Có thể nói rằng thương mại quốc tế có ý nghĩa sống còn đối với các nước tham gia vì nó cho phép các quốc gia tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn và chủng loại phong phú hơn mức
Trang 1Qwertyuiopasdfklzcvbnmqwertyuiopa sdfghjklzxcvBÀI GIẢNG
Bài giảng
KINH TẾ QUỐC TẾ
PGS.TS.Trần Văn Hòe
ThS Nguyễn Thùy Trang
Bộ môn Kinh tế
Khoa Kinh tế và Quản lý
Đại học Thủy Lợi
mqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwerty uiopasghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfgh jklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvb nmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwer tyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopas dfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzx cvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmq wertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuio pasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghj klzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbn mqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmrtyuio
MỤC LỤC
Lời nói đầu 5
LỜI NGƯỜI BIÊN SOẠN 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI 6 1.1 Giới thiệu kinh tế quốc tế 6
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu 6
1.1.2 Phương pháp nghiên cứu 6
1.1.3 Nội dung nghiên cứu của môn học 6
1.1.4 Mối quan hệ giữa môn học KTQT với các môn học khác 1
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới 1 1.2.1 Khái niệm về nền kinh tế thế giới 1
1.2.2 Các bộ phận của nền kinh tế thế giới 2
1.3 Những xu thế vận động chính của nền kinh tế thế giới 4
1.3.1 Sự bùng nổ khoa học – công nghệ 4
1.3.2 Xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới 5
1.3.3 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới có xu hướng tăng chậm và không đồng đều giữa các nước và các khu vực 5
1.3.4 Một số vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt 6
PHẦN I : THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 7
Chương 2 7
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 7
2.1 Thương mại quốc tế và lợi ích của thương mại quốc tế 7
Trang 24.3.2 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của M.Porter 61
Chương 5 69
LỢI THẾ THEO QUI MÔ, CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ NỘI NGÀNH 69
5.1 Lợi thế theo qui mô và thương mại quốc tế 69
5.2 Cạnh tranh không hoàn hảo và thương mại quốc tế 72
5.2.1 Khái niệm và chỉ tiêu đo lường thương mại nội bộ ngành 72
5.2.2 Cạnh tranh không hoàn hảo và thương mại nội bộ ngành 76
Lợi thế theo qui mô và cấu trúc thị trường 76
Mô hình cạnh tranh không hoàn hảo 77
Mô hình cạnh tranh không hoàn hảo và thương mại quốc tế nội ngành 78
5.3 Khác biệt chất lượng và thương mại quốc tế nội ngành 80 Chương 6 85
HÀNG RÀO THUẾ QUAN 85
6.1 Thuế quan và phương pháp đánh thuế quan 85
6.1.1 Thuế quan và đặc điểm của thuế quan 85
6.1.2 Phương pháp đánh thuế quan 86
6.1.3 Vai trò của thuế quan 88
6.2 Các loại thuế quan và vai trò của các loại thuế quan 94
6.2.1 Thuế quan xuất khẩu và vai trò của thuế xuất khẩu 94
6.2.2 Thuế quan nhập khẩu và vai trò của thuế quan nhập khẩu 95
6.2.3 Các loại thuế quan khác và vai trò của chúng 95
6.3 Tác động kinh tế của thuế quan 97
6.3.1 Phân tích cân bằng tổng quan của thuế quan 97
6.3.2 Phân tích cân bằng bộ phận của thuế quan 102
Chương 7 109
HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN 109
7.1 Các hàng rào định lượng 109
7.1.1 Cấm nhập khẩu 109
7.1.2 Hạn ngạch nhập khẩu (Import quota) 111
7.1.3 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restraints- VER) 118
7.1.4 Cấp phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu 121
7.2 Các hàng rào mang tính kỹ thuật và văn hóa 121
7.2.1 Các hàng rào liên quan đến giá và quản lý giá 122
7.2.2 Các hàng rào liên quan đến doanh nghiệp 125
7.2.3 Các hàng rào liên quan đến đầu tư 125
7.2.4 Hàng rào kỹ thuật (TBT) 127
7.2.5 Các hàng rào mang tính hành chính 131
7.2.6 Ưu đãi và trợ cấp của chính phủ 132
7.2.7 Các hàng rào phi thuế quan mới 133
CHƯƠNG 8: ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 137
8.1 Đầu tư và di chuyển quốc tế các nguồn lực 137
8.1.1 Đầu tư quốc tế 137
8.1.2 Khái niệm di chuyển nguồn lực quốc tế và các loại nguồn lực di chuyển quốc tế 138 8.1.3 Các đặc trưng cơ bản của việc di chuyển các nguồn lực quốc tế 138
Hộp 8.1 Các công ty đa quốc gia (MNCs) 139
8.2 Di chuyển quốc tế về vốn 140
8.2.1 Khái niệm và các đặc trưng của di chuyển quốc tế về vốn 140
8.2.2 Các loại hình đầu tư quốc tế 140
8.3 Di chuyển quốc tế về lao động 153
8.3.1 Khái niệm di chuyển quốc tế về lao động 153
8.3.2 Nguyên nhân và động lực thúc đẩy di chuyển quốc tế về lao động 153
8.3.3 Những tác động của di chuyển lao động quốc tế về mặt lý thuyết 154
CHƯƠNG 9: CÁC VẤN ĐỀ VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 155
9.1 CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 155
9.1.1 Khái niệm và nguyên tắc hạch toán 155
9.1.1.1 Khái niệm 155
9.1.1.2 Nguyên tắc hạch toán 158
9.1.2 Cơ cấu cán cân thanh toán quốc tế 159
9.1.2.1 Khoản mục thường xuyên 159
9.1.2.2 Khoản mục vốn 161
9.1.2.3 Khoản mục dự trữ chính thức 162
9.1.2.4 Sai sót thống kê 162
9.1.3 Cân đối cán cân thanh toán 163
9.1.4 Mối quan hệ giữa cán cân thanh toán và tổng sản phẩm trong nước, tiết kiệm và đầu tư 167 9.1.5 Các biện pháp giải quyết tình trạng mất cân bằng cán cân thanh toán 167 9.1.5.1 Vay nợ nước ngoài 167
9.1.5.2 Giảm dự trữ ngoại tệ 167
Trang 3LỜI NGƯỜI BIÊN SOẠN
Kinh tế quốc tế cũng là ngành đóng góp cho sự cân bằng của cán cân thanh toán, tạo nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế Để thúc đẩy kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu và vận dụng các lý thuyết cơ bản của kinh tế quốc tế nhằm xác định mô hình kinh tế quốc tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới là một vấn đề quan trọng Sự can thiệp của chính phủ một cách khoa học bằng các công cụ thuế quan và phi thuế quan cùng với những thỏa ước đa phương và song phương trên cơ sở tham gia các định chế thương mại thế giới và khu vực cũng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của kinh tế quốc
tế Để đạt những mục tiêu trên, việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập về kinh tế quốc tế đang ngày càng mở rộng và phát triển trong đội ngũ các nhà quản lý, người làm kinh doanh, giới nghiên cứu và đặc biệt là trong các trường đại học Bài giảng “Kinh tế quốc tế” là một công trình đáp ứng cho các vấn đề nêu trên
