưa ra khái niệm HT

và phát triển KN học tập HT như sau: Phát triển KN học tập HT là quá trình biếnđổi, tăng tiến các KN học tập HT của HS, sinh viên từ mức độ thấp đến mức độ cao,

từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện làm cho việc học tập trở nên có hiệu quả Pháttriển KN học tập HT biểu hiện sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kĩthuật học tập của HS, sinh viên trong nhóm, làm cho việc học tập ngày càng hoàn

Trang 35

thiện có kết quả tốt hơn Phát triển KN học tập HT là kết quả của quá trình sinh viênthường xuyên học tập với nhau, có ý thức về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗtrợ nhau, cộng tác với nhau, tương tác lẫn nhau, tạo ra tính tích cực, hứng thú họctập đưa đến kết quả học tập ngày càng cao Quá trình DH có mục tiêu hình thành

NL hoạt động cho HS, sinh viên, trong đó phát triển KN học tập HT là một hướng

đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế DH hiện đại Bên cạnh đó, kế thừa cáccông trình NC của các tác giả trong và ngoài nước, cùng với việc phân tích đặcđiểm học tập của sinh viên đại học sư phạm, Nguyễn Thị Thanh đề xuất 4 nhóm KNhọc tập HT cần phát triển cho sinh viên như sau: “Nhóm KN xác lập vị trí của cánhân trong hoạt động nhóm, nhóm KN biểu đạt và tiếp nhận thông tin học tập,nhóm KN xây dựng và duy trì bầu không khí thân thiện tin tưởng lẫn nhau, Nhóm

KN giải quyết những bất đồng” Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất quy trình và 4nhóm biện pháp DH nhằm góp phần phát triển KN học tập HT, đồng thời cũng nhấnmạnh rằng việc ứng dụng những tiến bộ của CNTT vào DH giúp GV và sinh viênthiết lập hệ thống, khai thác, trao đổi thông tin qua mạng Internet bằng cách GV xâydựng website chứa đựng các trang phục vụ cho giảng dạy, trao đổi, khai thác như:Tài liệu, giáo trình; hướng dẫn học tập; diễn đàn trao đổi,… nhằm rèn luyện, pháttriển cho sinh viên KN học tập HT qua mạng Internet và KN khai thác các trang

web phục vụ cho học tập Tuy nhiên, NC chỉ tập trung vào nhóm sinh viên đại học

sư phạm mà chưa quan tâm đến đối tượng là HS THPT [42].

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Linh (2014) cũng đã đưa ra khái niệm NLHT, pháttriển NLHT, đồng thời, xây dựng được hệ thống các KN HT và xây dựng quy trình

DH theo hướng phát triển NLHT cho HS Theo đó, phát triển NLHT là biểu hiệncủa sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kĩ thuật học tập của HS trongnhóm, làm cho việc học tập ngày càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn DH theohướng phát triển NLHT cho HS là quá trình DH, trong đó dưới sự chỉ đạo của ngườidạy (tổ chức, cố vấn, tham gia, kiểm tra, đánh giá, ), người học được chia thànhnhững nhóm nhỏ tích cực cùng nhau tiến hành các hành động HT học tập để hoànthành nhiệm vụ học tập, qua đó vừa nhận ra được kiến thức, vừa hình thành các KNhọc tập HT và hình thành thái độ nghiêm túc, biết phối hợp, chia sẻ hỗ trợ nhau

Trang 36

trong nhóm DH theo hướng phát triển NLHT phải thực hiện các yêu cầu cơ bảnsau: Tạo dựng được sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; đảm bảo sự tương tác,

hỗ trợ giữa các cá nhân trong nhóm; HS có trách nhiệm cá nhân cao; quan tâm đến

sự phát triển các KN học tập HT; có phản hồi và điều chỉnh trong DH Qua đó cóthể thấy điểm nổi bật của đề tài này, đó là tác giả đã xây dựng được hệ thống các

KN HT và xây dựng quy trình DH theo hướng phát triển NLHT cho HS, đồng thờigiúp HS HT với sự hỗ trợ CNTT bằng cách hướng dẫn các em khai thác và trao đổicác thông tin qua các trang web giáo dục như thư viện điện tử, email, blog,facebook,… Hướng dẫn sử dụng các phần mềm trong thiết kế các bài tập hoạt độngnhóm, tổ chức cho HS trao đổi thông tin, học tập HT qua mạng Internet và sử dụngcác phần mềm trong việc thiết kế nội dung bài tập của nhóm mình Tuy nhiên, NCchỉ tập trung vào việc phát triển NLHT cho HS trong DH bộ môn Toán mà chưa đềcập đến việc DH theo hướng phát triển NLHT cho HS trong DH bộ môn Vật lí [32]

