1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp kỹ thuật quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường tam thuận và thạc gián, quận thanh khê, thành phố đà nẵng

117 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 8,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KỸ THUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TAM THUẬN VÀ THẠC GIÁN, QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Học viên: Đoàn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



ĐOÀN THỊ NGỌC MINH

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

KỸ THUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TAM THUẬN VÀ THẠC GIÁN,

QUẬN THANH KHÊ,THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

Đà Nẵng – Năm 2020

DUT.LRCC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



ĐOÀN THỊ NGỌC MINH

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

KỸ THUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TAM THUẬN VÀ THẠC GIÁN,

QUẬN THANH KHÊ,THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên nghành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

Mã số: 85.20.320

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG VINH

Đà Nẵng – Năm 2020

DUT.LRCC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Ngọc Minh

DUT.LRCC

Trang 4

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

KỸ THUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TAM THUẬN VÀ THẠC GIÁN, QUẬN THANH KHÊ,

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Học viên: Đoàn Thị Ngọc Minh Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường

Mã số: 85.20.320 Khóa: K36 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN

Tóm tắt – Luận văn tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt trên địa

bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen thải bỏ rác của người dân, đồng thời xác định được thành phần, tính chất rác thải sinh hoạt; hệ số phát sinh rác thải và ước tính tổng lượng rác thải phát sinh Đồng thời, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen phân loại rác của người dân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu phát sinh rác thải và nâng cao hiệu quả phân loại rác tại nguồn

Kết quả nghiên cứu chỉ ra tổng lượng rác phát sinh tại phường Tạm Thuận và Thạc Gián là 26,77 tấn/ngày, trong đó CTR Hộ gia đình chiếm 55,98% Trong thành phần rác thải, rác thực phẩm chiếm tỷ lệ khá cao: đối với hộ dân, chiếm trên 57%; đối với nhà hàng và khách sạn, chiếm khoảng 40% Thành phần nhựa, nylon, chất dẻo chiếm tỷ lệ trên 12% trong hầu hết các mẫu rác thải hộ dân và trên 15% trong rác thải khách sạn và cơ quan doanh nghiệp Nếu thực hiện tốt việc phân loại rác thải tại nguồn sẽ tạo ra nguồn tài nguyên lớn cũng đồng thời làm giảm nguồn kinh phí cho việc thu gom và vận chuyển, cũng như giảm bớt khó khăn đối với việc xử lý chất thải rắn, trong đó đặc biệt là giảm bớt diện tích chôn lấp rác thải

Từ khóa – chất thải rắn sinh hoạt; phân loại rác tại nguồn; quận Thanh Khê

SURVEY ON EVALUATION OF STATUS AND PROPOSING TECHNICAL SOLUTIONS FOR SOLID WASTE MANAGEMENT IN THE AREA OF TAM

THUAN AND THAC GIAN WARDS, THANH KHE DISTRICT, DA NANG CITY Abstract – This thesis conducts an investigation to assess the current situation of solid waste

in Tam Thuan and Thac Gian wards, Thanh Khe district, Da Nang city in order to find out the factors affecting the garbage disposal habits of people, at the same time determine the composition and nature of domestic waste; waste generation coefficient and estimate the total amount of waste generated Simultaneously, analyzing the factors affecting the people's waste separation habits, thereby proposing solutions to minimize waste generation and improve the efficiency of waste separation at source

The study results show that the total amount of waste generated in Tam Thuan and Thac Gian wards is 26.77 tons / day, of which household solid waste accounts for 55.98% In the composition of waste, food waste accounts for a relatively high proportion: of households, accounting for over 57%; for restaurants and hotels, about 40% Plastic, nylon, plastic components account for over 12% in most household waste samples and over 15% in hotel and corporate waste If good segregation of waste is done at the source, it will create a large resource, which will also reduce the funding for collection and transportation, as well as reduce the difficulty of solid waste disposal, especially reducing landfill waste area

Key words - domestic solid waste; sorting waste at source; Thanh Khe district

DUT.LRCC

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH SÁCH CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 6

1.1.Chất thải rắn sinh hoạt 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Nguồn gốc phát sinh 6

1.1.3 Phân loại chất thải rắn 7

1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 7 1.2.Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam 10

1.2.1 Hiện trạng phát sinh, quản lý và xử lý CTR sinh hoạt trên Thế giới 10

1.2.2 Hiện trạng phát sinh, quản lý và xử lý CTR sinh hoạt tại Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng 13

1.3.Các vấn đề tồn đọng 20

1.4.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 20

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1.Tổng quan về khu vực nghiên cứu 21

2.1.1 Vị trí địa lí 21

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 21

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 22

2.2.Nội dung nghiên cứu 23

2.3.Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu 23

2.3.2 Phương pháp lựa chọn mẫu 24

2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát 25

2.3.4 Phương pháp xác định khối lượng, thành phần chất thải rắn sinh hoạt 26

2.3.5 Phương pháp đo đạc, phân tích tại hiện trường 29

2.3.6 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

3.1.Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt 31

3.2.Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 33

3.2.1 Hiện trạng thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 33

3.2.2 Các vấn đề tồn tại 35

DUT.LRCC

Trang 6

3.3.Đánh giá thực trạng áp dụng chương trình phân loại rác tại nguồn 38

3.3.1 Nhận thức của người dân về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn 38

3.3.2 Tiếp cận của người dân phường đối với chương trình phân loại chất thải tại nguồn của thành phố 40

3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen phân loại rác tại nguồn 43

3.3.4 Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng chương trình phân loại rác tại nguồn 44 3.4.Hệ số phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt từ các nguồn thải 45

3.4.1 Hệ số phát sinh và thành phần CTR hộ gia đình tại phường Tam Thuận và Thạc Gián 45

3.4.2 Hệ số phát sinh và thành phần CTR khách sạn, nhà hàng, cơ quan doanh nghiệp, siêu thị - tạp hóa 49

3.5.Dự báo tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và đánh giá tiềm năng thu hồi vật liệu tái chế trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián 52

3.5.1 Dự báo tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 52

3.5.2 Tiềm năng thu hồi vật liệu tái chế 54

3.6.Đề xuất giải pháp giảm thiểu khối lượng CTR phát sinh và nâng cao hiệu quả chương trình phân loại rác tại nguồn 55

3.6.1 Giải pháp quản lý 55

3.6.2 Giải pháp kinh tế 58

3.6.3 Giải pháp kỹ thuật 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DUT.LRCC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

3.4

Tỷ lệ % khối lượng các thành phần rác thải phát sinh của nhà hàng, khách sạn, cơ quan doanh nghiệp và siêu thị - tạp hóa

DUT.LRCC

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

DUT.LRCC

Trang 9

Số hiệu hình Tên hình Trang

3.26

Tỷ lệ % khối lượng rác thải có khả năng tái chế và không tái chế trong thành phần rác thải chưa thực hiện phân loại của hộ dân

48

DUT.LRCC

Trang 10

Số hiệu hình Tên hình Trang

Trang 11

DANH SÁCH CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết

Những năm gần đây, trong công cuộc phát triển đất nước, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng như môi trường tự nhiên đang bị hủy hoại, các công trình xử lý chất thải chưa hoạt động hiệu quả, ý thức người dân còn thấp, chưa quan tâm nhiều đến việc bảo vệ môi trường Hậu quả các vấn đề về môi trường gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học cũng như ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước đề ra Thành phố Đà Nẵng phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên- Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội

764 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam, cách thành phố Huế 108 km về hướng Tây Bắc Đà Nẵng là một trong những thanh phố dẫn đầu về phát triển kinh tế của đất nước, của nền kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, an ninh của thành phố đang có nhiều bước phát triển vượt bậc Hàng loạt các dự án được xây dựng tại thành phố, cơ sở hạ tầng đô thị ngày càng được cải thiện và phát triển Song song với sự phát triển đó, các nhà lãnh đạo thành phố còn quan tâm đến sự phát triển bền vững, vừa phát triển kinh tế xã hội mà không gây ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân và hệ sinh thái Cụ thể, thành phố đang thực hiện mục tiêu để xây dựng Đà Nẵng trở thành

