1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng tại chi cục quản lý đê điều và phòng chống lụt bão tỉnh hưng yên

102 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

50 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PCLB TỈNH HƯNG YÊN .... Xuất phát

Trang 1

L ỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu độc lập của bản thân tác giả Các số liệu và kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích

dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác gi ả luận văn

Nguy ễn Thị Hoàng Yến

Trang 2

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguy ễn Bá Uân đã trực tiếp

hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn Nhà trường, các thầy cô giáo trong trường Đại học Thủy lợi, Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, Tập thể lớp cao học 23QLXD22, các đồng nghiệp trong cơ quan, cùng gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tác giả trong

thời gian hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã cố gắng và nỗ lực rất nhiều nhưng do

những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảo nên luận văn

vẫn còn nhiều thiếu sót và khuyết điểm Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo

của các thầy cô và đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác gi ả luận văn

Nguy ễn Thị Hoàng Yến

Trang 3

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN 3

1.1 CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 3

1.1.1 Chất lượng sản phẩm 3

1.1.2 Quản lý chất lượng sản phẩm 8

1.2 SẢN PHẨM VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN 14

1.2.1 Sản phẩm xây dựng và đặc điểm của sản phẩm xây dựng 14

1.2.2 Các giai đoạn quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng 19

1.2.3 Nội dung quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trong giai đoạn thực hiện dự án 20

1.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU Ở NƯỚC TA 22

1.3.1 Thực trạng hệ thống đê điều 22

1.3.2 Tình hình quản lý chất lượng xây dựng hệ thống đê điều ở nước ta 24

1.3.3 Các sự cố đê điều ở nước ta 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 30

Trang 4

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 30

2.1.1 Dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng 30

2.1.2 Quản lý chất lượng dự án theo giai đoạn 33

2.1.3 Quản lý chất lượng dưới góc độ của các chủ thể 35

2.1.4 Các tiêu chí đáng giá công tác quản lý chất lượng dự án 38

2.1.5 Các mô hình và phương pháp quản lý chất lượng dự án 38

2.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU 40

2.2.1 Nhóm nhân tố chủ quan 40

2.2.2 Nhóm nhân tố khách quan 42

2.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PCLB TỈNH HƯNG YÊN 51

3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI CỤC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PCLB TỈNH HƯNG YÊN 51

3.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy 51

3.1.2 Chức năng nhiệm vụ 53

3.1.3 Một số dự án tiêu biểu do Chi cục quản lý 54

3.2 GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN.58 3.2.1 Hiện trạng hệ thống đê điều trên địa bàn tỉnh Hưng Yên……… ….58

3.2.2 Tình hình đầu tư, tu bổ xây dựng công trình đê điều 65

3.2.3 Tình hình sự cố đê điều 66

3.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG DO CHI CỤC LÀM CHỦ ĐẦU TƯ 68

3.3.1 Công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thiết kế……….……….68

3.3.2 Công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn lựa chọn nhà thầu 70

3.3.3 Công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công xây dựng 75

Trang 5

3.4 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT

LƯỢNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN TẠI CHI CỤC 76

3.4.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ làm công tác quản lý chất lượng dự án 77

3.4.2 Hoàn thiện quy trình và mô hình quản lý chất lượng 79

3.4.3 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thiết kế 86

3.4.4 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn lựa chọn nhà thầu 87

3.4.5 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công xây dựng 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

1 Kết luận 91

2 Kiến nghị 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

DANH M ỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Mô hình hóa các yếu tố của chất lượng tổng hợp 4

Hình 1.2 Sơ đồ đảm bảo chất lượng 13

Hình 1.3 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án đầu tư XDCT 19

Hình 1.4 Bản đồ hệ thố ng đê sông Hồ ng, sông Thái Bình 22

Hình 2.1 Sự phát triển của các mục tiêu và chủ thể tham gia dự án ĐTXD 31

Hình 2.2 Vòng đời của một dự án đầu tư xây dựng 34

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý đê điều tỉnh Hưng Yên 51

Hình 3.2 Đê tả sông Hồng thành phố Hưng Yên 58

Hình 3.3 Kè Phú Hùng Cường, thành phố Hưng Yên………60

Hình 3.4 Đê tả sông Luộc 62

Hình 3.5 Điếm canh đê 63

Hình 3.6 Hình ảnh vết nứt tại tim đê tháng 01/2017 67

Hình 3.7 Các giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ… 76

Hình 3.8: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục Quản lý đê điều và PCLB tỉnh Hưng Yên 77

Hình 3.9 Quy trình Quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện dự án 80

Trang 7

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Danh sách các dự án trọng điểm thời gian qua 55

Trang 8

DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 9

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Hưng Yên là tỉnh thuộc vùng Châu thổ sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm

Bắc Bộ, là cửa ngõ phía Đông của thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình và Hà Nam Nằm trên trục đường bộ, đường sắt, đường thuỷ Hà

Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cách cảng biển quốc tế Hải Phòng 70 km và sân bay

quốc tế Nội Bài 60 km, cùng với mạng lưới giao thông bao gồm: quốc lộ 5A, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường nối đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ và cao tốc

Hà Nội – Hải Phòng, quốc lộ 39A, quốc lộ 39B, quốc lộ 38 tạo ra hệ thống giao thông thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội, giao lưu với các tỉnh trong nước và các nước trong khu vực

Kể từ khi tách tỉnh năm 1996 tới nay, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, chính quyền và nhân dân Hưng Yên đã nỗ lực rất lớn trong việc tận dụng tối đa các nguồn

lực của địa phương và Trung ương để đầu tư hàng trăm công trình thủy lợi, đê điều lớn

và nhỏ trong phạm vi toàn tỉnh điển hình như Dự án đầu tư xây dựng củng cố, nâng

cấp đê tả sông Hồng tỉnh Hưng Yên, giúp tăng cường khả năng chống lũ, an toàn ổn định cho đê điều, bảo vệ tính mạng tài sản cho hàng triệu nhân dân thuộc các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và một phần thủ đô Hà Nội

Tuy nhiên, khi lượng công trình đê điều được triển khai nhiều với tổng mức đầu tư

mỗi công trình từ vài chục tỷ đến hàng trăm tỷ thì công tác quản lý chất lượng các công trình là một khó khăn với một tỉnh mới thành lập như Hưng Yên Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là do trình độ quản lý chất lượng dự án của chủ đầu tư trong quá trình quản lý dự án nói chung, trong giai đoạn thực hiện dự án nói riêng

Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục Quản

lý đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên” để tìm hiểu, nghiên cứu và đề

xuất giải pháp khắc phục những tồn tại, tăng cường công tác quản lý chất lượng các dự

án xây dựng tại Chi cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên là cần thiết và có tính thực tiễn cao

Trang 10

2 M ục đích nghiên cứu đề tài

Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục Quản lý đê điều và PCLB tỉnh Hưng Yên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu xây dựng do Chi

cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên làm chủ đầu tư và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác này

b Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện các dự

án đầu tư xây dựng và những nhân tố ảnh hưởng

- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý chất lượng

dự án tại các dự án do Chi cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên làm chủ đầu tư

- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thực tiễn dùng trong phân tích đánh giá được thu

thập từ các năm từ 2010 - 2015, các giải pháp được đề xuất cho đến năm 2020

4 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận lý luận kết hợp với thực tiễn, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên

cứu sau đây để giải quyết vấn đề:

- Phương pháp điều tra khảo sát thu thập số liệu;

- Phương pháp thống kê;

- Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy;

- Phương pháp phân tích so sánh, phân tích tổng hợp;

- Phương pháp hệ thống hóa

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY D ỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN

1.1.1 Chất lượng sản phẩm

1.1.1.1 Các quan niệm về chất lượng sản phẩm

Khái niệm chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Tuy nhiên, chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi, do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu về “chất lượng” tùy theo đối tượng sử dụng cũng có ý nghĩa khác nhau