Kinh tế quốc tế là một chủ đề quen thuộc với sinh viên, giảng viên, các nhà nghiên cứu, làm chính sách và công chúng Vì vậy, bài giảng “Kinh tế quốc tế” ngoài những nội dung cơ bản về lý thuyết, chính sách và thể chế kinh tế quốc tế, đã cố gắng sử dụng các mô hình, các thí dụ và tình huống để minh họa và làm cho vấn đề trở nên rõ ràng hơn Kết cấu bài giảng gồm tám chương Chương 1 tổng quan về kinh tế quốc tế Phần một về thương mại quốc tế gồm hai nhóm vấn đề Thứ nhất, lý thuyết thương mại quốc tế (Chương 2 đến chương 4) tập trung vào các vấn đề từ mô hình thương mại quốc tế cổ điển đến các mô hình thương mại quốc tế hiện đại; Thứ hai, chính sách thương mại quốc tế (Chương 5 và chương 6) tập trung vào công cụ thương mại quốc tế thuế quan và phi thuế quan Phần hai là các vấn đề đầu tư quốc tế (Chương 7) tập trung vào các vấn đề liên quan đến di chuyển vốn quốc tế, di chuyển lao động quốc tế và đầu tư tài chính quốc tế Phần
ba liên quan đến tài chính quốc tế (chương 8) tập trung vào cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái Nội dung bài giảng gắn lý thuyết với thực tiễn kinh tế quốc tế ngày nay để tạo lập cơ sở
lý thuyết cho những hoạt động kinh tế quốc tế đang diễn ra giữa các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau theo hướng bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và
tự do hóa thương mại toàn cầu
Bài giảng “Kinh tế quốc tế” do PGS.TS Trần Văn Hòe và ThS Nguyễn Thùy Trang, Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy Lợi biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên các chuyên ngành kinh tế và quản trị kinh doanh, nhu cầu nghiên cứu và giảng dạy của các giảng viên, các nhà hoạch định chính sách kinh tế quốc tế và các doanh nhân tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế
Bài giảng “Kinh tế quốc tế” được biên soạn lần đầu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khó tránh khỏi những thiếu sót các tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp
và các bạn đọc
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ NỀN KINH TẾ THẾ
GIỚI 1.1 Giới thiệu kinh tế quốc tế
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Kinh tế quốc tế (hay Kinh tế học quốc tế) nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa các nền kinh tế của các nước và các khu vực trên thế giới
Kinh tế quốc tế là môn khoa học nghiên cứu những vấn đề về phân phối và sử dụng các nguồn lực, tài nguyên giữa các quốc gia, các nền kinh tế thông qua việc trao đổi hàng hoá hữu hình và vô hình, dịch vụ, sự vận động của các yếu tố sản xuất, chuyển đổi tiền tệ
và thanh toán giữa các nước
1.1.2 Phương pháp nghiên cứu
• Duy vật biện chứng
• Thống kê
• Mô hình hóa
• Trừu tượng hóa
• Kiểm soát bằng thực nghiệm
Trang 4Chương 1: Giới thiệu Kinh tế quốc tế và tổng quan về nền
kinh tế thế giới
Chương 2: Lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển
Chương 3: Lý thuyết thương mại quốc tế tân cổ điển
Chương 4: Lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại
Chương 5: Hàng rào thuế quan
Chương 6: Hàng rào phi thuế quan
Chương 7: Đầu tư quốc tế
Chương 5: Cán cân thanh toán quốc tế
Chương 8: Tài chính quốc tế
1.1.4 Mối quan hệ giữa môn học KTQT với các môn học khác
Kinh tế học và Kinh tế học quốc tế: KTQT được xây
dựng trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Kinh tế học
KTQT sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản của
Kinh tế học
KTQT liên quan tới nhiều môn học khác như: Lịch
sử các học thuyết kinh tế, Kinh tế phát triển
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của nền
kinh tế thế giới
1.2.1 Khái niệm về nền kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới là một hệ thống các nền kinh tế của các quốc gia, các tổ chức, các liên kết thương mại quốc tế , các công ty đa quốc gia có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau thông qua quá trình phân công lao động quốc tế
1.2.2 Các bộ phận của nền kinh tế thế giới
• Các chủ thể thương mại quốc tế
• Các quan hệ thương mại quốc tế
1.2.2.1 Các chủ thể thương mại quốc tế
Thứ nhất, là các nền kinh tế quốc gia và các vùng lãnh thổ độc lập trên thế giới Theo trình độ phát triển kinh tế: Các nước phát triển; Các nước đang phát triển; Các nước chậm phát triển Quan hệ giữa các chủ thể: thông qua việc
ký kết các hiệp định kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ
Thứ hai, là các chủ thể ở cấp độ thấp hơn bình diện quốc gia: Các công ty, tập đoàn, đơn vị kinh doanh tham gia vào nền kinh tế thế giới Quan hệ giữa các chủ thể: thông qua việc ký kết các hợp đồng thương mại, đầu tư trong khuôn khổ của những hiệp định được ký kết giữa các quốc gia
Trang 5Thứ ba, là các chủ thể kinh tế ở cấp độ quốc tế: Các tổ
chức quốc tế hoạt động với tư cách là các thực thể độc lập,
có địa vị pháp lý rộng hơn địa vị pháp lý của quốc gia như
UN, IMF, WB, WTO, EU, NAFTA, ASEAN,…
Ngoài ra, còn môt loại chủ thể kinh tế quan trọng là các
công ty xuyên quốc gia, đang chiếm một tỷ trọng lớn trong
các hoạt động TMQT và ĐTQT, chuyển giao công nghệ
1.2.2.3 Các quan hệ thương mại quốc tế
Là bộ phận cốt lõi của nền kinh tế thế giới; Là kết
quả tất yếu của sự tác động qua lại giữa các chủ thể thương
mại quốc tế
Là tổng thể các quan hệ vật chất và tài chính diễn ra
trong lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ có liên quan tới
tất các các giai đoạn của quá trình tổ chức sản xuất Diễn ra
giữa các quốc gia với nhau, giữa các quốc gia và các tổ
chức thương mại quốc tế
Căn cứ vào đối tượng vận động, các quan hệ thương
mại quốc tế được chia thành các hoạt động: Thương mại
quốc tế ; Đầu tư quốc tế; Hợp tác quốc tế về kinh tế và
khoa học – công nghệ; Tài chính quốc tế
1.3 Những xu thế vận động chính của nền kinh tế thế giới
1.3.1 Sự bùng nổ khoa học – công nghệ
Đặc điểm: Là những phát minh khoa học trực tiếp dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ mới, làm thay đổi cách thức sản xuất Khối lượng thông tin và số lượng các phát minh tăng lên nhanh chóng Khoảng thời gian từ nghiên cứu phát minh đến ứng dụng được rút ngắn Phạm vi hoạt động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ ngày càng được mở rộng