“Thành phố Môi trường” Các vấn đề môi trường bức xúc đã và đang được các nhà khoa học, lãnh đạo thành phố, người dân chung tay giải quyết, môi trường thành phố Đà Nẵng đang được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây Tuy nhiên, hiệu quả trong công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đang chịu áp lực ngày càng lớn Nguyên nhân từ việc gia tăng dân số, hình thành các khu dân cư mới trong thời gian ngắn, đầu tư về cơ sở hạ tầng còn chậm so với việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, năng lực và phương án vệ sinh môi trường chưa theo kịp thực tế Cụ thể như vấn

đề quản lý chất thải rắn là hết sức cấp bách vì nó là một trong những nguồn chính gây ô nhiễm môi trường sống, suy thoái nguồn nước và là nguyên nhân gây dịch bệnh lây lan, đồng thời ảnh hưởng tới nếp sống cũng như chất lượng cuộc sống của người dân

Thành phố Đà Nẵng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và quá trình đô thị hóa diễn

ra ngày một tăng dẫn đến lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) của thành phố tăng nhanh qua từng năm Hiện nay CTRSH trên địa bàn thành phố khoảng 1.100 tấn/ngày Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), dự báo lượng chất thải rắn của thành phố đến năm 2025 khoảng trên 1.800 tấn/ngày; đến năm 2030 khoảng trên 2.400 tấn/ngày và đến năm 2040 khoảng trên 3.000 tấn/ngày Hầu hết, CTRSH phát sinh của thành phố đang được chôn lấp tại bãi rác duy nhất của thành phố - Bãi rác Khánh Sơn Trong những năm qua chính quyền thành phố đang phải đối mặt với tình

DUT.LRCC

Trang 13

trạng ô nhiễm môi trường do công tác quản lý rác thải chưa hiệu quả và còn nhiều bất cập như chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải dẫn đến khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp cao, không tiết kiệm quỹ đất dẫn đến tình trạng quá tải, ô nhiễm Đồng thời, chi phí thu gom và xử lý chất thải rắn cũng tăng theo, đặc biệt chi phí xử lý lượng nước rỉ rác, mùi hôi, khí thải phát sinh từ bãi chôn lấp Theo tính toán, thời gian chôn lấp còn lại của bãi rác Khánh Sơn khoảng 200 ngày Với diện tích đất có hạn trong khi mức sống ngày càng tăng thì việc lựa chọn cách thức chôn lấp hợp

vệ sinh như hiện nay không còn thích hợp Việc thành phố đang cân nhắc lựa chọn phương án đốt rác phát điện là khá phù hợp, tuy nhiên để thực hiện hiệu quả phương án này trước hét chúng ta cần xác định được lượng chất thải phát sinh hằng ngày, thành phần, tính chất của chúng cũng như nâng cao nhiệt trị để tăng hiệu quả phát điện thông qua việc phân loại rác, và quan trọng hơn hết là phân loại rác tại nguồn

Xuất phát từ những lý do trên, tôi thực hiện đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng

và đề xuất giải pháp kỹ thuật quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” nhằm đưa ra một

số giải pháp phù hợp, cải thiện và tăng cường hiệu quả trong việc quản lý chất thải rắn, phù hợp với chiến lược quốc gia, mục tiêu xây dựng thành phố môi trường và nếp sống văn hóa văn minh đô thị; giảm áp lực rất lớn đối với việc xử lý chất thải rắn của thành phố

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định khối lượng, thành phần phát sinh chất thải rắn sinh hoạt, nhận thức của người dân về việc phân loại rác tại nguồn để trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất phù hợp nhằm cải thiện hiệu quả công tác thu gom, phân loại rác thải tại nguồn trong công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn 2 phường Tam Thuận và Thạc Gián, cũng như thành phố

Đà Nẵng

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn tại phường Tam Thuận và Thạc Gián

- Xác định hệ số phát sinh, thành phần các nguồn thải sinh hoạt

- Ước tính lượng chất thải rắn phát sinh và tiềm năng thu hồi vật liệu tái chế

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn, thực trạng áp dụng phân loại chất thải rắn tại nguồn của hộ gia đình

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phân loại rác tại nguồn

DUT.LRCC

Trang 14

3.1 Điều tra, khảo sát, thu thập các tài liệu, số liệu liên quan

+ Thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa hình, khí tượng thủy văn, kinh tế xã hội phường Tam Thuận và Thạc Gián

+ Khảo sát về khối lượng (sử dụng phương pháp cân), thành phần, tính chất của chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

+ Điều tra, khảo sát các số liệu, thông tin liên quan đến tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

+ Điều tra, khảo sát về nhận thức phân loại rác tại nguồn trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt

3.3 Tình hình áp dụng chương trình phân loại rác nguồn

3.4 Đề xuất giải pháp kỹ thuật, quản lý nâng cao hiệu quả chương trình phân loại rác tại nguồn

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Tài liệu này còn có thể tham khảo cho công tác nghiên cứu các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu có khả năng triển khai, áp dụng vào thực tiễn công tác quản lý chất thải rắn, công tác vệ sinh môi trường nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường và nâng cao chất lượng môi trường sống cho người dân trong khu vực

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phường Tam Thuận và Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

DUT.LRCC

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu có liên quan

+ Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân số tại khu vực nghiên cứu (nguồn: niên giám thống kê kết hợp với các địa phương)

+ Thu thập các số liệu liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Phát phiếu điều tra, khảo sát thực địa xác định hiện trạng môi trường, quá trình thu gom, quản lý chất thải rắn trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

- Phương pháp thống kê và xử lý dữ liệu

Sử dụng phần mềm Excel, để tổng hợp, phân tích các số liệu khảo sát đã thu thập được

- Phương pháp tham vấn cộng đồng

Lập phiếu điều tra gồm các câu hỏi liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu để thu thập thêm thông tin từ các hộ gia đình trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

- Phương pháp lấy mẫu, phân tích

Tiến hành lấy mẫu, phân loại đo đạc xác định khối lượng, thành phần chất thải rắn sinh hoạt

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích các dữ liệu đã có, đánh giá thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thu gom và quản lý CTR trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

6 Kế hoạch thực hiện và kết quả dự kiến

Đề tài dự kiến thực hiện: Từ ngày 7/2019 đến 03/2020

7 Cấu trúc dự kiến luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có

3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan

1.1 Chất thải rắn sinh hoạt

1.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn đô thị trên thế giới và Việt Nam

1.3 Các vấn đề tồn đọng

1.4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Tổng quan khu vực nghiên cứu

DUT.LRCC

Trang 16

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Khảo sát về khối lượng (sử dụng phương pháp cân), thành phần, tính chất chất thải rắn sinh hoạt tại quận Thanh Khê;

2.2.2 Điều tra, khảo sát các số liệu, thông tin liên quan đến tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận Thanh Khê;

2.2.3 Điều tra, khảo sát nhận thức phân loại tại nguồn;

2.2.4 Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.2 Phương pháp lựa chọn mẫu

2.3.3 Phương pháp điều tra, khảo sát

2.3.4 Phương pháp xác định khối lượng, thành phần chất thải rắn

2.3.5 Phương pháp đo đạc, phân tích tại hiện trường

2.3.6 Phương pháp thống kê và xử lý dữ liệu

Chương 3: Kết quả và thảo luận

3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Tam Thuận và Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

3.2 Đánh giá hiện trạng thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Tam Thuận và Thạc Gián

3.3 Đánh giá thực trạng áp dụng chương trình phân loại rác tại nguồn tại phường Tam Thuận và Thạc Gián

3.4 Hệ số phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt từ các nguồn thải tại phường Tam Thuận và Thạc Gián

3.5 Dự báo tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và đánh giá tiềm năng thu hồi vật liệu tái chế trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