Đối với tác giả Nguyễn Huy Cường (2017) việc sử dụng CNTT và truyềnthông trong DH sẽ góp phần phát triển NL giao tiếp, hòa nhập và HT thông quanhững hoạt động nhóm của HS Nhờ các công cụ đa phương tiện (multimedia) củaMVT, GV sẽ xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung người học, dễdàng thể hiện được các PP sư phạm: PPDH tình huống, PPDH nêu vấn đề,… Bêncạnh đó, thông qua các phần mềm thông dụng của MVT, HS cũng có thể tìm kiếmthông tin khổng lồ trên mạng Internet, tìm hiểu, xây dựng sản phẩm bài giảng về nộidung kiến thức và trình bày với sự hỗ trợ của các phương tiện, công cụ của CNTT

và truyền thông Quá trình nhóm HS chuẩn bị tài liệu sẽ phải tìm hiểu nhiều nguồnthông tin đa dạng trên sách và trên Internet như tranh ảnh hay video, lưu trữ và khaithác các thông tin này để xây dựng bài báo cáo Nhóm HS có thể sử dụng các phầnmềm trình chiếu như Powerpoint và một số phần mềm chuyên dụng để làm cho bàibáo cáo trở nên sinh động, trực quan và thu hút sự tập trung của người nghe Ngoài

ra, nhóm HS có thể sử dụng các trang mạng xã hội, email để trao đổi thông tin vớicác thành viên khác một cách nhanh chóng, hiệu quả trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ Như vậy, sau khi thực hiện những vấn đề trên thì việc tổ chức hoạt động

Trang 37

DH sẽ giúp rèn luyện các KN của NL CNTT và truyền thông, đồng thời, góp phầnhình thành và phát triển NL giao tiếp, HT của HS trong học tập [7].

Ứng dụng CNTT vào DH là một yêu cầu cấp bách trong bối cảnh bùng nổcông nghệ như hiện nay, vì vậy, đã có nhiều công trình NC về vấn đề này Các nhà

NC đều cho rằng, việc ứng dụng CNTT vào DH là một biện pháp hữu ích nhằmnâng cao hiệu quả DH, gia tăng hứng thú học tập cho HS, hỗ trợ tích cực trong côngtác giảng dạy Thông qua việc ứng dụng CNTT, HS sẽ hình thành và phát triểnNLHT, NL tự học, NL CNTT và truyền thông,… Xây dựng được những quy trình,tiến trình trong việc sử dụng MVT, sử dụng những phương tiện hiện đại trongQTDH nhằm góp phần phát triển NL cho HS Những kết quả NC nêu trên đã đượctrình bày trong các đề tài NC của các tác giả Lê Công Triêm, Nguyễn Thanh Hải,Trần Huy Hoàng, Lê Đình Hiếu, Lê Thành Tâm [14], [18], [20], [41], [48]

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy các NC đều nhấn mạnh vai trò việc

HT tạo ra những thành công trong học tập, tăng cường khả năng tư duy phê phán,tăng cường thái độ tích cực với các môn học, nâng cao NLHT của HS, tạo tâm lílành mạnh, phát triển và hòa nhập xã hội, Như vậy, việc bồi dưỡng NLHT trongtrường học là rất quan trọng và mỗi môn học sẽ phải góp phần phát triển NL chongười học thông qua quá trình tổ chức DH bộ môn

Tóm lại, trong những NC nêu trên, đa số các tác giả đều cho rằng MVT giúpnâng cao hiệu quả DH, gia tăng hứng thú học tập cho HS, hỗ trợ tích cực trong việctrao đổi, HT giữa GV với HS và giữa HS với nhau, từ đó, góp phần phát triểnNLHT cho HS Tuy nhiên cho đến nay, các công trình NC về DH phát triển NLHT

Trang 38

1 Các NC về việc phát triển NL và phát triển NLHT cho HS được ứng dụngrộng rãi ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, một số kết quả NC chưa phù hợp với điều kiện

cơ sở vật chất, chương trình giáo dục, nhiệm vụ học tập và đặc điểm tâm sinh lý của

HS Việt Nam Cần có nhiều hơn nữa những NC gắn liền với thực tiễn tại Việt Namnhằm đưa những vấn đề liên quan ở trên áp dụng vào giảng dạy và học tập

2 Các công trình trong và ngoài nước về việc tổ chức DH theo định hướngphát triển NLHT có sự hỗ trợ của MVT đã đạt được những kết quả nhất định Đa sốđều cho rằng MVT giúp nâng cao hiệu quả DH, gia tăng hứng thú học tập cho HS,

hỗ trợ tích cực trong việc trao đổi, HT giữa GV với HS và giữa HS với nhau, từ đó,góp phần bồi dưỡng NLHT cho HS Tuy nhiên cho đến nay, các công trình NC về

DH phát triển NLHT có sự hỗ trợ của MVT trong DH Vật lí vẫn còn rất ít, nhìn mộtcách tổng thể các NC chỉ dừng lại ở lý luận chung về phát triển NLHT mà chưa NCmột cách chuyên sâu đến từng chức năng hỗ trợ của MVT nhằm góp phần hìnhthành và phát triển NLHT cho HS