Tác động: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gây những đột biến trong tăng trưởng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia theo hướng tối ưu hơn, sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn Thay đổi quan niệm về nguồn lực phát triển, trong đó con người có trình độ khóa học và công nghệ giữ vai trò quyết định Thay đổi chính sách ngoại giao, chính sách phát triển của các quốc gia theo xu hướng mở cửa, hội nhập Thay đổi tương quan lực lượng giữa các nền kinh
tế và hình thành các trung tâm kinh tế thế giới như NAFTA, EU
Trang 61.3.2 Xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới
Đặc điểm:
Quá trình quốc tế hóa diễn ra với quy mô ngày càng
lớn, tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực sản
xuất, thương mại, đầu tư, tài chính, dịch vụ,… thúc đẩy xu
thế toàn cầu hóa phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu
Vai trò ngày càng lớn của các hoạt động tài chính –
tiền tệ, các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức tài chính
WTO với 164 thành viên điều chỉnh đến 98%
thương mại của thế giới là biểu hiện của tự do hóa thương
mại toàn cầu
Xu thế khu vực hóa với sự phát triển của các liên kết
kinh tế thương mại khu vực như EU, ASEAN, NAFTA,
APEC, và các hiệp định thương mại tự do (FTA) song
phương làm sâu sắc thêm xu thế toàn cầu hóa
1.3.3 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới có xu hướng
tăng chậm và không đồng đều giữa các nước và các khu vực
Đặc điểm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế không đồng
đều qua các năm giữa các nước, nhóm nước và vùng Kinh
tế châu Á phát triển năng động nhất Hoạt động mua bán
sáp nhập tăng lên
Tác động: Sự phát triển không đều giữa các nước, nhóm nước đã tạo ra khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế và chênh lệch giàu nghèo và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt
1.3.4 Một số vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt
Đặc điểm: Những vấn đề có tính chất toàn cầu ngày càng tăng lên: Nợ nước ngoài, Ô nhiễm môi trường, Thảm họa thiên nhiên, An ninh Lương thực, Thất nghiệp, Bệnh dịch,
Tác động: Những vấn đề có tính chất toàn cầu tác động đến tất cả các quốc gia và yêu cầu phải có sự phối hợp hành động giữa các nước để cùng nhau giải quyết
Trang 7PHẦN I : THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Chương 2
Chương 2 giới thiệu khái quát về lợi ích, đặc điểm và vai
trò của thương mại quốc tế, đối tượng cũng như phương pháp
nghiên cứu môn học Chương 2 cũng giới hạn nội dung của bài
giảng thương mại quốc tế phù hợp với các đối tượng đào tạo,
các nhà nghiên cứu và giảng viên
2.1 Thương mại quốc tế và lợi ích của thương mại
quốc tế
Thực tiễn hoạt động buôn bán giữa các nước trên thế giới
hiện nay đã cho thấy rõ xu hướng tự do hoá thương mại và vai
trò của thương mại quốc tế đối với tăng trưởng kinh tế của các
nước Thương mại quốc tế đã trở thành một lĩnh vực quan trọng
tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động
quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước
Thương mại quốc tế ngày nay đã không chỉ mang ý nghĩa
đơn thuần là buôn bán mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các
quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy thương mại
quốc tế được coi như là một tiền đề, một nhân tố để phát triển
kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân
công lao động và chuyên môn hóa quốc tế Vậy thương mại
quốc tế là gì?
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận Trao đổi hàng hóa, dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ riêng biệt của các quốc gia
Thương mại quốc tế vừa được coi là một quá trình kinh tế lại vừa được coi là một ngành kinh tế Với tư cách là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế được hiểu là một quá trình bắt đầu từ khâu điều tra nghiên cứu thị trường cho đến khâu sản xuất - kinh doanh, phân phối, lưu thông - tiêu dùng và cuối cùng lại tiếp tục tái diễn lại với quy mô và tốc độ lớn hơn Còn với tư cách là một ngành kinh tế thì thương mại quốc tế là một lĩnh vực chuyên môn hóa, có tổ chức, có phân công và hợp tác, có
cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động, vốn, vật tư, hàng hóa,… là hoạt động chuyên mua bán, trao đổi hàng hóa - dịch vụ với nước ngoài nhằm mục đích kinh tế
Không thể phủ nhận vai trò cần thiết của thương mại quốc
tế đối với sự phát triển kinh tế của các nước hiện nay Có thể nói rằng thương mại quốc tế có ý nghĩa sống còn đối với các nước tham gia vì nó cho phép các quốc gia tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn và chủng loại phong phú hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất trong điều kiện đóng cửa nền kinh tế của nước đó Hay nói cách khác là thương mại quốc tế giúp mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước Bên cạnh đó, nó cũng cho phép các quốc gia thay đổi cơ cấu các ngành nghề kinh tế, cơ cấu vật chất của sản phẩm theo hướng phù hợp với đặc điểm sản xuất của mình hơn Cụ thể:
Trang 8- Thương mại quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong
nước phát triển Thương mại quốc tế là lĩnh vực trao đổi, phân
phối lưu thông hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài, nối sản xuất
và tiêu dùng của nước ta với sản xuất và tiêu dùng nước ngoài
Mà trong quá trình tái sản xuất mở rộng thì khâu phân phối và
lưu thông này được coi là khâu quan trọng, khâu có vai trò
quyết định tới tiến trình sản xuất Sản xuất có phát triển được
hay không, phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào khâu
này Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng thương mại quốc tế
tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất
- Thông qua thương mại quốc tế, các nước có thể nhận thấy
được, giới thiệu được và khai thác được những thế mạnh, những
tiềm năng của đất nước mình, từ đó có thể tiến hành phân công
lại lao động cho phù hợp nhất
- Thương mại quốc tế cũng tạo điều kiện cho các nước
tranh thủ, khai thác các tiềm năng, thế mạnh của các nước khác
trên thế giới để thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển trên
cơ sở tiếp thu những tiến bộ về khoa học công nghệ và sử dụng
những hàng hoá, dịch vụ tốt, rẻ mà mình chưa sản xuất được
hoặc sản xuất không hiệu quả
- Bên cạnh đó thương mại quốc tế cũng góp phần thúc đẩy