3.6 Đề xuất giải pháp Đề xuất giải pháp giảm thiểu khối lượng CTR phát sinh và nâng

cao hiệu quả chương trình phân loại rác tại nguồn

DUT.LRCC

Trang 17

sở, trên đường đi, tại nơi công cộng,… đều sinh ra một lượng rác đáng kể Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất Cho nên, chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người [1]

1.1.2 Nguồn gốc phát sinh

Các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bao gồm:

+ Từ các khu dân cư;

+ Từ các trung tâm thương mại;

+ Từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, các công trình công cộng;

+ Từ các dịch vụ đô thị, sân bay;

+ Từ các trạm xử lý nước thải và từ các ống thoát nước của thành phố;

+ Từ các khu công nghiệp

Các hoạt động quản

Các hoạt động giao tiếp và đối ngoại

Hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người dân

Trang 18

1.1.3 Phân loại chất thải rắn

Để phân loại chất thải rắn sinh hoạt có thể dựa vào rất nhiều tiêu chí khác nhau như: phân loại theo vị trí hình thành, theo thành phần hoá học và vật lý, theo tính chất rác thải,

- Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà người ta phân ra rác thải đường phố, rác thải vườn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác thải hộ gia đình,

Hình 1 2 Các loại chất thải rắn sinh hoạt

- Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể phân ra chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ, kim loại, phi kim,

- Theo mức độ nguy hại, chất thải được phân thành các loại sau:

+ Chất thải nguy hại: bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, chất thải phóng xạ, có nguy cơ

đe dọa đến sức khỏe con người, động vật và cây cỏ

+ Chất thải không nguy hại: là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp [2]

1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng

1.2.4.1 Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và giảm mỹ quan môi trường sống

Trong thành phần CTRSH thông thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn dễ bị phân hủy, lên men, bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và giảm mỹ quan môi trường sống Những người tiếp xúc thường xuyên với rác thải như những người làm trực tiếp công việc thu nhặt các phế liệu từ bãi rác rất dễ mắc các bệnh như: viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai,

DUT.LRCC

Trang 19

mũi, họng và ngoài da, phụ khoa Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, trên thế giới mỗi năm có 5 triệu người chết và có gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải Nhiều tài liệu trong nước và quốc tế cho thấy, những xác động vật bị thối rữa trong hơi thối có chất amin và các chất dẫn xuất sunfua hydro hình thành từ sự phân hủy rác thải kích thích sự hô hấp của con người, kích thích nhịp tim đập mạnh gây ảnh hưởng xấu tới những người mắc bệnh tim mạch [3]

Tác động của CTRSH lên sức khoẻ con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm sẽ tác động đến sức khoẻ con người thông qua chuỗi thức ăn Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới WHO, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25% dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25% Ô nhiễm không khí do quá trình phân huỷ của rác thải cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ mật thiết giữa ô nhiễm không khí do đốt rác thải với các bệnh lý đường hô hấp [4]

Hơn nữa, chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Nguyên nhân của hiện tượng này là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh hở vẫn còn phổ biến, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và ngập úng khi mưa nhất là sau các dịp lễ hội, các ngày lễ lớn

Hình 1 5 Rác thải vứt bừa bãi sau dịp lễ hội ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị

Nguồn : Internet 1.2.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường

- Đối với môi trường không khí:

CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta

là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người Các chất thải khí phát ra từ các

môi trường không khí [6] Việc đốt rác không được kiểm soát ở những bãi chứa rác có

DUT.LRCC

Trang 20

thể gây ra ô nhiễm không khí nghiêm trọng và cũng sẽ gây ảnh hưởng đến những sinh

vật sống

Hình 1 6 Ô nhiễm không khí do đốt rác thải không kiểm soát tại các vùng nông thôn

Nguồn : Internet

- Đối với môi trường nước:

Theo thói quen, người dân thường đổ rác tại các bờ sông, hồ, ao, cống rãnh,…

Lượng rác này sau khi bị phân hủy sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước

mặt, nước ngầm trong khu vực Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện

tích ao hồ, gây cản trở các dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh thoát nước, giảm tiếp xúc

của nước với không khí làm giảm oxi trong nước, giảm khả năng tự làm sạch của nước,

gây phú dưỡng nguồn nước làm sinh vật trong nước mặt bị suy thoái Việc ô nhiễm các

nguồn nước mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả,

lỵ, trực khuẩn, thương hàn,… ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng [5]

Hình 1 7 Rác thải vứt bừa bãi xuống ao, hồ, kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường nước

Nguồn : Internet

- Đối với môi trường đất:

Trong thành phần CTRSH có chứa nhiều các chất độc, do vậy khi rác thải được

đưa vào môi trường các chất độc sẽ xâm nhập vào đất và tiêu diệt nhiều loại sinh vật có

ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch, nhái,…

làm giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng Đặc biệt

DUT.LRCC

Trang 21

hiện nay sử dụng các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50 - 60 năm mới phân hủy hết, do đó chúng tạo thành các “bức tường ngăn cách” trong đất, hạn chế mạnh đến quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút [5]

Hình 1 8 Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe con người

1.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam

1.2.1 Hiện trạng phát sinh, quản lý và xử lý CTR sinh hoạt trên Thế giới

Ngân hàng Thế giới từng đưa ra cảnh báo, số lượng chất thải rắn mà loài người thải ra, sẽ tăng từ 1,3 tỷ tấn hiện nay lên 2,2 tỷ tấn vào năm 2025, chi phí quản lý chất thải trên toàn cầu tăng từ 205 tỷ USD lên 375 tỷ USD/năm Nếu không có chiến lược

xử lý và tái chế rác thải rắn ở các thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh và các quốc gia thu nhập thấp, việc xảy ra cuộc khủng hoảng rác là khó tránh khỏi [6]

Ý thức được các thách thức của tương lai, nhiều quốc gia đã có chính sách thiết thực về quản lý, thu gom và xử lý rác Họ đưa ra nhiều biện pháp và quy định để khuyến khích người dân chấp hành, tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Qua chuỗi thực phẩm

Kim loại nặng,

Chất độc

Môi trường không khí

Chất thải sinh hoạt

Người, động vật

Ăn uống, tiếp xúc qua da

Qua chuỗi

hô hấp

DUT.LRCC

Trang 22

tại nguồn từ các hộ gia đình, áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại, các trường hợp cố tình vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc, Để giảm gánh nặng chi phí cho người dân, chính quyền nhiều nơi cũng tiến hành trợ giá cho các công ty thu gom rác

Chất thải rắn bao gồm cả rác thải và bùn từ các nhà máy xử lý nước thải và các loại phế thải khác từ các hoạt động công nghiệp, các chất thải có thể gây ô nhiễm được

xử lý theo phương pháp riêng, không phải đem chôn Tùy loại, rác hữu cơ nhà bếp một phần được sử dụng để trồng nấm thực phẩm; phần lớn hơn được chôn lấp có kiểm soát

để thu hồi khí sinh học cung cấp cho phát điện, làm phân bón Hầu hết rác thải có các đặc tính phù hợp được tận dụng làm nguyên liệu, hoặc sử dụng trong ngành xây dựng

Sử dụng vật liệu tái chế sẽ giúp giảm đáng kể mức độ ô nhiễm so với sử dụng vật liệu mới, việc chôn lấp và đốt rác là các phương pháp không chỉ có tác động rất lớn về môi trường mà còn gây thiệt hại về mặt kinh tế Nước từ rác thải chôn lấp lan ngấm xuống làm ô nhiễm đất và mạch nước ngầm, mà để xử lý triệt để, cần một nguồn ngân sách rất lớn

Theo một nghiên cứu, hầu hết các túi nilong chỉ được sử dụng một lần duy nhất sau khi sản xuất và 95% giá trị của các túi nilong, tương đương khoảng 80 - 120 tỷ USD đang bị lãng phí mỗi năm Ước tính, việc tái chế 1 tấn nhựa sẽ giúp tiết kiệm 3,8 thùng dầu thô, hiện tại, tỷ lệ tái chế rác thải hàng năm tại Mỹ là trên 30% (khoảng 90 triệu tấn/năm), nếu tỷ lệ tái chế đạt 75%, sẽ tương đương với việc giảm được lượng khí thải của 55 triệu ôtô đi lại trên đường, đồng thời tạo mới 1,5 triệu việc làm cho nền kinh tế [7]