Đầu tiên, quan điểm Siêu Việt cho rằng: “Chất lượng được định nghĩa là sự đạt một mức độ hoàn hảo, mang tính chất tuyệt đối Chất lượng là một cái gì đó cho người ta nghĩ đến một sự hoàn mỹ nhất, cao nhất” [1] Quan điểm này chứa đựng tính chủ quan, cục bộ, nặng định tính và chưa định lượng được chất lượng, chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết, khả năng áp dụng không cao

Thứ hai, quan điểm xuất phát từ nhà quản lý: “Chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị

sử dụng của nó” [1] Quan điểm này ở chừng mực nào đó sát với thực tế sản xuất kinh doanh nhưng không thể thỏa mãn được các điều kiện về kinh doanh và cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay

Thứ ba, quan điểm xuất phát từ nhà sản xuất: “Chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, những yêu cầu về kinh tế - kỹ thuật đã được đặt ra từ trước ở khâu thiết kế sản phẩm” [1] Quan điểm này có 02 bất cập là đề cao yếu tố công nghệ trong quá trình sản xuất mà quên đi sự đánh giá của người tiêu dùng và có

thể làm sản phẩm bị tụt hậu không đáp ứng được nhu cầu thị trường trong thế giới mà

nền khoa học công nghệ phát triển rất nhanh và mạnh mẽ

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn

về chất lượng sản phẩm Khái niệm về chất lượng sản phẩm này phải thực sự xuất phát

Trang 12

từ hướng người tiêu dùng Theo quan điểm xuất phát từ người tiêu dùng: “ Chất lượng

là sự phù hợp một cách tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng” [2] Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hàng hóa (ISO-International Organization Standardization) đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một

thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu cụ thể hoặc tiềm ẩn” [2]. Định nghĩa này thể hiện sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại khách quan của

sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng Do đáp ứng được thực tế nên định nghĩa này hiện nay được chấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinh doanh

quốc tế

Tóm lại, chất lượng sản phẩm dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau, dựa trên các cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có một điểm chung nhất, có thể nói là cốt lõi nhất

đó là “sự phù hợp với yêu cầu” Là các yêu cầu của khách hàng, các yêu cầu mang tính

kỹ thuật, kinh tế và tính pháp lý Như vậy, cần phải xem xét chất lượng sản phẩm trong một thể thống nhất, cần phải hiểu khái niệm về chất lượng một cách có hệ thống,

mới đảm bảo cách nhìn nhận đầy đủ nhất và hoàn thiện nhất về chất lượng Từ đó hình thành khái niệm về chất lượng tổng hợp: “Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu

cầu và là vấn đề tổng hợp” [1], chất lượng chính là sự thoả mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện: tính năng của sản phẩm và dịch vụ đi kèm, giá cả phù hợp, thời hạn giao hàng cùng với tính an toàn và độ tin cậy của sản phẩm

Hình 1.1 Mô hình hóa các yếu tố của chất lượng tổng hợp [1]

Trang 13

1.1.1.2 Các thuộc tính của chất lượng sản phẩm

Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính có giá trị sử dụng khác nhau, mỗi thuộc tính chất lượng của sản phẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Các thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo ra một mức chất lượng nhất định của sản phẩm 08 thuộc tính chung nhất phản ánh chất lượng sản phẩm [2] bao gồm:

- Thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh tính công dụng, chức năng của sản phẩm được quy

định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và đặc tính về cơ, lý, hoá của sản phẩm;

- Các yếu tố thẩm mỹ: Đặc trưng cho sự truyền cảm, hợp lý về hình thức, dáng vẻ, kết

cấu, kích thước, tính cân đối, màu sắc, trang trí và tính thời trang;

- Tuổi thọ của sản phẩm: Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm giữ được

khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định Tuổi thọ là một yếu tố quan trọng trong quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng;

- Độ tin cậy của sản phẩm: Là một trong những yếu tố quan trọng nhất phản ánh chất

lượng của một sản phẩm và đảm bảo cho tổ chức có khả năng duy trì và phát triển thị trường của mình;

- Độ an toàn của sản phẩm: Những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng, vận hành sản phẩm,

an toàn đối với sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường là yếu tố tất yếu, bắt buộc phải

có đối với mỗi sản phẩm;

- Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm: Là yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất phải tuân

thủ khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường;

- Tính kinh tế của sản phẩm: Thể hiện khi sử dụng sản phẩm ít tiêu hao nguyên liệu,

năng lượng Yếu tố này hiện trở nên rất quan trọng phản ánh chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường

- Tính tiện dụng của sản phẩm: Phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận

chuyển, bảo quản, dễ sử dụng và khả năng thay thế của sản phẩm khi bị hỏng;

Trang 14

1.1.1.3 Phân loại chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm bao gồm 06 loại [2]: chất lượng thiết kế, chất lượng chuẩn, chất lượng thực tế, chất lượng cho phép, chất lượng tối ưu và chất lượng toàn phần

- Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sản phẩm

được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để sản xuất Chất lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các yêu cầu về vật liệu chế tạo,

những yêu cầu về gia công, sản xuất, yêu cầu về bảo quản, về thử nghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng Chất lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính sách

nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết với nhu cầu thị trường, còn thực tế có đạt được điều đó hay không thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

- Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được phê duyệt

trong qúa trình quản lý chất lượng Người quản lý là các cơ quan quản lý mà chính họ

là người có quyền phê duyệt Sau khi phê chuẩn rồi thì chất lượng này trở thành pháp

lệnh, văn bản pháp quy

- Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm và nó

thể hiện sau quá trình sản xuất và trong quá trình sử dụng sản phẩm

- Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng chuẩn và chất

lượng thực tế của sản phẩm Chất lượng cho phép do cơ quan quản lý chất lượng sản

phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế, hợp đồng giữa đôi bên quy định

- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều

kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất Nó nói lên mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí

- Chất lượng toàn phần: thể hiện mức tương quan giữa hiệu quả có ích cho sử dụng

sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản xuất và sử dụng sản phẩm đó

1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm gồm 02 nhóm [2]: nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài

a Nhóm nhân tố bên trong

Trang 15

Trong phạm vi một tổ chức có 04 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (hay còn được gọi là quy tắc 4M), đó là:

- Con người (men): Nhóm yếu tố con người bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ

công nhân viên trong một đơn vị và người tiêu dùng Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm Dù trình độ công nghệ có hiện đại đến đâu, nhân

tố con người vẫn được coi là nhân tố căn bản nhất tác động đến hoạt động quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm

- Phương pháp (methods): Phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ

chức sản xuất của tổ chức Một tổ chức nếu nhận thức được rõ vai trò của chất lượng trong cuộc chiến cạnh tranh thì tổ chức đó sẽ có đường lối, chiến lược kinh doanh đúng đắn, quan tâm đến vấn đề chất lượng Trên cơ sở đó, các cán bộ quản lý tạo ra sự

phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu, các yếu tố của quá trình sản xuất nhằm

mục đích cao nhất là hoàn thiện chất lượng sản phẩm Vì vậy, chất lượng của hoạt động quản lý chính là sự phản ánh chất lượng hoạt động của doanh nghiệp

- Máy móc thiết bị (machines): máy móc, công nghệ và kỹ thuật sản xuất luôn là một

trong những yếu tố cơ bản có tác động mạnh mẽ nhất đến chất lượng sản phẩm, nó quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm Trình độ công nghệ, máy móc, thiết

bị có tác động rất lớn trong việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động Nhiều doanh nghiệp đã coi công nghệ là chìa khoá của

sự phát triển

- Nguyên vật liệu (materials): Nguyên vật liệu là nhân tố trực tiếp cấu thành sản phẩm,

tính chất của nguyên vật liệu quyết định trực tiếp đến tính chất của sản phẩm Nên chú