quá trình liên kết kinh tế, xã hội giữa các nước ngày càng chặt
chẽ và mở rộng hơn, điều đó sẽ góp phần ổn định tình hình kinh
tế và chính trị của các quốc gia và của toàn thế giới
- Thương mại quốc tế tạo điều kiện nâng cao khả năng tiêu
dùng, tăng mức sống của dân cư Như đã nói ở trên, thương mại
quốc tế cho phép người tiêu dùng có thể tiêu dùng được nhiều
hàng hoá, dịch vụ hơn, chủng loại phong phú hơn, giá rẻ hơn
Đó chính là cơ sở để nâng cao dần mức sống của dân cư các
nước và của thế giới nói chung
- Ngoài ra, thương mại quốc tế cũng góp phần làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước và mở rộng các mối quan hệ quốc tế
2.2 Đặc trưng cơ bản của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế bên cạnh việc phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ thương mại quốc tế thì cũng cần phải tính đến lợi thế tương đối có thể được Có nghĩa là phải luôn tính toán giữa cái
có thể thu được với cái phải trả khi tham gia vào thương mại quốc tế để có biện pháp, chính sách thích hợp So với buôn bán trong nước thì thương mại quốc tế có những đặc trưng riêng Quan hệ buôn bán trong một nước là những quan hệ giữa những người tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông trên
cơ sở phân công lao động và chuyên môn hóa trong nước trong khi đó thương mại quốc tế thể hiện sự phân công lao động và chuyên môn quốc tế ở trình độ kỹ thuật cao hơn và quy mô lớn
Nó được phát triển trong một môi trường hoàn toàn khác so với các quan hệ buôn bán trong nước
Thương mại quốc tế là quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể của các nước khác nhau, các chủ thể có quốc tịch khác nhau
Vì vậy liên quan đến thương mại quốc tế là liên quan đến hàng loạt các vấn đề khác nhau giữa các nước Điều này làm cho
thương mại quốc tế phức tạp hơn rất nhiều so với các quan hệ buôn bán trong nước
Thị trường thế giới và thị trường dân tộc là những phạm trù kinh tế khác nhau Vì vậy, các quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể trong kinh doanh thương mại quốc tế mang tính chất
Trang 9kinh tế -xã hội hết sức phức tạp Quan hệ thương mại quốc tế
diễn ra giữa các chủ thể kinh tế của các nước khác nhau nên
quan hệ này chịu sự điều tiết của các hệ thống luật pháp của các
nước khác nhau, ngoài ra trong thương mại quốc tế người ta còn
thường xuyên sử dụng các luật, điều ước, công ước, qui tắc,
thông lệ,… mang tính chất quốc tế nên hệ thống luật điều chỉnh
trong thương mại quốc tế phức tạp hơn nhiều so với buôn bán
trong nước Ngoài việc phải hiểu rõ và nắm bắt kịp thời những
thay đổi của luật và chính sách của quốc gia thì các nhà kinh
doanh thương mại quốc tế cũng cần phải nắm rõ những vấn đề
này của các nước khác, đặc biệt là phải hiểu rõ những qui định
cụ thể của nước đối tác về mặt hàng, lĩnh vực mà mình kinh
doanh cũng như hiểu và sử dụng tốt những qui định mang tính
chất quốc tế
Cũng giống như luật pháp thì mỗi quốc gia cũng có đồng
tiền riêng của quốc gia mình Trong quan hệ thương mại quốc
tế các nhà kinh doanh phải quan tâm đến không chỉ một đồng
tiền của quốc gia mình mà cần phải nắm rõ tình hình thị trường
tiền tệ, chính sách tiền tệ của các nước khác nữa để lựa chọn sử
dụng một đồng tiền thanh toán hợp lý nhất vì đồng tiền thanh
toán trong thương mại quốc tế là ngoại tệ đối với ít nhất là một
bên tham gia
Trong thương mại quốc tế hàng hoá, dịch vụ được di
chuyển qua biên giới các quốc gia Vì vậy, quan hệ thương mại
quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thương mại quốc tế
của các nước, đặc biệt là việc quản lý thương mại quốc tế thông
qua các công cụ chính sách như thuế, hạn ngạch và các công cụ
phi thuế quan khác của các nước Chính phủ các nước có thể sử
dụng các hàng rào để ngăn ngừa hay điều tiết luồng hàng hoá
nhập khẩu để bảo hộ cho các doanh nghiệp nội địa hoặc cũng có thể sử dụng các công cụ khác như trợ cấp để giúp các doanh nghiệp nội địa tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Ngoài
ra, do phải vận chuyển qua biên giới quốc gia với khoảng cách tương đối xa nên quá trình giao nhận vận chuyển cũng trở nên phức tạp hơn rất nhiều, đòi hỏi thêm nhiều hoạt động kèm theo như làm các thủ tục thông quan, vận chuyển thường thông qua các hãng vận tải, mua bảo hiểm cho hàng hoá,…
Đặc biệt là đối với những hàng hoá, dịch vụ tham gia vào
thương mại quốc tế thì phải phù hợp với những qui định của các nước về chính sách mặt hàng và là loại hàng hoá, dịch vụ mà thế giới chấp nhận Vì vậy đối với hàng hoá, dịch vụ tham gia vào
thương mại quốc tế thường phải đạt được một số tiêu chuẩn nhất định hay nói cách khác là phải được tiêu chuẩn hoá Những tiêu chuẩn này có thể là tiêu chuẩn của quốc gia, có thể là tiêu chuẩn của khu vực và cũng có thể là những tiêu chuẩn quốc tế Nói chung so với thương mại trong nước, thương mại quốc
tế có những nét đặc trưng riêng của mình Chính những nét đặc trưng này làm cho thương mại quốc tế trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với thương mại trong nước, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế phải có một cái nhìn tổng quát, đồng thời phải hiểu rõ được bản chất của các quan hệ thương mại quốc tế chứ không thể nghĩ một cách đơn giản rằng cứ buôn bán trong nước được thì cũng có thể buôn bán với nước ngoài được
2.3 Hoạt động thương mại quốc tế 2.3.1 Giao dịch thương mại hàng hóa quốc tế (1) Giao dịch thương mại trực tiếp
(2) Giao dịch qua trung gian
Trang 10(3) Thương mại đối ứng
(4) Giao dịch tái xuất
(5) Đấu giá quốc tế
(6) Đấu thầu quốc tế
(7) Giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa
(8) Giao dịch tại hội chợ & triển lãm quốc tế
(9) Giao dịch nhượng quyền thương mại
2.3.2 Các phương thức cung cấp dịch vụ quốc tế
(1) Cung cấp dịch vụ thông qua sự vận động của dịch vụ
qua biên giới
(2) Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài
(3) Hiện diện thương mại
(4) Hiện diện tự nhiên nhân (hiện diện thể nhân)
2.4 Chức năng của thương mại quốc tế
- Làm thay đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm
XH và thu nhập quốc dân thông qua XNK
- Nâng cao hiệu quả của nền KTQD do mở rộng trao
đổi khai thác triệt để lợi thế quốc gia
Câu hỏi ôn tập
1 Lợi ích của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế
và vì sao các quốc gia lại tham gia thương mại quốc
tế?