Thụy Điển là một trong những quốc gia đi đầu thế giới về tái chế chất thải rắn sinh hoạt, đã áp dụng chính sách tái chế thống nhất trên toàn quốc Rác thải hữu cơ tại các gia đình được làm nhiên liệu đốt cho các nhà máy và sưởi ấm, các loại rác không cháy được, được tách ra để tái chế, các loại rác vô cơ dùng để trải đường, làm mái ngói, gạch lót sàn Có tới 96% rác được tái chế, chỉ 4% được đem chôn lấp Tính theo đầu người, trung bình mỗi năm một người Thụy Điển chỉ chôn lấp khoảng 7 kg rác thải, trong khi con số này ở Anh là 260 kg Nếu vào năm 1975, chỉ có 38% rác thải ở Thụy Điển được tái chế, thì đến nay, đây là quốc gia đầu tiên chạm mốc tái chế, tái sử dụng 99% rác thải sinh hoạt hàng ngày của người dân Điều đặc biệt là dù đã tái chế 99% lượng rác thải, các nhà máy tái chế ở đây vẫn không đủ nguyên liệu và phải nhập khẩu rác từ nước ngoài Hàng năm, hơn 30 lò đốt trên lãnh thổ nước này tiêu thụ tới 5,5 triệu tấn rác thải, trong đó 20% (tương đương khoảng 1 triệu tấn), phải nhập khẩu từ Na Uy, Anh hoặc Italy Thụy Điển hiện đang nhắm tới một nguồn rác giá rẻ khác - rác trên các đại dương [7]

Ở Đan Mạch, các chính quyền địa phương chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải Tại Horsholm, chỉ có 4% rác thải được đưa tới bãi rác, 1% (gồm hoá chất, sơn và chất thải điện tử) được chuyển tới bãi chôn đặc biệt, 61% chất thải của thành phố được

DUT.LRCC

Trang 23

tái chế và 34% được đốt trong nhà máy để thu năng lượng Các nhà máy này sử dụng các thiết bị sàng lọc mới để loại những chất có thể gây ô nhiễm trước khi đưa rác vào lò đốt Mức ô nhiễm trong khói của các nhà máy này thấp hơn tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt của châu Âu từ 10 đến 20% [7]

Ở Singapore, từ năm 2001, chính phủ đã triển khai chương trình xử lý rác thải nhằm tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh Tỷ lệ tái chế rác hiện ở mức cao là 60%, Singapore chỉ chôn 2% lượng rác thải rắn và đã xây đảo nhân tạo được bồi lấp từ rác Nước này cũng dùng phương pháp đốt, nhờ đó giảm được lượng rác đổ vào các bãi chôn đồng thời có thể tạo

ra điện năng Hiện nay, 4 nhà máy đốt 38% rác thải đáp ứng gần 3% nhu cầu điện năng của Singapore [7]

Ở Nhật Bản, nơi lượng rác thải ước tính khoảng hơn 45 triệu tấn/năm, vấn đề xử

lý rác thải và đảm bảo an ninh rác được thực hiện tốt nhờ áp dụng thành công hệ thống phân loại rác ngay từ đầu và áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại Rác thải sẽ được phân loại một cách kỹ lưỡng, các vật liệu khó cháy sẽ được đốt bằng tầng sôi Một

số khác được treo lên trên lớp đệm tro nóng sủi bọt để luồng không khí nóng thổi qua, giúp thúc đẩy các phản ứng hóa học diễn ra Công nghệ đốt thân thiện với môi trường

nhanh cả những vật liệu cứng, có giá thành rẻ hơn nhiều loại hình khác Hai sân bay quốc tế là Chubu Centrair và Kansai đều được xây trên những hòn đảo nhân tạo được bồi lấp từ rác [8] Có khoảng 20,8% tổng lượng rác thải hằng năm được Nhật Bản đưa vào tái chế, đặc biệt là các chai nhựa tổng hợp Nhiều công ty Nhật Bản đang tăng cường

sử dụng nhựa từ chai cũ để sản xuất mới Chai lọ chưa trải qua quá trình lọc có thể được chuyển thành sợi may quần áo, túi, thảm và áo mưa [7]

Ở Hàn Quốc, cách quản lý chất thải giống với Nhật Bản, nhưng cách xử lý lại

giống ở Đức Rác hữu cơ nhà bếp một phần được sử dụng làm giá thể nuôi trồng nấm thực phẩm, phần lớn hơn được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biogas cung cấp cho phát điện Sau khi rác tại hố chôn phân huỷ hết, tiến hành khai thác mùn ở bãi chôn làm

DUT.LRCC

Trang 24

phân bón Như vậy, tại các nước phát triển việc phân loại rác tại nguồn đã được tiến hành cách đây khoảng 30 năm và đến nay cơ bản đã thành công trong việc tách rác thành

2 dòng hữu cơ dễ phân huỷ được thu gom xử lý hàng ngày, rác khó phân huỷ có thể tái chế hoặc đốt, chôn lấp an toàn được thu gom hàng tuần [8]

Trong khi đó, tại Bangkok (Thái Lan), việc phân loại rác tại nguồn chỉ mới thực

hiện được tại một số trường học và một số quận trung tâm để tách ra một số loại bao bì

dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và cuốn nilon rất kỹ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm [8]

1.2.2 Hiện trạng phát sinh, quản lý và xử lý CTR sinh hoạt tại Việt Nam nói chung

Bảng 1 1 Lượng CTRSH đô thị phát sinh qua các năm tại một số địa phương [9]

TT Địa phương Lượng CTRSH đô thị phát sinh (tấn/năm)

DUT.LRCC

Trang 25

xử lý CTRSH bằng công nghệ chôn lấp chiếm đến 75% tổng lượng CTRSH phát sinh hằng năm Ðáng lo ngại, hiện nay các bãi chôn lấp đã quá tải và một số bãi chôn lấp gây

ô nhiễm, không hợp vệ sinh, tạm bợ, lộ thiên, không có hệ thống thu gom và xử lý nước, quá tải, không được che phủ bề mặt, không phun hóa chất khử mùi và diệt côn trùng,… Một số vùng nông thôn, thị xã, thị trấn đang áp dụng các mô hình lò đốt CTRSH không khí tự nhiên tuần hoàn thay cho phương pháp chôn lấp nhưng chưa có hệ thống

xử lý khói hoặc có nhưng chưa đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt CTRSH Mặc dù thời gian qua, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã ban hành nhiều

cơ chế, chính sách quy định cụ thể về quản lý, khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ dự án đầu

tư xử lý CTRSH nhưng thực tế cho thấy, việc áp dụng các quy định tại một số địa phương còn nhiều bất cập dẫn đến việc phản đối của người dân tại địa điểm quy hoạch xử lý CTRSH Phần lớn bãi chôn lấp ở các đô thị nhỏ thường không hợp vệ sinh, một số bãi rác tại nông thôn phát sinh tự phát không theo quy hoạch Ngoài ra, hầu hết công nghệ

xử lý CTRSH nhập khẩu không phù hợp thực tế, trong khi thiết bị, công nghệ trong nước chưa đồng bộ, mức độ tự động hóa chưa cao

Trước thực trạng nêu trên, năm 2018 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm

2050 theo Quyết định số 419/QĐ-TTg Theo đó, quản lý tổng hợp CTR là kết hợp các phương pháp theo tiếp cận tổng thể để quản lý chất thải trong toàn bộ vòng đời chất thải

từ khi phát sinh đến xử lý cuối cùng; được thực hiện liên vùng, liên ngành, đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường Chiến lược đặt mục tiêu cụ thể như: Phấn đấu đến năm 2025, có 90% tổng lượng CTRSH phát sinh tại các đô thị được thu gom và xử lý đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường; đưa tỷ lệ CTRSH xử lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp chỉ còn tỷ lệ dưới 30% so với lượng chất thải được thu gom; tận dụng tối đa lượng chất thải hữu cơ để tái sử dụng, làm phân compost hoặc

tự xử lý tại các hộ gia đình thành phân compost để sử dụng tại chỗ

Bên cạnh đó, hệ thống tổ chức trong quản lý CTR đã dần đi vào nề nếp Đối với lĩnh vực quản lý CTR thông thường về cơ bản đã được phân định khá rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành trong Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Nghị định số 59/2007/NĐ-CP, Nghị định số 80/2014/NĐ-CP Đối với việc phân cấp quản lý CTR ở địa phương, theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Chính phủ giao cho UBND cấp tỉnh phân công, phân cấp trách nhiệm cho các cơ quan chuyên môn (Sở Xây dựng hoặc giao cho Sở TN&MT) chủ trì quản lý

Một trong những vấn đề đáng lưu tâm nữa đó là thực trạng sử dụng túi nilon hiện nay Ở nước ta, các loại túi nilon được sử dụng tràn lan trong các hoạt động sinh hoạt

xã hội, chủ yếu là loại túi siêu mỏng Với tốc độ sử dụng đồ nhựa, túi nilon như hiện nay, Việt Nam được xếp vào nước có số lượng rác nhựa thải ra gấp đôi so với các nước

có thu nhập thấp Chỉ riêng 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP HCM, trung bình mỗi ngày

DUT.LRCC

Trang 26

thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nilon Con số này không ngừng tăng lên

và chất thải là túi nilon chiếm khối lượng khá lớn trong thành phần nhựa thải Đáng nói, lượng chất thải nhựa và túi nilon ở nước ta chiếm khoảng từ 8 đến 12% trong chất thải rắn sinh hoạt

Các túi nilon này nhỏ, mỏng, ít có giá trị đối với người thu gom, tái chế nên tồn tại khá nhiều trong các bãi chôn lấp và hầu như không phân hủy Các túi nilon nếu bị đốt cháy ở các bãi rác sẽ gây ô nhiễm môi trường không khí do phát thải các khí ô nhiễm như : HCl, VOC, Dioxin, Furan, [9] Ngành công nghiệp tái chế chưa phát triển do chưa được quan tâm đúng mức Một số địa phương đã và đang thực hiện những dự án 3R (Reduce – Reuse – Recycle), điển hình là Dự án 3R Hà Nội, song nhìn chung mới chỉ thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ và thiếu định hướng Nếu phân loại tại nguồn tốt, chất thải rắn sinh hoạt có thể tái chế khoảng 60 - 65% Chất thải hữu cơ cao trong rác thải sinh hoạt có tiềm năng lớn trong việc chế biến phân compost

Trong các nguồn phát sinh CTRSH, lượng CTRSH tăng nhanh theo quy mô dân

số đô thị Ước tính lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình

10 - 16 % mỗi năm Lượng CTRSH đô thị tăng mạnh ở các đô thị lớn như thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, nơi có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tăng nhanh, chiếm tới 45,24%, tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị lớn trên cả nước Tỷ lệ CTRSH chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%) Tại khu vực nông thôn, lượng CTRSH phát sinh trung bình khoảng 0,33 kg/người/ngày Vùng đồng bằng sông Hồng và Cửu Long là 0,4 kg/người/ngày, thấp nhất là vùng núi phía Bắc (0,2 kg/người/ngày) Đến nay, số lượng CTRSH nông thôn hiện chưa được thống kê đầy đủ do công tác quản lý CTRSH nông thôn còn hạn

chế [9]

Thành phố Hồ Chí Minh: Mỗi ngày có 8.300 tấn CTRSH trong khi đó công nghệ

xử lý CTRSH chủ yếu vẫn là chôn lấp, chiếm 76% Nếu không có giải pháp xử lý, đến năm 2020, thành phố Hồ Chí Minh sẽ không còn đất để chôn lấp Đối với CTRSH, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố đã triển khai nhiều mô hình phân loại, xử lý theo hướng tái chế trong khu dân cư, như: ủ phân compost từ rác thải hữu cơ (55 mô hình),

ủ phân compost thành phân hữu cơ trong xây dựng nông thôn mới (10 mô hình), ủ phân compost từ rác thải hữu cơ kết hợp trồng rau trên bồn chứa rác (10 mô hình), Ngoài

ra, một số nhà máy xử lý rác thải tập trung theo hướng tái chế thành phân compost ở Củ Chi nhưng sản phẩm đầu ra có chất lượng thấp nên khó tiêu thụ Tuy nhiên, việc xử lý CTRSH của thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải chôn lấp đến 76% tại 2 bãi rác Phước Hiệp (Củ Chi) và Đa Phước (Bình Chánh) Thành phố sẽ ưu tiên những nhà đầu tư có kinh nghiệm thực hiện đầu tư và vận hành các dự án đốt rác phát điện tương tự có công suất hơn 1.000 tấn/ngày, ưu tiên tự động hóa của dây chuyền thiết bị theo tiêu chuẩn các nước G7, có hệ thống phân loại để thu hồi tái chế trước khi đốt, thiết kế mô đun bảo

DUT.LRCC

Trang 27

đảm khối lượng trong trường hợp khối lượng rác vượt 1.000 tấn/ngày, có phương án tiêu thụ điện năng và sản xuất điện năng [10]

Thủ đô Hà Nội: Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt của Ban đô thị, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy, trung bình mỗi ngày toàn thành phố phát sinh khoảng 6.500 tấn CTRSH Hai bãi rác lớn nhất là bãi Nam Sơn và bãi Xuân Sơn tiếp nhận khoảng 90% lượng rác này, số còn lại được xử lý bằng phương pháp đốt Hai bãi rác lớn kể trên đang phải hoạt động hết công suất và nếu không có giải pháp công nghệ thay thế thì sẽ buộc phải đóng bãi vào cuối năm 2020 Song song với vấn đề này, các nhà máy xử lý rác bằng công nghệ đốt không phát điện

đã lạc hậu, thường xuyên xảy ra hư hỏng Chất thải rắn sinh hoạt tồn đọng vương vãi xảy ra trên nhiều tuyến đường, tuyến phố, ngõ vào các cung giờ từ 9 - 11 giờ sáng, 14 -

16 giờ chiều hàng ngày, nhất là ở các tuyến đường, tuyến phố có nhiều hộ, cá nhân kinh doanh, buôn bán ở khu vực đô thị và các tuyến đường, ngõ có tần suất thu gom thấp từ 2- 3 lần/tuần ở khu vực nông thôn, chưa được thu gom kịp thời ảnh hưởng môi trường

An, Hòa Thọ Công suất hoạt động trung bình 72 tấn/ngày Toàn thành phố có 133 điểm tập kết thùng, trung chuyển rác tạm thời Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các điểm tập kết rác vẫn thường xuyên xảy ra gây ảnh hưởng đến dân cư xung quanh [11]

Bảng 1 2 Khối lượng CTR sinh hoạt thu gom tại thành phố Đà Nẵng trong năm 2017

Trang 28

Quá trình thu gom CTRSH tại khu vực nội thành được thực hiện chủ yếu bằng 4 phương thức: (1) thu gom bằng thùng rác đặt cố định trên đường phố; (2): thu gom bằng thùng rác đặt theo giờ; (3) thu gom bằng xe ba gác; (4) thu gom trực tiếp bằng xe cuốn

ép

(1) Thu gom bằng thùng rác đặt cố định trên đường phố: Công ty CP MTĐT Đà

Nẵng bố trí gần 2.000 thùng rác tiêu chuẩn (240L/280L) đặt cố định trên các tuyến đường chính, rác thải sinh hoạt từ các hộ dân gần các đường phố chính được bỏ vào các thùng rác cố định trên đường phố Sau đó, Công ty CP MTĐT Đà Nẵng sử dụng xe ép rác để nâng các thùng rác cố định trên đường phố và các thùng rác trong cơ quan, doanh nghiệp, chợ… vận chuyển lên khu xử lý CTR Khánh Sơn để xử lý