3 Từ những vấn đề được nêu trên, có thể xác định một số nhiệm vụ NC cụthể như sau:

- NC làm rõ khái niệm về NL, NLHT, cấu trúc NLHT, các tiêu chí đánh giáNLHT của HS, DH theo định hướng phát triển NLHT

- Điều tra thực trạng về việc phát triển NLHT cho HS THPT với sự hỗ trợ củaMVT trong DH Vật lí, từ đó, xây dựng các biện pháp, đề xuất và áp dụng quy trình tổchức hoạt động DH theo định hướng phát triển NLHT cho HS với sự hỗ trợ củaMVT

- NC nội dung, cấu trúc chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí lớp 10

- Thiết kế và sử dụng các tiến trình DH theo hướng phát triển NLHT cho HSvới sự hỗ trợ của MVT trong DH chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí lớp 10

- Tiến hành TNSP nhằm đánh giá mức độ phù hợp, tính khả thi và hiệu quảcủa đề tài NC

Trang 39

Chương 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Năng lực hợp tác

2.1.1 Năng lực

Đề cập đến NL, đã có nhiều nhà NC đưa ra những quan niệm và cách trình bàykhác nhau bằng sự lựa chọn dấu hiệu khác nhau Có thể phân làm hai nhóm chính:

* Nhóm lấy tố chất về tâm lý làm dấu hiệu

Theo Đinh Quang Báo và các cộng sự, “Năng lực là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” [2].

Theo John Erpenbeck, “Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” [59].

* Nhóm lấy các yếu tố tạo thành khả năng hành động làm dấu hiệu

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa

ra, NL được hiểu như sau: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, KN và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin,

ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [6].

Tác giả Lê Đình, Trần Huy Hoàng khẳng định: “NL của một người trong một lĩnh vực nào đó không phải tự nhiên mà có, mà phần lớn là do công tác, do luyện tập mới có được” [10].

Ngoài ra, những nhận định tương tự như trên về NL cũng được nhiều tác giả

đề cập đến như Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Công Khanh, Phạm Thị Phú, NguyễnLâm Đức, [4], [28], [63]

Trên cơ sở phân tích nội hàm các khái niệm NL nêu trên, trong luận án này,

NL được hiểu là một thuộc tính của cá nhân được hình thành và phát triển dựa trên

tố chất sẵn có kết hợp với quá trình học tập, rèn luyện thông qua sự huy động tổng

Trang 40

hợp kiến thức, KN, thái độ, động cơ để có thể giải quyết hiệu quả yêu cầu đặt ra trong các tình huống cụ thể

2.1.2 Hợp tác

Việc HT cùng nhau tiến bộ đã trở thành xu hướng tất yếu của xã hội hiện nay,

do đó, cần hiểu rõ khái niệm và cách thức HT hiệu quả để có thể phát huy tối đanhững tiềm năng sẵn có trong mỗi con người

Theo từ điển tiếng Việt, “HT là cùng chung sức giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” [51].

Trong luận án tiến sĩ “phát triển KN DH HT cho GV trung học cơ sở”, tác giả

Nguyễn Thành Kỉnh cho rằng: “Khái niệm HT được hiểu là sự tự nguyện của các cá nhân cùng nhau làm việc một cách bình đẳng trong một tập thể (nhóm) Các thành viên trong nhóm tiến hành hoạt động nhằm mục đích và lợi ích chung, đồng thời đạt được mục đích và lợi ích riêng của mỗi thành viên trên cơ sở nỗ lực chung Hoạt động của từng cá nhân trong quá trình tham gia công việc phải tuân theo những nguyên tắc nhất định và có sự phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên trong nhóm” [29].

Bên cạnh đó, một số nhà NC cũng có đồng quan điểm nêu trên như NguyễnThị Quỳnh Phương, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thanh,… [38], [17], [42]

Trong luận án này, có thể hiểu khái niệm HT như sau: HT là quá trình tương tác xã hội, trong đó các thành viên hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở tin tưởng, bình đẳng, cùng có lợi nhằm hoàn thành công việc được giao một cách hiệu quả

2.1.3 Năng lực hợp tác

Theo tác giả Mai Văn Hưng (2013): “NLHT bao gồm: Sự đồng cảm, sự định hướng, sự phục vụ, khả năng biết cách tổ chức, khả năng phát triển người khác, khả năng tạo ảnh hưởng, KN giao tiếp, KN kiểm soát xung đột, KN lãnh đạo có tầm nhìn, khôn ngoan, những xúc tác để thay đổi, khả năng xây dựng các mối quan hệ, tinh thần đồng đội và sự HT với người khác trong các hoạt động nhận thức” [27].

Trong luận án tiến sĩ “Phát triển NLHT cho HS trung học cơ sở qua hoạt

động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, Lê Thị Minh Hoa (2015) khẳng định: “NLHT là

Ngày đăng: 15/12/2020, 07:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w