2 Những đặc trưng của thương mại quốc tế? So sánh
đặc trưng của thương mại quốc tế cổ điển và thương
mại quốc tế hiện đại?
3 Khái quát những xu hướng của thương mại quốc tế hiện đại?
Trang 11Chương 3
LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
CỔ ĐIỂN VÀ TÂN CỔ ĐIỂN
Chương 2 tập trung nghiên cứu các lý thuyết thương mại
quốc tế cổ điển và tân cổ điển từ lý thuyết xa xưa nhất là chủ
nghĩa trọng thương đến lý thuyết của Adam Smith, lý thuyết của
D Ricardo Khi nghiên cứu các lý thuyết này, phương pháp mô
hình hóa và các thí dụ minh họa được sử dụng để làm rõ tính
thực tế của các lý thuyết về lợi ích của thương mại quốc tế,
dòng chu chuyển hàng hóa về qui mô, cấu thành và phạm vi
không gian, thời gian Các lý thuyết tân cổ điển được nghiên
cứu trong chương 2 đã tập trung làm rõ mô hình thương mại
quốc tế trong điều kiện khác biệt về tương quan các yếu tố đầu
vào và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào đó Đặc biệt, mô
hình thương mại quốc tế dựa trên lý thuyết tương quan các nhân
tố trong điều kiện chi phí tăng dần trong môi trường thương
mại quốc tế mới cùng nghịch lý của lý thuyết đã được xem xét
làm cơ sở cho thương mại quốc tế hiện đại
3.1 Lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương
Nghiên cứu về thương mại quốc tế một cách tương đối có
hệ thống được bắt đầu từ các quan điểm của trường phái trọng
thương đầu thế kỷ 17 Trong giai đoạn này, vàng và bạc được sử
dụng với tư cách là tiền tệ và là thước đo của cải của các nước
Một quốc gia được coi là phồn vinh hơn nếu như có được nhiều
vàng hơn Trường phái trọng thương lập luận rằng xuất khẩu sẽ
kích thích sản xuất trong nước, đồng thời dẫn đến dòng kim loại quí đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia đó Ngược lại nhập khẩu là gánh nặng vì làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trong nước, và hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của cải của quốc gia do phải dùng vàng bạc chi trả cho nước ngoài Như vậy, của cải của một quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Trên cơ sở đó, trường phái trọng thương cho rằng nhà nước phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch, theo đuổi chủ nghĩa dân tộc về kinh tế Cụ thể là nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất
và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp
Với cách giải thích đơn giản như trên, lập luận của trường phái trọng thương còn rất nhiều hạn chế Trường phái trọng thương chưa giải thích được cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế, chưa thấy được tính hiệu quả và lợi ích từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi, và đặc biệt họ chưa nhận thức được rằng các kết luận của họ chỉ đúng trong một số trường hợp nhất định Ngoài ra, trường phái trọng thương còn thường bị phê phán ở những vấn đề như coi vàng bạc như là hình thức của cải duy nhất, gắn mức cung tiền tệ cao với sự thịnh vượng của quốc gia, coi thương mại là một “trò chơi” có tổng lợi ích bằng không (zero-sum game)
Nhìn chung, lý thuyết trọng thương sớm đánh giá được tầm quan trọng của thương mại quốc tế, coi trọng vai trò chủ thể điều chỉnh quan hệ buôn bán với nước ngoài của Nhà nước Tuy nhiên, quan điểm trọng thương về thương mại còn đơn giản, ít tính lý luận, nặng tính kinh nghiệm, chưa cho phép giải thích bản chất của thương mại quốc tế
Trang 12Tuy nhiên, sự xuất hiện của chủ nghĩa trọng thương kiểu
mới (Neo-merchantilism) trong những thập kỷ cuối của thế kỷ
20 đang là một đề tài gây nhiều tranh luận Theo các nhà trọng
thương mới, Chính phủ của một nước nên tự do hoá thương mại
trong những lĩnh vực có khả năng cạnh tranh quốc tế cao, trong
khi đó vẫn duy trì các biện pháp bảo hộ, hạn chế cạnh tranh
quốc tế đối với những lĩnh vực còn non yếu Vì vậy, cần có sự
phân biệt giữa chủ nghĩa trọng thương nói chung và chủ nghĩa
trọng thương kiểu mới
3.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Đây là lý thuyết có tính hệ thống đầu tiên về thương mại
quốc tế do Adam Smith khởi xướng trong tác phẩm nổi tiếng
Của cải của các dân tộc được xuất bản lần đầu tiên vào năm
1776 Về bản chất, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
được phát biểu rất đơn giản: nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt
hàng X rẻ hơn so với quốc gia B, và quốc gia B có thể sản xuất
mặt hàng Y rẻ hơn so với quốc gia A, thì lúc đó mỗi quốc gia
nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn
và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia Trong trường hợp
này mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất
từng mặt hàng cụ thể Theo Adam Smith, mỗi nước có lợi thế
khác nhau nên chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà
mình có lợi thế tuyệt đối và đem trao đổi với nước ngoài lấy
những sản phẩm mà nước ngoài sản xuất hiệu quả hơn thì các
bên đều có lợi
Để giải thích lý thuyết lợi thế tuyệt đối, có thể xem xét một
mô hình 2 - 2 đơn giản được xây dựng với hai quốc gia (Việt
Nam và Hàn Quốc) và hai mặt hàng (cà phê và thép); chi phí
vận chuyển là không đáng kể và có thể coi như bằng 0; lao động
là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia; tất cả các thị trường đều là cạnh tranh hoàn hảo; không sử dụng tiền trong trao đổi Số lượng lao động cần thiết
để sản xuất ra một đơn vị sản lượng cà phê và thép ở mỗi nước được cho trong bảng 2.1
Bảng 3.1 Chi phí lao động cho sản xuất cà phê và thép
ở Việt Nam và Hàn Quốc Việt Nam Hàn Quốc