(2) Thu gom bằng thùng rác đặt theo giờ: Phương thức thu gom rác thải theo giờ

được triển khai từ năm 2012 Theo đó, đến thời gian quy định Công ty CP MTĐT Đà Nẵng sử dụng xe tải nhỏ (2-3tấn) chở thùng rác (240L/280L) đến đặt tại các vị trí trên đường phố Sau đó, xe thu gom sẽ đến nâng gắp và vận chuyển lên khu xử lý CTR Khánh Sơn Như vậy, người dân, cơ quan, doanh nghiệp chỉ được bỏ rác thải vào thùng rác trong khoảng thời gian đã định Thùng sau khi nâng gắp được xe tải nhỏ (2-3 tấn) đưa về điểm tập kết để vệ sinh chuẩn bị cho một chu kỳ tiếp theo

(3) Thu gom bằng xe ba gác: Rác thải từ các hộ dân sống trong kiệt, hẻm và các

khu dân cư, rác thải của cơ quan, doanh nghiệp, chợ được công nhân của Công ty CP MTĐT Đà Nẵng kéo (đạp) xe ba gác mang thùng rác đến thu gom, sau đó vận chuyển

về trạm trung chuyển để xe Cuốn ép ép rác đưa lên bãi rác hoặc đưa về điểm tập kết thùng trên đường phố để thu gom cùng phương thức đặt thùng cố định, sau đó vận chuyển đến khu xử lý CTR Khánh Sơn để xử lý

(4) Thu gom trực tiếp bằng xe cuốn ép: Được áp dụng ở các vùng ven, khu vực xa

trung tâm và khu dân cư có đường nhỏ xe lớn không vào được Sử dụng xe cuốn ép nhỏ

có tải trọng < 5 tấn chạy dọc kiệt hẽm vùng ven dùng còi báo hiệu cho người dân đưa rác đổ trực tiếp vào xe hoặc công nhân sẽ gom những bao rác mà người dân đã để sẵn ở trên đường và vận chuyển về khu xử lý CTR Khánh Sơn

DUT.LRCC

Trang 29

Quy trình thu gom CTRSH được thể hiện ở hình 1.10 [9]

Nguồn : Quy hoạch xử lý CTR TP Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn 2050

Cả thành phố chỉ có 1 Khu Xử lý chất thải Khánh Sơn được đầu tư từ Dự án Thoát nước và vệ sinh môi trường từ nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới CTR phát sinh của thành phố được chôn lấp tại Bãi rác Khánh Sơn Công nghệ chôn lấp này có nhiều hạn chế tiêu tốn nhiều diện tích đất, không khai thác, tận dụng được nguồn tài nguyên từ rác thải, tốn kinh phí cho việc xử lý nước rỉ rác và có thể phát sinh ô nhiễm môi trường nếu vận hành không đúng quy trình bãi chôn lấp Bãi rác Khánh Sơn là điểm nóng ô nhiễm môi trường nhưng chỉ được giải quyết bằng các giải pháp tình thế nên gây nhiều bức xúc trong nhân dân

Với lượng CTRSH phát sinh như hiện nay, Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị

Đà Nẵng tính toán khoảng đến cuối năm 2019, đầu năm 2020 nếu không thực hiện các giải pháp nâng cấp, cải tạo các ô rác thì sẽ đạt cao trình thiết kế Do chỉ có khu vực xử

lý rác tại Khánh Sơn nên Đà Nẵng sẽ phải đối mặt với vấn đề an ninh rác vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, và mỹ quan đô thị Trước thực

theo giờ

Thùng rác đặt theo giờ

Trang 30

trạng trên, ngày 19/12/2018, Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành Nghị quyết 204/NQ-HĐND về việc quản lý CTRSH đến năm 2025, với mục tiêu: tất cả phường, xã

tổ chức phân loại CTRSH tại hộ gia đình, 100% khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cơ quan, tổ chức thực hiện phân loại rác thải tại nguồn; tỷ lệ CTRSH tái chế, tái sử dụng đạt 12% năm 2020 và 15% năm 2025; 95% tổng lượng CTRSH phát sinh được thu gom và xử lý; đảm bảo tất cả các khu dân cư, khu đô thị có điểm tập kết, trạm trung chuyển CTRSH được quy hoạch, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật; đáp ứng về phương tiện thu gom, vận chuyển, không để rơi vãi CTRSH tại điểm tập kết và trên đường vận chuyển Theo kế hoạch, đến năm 2020, dừng hoạt động chôn lấp CTRSH không đảm bảo vệ sinh tại bãi chôn lấp; đầu tư xây dựng mới nhà máy xử lý CTR và nâng cấp các công trình đảm bảo xử lý triệt để các nguồn thải phát sinh từ Bãi chôn lấp rác Khánh Sơn; đầu tư cơ sở xử lý CTRSH có tỷ lệ chôn lấp sau xử lý không quá 25%

Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã ban hành Kế hoạch triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố đến năm 2025 nhằm góp phần hoàn thành tiêu chí về tái sử dụng, tái chế CTRSH thành phố đã đề ra tại Đề án “Xây dựng

Đà Nẵng - Thành phố môi trường”, giảm áp lực về chôn lấp CTRSH trên địa bàn thành phố [13]

Hình 1 12 Bãi rác Khánh Sơn, thành phố Đà Nẵng Hiện tại, bãi rác Khánh Sơn đang chứa tổng cộng 3,2 triệu tấn rác Trung bình một ngày, toàn thành phố có 1.100 tấn rác, chưa tính rác thải y tế, công nghiệp Nếu không

có giải pháp mới thì bãi rác này sẽ hết chỗ chứa trong những tháng cuối năm 2019 Ðể giải quyết vấn đề CTRSH trong thời gian tới, thành phố Ðà Nẵng đã thống nhất nâng cấp bãi rác Khánh Sơn thành Khu liên hợp xử lý chất thải rắn, trong đó, một số hạng mục chính sẽ được xây dựng: một nhà máy xử lý rác công suất 1.000 tấn/ngày đêm, một

lò đốt rác y tế và một nhà máy xử lý phân bùn bể phốt Ðối với nhà máy xử lý rác dự kiến sử dụng công nghệ đốt rác phát điện, lựa chọn công nghệ từ châu Âu để vận hành

Dự án này sẽ được tổ chức đấu thầu công khai để chọn đơn vị đầu tư, xây dựng [13]

DUT.LRCC

Trang 31

1.3 Các vấn đề tồn đọng

Hiện nay với lượng rác thải quá khổng lồ phát sinh hằng ngày từ hộ gia đình và các ngành dịch vụ đang dần biến Đà Nẵng trở thành một thành phố ô nhiễm Mặc dù, thành phố Đà Nẵng cũng đã có những đề án, chương trình về phân loại rác tại nguồn tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến việc khó thực hiện lâu dài và triển khai trên diện rộng bởi một số nguyên nhân: kinh phí đầu tư hạn hẹp, thiếu nguồn nhân lực, vật lực, thiếu tính đồng bộ và thiếu sự phối hợp, tham gia, hỗ trợ tích cực của các đơn vị liên quan và người dân Theo báo cáo Quy hoạch xử lý chất thải rắn thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, để quy hoạch CTR sinh hoạt một cách hiệu quả và phù hợp, việc tính toán lượng CTR phát sinh cũng như xem xét đến tính chất và thành phần là thật sự cần thiết cho các giai đoạn quy hoạch trong tương lai tại thành phố Đà

Nẵng Chính vì vậy, đề tài này “Điều tra đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp kỹ

thuật quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng

đến thói quen thải bỏ rác của người dân, đồng thời xác định được thành phần, tính chất rác thải sinh hoạt; hệ số phát sinh rác thải và ước tính tổng lượng rác thải phát sinh Đồng thời, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen phân loại rác của người dân,

từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu phát sinh rác thải và nâng cao hiệu quả phân loại rác tại nguồn

1.4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn tại phường Tam Thuận và Thạc Gián