ý rằng không phải là từng loại mà là tính đồng bộ về chất lượng của các nguyên vật

liệu tham gia vào quá trình sản xuất đều tác động đến chất lượng sản phẩm Ngày nay,

việc nghiên cứu, phát hiện và chế tạo các nguyên vật liệu mới ở từng doanh nghiệp

dẫn đến những thay đổi quan trọng về chất lượng sản phẩm

b Nhóm nhân tố bên ngoài

- Nhu cầu của nền kinh tế: Chất lượng sản phẩm chịu sự chi phối bởi các điều kiện cụ

thể của nền kinh tế được thể hiện ở các mặt: nhu cầu của thị trường, trình độ kinh tế,

khả năng cung ứng của sản xuất, chính sách kinh tế của nhà nước

Trang 16

- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật: trong thời đại ngày nay trình độ chất lượng của

bất cứ sản phẩm nào cũng gắn liền và chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật Đặc biệt là sự ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giúp chu kỳ công nghệ sản phẩm được rút ngắn, công dụng sản phẩm ngày càng phong phú, đa

dạng

- Hiệu lực quản lý: khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức

phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi đất nước Hiệu quả quản lý nhà nước

là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản suất, đảm bảo uy tín, quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng

1.1.2 Quản lý chất lượng sản phẩm

1.1.2.1 Các quan niệm về quản lý chất lượng

Nếu mục đích cuối cùng của chất lượng là thoả mãn nhu cầu khách hàng, nhu cầu người tiêu dùng thì quản lý chất lượng là tổng thể các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, hành chính tác động lên toàn bộ quá trình hoạt động của mọi tổ chức để đạt được mục đích đó với chi phí xã hội thấp nhất Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào sự nhìn nhận khác nhau

của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu quản lý chất lượng mà có những quan điểm khác nhau

Theo chuyên gia người Anh, A.G.Robertson: Quản lý chất lượng được xác định như là

một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của

những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế,

sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả tốt nhất, đối tượng cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng [2]

Theo chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật Bản Giáo sư,

tiến sĩ Kaoru Ishikawa: Quản lý chất lượng sản phẩm có nghĩa là nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng [2]

Trang 17

Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hàng hoá ISO 9000:2000 định nghĩa về quản lý

chất lượng: “Các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về

chất lượng”, thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng [2]

Tóm lại, bản chất của quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng

quản lý như: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh Nói cách khác, quản lý

chất lượng chính là chất lượng của quản lý Về cơ bản, mục tiêu trực tiếp của quản lý

chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu

1.1.2.2 Các chức năng của quản lý chất lượng

a Chức năng hoạch định

Hoạch định chất lượng là chức năng quan trọng hàng đầu và đi trước các chức năng khác của quản lý chất lượng Hoạch định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu, các phương tiện, nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sản

phẩm Nhiệm vụ của hoạch định chất lượng là:

- Nghiên cứu thị trường để xác định yêu cầu của khách hàng về sản phẩm hàng hóa

dịch vụ, từ đó xác định yêu cầu về chất lượng, các thông số kỹ thuật của sản phẩm

dịch vụ, thiết kế sản phẩm dịch vụ;

- Xác định mục tiêu chất lượng sản phẩm cần đạt được và chính sách chất lượng của doanh nghiệp;

- Chuyển giao kết quả hoạch định cho các bộ phận tác nghiệp;

- Hoạch định chất lượng có tác dụng: định hướng phát triển chất lượng cho toàn tổ

chức Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường Khai thác sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực và tiềm năng trong dài hạn góp phần làm giảm chi phí cho chất lượng

b Chức năng tổ chức

Tổ chức là quá trình thực hiện các hoạt động tác nghiệp sau khi đã có kế hoạch cụ thể

Để làm tốt chức năng tổ chức cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Trang 18

- Tổ chức hệ thống chất lượng Mỗi doanh nghiệp phải tự lựa chọn cho mình hệ thống

chất lượng phù hợp như TQM (Total Quanlity Management), ISO 9000 (International Standards Organization), HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Point System), GMP (Good Manufacturing Practive), Q-Base (tập hợp các kinh nghiệm

quản lý chất lượng đã được thực thi tại New Zealand), giải thưởng chất lượng Việt Nam,…

- Tổ chức thực hiện là hoạt động tiến hành các biện pháp kinh tế, hành chính, kỹ thuật, chính trị, tư tưởng để thực hiện kế hoạch đã đặt ra Nhiệm vụ này bao gồm việc làm cho mọi người thực hiện kế hoạch hiểu rõ mục tiêu, sự cần thiết và nội dung công việc

phải làm

c Chức năng kiểm tra, kiểm soát

Kiểm tra, kiểm soát chất lượng là quá trình điều khiển, đánh giá các hoạt động tác nghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và hoạt động nhằm đảm

bảo chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu đặt ra Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát chất lượng là:

- Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng như yêu cầu;

- Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của doanh nghiệp;

- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện những sai lệch;

- Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch, đảm bảo thực hiện đúng những yêu cầu

d Chức năng kích thích

Kích thích việc đảm bảo và nâng cao chất lượng được thực hiện thông qua áp dụng chế

độ thưởng phạt về chất lượng đối với người lao động và áp dụng giải thưởng quốc gia

về đảm bảo và nâng cao chất lượng

e Chức năng điều chỉnh, điều hòa, phối hợp

Đây là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra sự phối hợp thống nhất, đồng bộ, khắc phục những sai sót còn tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mức cao hơn nhằm làm giảm dần khoảng cách giữa mong muốn của khách hàng và chất lượng thực tế đạt

Trang 19

được Hoạt động điều hoà, điều chỉnh, phối hợp có nhiệm vụ cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm theo các hướng khác nhau như phát triển sản phẩm mới, đa dạng hoá

sản phẩm, đối mới công nghệ và hoàn thiện quá trình sản xuất Tuy nhiên, khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần phân biệt rõ ràng giữa việc loại trừ hậu quả và loại

trừ nguyên nhân của hậu quả

1.1.2.3 Các bước phát triển của quản lý chất lượng

Trong lịch sử phát triển sản xuất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ không ngừng tăng lên theo từng bước cho phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường Tùy theo quan điểm, cách nhìn nhận xem xét mà các chuyên gia chia quá trình phát triển của quản lý chất lượng thành 5 mức độ từ thấp đến cao [2]:

- Mức độ 01: Kiểm tra chất lượng;

- Mức độ 02: Kiểm soát chất lượng;

- Mức độ 03: Đảm bảo chất lượng;

- Mức độ 04: Quản lý chất lượng toàn diện

Sự khác biệt về mặt chiến lược giữa các mức độ khác nhau như sau:

- Kiểm tra chất lượng: Phân loại sản phẩm tốt và xấu

- Kiểm soát chất lượng: Tạo ra sản phẩm thỏa mãn khách hàng bằng cách kiểm soát

mọi yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng

- Đảm bảo chất lượng: Phát triển từ sản phẩm thoả mãn khách hàng lên đến tạo ra niềm tin cho khách hàng

- Quản lý chất lượng toàn diện: Đạt được chất lượng, hợp lý hóa chi phí và lấy con

người là trung tâm để tạo ra chất lượng

* Mức độ 01: Kiểm tra chất lượng (Inspection)

Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với quy định là kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại ra bất cứ một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay quy cách kỹ thuật

Trang 20

Đầu thế kỷ 20, việc sản xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát triển rộng rãi, khách hàng bắt đầu yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất về chất lượng càng ngày càng mãnh liệt Các nhà công nghiệp dần dần nhận ra rằng kiểm tra không phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất Theo ISO 8402 thì:

“Kiểm tra chất lượng là các hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm hoặc định chuẩn

một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự không phù hợp của mỗi đặc tính” Như vậy, phương pháp này chủ yếu tập trung vào khâu cuối cùng (sản phẩm sau khi sản xuất), kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, đây một cách xử lý "chuyện đã rồi" Nói theo ngôn ngữ hiện nay thì chất lượng không được tạo dựng nên qua kiểm tra

Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn

là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm Vì vậy, khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) ra đời

* Mức độ 02: Kiểm soát chất lượng - QC (Quality control)

Đây là một bước tiến của quản lý chất lượng mà tư tưởng chỉ đạo của nó là kiểm soát

mọi yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng như: con người, vật liệu, máy móc, , kiểm soát

mọi yếu tố cả quá trình và phòng ngừa sai hỏng Để duy trì chất lượng phải kiểm soát thường xuyên, đồng bộ tất cả các yếu tố này và duy trì chúng ở cùng một mức chất lượng Vì chỉ cần một yếu tố kém sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm

Định nghĩa về Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và các biện pháp kỹ thuật có tính tác nghiệp nhằm theo dõi một quá trình, đồng thời loại trừ những nguyên nhân làm hoạt động không thỏa mãn ở mọi giai đoạn của sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế

Nội dung kiểm soát của yếu tố này đã được đúc kết thành những yêu cầu, hướng dẫn

và được “Công thức hóa” thành công thức 5M nổi tiếng:

5M = (Man – Machines – Material – Method – Money)

(Con người – thiết bị - vật liệu – phương pháp – tài chính)

Để duy trì chất lượng phải kiểm soát thường xuyên và đồng bộ tất cả các yếu tố này và duy trì chúng ở cùng một mức độ chất lượng Vì chỉ cần một yếu tố kém sẽ ảnh hưởng

tới chất lượng của sản phẩm

Trang 21

Cũng cần lưu ý rằng, kiểm soát chất lượng phải tiến hành song song với kiểm tra chất lượng bởi nó buộc sản phẩm làm ra phải được một mức chất lượng nhất định và ngăn

ngừa bớt những lỗi sai có thể xảy ra Kiểm soát là hoạt động bao quát hơn, toàn diện hơn Đa số các công ty Việt Nam hiện nay đạt ở mức kiểm soát chất lượng

* Mức độ 03: Đảm bảo chất lượng - QA (Quality Assurance)

Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần phải duy trì mức

chất lượng đã đạt được thông qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm Để có thể tiến hành hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng có hiệu quả thì các doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng và chứng minh cho khách hàng thấy được điều

đó Đảm bảo chất lượng giống như một lời hứa hoặc hợp đồng với khách hàng về chất

lượng

ISO 9000 định nghĩa về đảm bảo chất lượng như sau: “Đảm bảo chất lượng là tạo sự tin tưởng cho khách hàng, rằng một tổ chức sẽ luôn luôn thỏa mãn được mọi yêu cầu của chất lượng, thông qua việc tiến hành các hoạt động trong hệ thống theo kế hoạch Khi được yêu cầu, những hoạt động này hoàn toàn có thể được trình bày, chứng minh bằng các văn bản và hồ sơ ghi chép các hoạt động của quá trình”

Cách thức quản lý chất lượng theo kiểu đảm bảo chất lượng được thực hiện dựa trên hai yếu tố: phải chứng minh được việc thực hiện kiểm soát chất lượng và đưa ra được

những bằng chứng về việc kiểm soát ấy

Hình 1.2 Sơ đồ đảm bảo chất lượng

- Phiếu kiểm nghiệm

- Báo cáo kiểm tra thử nghiệm

- Quy định trình độ cán bộ

- Hồ sơ sản phẩm

- …

Trang 22

Tùy theo mức độ phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phức tạp của sản phẩm dịch

vụ mà việc đảm bảo chất lượng đòi hỏi phải có nhiều hay ít văn bản Mức độ tối thiểu

cần đạt được gồm những văn bản như ghi trong sơ đồ trên Khi đánh giá, khách hàng

sẽ xem xét các văn bản tài liệu này và xem nó là cơ sở ban đầu để khách hàng đặt niềm tin vào nhà cung ứng

* Mức độ 04: Quản lý chất lượng toàn diện – TQM (Total Quality Management)

Từ năm 1950 đến 1980 hình thành rất nhiều quan điểm, trường phái kỹ thuật, công cụ

quản lý chất lượng Trong đó, TQM là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cả thành viên, nhằm đạt tới sự thành công lâu dài nhờ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên đó và cho

xã hội

TQM được định nghĩa là: “Một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào

chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty

đó và của xã hội” [2] Theo TQM sản phẩm không những thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng, mà quá trình sản xuất ra nó cũng phải đạt hiệu quả cao nhất Mục tiêu

quản lý của TQM đó là: chất lượng, giá thành, thời gian và an toàn lao động

Có thể nói TQM là bước phát triển cao nhất hiện nay về quản lý chất lượng với 02 đặc điểm nổi bật:

- Bao quát tất cả các mục tiêu và các lợi ích trong quá trình sản xuất;

- Cải tiến chất lượng liên tục

TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN

1.2.1 Sản phẩm xây dựng và đặc điểm của sản phẩm xây dựng

Trang 23

với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế

Sản phẩm xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học – công nghệ và tổ chức sản

xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu là: các chủ đầu tư; các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấn xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng; các doanh nghiệp cung ứng; các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính; các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan

1.2.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng

a Đặc điểm của sản phẩm xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng

Sản phẩm xây dựng có rất nhiều đặc điểm riêng biệt khác với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng lại tác động chi phối đến hoạt động thi công xây dựng và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến: việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội, công nghệ xây dựng, vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị xây dựng, cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật quản lý xây dựng

- Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc riêng lẻ:

Sản phẩm xây dựng đa dạng, phức tạp, có tính cá biệt cao về công dụng và chế tạo Mỗi sản phẩm khi thiết kế đều có nét đặc thù riêng không thể sản xuất hàng loạt theo dây chuyền tương tự cho toàn bộ sản phẩm, tùy theo yêu cầu cả về kinh tế lẫn kỹ thuật

Do đó khối lượng, chất lượng và chi phí xây dựng của mỗi công trình đều khác nhau Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính lưu động, thiếu ổn định và khó kiểm

soát về chất lượng

- Sản phẩm xây dựng thường có quy mô lớn kết cấu phức tạp:

Với đặc điểm quy mô lớn và kết cấu phức tạp của sản phẩm xây dựng dẫn đến chu kỳ sản xuất lâu dài Vì vậy, cần phải có kế hoạch, lập tiến độ thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình Ngoài ra, nhu cầu về vốn, lao động, vật tư, máy móc thiết bị thi công lớn, nếu có những sai sót trong quá trình xây dựng sẽ gây nên lãng phí rất lớn

Trang 24

- Sản phẩm xây dựng được đặt tại một vị trí cố định, nơi sản xuất gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu nơi đặt công trình:

Đặc điểm này cho thấy nơi tiêu thụ sản phẩm cố định, nơi sản xuất thay đổi nên lực lượng sản xuất thi công luôn phải lưu động Chất lượng sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên tại nơi xây dựng công trình, do vậy công tác điều tra khảo sát, đo đạc, quan trắc không chính xác sẽ làm cho việc thiết kế công trình không đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật, kết cấu không phù hợp với điều kiện đặc điểm

tự nhiên dẫn đến công trình chất lượng kém

- Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác:

Sản phẩm xây dựng đã hoàn thành có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu cho tới khi thanh lý

Từ đặc điểm này, đòi hỏi chất lượng công trình phải tốt để các ngành khác ít bị ảnh hưởng Ví dụ: ngành dệt may đặt hệ thống máy móc thiết bị trong một cụm công trình, nếu cụm công trình chất lượng kém thậm chí bị hư hỏng thì chi phí tái cấu trúc của xưởng dệt may là vô cùng lớn, đó là chưa kể đến chất lượng sản phẩm dệt may cũng bị ảnh hưởng

- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu

tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm lẫn phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra:

Các ngành các đơn vị phải nâng cao chất lượng xây dựng ở trong tất cả các khâu: điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế, giao nhận thầu, thi công xây dựng, giám sát chất lượng công trình, nghiệm thu và các chế độ bảo hành, bảo trì công trình

- Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật và quốc phòng:

Đặc điểm này có thể dẫn đến phát sinh các mâu thuẫn, mất cân đối trong quan hệ phối hợp đồng bộ giữa các khâu từ quá trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng như quá trình thi công Điều này đòi hỏi phải có trình độ trong công tác tổ chức, phối hợp

Trang 25

các khâu từ thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây dựng, đấu thầu mua sắm thiết bị, kiểm tra chất lượng từng loại công tác theo kết cấu công trình trong quá trình thi công đến khi nghiệm thu từng phần, tổng nghiệm thu và quyết toán dự án hoàn chỉnh đưa vào khai thác sử dụng

b Đặc điểm của sản phẩm xây dựng ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng

- Sản phẩm xây dựng là những CTXD được thực hiện một lần duy nhất được, gắn liền với mặt đất và sử dụng tại chỗ; có vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian xây dựng và thời gian sử dụng lâu dài Vì thế, nên khi tiến hành xây dựng, công tác quản lý phải thực hiện ngay từ khâu quy hoạch, lập dự án, chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và đặc biệt là tổ chức thi công XDCT sao cho hợp lý, đảm bảo tiến độ tránh tình trạng hư hỏng sửa chữa thậm chí phá đi làm lại gây thiệt hại về vốn đầu tư của chủ đầu tư, vốn sản xuất của các nhà thầu và giảm tuổi thọ công trình

- Việc mua bán được thực hiện trước khi sản phẩm ra đời, đây cũng là đặc điểm khác

so với các sản phẩm của các ngành công nghiệp khác Chính vì vậy, nó cũng làm cho việc quản lý chất lượng trở nên khó khăn và phức tạp Phải có sự tham gia của nhiều bên, đó là sự quản lý của Nhà nước, của Chủ đầu tư (bên mua sản phẩm) và của nhà thầu (bên bán sản phẩm)

- Nhà nước có vai trò lớn hơn và có trách nhiệm can thiệp sâu hơn vào việc quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng so với nhiều loại sản phẩm công nghiệp khác, thể hiện qua các quy định về trình tự thủ tục quản lý đầu tư xây dựng như lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật dự toán; cấp phép xây dựng; lựa chọn nhà thầu; bàn giao đưa công trình vào sử dụng Các yêu cầu về kỹ thuật đối với công trình được quy định trong quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, quy hoạch và quản lý không gian kiến trúc khu vực xây dựng công trình

- Yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm rất phức tạp, chất lượng của sản phẩm phải thỏa mãn các yêu cầu không chỉ của khách hàng mà còn của cả xã hội Đối với CTXD, yêu cầu của xã hội được quy định rõ ràng trong Luật Xây dựng Vì vậy, việc xác định yêu cầu của sản phẩm, bước đầu tiên của việc sản xuất ra một sản phẩm đối với CTXD

là không đơn giản, dễ dàng Nó đòi hỏi sự thông hiểu về kỹ thuật, kinh tế cũng như xã hội, pháp luật

Trang 26

Bản thân khách hàng thường không thể tự xác định nhu cầu của mình một cách đầy đủ,

rõ ràng và khả thi, mà phải có sự tham gia của các chuyên gia xây dựng Nhu cầu của khách hàng được xem xét về nhiều mặt như có phù hợp với các quy định của pháp luật, quy hoạch xây dựng của khu vực, có phù hợp với đặc điểm tự nhiên và xã hội tại địa điểm xây dựng hay không, có khả thi về kỹ thuật, về kinh phí có phù hợp với khả năng huy động vốn và có mang lại lợi ích kinh tế hay không Ngay khi thảo luận về hợp đồng tư vấn, nhà tư vấn phải tìm hiểu kỹ lưỡng về nhu cầu của khách hàng, đồng thời tư vấn cho họ về pháp luật, trình tự thủ tục đầu tư xây dựng, các yêu cầu của quản

lý kiến trúc quy hoạch, các quy định trong quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như xem xét tính khả thi về kỹ thuật, kinh tế, thời hạn hoàn thành để hai bên nhất trí và yêu cầu rõ ràng, cụ thể với sản phẩm, phạm vi của dịch vụ tư vấn cũng như các điều kiện cần thiết để thực hiện hợp đồng

- Tính che khuất của kết cấu, bộ phận và giai đoạn thi công công trình: đặc điểm này đòi hỏi trong quản lý phải hết sức chú trọng trong quá trình nghiệm thu và bàn giao để triển khai các bước tiếp theo đảm bảo chất lượng

- Hoạt động xây dựng là một quá trình sản xuất phức tạp, diễn ra trong thời gian dài,

sử dụng nhiều bộ phận và nhiều ngành nghề khác nhau trên phạm vi rộng

- Phải quản lý chất lượng theo từng dự án, bởi vì công trình xây dựng được gắn cố định vào đất phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, xã hội của địa điểm xây dựng Mỗi CTXD được tổ chức thiết kế và thi công theo một dự án riêng với những yêu cầu riêng biệt, tuy vẫn dựa trên một số quá trình kỹ thuật điển hình, lặp đi lặp lại, kể cả trong thiết kế điển hình đã được lập cho toàn bộ dự án cũng phải lập cho mỗi công trình một thiết kế vận dụng riêng để thực hiện một số điều chỉnh cụ thể cần thiết sao cho phù hợp với địa điểm xây dựng như tổng mặt bằng, thiết kế móng

- Trong thi công xây dựng, quản lý chất lượng rất khó khăn và phức tạp, bởi vì không thể kiểm soát từng chi tiết của hoạt động xây lắp với độ tin cậy cao như đối với một dây chuyền sản xuất của một nhà máy Hoạt động thi công xây dựng do nhiều người tiến hành đồng thời, nhiều nghề nghiệp khác nhau trên cùng một mặt bằng và không gian lớn, trong đó có nhiều công việc vận chuyển nặng nhọc Các hoạt động được tiến hành chủ yếu ở ngoài trời nên phụ thuộc vào thời tiết và khó kiểm soát được các yếu tố

Trang 27

ảnh hưởng đến chất lượng Vì thế, cần phải phối hợp tiến độ giữa các công đoạn, các

đơn vị, giữa các mùa thời tiết để đảm bảo chất lượng, tránh đào bới phá đi làm lại và

tránh lãng phí thời gian do phải chờ đợi nhau, hoặc do thời tiết Thi công xây dựng cần

nhiều lao động, trong đó có nhiều lao động giản đơn nhưng vất vả Lực lượng lao

động, nhất là lao động giản đơn, thường không ổn định, vì nhiều người chỉ coi đây là

một công việc tạm bợ, luôn tìm cách chuyển nghề để mong tìm được công việc khác

đỡ nặng nhọc vất vả Vì vậy, việc đào tạo huấn luyện cũng như thực thi các quy trình

quản lý rất khó khăn

1.2.2 Các giai đoạn quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng

Quản lý chất lượng CTXD là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình

hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Nhà nước, chủ đầu tư, các nhà thầu, các

tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng,

bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng CTXD

Theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 [3] của Chính phủ về

việc quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì công tác quản lý chất lượng

CTXD xuyên suốt các giai đoạn từ khảo sát, thiết kế đến thi công và bảo trì CTXD

Khảo sát xây dựng

Thiết kế XDCT

Thi công XDCT

Bảo trì CTXD

- tự giám sát của nhà thầu khảo sát

- giám sát của chủ đầu tư

- thẩm tra thiết kế của chủ đầu tư

- tự giám sát của nhà thầu xây dựng

- giám sát và nghiệm thu của CĐT

- giám sát tác gi ả của nhà thiết kế

Trang 28

Hoạt động quản lý chất lượng CTXD chủ yếu là công tác giám sát của CĐT và các chủ

thể khác Nội dung công tác giám sát và tự giám sát củacác chủ thể thay đổi tuỳ theo

nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ Có thể tóm tắt về nội dung và chủ

thể giám sát theo các giai đoạn của dự án xây dựng như sau:

- Trong giai đoạn khảo sát xây dựng: ngoài sự giám sát của CĐT, nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát

- Trong giai đoạn thiết kế XDCT: nhà thầu thiết kế XDCT chịu trách nhiệm trước CĐT và pháp luật về chất lượng thiết kế XDCT CĐT nghiệm thu sản phẩm thiết kế và

chịu trách về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu

- Trong giai đoạn thi công XDCT: có các hoạt động quản lý chất lượng và tự giám sát

của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công và nghiệm thu CTXD của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế

- Trong giai đoạn bảo trì CTXD: chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng CTXD, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa

chữa, thay thế; giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa đó

Ngoài ra, còn có giám sát cộng đồng về chất lượng CTXD Có thể thấy rất rõ là quản

lý chất lượng rất được coi trọng trong giai đoạn thi công XDCT, trong khi các hoạt động khảo sát và thiết kế lại có vẻ như chưa được quan tâm một cách thích đáng