Trong điều kiện có trao đổi thương mại quốc tế, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối, Hàn Quốc sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất thép còn Việt Nam chuyên môn hoá vào sản xuất cà phê rồi trao đổi cho nhau thì cả hai quốc gia đều thu được lợi ích Đó là
Trang 13do xuất phát từ động cơ chủ yếu của thương mại giữa hai nước
là mỗi nước đều mong muốn tiêu dùng được nhiều hàng hóa
hơn với mức giá thấp nhất Do giá cà phê ở Hàn Quốc cao hơn
giá cà phê ở Việt Nam (tính theo chi phí lao động) nên Hàn
Quốc sẽ có lợi khi mua cà phê từ Việt Nam thay vì tự sản xuất
trong nước Tương tự, giá thép ở Việt Nam cao hơn ở Hàn Quốc
cho nên Việt Nam sẽ mua thép từ Hàn Quốc thay vì tự sản xuất
trong nước
Ngoài ra, thương mại còn có thể làm tăng khối lượng sản
xuất và tiêu dùng của toàn thế giới do mỗi nước thực hiện
chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt
đối Giả sử Hàn Quốc và Việt Nam mỗi nước có 60 đơn vị lao
động, và số lao động đó được chia đều cho hai ngành sản xuất
cà phê và thép Trong trường hợp tự cấp tự túc, Hàn Quốc sản
xuất (và tiêu dùng) 10 đơn vị thép và 5 đơn vị cà phê, còn Việt
Nam sản xuất và tiêu dùng 6 đơn vị thép và 15 đơn vị cà phê
Sản lượng của toàn thế giới khi đó bao gồm 16 thép và 20 cà
phê Khi thương mại quốc tế được tiến hành trên cơ sở chuyên
môn hoá sản xuất theo quan điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối,
lượng lao động ở mỗi nước sẽ được phân bổ lại Cụ thể là tất cả
60 lao động ở Hàn Quốc tập trung vào sản xuất thép, và 60 lao
động ở Việt Nam thì tập trung vào sản xuất cà phê, lúc đó sản
lượng của toàn thế giới sẽ là 20 thép và 30 cà phê Như vậy,
thông qua chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi, sản lượng của
toàn thế giới đã tăng lên lớn hơn mức sản xuất của mỗi nước
như trong trường hợp tự cấp tự túc Vì vậy, mỗi nước đều có thể
tiêu dùng nhiều hơn lượng mà họ có thể sản xuất ra được trong
điều kiện không có trao đổi thương mại quốc tế Mở rộng khả
năng tiêu dùng vượt ra khỏi ranh giới của đường giới hạn khả
năng sản xuất trong điều kiện tự cấp tự túc chính là động lực của trao đổi thương mại quốc tế
Như vậy, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith thì sự khác biệt về lợi thế tuyệt đối giữa hai quốc gia là nguồn gốc của trao đổi thương mại quốc tế Lý thuyết lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi giữa các quốc gia, mà còn được coi là công cụ để các quốc gia gia tăng phúc lợi Mô hình thương mại này có thể giúp giải thích được một phần của thương mại quốc tế, tuy nhiên vẫn chưa giải thích được lý do của thương mại quốc tế trong mọi trường hợp 2.3 Lý thuyết lợi thế tương đối
Lý thuyết lợi thế tương đối và mô hình giản đơn của D Ricardo
Vì lợi thế tuyệt đối của các nước được xác định trên cơ sở
so sánh lượng lao động thực tế được sử dụng ở các nước khác nhau nên lý thuyết lợi thế tuyệt đối không giải thích được trường hợp tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra khi một nước có lợi thế tuyệt đối (hoặc không có lợi thế tuyệt đối)
về tất cả các mặt hàng Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế tương đối, giúp giải quyết một phần thực tế này Ông cho rằng, nếu mỗi nước chuyên môn hoá vào các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối (có hiệu quả sản xuất so sánh cao nhất) thì thương mại sẽ có lợi cho các bên Nói cách khác, một quốc gia sẽ có lợi khi sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối hay giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia
Vẫn sử dụng mô hình giản đơn 2-2 với hai quốc gia là Việt
Trang 14Nam và Hàn Quốc, sản xuất hai hàng hoá là cà phê và thép; chi
phí vận chuyển là không đáng kể và có thể coi như bằng 0; lao
động là yếu tố đầu vào duy nhất có thể di chuyển được giữa các
ngành của một nước nhưng không thể di chuyển được trên
phạm vi quốc tế; cạnh tranh là hoàn hảo trên cả thị trường hàng
hoá và thị trường các yếu tố sản xuất; không sử dụng tiền trong
trao đổi; bổ sung thêm giả định là hiệu suất không đổi theo qui
mô Chi phí lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm cà phê và thép tính theo lượng lao động cần thiết được
cho trong bảng sau:
Bảng 3.2 Chi phí lao động cho sản xuất cà phê và thép
ở Việt Nam và Hàn QuốcViệt Nam Hàn Quốc
Theo số liệu ở bảng trên thì Hàn Quốc cần nhiều lao động
hơn so với Việt Nam để sản xuất ra cả hai mặt hàng Theo lý
thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thì trong trường hợp
này, Việt Nam sẽ chỉ xuất khẩu và Hàn Quốc sẽ chỉ nhập khẩu
Kết luận này là không thực thế vì sẽ không thể tồn tại trao đổi
thương mại lâu dài giữa một nước chỉ xuất khẩu còn nước kia
chỉ nhập khẩu Tuy nhiên, theo lý thuyết lợi thế tương đối thì
việc Hàn Quốc không có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam ở cả
hai mặt hàng sẽ không cản trở trao đổi thương mại giữa hai
nước
Lợi thế tương đối được xác định trên cơ sở so sánh các mức
giá tương quan của hai hàng hoá Giá tương quan giữa hai mặt
hàng được định nghĩa một cách đơn giản là giá của mặt hàng này được tính bằng số lượng mặt hàng kia Trong mô hình giản đơn trên, giá cả tương quan giữa cà phê và thép được xác định thông qua chi phí lao động Từ số liệu trong bảng 3.2 có thể tính được các mức giá tương quan của cà phê và thép như trong bảng 3.3
Bảng 3.3 Giá cả tương quan giữa hai hàng hoá
Việt Nam Hàn Quốc Thép (1 đơn vị) 2,5 cà phê 0,5 cà phê
Cà phê (1 đơn vị) 0,4 thép 2 thép Trong mô hình này, mặc dù Việt Nam có lợi thế tuyệt đối