- Xác định hệ số phát sinh, thành phần các nguồn thải sinh hoạt

- Ước tính lượng chất thải rắn phát sinh và tiềm năng thu hồi vật liệu tái chế

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn, thực trạng áp dụng phân loại chất thải rắn tại nguồn của hộ gia đình

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phân loại rác tại nguồn

DUT.LRCC

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

Phường Tam Thuận và Thanh Khê là khu vực trung tâm quận Thanh Khê, mật độ dân số đông, dân cư tập trung đông đúc, nền kinh tế tại 2 khu vực này trên đà phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây Việc phát triển kinh tế, xã hội và thương mại – dịch vụ và du lịch kéo theo đó là sự gia tăng về số lượng chất thải rắn, lượng CTR này vừa gia tăng về số lượng, vừa ngày cảng trở nên phức tạp về tính chất, thành phần làm cho công tác thu gom, xử lý càng trở nên khó khăn hơn, vì vậy cần phải đưa ra một bản hiện trạng đánh giá tổng quát các nguồn thải, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý,

xử lý phù hợp để tối ưu hóa lượng chất thải lên bãi rác Khánh Sơn và nâng cao hiệu quả chương trình phân loại CTR tại nguồn Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu tại 2 phường Tam Thuận và Thạc Gián từ đó làm cơ sở xem xét, rút kinh nghiệm cho việc nhân rộng các giải pháp phân loại rác tại nguồn đạt kết quả tốt

2.1.1 Vị trí địa lí

Tam Thuận và Thạc Gián là 2 phường thuộc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam Phường được thành lập năm 1997

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

Bảng 2 1 Diện tích phường Tam Thuận và Thạc Gián

Trang 33

 Phía Tây: giáp với phường Xuân Hà

Tân Chính và Chính Gián

Gián và Sân bay Đà Nẵng

Thuận Đông, Quận Hải Châu

Chính Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 - 12, mùa khô kéo dài từ tháng 1- 7 Nhiệt độ trung bình

2.504 mm Số giờ nắng trung bình là 2.156 giờ/năm

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Bảng 2 2 Dân số phường Tam Thuận và Thạc Gián

Là hai phường trung tâm thành phố Đà Nẵng, có mật độ dân số đông, vì vậy Tam Thuận và Thạc Gián lúc nào cũng hòa với sự hối hả, nhộn nhịp đang diễn ra từng ngày theo vòng quay của cuộc sống Sự phát triển kinh tế của phường gắn với xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị, trong đó, tập trung phát triển các ngành nghề thương mại

- dịch vụ như: cho thuê mặt bằng, kinh doanh ăn uống, dịch vụ du lịch,

Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 43/CT-TU của Thành ủy Đà Nẵng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo “Năm văn hóa, văn minh đô thị”, phường Tam Thuận và Thạc Gián

đã xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện, phân công lực lượng, tập trung tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng dân cư với các hình thức như: đưa các nội dung chủ yếu về xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị vào phổ biến trong các buổi sinh hoạt tổ dân phố để từng hộ gia đình nắm rõ, tổ chức các cụm loa di động thường xuyên tuyên truyền tại khu phố, triển khai việc các tổ dân phố ký kết giao ước thi đua, chọn ra

tổ làm điểm để rút kinh nghiệm và bổ sung vào quy ước cho sát với thực tiễn của từng cụm dân cư

Phường còn giao trực tiếp cho các tổ trưởng dân phố phối hợp với Ban công tác Mặt trận, đoàn thể xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, trật

tự an toàn giao thông, kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý các trường hợp vi phạm, gây ảnh hưởng mỹ quan thành phố, không nâng giá, “chặt chém” khách du lịch,… Đến nay, phường Tam Thuận và Thạc Gián đã đề xuất và triển khai nhiều cách làm hay, mô hình sáng tạo, thiết thực như: Hội Liên hiệp Phụ nữ phường thực hiện cuộc vận động “Xây

DUT.LRCC

Trang 34

dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; Hội Người cao tuổi triển khai tuyên truyền, xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh tại các khu dân cư; Mặt trận phường tiếp tục hưởng ứng xây dựng khu dân cư thân thiện, tự giác, an toàn phòng cháy, chữa cháy và an ninh trật

tự tại khu phố,… đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của người dân, mang

lại phố phường sạch đẹp, thông thoáng

2.2 Nội dung nghiên cứu

 Lựa chọn đối tượng khảo sát: đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu cho đề tài này là hộ gia đình không kinh doanh, các cơ sở hoạt động kinh doanh thương mại và cơ quan doanh nghiệp Trên cơ sở các tiêu chí về mức thu nhập của hộ dân, các cơ sở kinh doanh thương mại, cơ quan doanh nghiệp điển hình trên địa bàn phường

 Điều tra, phỏng vấn về thói quen phát sinh chất thải

 Khảo sát, đo đạc khối lượng chất thải phát sinh

 Phân tích, xác định thành phần CTR

 Ước tính tổng lượng chất thải rắn phát sinh: sau khi có tất cả dữ liệu về mẫu rác khảo sát, tổng hợp vào file Excel và thống kê sẽ có kết quả hệ số phát sinh CTR, từ đó

dự báo tổng lượng rác phát sinh trên địa bàn

 Đề xuất giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Tam Thuận và Thạc Gián

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu

- Phương pháp thu thập các tài liệu thứ cấp như: các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các số liệu thống kê thu thập từ UBND phường Tam Thuận, Thạc Gián, các báo cáo, công văn của xí nghiệp Môi trường Thanh Khê, Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận Thanh Khê, Sở Tài nguyên và Môi trường TP Đà Nẵng Các số liệu này được thu thập từ các nguồn nêu trên theo mốc thời gian, có thể là 5 năm gần đây, hoặc các số liệu cũ hơn Vì trên thực tế, có những số liệu được tổng hợp từ các nguồn cũ, không phải năm nào cũng được cập nhật, mà thường được thống kê theo giai đoạn, nhưng trong khuôn khổ đề tài, tác giả cố gắng thu thập và sử dụng những nguồn số liệu mới nhất, để từ đó có thể đưa ra những nhận xét chính xác về hiện trạng, đồng thời dự báo sát hơn về xu hướng biến đổi của các chỉ tiêu

- Nguồn thông tin thu thập được trong quá trình điều tra, phỏng vấn trực tiếp các

hộ gia đình tại phường Tam Thuận và Thạc Gián

- Nguồn thông tin được thu thập từ các đề tài nghiên cứu, luận án, báo cáo khoa học của các sở, ban, ngành, địa phương, sách báo và các phương tiện truyền thông

DUT.LRCC

Trang 35

2.3.2 Phương pháp lựa chọn mẫu

Dựa vào mức thu nhập hộ gia đình, cơ sở kinh doanh, cơ quan doanh nghiệp điển hình để lựa chọn mẫu nghiên cứu bởi mức thu nhập, loại hình kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số phát sinh, thành phần chất thải rắn trong khu vực nghiên cứu Mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên sao cho phân bố đều trên toàn địa bàn từ danh sách các đối tượng được cung cấp bởi chính quyền địa phương Các đối tượng khảo sát tại 02 phường được thể hiện chi tiết qua bảng sau:

Bảng 2 3 Mô tả đối tượng khảo sát tại 02 phường

- Đối với hộ dân: Lựa chọn mỗi mức thu nhập khoảng 30 hộ gia đình không kinh doanh (với các thông tin cơ bản phục vụ sàn lọc), phân bố rải rác trên các tuyến đường phố và địa bàn 2 phường Tam Thuận, Thạc Gián Sau đó, từ 30 hộ gia đình này, sẽ chọn

5 hộ gia đình phục vụ cho khảo sát Kế hoạch về phân chia mức thu nhập của các hộ dân được thể hiện cụ thể như sau:

+ Ít hơn 2.000.000 đồng/người.tháng =>Thu nhập thấp

+ Từ 2.000.000 – 4.500.000 đồng/người.tháng => Thu nhập trung bình + Hơn 4.500.000 đồng/người.tháng => Thu nhập cao