1.2.3 Nội dung quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trong giai đoạn thực hiện

dự án

Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 [4] của Chính phủ về Quản lý dự

án ĐTXD thì Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử

và thực hiện các công việc cần thiết khác

Trang 29

1.2.3.1 Quản lý chất lượng trong giai đoạn khảo sát

Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng được thực hiện theo trình tự 04 bước sau: (1) Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng; (2) Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng; (3) Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng; (4) Nghiệm thu, phê duyệt kết quả khảo sát xây dựng

1.2.3.2 Quản lý chất lượng trong giai đoạn thiết kế

Quản lý chất lượng thiết kế xây dựng được thực hiện theo trình tự 05 bước sau: (1) Lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình; (2) Quản lý chất lượng công tác thiết kế xây dựng; (3) Thẩm định, thẩm tra thiết kế xây dựng; (4) Phê duyệt thiết kế xây dựng công trình; (5) Nghiệm thu thiết kế xây dựng công trình

1.2.3.3 Quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công

Chất lượng thi công xây dựng công trình phải được kiểm soát từ công đoạn mua sắm, sản xuất, chế tạo các sản phẩm xây dựng, vật liệu xây dựng, cấu kiện và thiết bị được

sử dụng vào công trình cho tới công đoạn thi công xây dựng, chạy thử và nghiệm thu đưa hạng mục công trình, công trình hoàn thành vào sử dụng

Trình tự quản lý chất lượng thi công xây dựng được thực hiện theo trình tự 09 bước sau: (1) Quản lý chất lượng đối với vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng; (2) Quản lý chất lượng của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng công trình; (3) Giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư, kiểm tra và nghiệm thu công việc xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình; (4) Giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế trong thi công xây dựng công trình; (5) Thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm thử tải và kiểm định xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình; (6) Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng, bộ phận (hạng mục) công trình xây dựng (nếu có); (7) Nghiệm thu hạng mục công trình, công trình hoàn thành

để đưa vào khai thác, sử dụng; (8) Kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (9) Lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng, lưu trữ hồ sơ của công trình và bàn giao công trình xây dựng

Trang 30

1.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU Ở NƯỚC TA

Trả� qua quá trình phát tr�ển, hệ thống đê h�ện nay trên cả nước là một hệ thống công trình quy mô lớn vớ� khoảng 13.200 km đê Chúng ta đã xây dựng và củng cố được 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, 23.000 km bờ bao và hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè Hệ thống đê biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã được nâng cấp, chống

đỡ bão cấp 9 ứng với mức triều trung bình Đã hình thành 3000 km đê biển chống được thuỷ triều (3,5m) Hệ thống đê bao, bờ ngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu bảo vệ lúa hè thu, chống lũ đầu mùa

Hình 1.4 Bản đồ hệ thố ng đê sông Hồ ng, sông Thái Bình

Trang 31

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện trạng hệ thống đê của các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra có chiều dài 6.169 km trong đó có 2.372 km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt, 3.973 km đê biển và đê dưới cấp III Đê được chia làm 04 hệ thống chính:

- Hệ thống đê sông Hồng: Có tổng chiều dài là 1.314 km, trong đó:

Đê cấp đặc biệt (đê nội thành Hà Nội) 37,09

Đê cấp II 376,9

Đê cấp III 510,9

- Hệ thống đê sông Thái Bình: Có tổng chiều dài là 698 km, trong đó:

- Hệ thống đê biển của các tỉnh Bắc Bộ: có tổng chiều dài là 312 km, trong đó Hải Phòng

là 49,4 km; Thái Bình là 137,3 km, Nam định là 91,3 km và Quảng Ninh là 34 km

Ngoài ra có trên hệ thống đê còn có gần 600 kè các loại và gần 1.600 cống dưới đê Hầu hết các hệ thống đê đ�ều và phòng chống lụt bão tồn tạ� hiện nay ở nước ta được thiết kế xây dựng dựa theo kinh nghiệm tích góp từ nh�ều thế hệ và áp dụng các tiêu chuẩn an toàn phù hợp với tình hình thực tế của một vài thập kỷ trước Trong đ�ều kiện các hình thái thời tiết và thiên tai ngày càng gia tăng do hiệu ứng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu, các quy luật khí tượng thủy văn lưu vực có những diễn biến bất thường

so với thời đ�ểm thiết kế Vì lí do đó, hàng năm hệ thống đê đ�ều ở nước ta được Trung

Trang 32

ương và địa phương quan tâm đầu tư tu bổ, nâng cấp tăng cường ổn định và loạ� trừ dần các trọng đ�ểm đê đ�ều xung yếu

Đố� vớ� các tuyến đê sông, các đoạn đê tu bổ thường xuyên đã được th�ết kế theo chỉ t�êu hoàn th�ện mặt cắt vớ� cao độ đảm bảo yêu cầu chống lũ th�ết kế, bề rộng mặt đê phổ thông 5 m, độ dốc má� m=2 và mặt đê được g�a cố đá dăm hoặc bê tông để kết hợp giao thông để tăng khả năng phòng chống lũ bão th�ết kế Song do ch�ều dà� đê lớn, tốc

độ bào mòn xuống cấp nhanh trong kh� khả năng đầu tư còn hạn chế nên vẫn còn nh�ều đoạn đê còn thấp, nhỏ so vớ� t�êu chuẩn đê th�ết kế Phân tích chất lượng h�ện trạng đê của Việt Nam cho kết quả: 66,4% km đê ổn định đảm bảo an toàn; 28,0% km

đê kém ổn định chưa đảm bảo an toàn; 5,6% km đê xung yếu

Do được bồ� trúc qua nh�ều năm nên nhìn chung chất lượng thân các tuyến đê không đồng đều, trong thân đê t�ềm ẩn nh�ều kh�ếm khuyết như xó� ngầm, tổ mố�, hang động vật Vì vậy, kh� có bão, lũ mực nước sông dâng cao, độ chênh lệch vớ� mực nước trong đồng lớn, nh�ều đoạn đê xuất h�ện các sự cố mạch đùn, sủ�, thẩm lậu, sạt trượt má� đê phía sông và phía đồng Nếu không phát h�ện và xử lý kịp thờ� ngay từ g�ờ đầu

sẽ gây ra hậu quả ngh�êm trọng tớ� an toàn của đê

Sự phát tr�ển k�nh tế xã hộ� nhanh chóng của V�êṭ Nam trong những năm gần đây đã g�án t�ếp làm cho tình trạng sử dụng đất trong phạm v� bảo vệ đê, bãi sông và lòng sông ngày càng ngh�êm trọng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến an toàn đê đ�ều và khả năng thoát lũ của các sông trên địa bàn từ trung ương đến địa phương Các loạ� hình

vi phạm Luật đê đ�ều và Pháp lệnh Phòng chống lụt bão như: xây dựng bất hợp pháp các công trình, tập kết vật l�ệu xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê và bã� sông, san lấp

mở rộng mặt bằng lấn ch�ếm dòng chảy, kha� thác bất hợp lý các bã� bồ� ven sông, ven b�ển, chặt phá rừng cây chắn sóng… gây ảnh hưởng đến chất lượng và năng lực phòng chống lũ, bão của đê đ�ều

1.3.2 Tình hình quản lý chất lượng xây dựng hệ thống đê điều ở nước ta

Đầu tư xây dựng, nâng cấp và bảo vệ đê điều đóng một vai trò quan trọng trong công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai Vừa qua, Chính phủ đã phê duyệt hai chương trình lớn: thứ nhất là chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam và Quảng Ngãi đến Kiên Giang; thứ hai là chương trình nâng cấp đê sông tại 19 tỉnh có

Trang 33

đê trên cả nước được phân cấp (trong đó có tỉnh Hưng Yên), với tổng kinh phí hơn 50 nghìn tỷ, kéo dài đến năm 2020 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chủ trương về đầu tư xây dựng cải tạo nâng cấp hệ thống đê điều trong thời gian tới sẽ hướng tập trung xây dựng các tuyến đê xung yếu, không đầu tư dàn trải Tuy nhiên, công tác quản lý chất lượng hệ thống đê điều gặp phải rất nhiều khó khăn bởi nhiều yếu tố:

- Thiếu kinh phí đầu tư hệ thống đê điều

Hệ thống đê sông và đê biển nước ta có nhiều điểm xung yếu cần phải tu bổ, gia cố hàng năm Tuy nhiên, công tác này đang triển khai cầm chừng do thiếu vốn đầu tư Ví

dụ điển hình như tại Hải Phòng – địa phương có chiều dài đê sông và đê biển lớn thứ

02 trong cả nước, hầu như tất cả các tuyến đê tại đây đều có những điểm xung yếu cần

tu bổ và nâng cấp gấp Nhưng đến nay vẫn còn hàng loạt dự án đê đã được phê duyệt nhưng phải hoãn thi công do không có vốn để triển khai Tiêu biểu như Dự án nâng cấp đê biển Cát Hải (đoạn Gia Lộc - Văn Chấn), được phê duyệt đầu tư từ năm 2010, với mức kinh phí 28,015 tỷ đồng, nhưng đến nay chưa thi công được do bế tắc nguồn vốn Hay như dự án nâng cấp đê biển 3 (huyện Tiên Lãng), đây là dự án được phê duyệt từ năm 2007, với mức đầu tư 199,4 tỷ đồng, nhưng đến nay cũng chưa được triển khai thực hiện do biến động về quy hoạch và nhất là thiếu vốn

Ngoài những chương trình Dự án nâng cấp đê sông, đê biển, hàng năm Chính phủ có các chương trình duy tu, bảo dưỡng, tu bổ đê điều thường xuyên với mức kinh phí khoảng 200 tỷ đồng đầu tư cho 23 tỉnh, thành phố có đê Với tổng chiều dài các tuyến

đê của nước ta như đã nêu thì mức kinh phí này chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Nguyên nhân của trình trạng thiếu kinh phí cho các công tác xây dựng, tu bổ, nâng cấp

hệ thống đê điều chủ yếu bởi các điều kiện khách quan: do điều kiện kinh tế của nước

ta còn nhiều khó khăn và Việt Nam là nước nằm trong khu vực chịu thiên tai với tần suất và cường độ lớn

- Khó khăn trong việc di dời tái định cư và giải phóng mặt bằng

Từ khi Luật Đê điều có hiệu lực kể từ năm 2007, việc xử lý công trình, nhà ở hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều theo Luật rất khó khăn vì các khu dân cư, khu sản xuất

đã hình thành trong phạm vi hành lang bảo vệ đê từ trước khi Luật Đê điều ra đời Khi

Trang 34

mở rộng, nâng cấp công trình đê điều một số các công trình, nhà cửa của dân đã xây dựng trước đây lại trở thành vi phạm, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý Bên cạnh đó, các công trình nhà ở trong phạm vi bảo vệ đê được cấp trích lục, đất thổ cư, đất cha ông để lại số lượng khá lớn nên công tác di dời tái định cư cho các hộ sinh sống trong hành lang bảo vệ đê còn gặp nhiều khó khăn

Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho các dự án nâng cấp, tu bổ các tuyến đê trọng yếu bị chậm trễ là do chậm tiến độ giải phóng mặt bằng Thậm chí nhiều dự án

đã chuẩn bị đủ nguồn lực nhưng không thể thực hiện do không giải phóng được mặt bằng Nguyên nhân của các tồn tại là do:

+Nguồn gốc đất phức tạp, nhiều vị trí để lâu không được giải quyết dứt điểm (đất ông cha, đất có mồ mả, đất qua khu di tích lịch sử )

+ Trong chỉ đạo điều hành chưa đồng bộ, có lúc buông lỏng tạo kẽ hở cho nhân dân khiếu kiện, kiến nghị

+ Ý thức của một số bộ phận nhân dân chưa cao, chưa hiểu được tầm quan trọng và tính cấp bách của các dự án nâng cấp, tu bổ đê điều, còn chống đối, gây khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và thi công công trình

- Tính cấp bách về tiến độ của các dự án đê điều

Các dự án đầu tư xây dựng đê điều đều là dự án có tính khẩn cấp, cấp bách để ứng phó, khắc phục kịp thời các sự cố thiên tai Việc thi công các công trình đê điều phải hoàn thành trước mùa mưa lũ, tuy nhiên thực tế cho thấy còn tồn tại nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến tiến độ của dự án như: năng lực của các đơn vị tư vấn thiết kế còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu gấp về tiến độ của dự án; đến giai đoạn thi công thì các nhà thầu thi công xây dựng chưa có đủ năng lực về vốn, kinh nghiệm, kỹ thuật

- Nhiều hệ thống đê điều hiện chưa có quy hoạch tổng thể

Thực trạng về công tác quản lý chất lượng hệ thống đê điều ở nước ta vẫn đang gặp

phải không ít khó khăn và tồn tại, một trong số đó là do nhiều hệ thống đê điều hiện chưa có quy hoạch tổng thể, việc cắm mốc chỉ giới bảo vệ đê nhiều nơi chưa được

thực hiện gây khó khăn trong công tác quản lý

Trang 35

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Quy hoạch phòng chống lũ và Quy hoạch

đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình tại Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18/02/2016 Quy hoạch hệ thống đê biển các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam hiện

vẫn đang được triển khai Việc quy hoạch đê điều là một việc làm hết sức cần thiết

nhằm đưa ra các đề xuất giải pháp nâng cao khả năng phòng, chống lũ của các tuyến

đê, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Phải coi quy hoạch hệ thống đê điều và làm tốt công tác quản lý đê điều theo quy hoạch là tiêu chí hàng đầu để đánh giá chất lượng công tác quản lý đê điều ở mỗi địa phương

- Hành lang bảo vệ đê của các dự án đê điều thường bị xâm phạm

Tình trạng người dân lấn chiếm đất trên phạm vi dự án đê điều và đất thuộc hành lang

bảo vệ đê để xây dựng nhà ở, đường xá, lều quán trái phép, đổ phế thải, chất thải thường xuyên diễn ra, gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đến đê điều và công tác quản lý chât lượng hệ thống đê điều

1.3.3 Các sự cố đê điều ở nước ta

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực Châu

Á – Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai đặc biệt

là lũ lụt, bão, lũ quét Kể từ đầu thế kỷ 20 tới nay, đồng bằng sông Hồng đã có 26 trận

lũ lớn Các trận lũ lớn này đa số xảy ra vào tháng 8, nhằm vào cao điểm của mùa mưa bão Lịch sử cũng đã ghi nhận những sự cố vỡ đê với sức tán phá ghê gớm, để lại hậu

quả lâu dài ở nước ta điển hình như [5]:

Năm 1915, từ ngày 11 đến 20 tháng 8: Đê bị vỡ liên tiếp 42 vị trí với tổng chiều dài 4.180 m (từ 11 - 20/7/1915 khi mực nước Hà Nội dao động từ 11,55 – 11,64 m) Những nơi vỡ chính như: Xâm Dương, Xâm Thị đê hữu sông Hồng thuộc tỉnh Hà Đông Các chỗ vỡ khác như Lục Cảnh, Hoàng Xá, Trung Hà tỉnh Phúc Yên; Phi Liệt, Thuỷ Mạo tỉnh Bắc Ninh Đê tả sông Hồng, vỡ ở: Mễ Chân tỉnh Hưng Yên; Gia Quất, Gia Thượng, Phú Tòng, Yên Viên, Đông Thụ, Danh Nam tỉnh Bắc Ninh và một số chỗ khác trên sông Phó Đáy, Đuống và sông Đáy

Năm 1926, ngày 29 tháng 7, khi mực nước Hà Nội lên tới 11,93 m thì vỡ đê tả ngạn sông Hồng vùng Gia Quất, Ái Mộ, Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh; vỡ đê hữu ngạn sông Luộc