về cả hai mặt hàng, nhưng do mức lợi thế về sản xuất cà phê lớn hơn mức lợi thế về sản xuất thép, thể hiện qua bất đẳng thức 2/12 < 5/6 (hay giá cà phê ở Việt Nam rẻ hơn một cách tương đối), cho nên nước này có lợi thế tương đối về mặt hàng cà phê Đối với Hàn Quốc, mặc dù có bất lợi tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức bất lợi trong sản xuất thép nhỏ hơn mức bất lợi trong sản xuất cà phê nên Hàn Quốc có lợi thế tương đối
về thép, thể hiện qua bất đẳng thức 6/5<12/2 (hay giá thép của Hàn Quốc rẻ hơn một cách tương đối) Nói cách khác, mặc dù Việt Nam có thể sản xuất cả cà phê và thép với hiệu quả tuyệt đối cao hơn so với Hàn Quốc nhưng cà phê là mặt hàng mà nư-
ớc này có lợi thế tương đối, còn thép là mặt hàng mà nước này bất lợi tương đối Đối với Hàn Quốc, mặc dù cả cà phê và thép đều có mức hiệu quả tuyệt đối thấp hơn so với Việt Nam nhưng thép lại là mặt hàng mà Hàn Quốc có lợi thế tương đối và cà phê
là mặt hàng Hàn Quốc có bất lợi tương đối
Trang 15Như đã phân tích ở trên, nếu chỉ căn cứ vào lợi thế tuyệt đối
thì Việt Nam có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng,
nhưng nếu so sánh giá tương quan giữa cà phê và thép ở Hàn
Quốc và Việt Nam thì Hàn Quốc có lợi thế so sánh về sản xuất
thép còn Việt Nam chỉ có lợi thế so sánh trong sản xuất cà phê
Như vậy, theo lý thuyết lợi thế tương đối, nếu Hàn Quốc và Việt
Nam thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn vào sản xuất mặt
hàng mà mình có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi với nhau thì
cả hai quốc gia sẽ thu được lợi ích từ thương mại
Thực vậy, nếu thay vì sử dụng 5 đơn vị lao động để sản xuất
1 đơn vị thép, Việt Nam dành 5 đơn vị lao động này để sản xuất
cà phê thì sẽ sản xuất được 2,5 đơn vị cà phê Trong điều kiện
thương mại tự do, nếu 2,5 đơn vị cà phê này được bán sang Hàn
Quốc với mức giá quốc tế bằng mức giá của Hàn Quốc là 1 cà
phê = 2 thép thì Việt Nam sẽ thu về được 5 đơn vị thép (lợi hơn 4
đơn vị thép so với tự sản xuất trong nước) Tương tự, nếu Hàn
Quốc dùng 12 đơn vị lao động để sản xuất thép sẽ được 2 đơn vị
thép (thay vì sản xuất 1 đơn vị cà phê) và bán sang Việt Nam với
mức giá quốc tế bằng mức giá của Việt Nam là 1 thép = 2,5 cà
phê thì Hàn Quốc sẽ thu được 5 đơn vị và phê (cũng có lợi hơn 4
đơn vị cà phê so với việc tự sản xuất cà phê trong nước) Nếu tỷ
lệ trao đổi (mức giá quốc tế) nằm giữa hai mức giá tương quan
của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc thì cả hai nước vẫn sẽ thu
được lợi ích từ thương mại quốc tế nhưng không được nhiều như
hai trường hợp trên Ví dụ như, nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1 thép
= 1 cà phê thì Việt Nam sẽ lợi hơn được 1,5 đơn vị thép so với tự
sản xuất thép trong nước, còn Hàn Quốc thì lợi hơn được 1 đơn
vị cà phê so với tự sản xuất cà phê trong nước Khi đó, giá tương
quan quốc tế 1 thép = 1 cà phê được gọi là tỷ lệ trao đổi quốc tế,
giá tương quan nội địa 1 cà phê = 2 thép ở Hàn Quốc và 1 thép =
2,5 cà phê ở Việt Nam được gọi là các tỷ lệ trao đổi nội địa của Hàn Quốc và Việt Nam
Minh hoạ lý thuyết lợi thế so sánh bằng đồ thị Như ví dụ ở trên, Hàn Quốc sẽ có lợi thế so sánh trong sản xuất thép và Việt Nam sẽ có lợi thế so sánh trong sản xuất cà phê Nếu Hàn Quốc và Việt Nam đều có 120 đơn vị lao động (được giả định là đồng nhất), khi đó có thể xác định được đường giới hạn khả năng sản xuất của hai nước trong điều kiện chưa
có trao đổi thương mại quốc tế
Từ các số liệu trên, có thể vẽ được đồ thị đường giới hạn khả năng sản xuất ở hai quốc gia trong hình 3.1 Vì giả định của
mô hình giản đơn là hiệu suất không đổi theo qui mô nên chỉ cần xác định các điểm đầu nút trên trục tung và trục hoành là có thể xác định được các đường giới hạn khả năng sản xuất Trong trường hợp của Việt Nam, nếu sử dụng toàn bộ lao động để sản xuất cà phê thì sẽ thu được 60 đơn vị cà phê và 0 đơn vị thép (tại điểm V) Ngược lại, nếu toàn bộ lao động được sử dụng để sản xuất thép thì sản lượng tối đa là 24 đơn vị thép (tại điểm V’) Như vậy, đường thẳng nối giữa V và V’ là đường giới hạn khả năng sản xuất của Việt Nam trong điều kiện không có
thương mại quốc tế Có thể nhận thấy rằng nếu mỗi khi Việt Nam cắt giảm 10 đơn vị cà phê thì sẽ có 20 lao động được giải phóng và lượng lao động này đủ để sản xuất thêm 4 đơn vị thép Điều này có nghĩa là 10 cà phê = 4 thép hay 1 cà phê = 0,4 thép Phân tích ở trên gọi đây là giá tương quan của cà phê so với thép ở Việt Nam
Tương tự như vậy, đường giới hạn khả năng sản xuất của Hàn Quốc được xác định bởi hai điểm đầu nút tương ứng là H
và H' là những điểm mà ở đó Hàn Quốc dành toàn bộ lượng lao
Trang 16động sẵn có cho sản xuất tương ứng là cà phê và thép Dọc theo
đường giới hạn khả năng sản xuất HH', nếu cắt giảm 2,5 đơn vị
cà phê thì sẽ giải phóng được 30 lao động, đủ để sản xuất thêm
5 đơn vị thép Như vậy, giá tương quan giữa cà phê và thép ở
Hàn Quốc là 2,5 cà phê = 5 thép hay 1 cà phê = 2 thép Trong
điều kiện tự cấp tự túc, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều chỉ có thể
đạt được mức tiêu dùng tối đa xác định bởi đường giới hạn khả
năng sản xuất Nói cách khác, khi chưa có trao đổi thương mại
quốc tế, đường giới hạn khả năng sản xuất cũng chính là đường
giới hạn khả năng tiêu dùng
Hình 3.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất
của Việt Nam và Hàn Quốc
Khi có thương mại quốc tế, mỗi nước chuyên môn hoá sản
xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tương đối (Việt Nam chỉ sản
xuất cà phê với điểm sản xuất là V, còn Hàn Quốc chỉ sản xuất