- Đối với cơ sở kinh doanh thương mại, cơ quan doanh nghiệp: Tương tự như đối với hộ gia đình, khảo sát sẽ lựa chọn 10 nhà hàng, 10 khách sạn, 10 cơ quan doanh nghiệp và các siêu thị (với các hoạt động kinh doanh khác nhau) từ đó chọn 2 nhà hàng,

2 khách sạn, 2 siêu thị, 2 cơ quan doanh nghiệp phục vụ khảo sát

DUT.LRCC

Trang 36

Bảng 2 4 Bảng mô tả khối lượng công việc của khảo sát

Nguồn phát sinh

Số phường lựa chọn

(Điểm lấy mẫu)

Số lượng mẫu/

ngày

Số ngày lấy mẫu

Tổng

số mẫu

Số lượng mẫu/

ngày

Số ngày lấy mẫu

Phân tích thành phần

Đánh giá về số lượng mẫu: Số lượng đối tượng khảo sát ở mức tương đối không

cao, chỉ 30 hộ, 4 nhà hàng, 4 khách sạn, 4 siêu thị, 4 cơ quan, tuy nhiên khá đa đạng và

đầy đủ các mức phát thải khác nhau Đồng thời, thì quá trình khảo sát kéo dài liên tục

trong vòng 7 ngày, như vậy sẽ có khoảng 322 mẫu, với số lượng mẫu khảo sát như vậy,

có đủ cơ sở đánh giá cho thành phần chất thải rắn tại khu vực khảo sát

Danh sách và thông tin cụ thể các đối tượng được trình bày ở phụ lục 2

2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát

Số lượng mẫu điều tra được chọn theo công thức Slovin:

Trang 37

N = 7061: Tổng số mẫu (tổng số hộ gia đình của phường Tam Thuận: 3485 hộ

sử dụng trong phần kết quả nghiên cứu ở chương 3 (Mẫu phiếu xem phần Phụ lục 1)

- Thực hiện điều tra phỏng vấn bằng cách phát 100 phiếu khảo sát hộ dân (50 phiếu / phường) tại khu vực nghiên cứu:

nguồn

tại nguồn đạt hiệu quả

2.3.4 Phương pháp xác định khối lượng, thành phần chất thải rắn sinh hoạt

 Xác định khối lượng rác thải từng đối tượng

- Rác thải gồm 3 loại là rác sinh hoạt, thực phẩm thức ăn thừa và rác tái chế có khả năng bán được

- Nhóm khảo sát thu gom và thực hiện cân từng loại Quá trình này thực hiện theo từng ngày

- Tổng khối lượng rác = Rác sinh hoạt + thức ăn thừa + rác tái chế có khả năng bán được

- Nhóm khảo sát ghi chép số liệu và tổng hợp lượng rác sau 7 ngày thực hiện

 Xác định thành phần rác thải phát sinh

- Thành phần rác thải hộ gia đình

DUT.LRCC

Trang 38

+ Rác thải sau khi thu gom về và đã xác định khối lượng từng đối tượng Thực hiện phân loại theo từng nhóm: Hộ gia đình thu nhập thấp, hộ gia đình thu nhập trung bình, hộ gia đình thu nhập cao Thực hiện gộp chung cả 2 phường trong dự án

+ Ghi kết quả số liệu theo từng ngày và kết quả trung bình sau 7 ngày thực hiện

- Thành phần rác thải chợ, nhà hàng, khách sạn, cơ quan doanh nghiệp

+ Phân loại theo từng đối tượng

+ Ghi kết quả số liệu theo từng ngày và kết quả trung bình sau 7 ngày thực hiện

 Quy trình phân loại và xác định thành phần rác thải

- Bước 1: Tập trung các bao rác thải theo nhóm đối tượng khảo sát

- Bước 2: Đổ các loại rác thải theo từng nhóm đã được thu gom xuống sàn (100% khối lượng rác thải thu gom được)

- Bước 3: Tiến hành phân loại, tách riêng từng loại rác thải theo nhóm đã xác định (thể hiện cụ thể ở bên dưới)

 Phân loại thành phần rác thải theo bảng hướng dẫn sau:

Bảng 2 5 Hướng dẫn phân loại rác thải

Có khả năng tái chế Không có khả năng tái chế

- Túi nylon (dẻo), bọc dẻo, bọc xốp nổ

Trang 39

Stt Thành phần Loại rác thải

Có khả năng tái chế Không có khả năng tái chế

giày, băng cao su, dây su…

Bảng phân loại thành phần rác thải có tham khảo “Báo cáo nghiên cứu khả thi

Dự án quản lý chất thải rắn tại bãi rác Khánh Sơn do Tập đoàn kỹ thuật JFE”

(Nhật Bản) thực hiện

- Bước 4: Cân xác định khối lượng của từng loại rác thải

- Bước 5: Dựa vào các dữ liệu thu thập được, tính toán và biểu thị phần trăm từng

loại chất thải

 Quy trình xác định khối lượng thành phần rác thải

- Bước 1: Rác thải được phân loại theo từng nhóm Cho mẫu rác thải một cách nhẹ

nhàng vào thùng chứa cho tới khi thùng được làm đầy

- Bước 2: Nhấc thùng chứa lên cách mặt sàn 30cm và thả xuống, lặp lại thao tác

này 4 lần

- Bước 3: Tiếp tục làm đầy thùng

- Bước 4: Cân và ghi lại kết quả khối lượng của cả thùng và chất thải

- Bước 5: Lấy kết quả ở B4 trừ đi khối lượng thùng chứa

DUT.LRCC

Trang 40

* Lưu ý: Thùng chứa dung tích tùy chọn, tùy thuộc vào khối lượng mẫu rác thải

tương ứng, từ đó lựa chọn dung tích thùng chứa cho phù hợp để đảm bảo thùng chứa được làm đầy bởi mẫu rác thải đó

2.3.5 Phương pháp đo đạc, phân tích tại hiện trường

 Phương pháp lấy mẫu: Phương pháp cân khối lượng CTR

 Phương pháp đo đạc: Sử dụng cân

- Cân tay (khối lượng tối đa: 50kg – sai số 0.1): thường dùng để cân thức ăn thừa, rác hữu cơ dễ phân hủy khối lượng lớn

- Cân bàn (khối lượng tối đa: 5 kg – sai số 0.01): thường dùng để cân các loại rác trọng lượng và khối lượng nhỏ như: rác tái chế, nguy hại,

- Sử dụng kẹp và găng tay cao su trong quá trình phân loại mẫu để tránh các vật sắc nhọn, vật gây nguy hiểm cho tay

 Hướng dẫn cách thức thực hiện cho đối tượng khảo sát

- Tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng khảo sát để thông tin về mục tiêu, nội dung,

kế hoạch khảo sát cho các đối tượng khảo sát và nhận được sự đồng thuận của các đối tượng tham gia khảo sát

- Phát bao nilon và hướng dẫn đối tượng khảo sát chứa rác vào các bao nilon trên

cơ sở giữ nguyên hiện trạng về cách thức phát thải rác thải của các đối tượng khảo sát + Đối với hộ gia đình: hướng dẫn cho các hộ dân tham gia khảo sát về cách thức phát sinh và lưu trữ rác thải Về cơ bản việc phát sinh, phân loại rác thải của các hộ dân được giữ nguyên theo hiện trạng Theo đó, cung cấp cho mỗi hộ gia đình 7 bao chứa rác thải loại 10kg (hộ thu nhập cao bao màu đỏ, hộ thu nhập trung bình bao màu vàng, hộ thu nhập thấp bao màu xanh), đối với các hộ dân có tách rác thải phế liệu (có khả năng bán được), cung cấp 1 bao loại 10kg (màu sọc trắng tím) để thu gom toàn bộ rác này theo tần suất 1 tuần/lần Riêng đối với các hộ dân có tách riêng phần thức ăn thừa (có lẫn nước, chứa trong xô nhỏ tại hộ gia đình) thì chỉ thực hiện cân ghi nhận khối lượng, không thực hiện thu gom, phân loại loại rác thải này

Ngày đăng: 15/12/2020, 00:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w