Trang 36

tại Hạ Lao, Văn Quán tỉnh Thái Bình; vỡ đê tả ngạn sông Luộc tại Bô Dương, tỉnh Hải Dương Tổng diện tích đất canh tác bị ngập lụt do vỡ đê khoảng 100.000 ha Hà nội lúc này chưa đắp đê cao như hiện nay nên lũ sông Hồng uy hiếp trực tiếp Thành phố Hà Nội Kể từ đây đê được nâng cao lên 14 m Nhiều tuyến đê được nắn lại, hai sườn đê được đắp không đối xứng đảm bảo chống chịu nước lũ tốt hơn

Năm 1945, Một trận lũ lớn vào tháng 8 năm 1945 gây vỡ đê tại 79 điểm, gây ngập 11 tỉnh với tổng diện tích 312,000 ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4 triệu người

Năm 1971, ảnh hưởng những trận mưa to liên tục và một cơn bão lớn, nước trên sông Thao, sông Lô và sông Đà đã hợp lại gây nên cơn lũ lịch sử của đồng bằng sông Hồng Mực nước sông Hồng ngày 20 tháng 8 lên đến 14,13 m ở Hà Nội (cao hơn mực nước báo động cấp III đến 2,63 m) Mực nước Sông Hồng đo được 18,17 m ở Việt Trì (cao hơn 2,32 m mức báo động cấp III) và 16,29 m ở Sơn Tây (1.89 m cao hơn mức báo động cấp III) Đồng thời mực nước ở các Sông Cầu, Sông Lô, Sông Thái Bình lên cao hơn bao giờ hết Mưa lũ năm 1971 đã gây vỡ đê ở ba địa điểm, làm chết 100.000 nguời, úng ngập 250.000 ha và hơn 2,7 triệu người bị thiệt hại

Năm 2008, trận mưa lớn nhất trong 35 năm đổ xuống ngày 31/10 và 1/11/2008 với hơn 600 mm biến Hà Nội và nhiều vùng khác trong đồng bằng Sông Hồng thành biển nước Thành phố Hà Nội có hệ thống thoát nước chỉ chịu đựng được lượng mưa tối đa

86 mm mới không bị ngập lụt Tuyến đê sông Hồng có 13 vị trí hư hỏng tại các huyện

Mê Linh, Đan Phượng, Từ Liêm, Đông Anh, Long Biên, Sóc Sơn Tuyến đê tả Bùi, tả Tích đã tràn hầu hết tuyến Tuyến sông Nhuệ và Duy Tiên (Hà Nam) có tổng cộng

6.000 m đê bị tràn Điểm Châu Can, Bạch Hạ, Đại Xuyên bị sụt Tại Ninh Bình đê trên sông Hoàng Long bị vỡ, hàng ngàn nhà ở Nho Quan bị ngập lụt Tổng số người chết ở Miền Bắc là 92, riêng Hà Nội 22 người, thiệt hại kinh tế lên đến gần 5.000 tỷ đồng Mưa lũ kéo dài cũng khiến cho khoảng 169 km đê nội đồng kênh mương hư hỏng; hơn 266.000 ha diện tích hoa màu và thủy sản bị ngập úng; hàng trăm nghìn nhà cửa bị sập đổ và hư hại

Theo thống kê [5], Việt Nam là một trong 04 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu cực đoan trong 2 thập kỷ trở lại đây và đứng thứ 03 nếu chỉ tính riêng năm 2008 Tình hình bão lũ diễn biến ngày càng phức tạp, không theo quy luật, tần

Trang 37

suất tăng lên, cường độ mạnh rõ rệt đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu

Nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo phát triển bền vững, giảm nhẹ tác động do bão lũ gây ra thì công tác quản lý đê điều nói chung và công tác quản lý

chất lượng hệ thống đê điều nói riêng cần được chú trọng, đặt lên hàng đầu và phải được thực hiện nghiêm túc Đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành một cách đồng bộ và hiệu quả

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương I, tác giả đã hệ thống những quan điểm và lý luận thực tiễn về chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm cũng như sản phẩm xây dựng và quản lý

chất lượng sản phẩm xây dựng Cho ta thấy được đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng, phương

thức quản lý chất lượng sản phẩm Từ đó có cách hiểu cụ thể và đầy đủ về sản phẩm xây

dựng và quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư

Tác giả đã trình bày thực tiễn công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình đê điều

của nước ta Qua đó thấy được tầm quan trọng trong công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều hiện nay, cũng như tầm quan trọng của hệ thống đê điều trong công tác phòng, chống thiên tai, đảm bảo an sinh kinh tế cho đất nước, đặc

biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp như

hiện nay

Trang 38

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

2.1.1 Dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng

2.1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng

Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13[6]: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp

các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây

dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định

2.1.1.2 Phân loại dự án đầu tư xây dựng

Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 [6] và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP [4] quy định phân loại dự án đầu tư xây dựng như sau:

- Dự án ĐTXD được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng và nguồn

vốn sử dụng:

+ Dự án ĐTXD được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng chính của

dự án gồm: dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công

+ Dự án ĐTXD gồm một hoặc nhiều công trình với loại, cấp công trình xây dựng khác nhau

+ Dự án ĐTXD công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

gồm: công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; công trình xây dựng mới, sửa

chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất)

- Dự án được phân loại theo nguồn vốn sử dụng:

+ Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước

+ Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách

+ Dự án sử dụng vốn khác

Trang 39

2.1.1.3 Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng

Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm

vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản

phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép

2.1.1.4 Các mục tiêu và chủ thể tham gia dự án đầu tư xây dựng

Các mục tiêu cơ bản của quản lý dự án xây dựng là hoàn thành công trình đảm bảo yêu

cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép Các chủ thể cơ bản của một dự án xây dựng là chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng công trình và Nhà nước

Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, sự chú ý đến vai trò của các chủ thể tham gia vào một dự án xây dựng tăng lên và các mục tiêu đối với một dự án xây dựng cũng tăng lên Có thể mô tả sự phát triển này bằng các đa giác mục tiêu và chủ thể tham gia như hình 2.1:

Hình 2.1 Sự phát triển của các mục tiêu và chủ thể tham gia dự án ĐTXD

ATLĐ Thời gian

Giá thành

Th ời gian

AT

Môi trường

Trang 40

Các mục tiêu của dự án không chỉ gói gọn trong 03 tiêu chí cơ bản về chất lượng, thời gian và giá thành mà các chủ thể tham gia vào dự án xây dựng công trình còn phải đạt được các mục tiêu khác về an toàn lao động và bảo vệ môi trường

Tại Việt Nam, các mục tiêu quản lý dự án được nâng lên thành 05 mục tiêu bắt buộc đó là: Chất lượng, giá thành, thời gian, an toàn lao động và bảo vệ môi trường

Trong mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng công trình, quản lý dự án nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể khác nhau, đó là:

- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải bảo đảm lập ra một dự án có các giải pháp kinh tế –

kỹ thuật mang tính khả thi trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về xây dựng và các quy định khác có liên quan

- Giai đoạn thực hiện đầu tư bảo đảm tạo ra được tài sản cố định có tiêu chuẩn kỹ thuật đúng thiết kế, đảm bảo chất lượng, chi phí XDCT và tiến độ thời gian đã được hoạch định trong dự án

- Giai đoạn khai thác vận hành phải bảo đảm đạt được các chỉ tiêu hiệu quả của dự án (về tài chính, kinh tế và xã hội) theo dự kiến của chủ đầu tư

2.1.1.5 Vai trò quản lý dự án đầu tư xây dựng

Quản lý dự án ĐTXD công trình có những vai trò chủ yếu sau đây:

- Liên kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án;

- Tăng cường sự hợp tác và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án;

- Tạo điều kiện cho việc liên hệ, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng, chủ đầu

tư và các nhà cung cấp đầu vào;

- Tạo điều kiện cho sự đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng và phát hiện sớm những khó khăn, vướng mắc nảy sinh để có những giải pháp điều

chỉnh kịp thời trước những rủi ro khó dự đoán được;

- Tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn

2.1.1.6 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng

Nội dung quản lý dự án ĐTXD gồm: Quản lý về phạm vi, kế hoạch công việc; khối lượng công việc; chất lượng xây dựng; tiến độ thực hiện; chi phí đầu tư xây dựng; an

Ngày đăng: 15/12/2020, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w