thép với điểm sản xuất là H’) Nếu thương mại diễn ra theo mức
giá tương quan của Hàn Quốc (1 cà phê = 2 thép) thì Việt Nam
lệ trao đổi nội địa) của Hàn Quốc và Việt Nam, cụ thể là 0,4 thép
1 cà phê 2 thép (hoặc 0,5 cà phê 1 thép 2,5 cà phê ) Như vậy, điều kiện thương mại (tỷ lệ trao đổi) phải nằm trong khoảng giữa VV’ và VE đối với Việt Nam và giữa HH’ và H’F đối với Hàn Quốc, ví dụ như VT và H’T’ song song với nhau Lợi ích của thương mại quốc tế đối với Việt Nam được minh hoạ bởi khả năng tiêu dùng vượt ra khỏi giới hạn khả năng sản xuất trong trường hợp nền kinh tế đóng Tương tự như vậy, Hàn Quốc cũng có thể tiêu dùng nhiều hơn mức giới hạn bởi đường giới hạn khả năng sản xuất thông qua chuyên môn hoá vào sản xuất thép
để xuất khẩu và nhập khẩu cà phê từ Việt Nam
Hình 3.2 Lợi ích của thương mại quốc tế mở rộng
40
H
Trang 17Trong hình 3.1 và 3.2 ở trên, đường giới hạn khả năng sản
xuất là đường thẳng thể hiện chi phí cơ hội của hai hàng hoá là
không đổi (để có thêm 1 đơn vị cà phê, cần phải hy sinh một
lượng không đổi đơn vị thép) Trong hình 3.2 miền giới hạn giữa
VV’ và VE (hoặc giữa HH' và H'F) thể hiện miền lợi ích từ
thương mại quốc tế, trong đó phần nằm trong giới hạn giữa VT
và VV’ thuộc về Việt Nam, phần nằm giữa VE và VT thuộc về
Hàn Quốc Như vậy, quốc gia nào có nhiều lợi ích hơn khi tham
gia vào trao đổi thương mại quốc tế phụ thuộc chủ yếu vào các
mức giá tương quan nội địa và giá tương quan (tỷ lệ trao đổi)
quốc tế
Qui luật lợi thế tương đối
Như vậy, mô hình giản đơn của D Ricardo về cơ bản vẫn
giữ nguyên các giả định như mô hình của Adam Smith Tuy
nhiên, khái niệm về giá tương quan giữa hai hàng hoá đã được
sử dụng để giải thích nguồn gốc của thương mại quốc tế Trong
ví dụ trên, giá tương quan của cà phê so với thép ở Việt Nam
thấp hơn giá tương quan của cà phê so với thép ở Hàn Quốc thì
Việt Nam có lợi thế so sánh trong sản xuất cà phê, còn Hàn
Quốc có lợi thế so sánh trong sản xuất thép Nếu tồn tại một tỷ
lệ trao đổi quốc tế giữa cà phê và thép nằm trong khoảng giá
t-ương quan của hai nước thì Ricardo kết luận rằng Hàn Quốc
chuyên môn hoá vào sản xuất thép, Việt Nam chuyên môn hoá
sản xuất cà phê, rồi trao đổi cho nhau thì cả hai nước đều thu
được lợi ích từ trao đổi thương mại quốc tế
Quan điểm đơn giản ở trên là cơ sở để phát biểu qui luật lợi
thế tương đối: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối
so với quốc gia kia
Cụ thể, nếu quốc gia A có lợi thế tuyệt đối (hay bất lợi tuyệt đối) trong sản xuất cả hai sản phẩm X và Y thì A sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm X khi và chỉ khi:
Dù có những tiến bộ quan trọng so với lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lý thuyết của David Ricardo vẫn bộc
lộ nhiều hạn chế Đây cũng là những nhược điểm chủ yếu của các lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế Với những giả định trong mô hình thương mại ở trên, lý thuyết lợi thế tương đối khó
có thể đứng vững trước những kiểm nghiệm thực tế, tuy nhiên kết luận của David Ricardo vẫn là một kết luận rất quan trọng giải thích về nguồn gốc thương mại quốc tế Vì vậy, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu mở rộng lý thuyết lợi thế tương đối với những giả định thực tế hơn, đặc biệt là lý thuyết chi phí
cơ hội tăng dần
Lý thuyết thương mại quốc tế với chi phí cơ hội tăng dần Trong mô hình giản đơn chỉ có hai hàng hoá là X và Y thì Chi phí cơ hội của mặt hàng X là số lượng mặt hàng Y cần được cắt giảm để sản xuất thêm một đơn vị mặt hàng X Trong hai quốc gia, quốc gia nào có chi phí cơ hội của X thấp hơn thì sẽ
có lợi thế so sánh về mặt hàng này Về thực chất, phát biểu lợi thế so sánh theo khái niệm chi phí cơ hội không có gì khác so
Chi phí lao động để SX 1 đơn vị sản phẩm Y ở A
Chi phí lao động để SX 1 đơn vị sản
Trang 18với theo khái niệm về giá tương quan Trong ví dụ ở phần trên,
Hàn Quốc có lợi thế so sánh trong sản xuất thép vì giá tương
quan của thép so với cà phê (1 thép = 0,5 cà phê) thấp hơn ở
Việt Nam (1 thép = 2,5 cà phê) Khi sử dụng khái niệm chi phí
cơ hội, Hàn Quốc vẫn có lợi thế so sánh trong sản xuất thép vì
chi phí cơ hội thép ở Hàn Quốc (1 thép = 0,5 cà phê) thấp hơn
chi phí cơ hội của thép ở Việt Nam (1 thép = 2,5 cà phê)
Tuy nhiên, khi sử dụng khái niệm chi phí cơ hội tránh được
việc phải đưa ra những giả định về lao động, không cần xác
định rõ sản xuất ra một sản phẩm cần bao nhiêu lao động, ngoài
ra chi phí cơ hội vẫn có thể được sử dụng để kết luận về lợi thế
so sánh của một quốc gia trong trường hợp có nhiều yếu tố sản
xuất được sử dụng
Chi phí cơ hội tăng dần và đường giới hạn khả năng sản
xuất
Chi phí cơ hội của một mặt hàng là tăng dần nếu như để sản
xuất thêm một đơn vị mặt hàng đó thì cần phải cắt giảm một số
lượng tăng dần các mặt hàng khác Trong trường hợp đó, đường
giới hạn khả năng sản xuất sẽ không phải là một đường thẳng
mà là một đường cong lồi ra phía ngoài
Lý do làm cho chi phí cơ hội lại tăng dần là vì tính thích
hợp của các yếu tố sản xuất đối với từng mặt hàng Một yếu tố
sản xuất có thể được sử dụng rất có hiệu quả trong sản xuất một
mặt hàng nhất định, nhưng lại tỏ ra kém hiệu quả thậm chí hoàn
toàn không có hiệu quả trong sản xuất những mặt hàng khác
Giả sử rằng ban đầu toàn bộ nguồn lực của nền kinh tế được sử
dụng để sản xuất mặt hàng X Tuy nhiên sau đó quốc gia xem
xét nhận thấy mình có lợi thế so sánh về sản xuất mặt hàng Y
Khi đó nguồn lực bắt đầu được chuyển từ ngành X sang ngành
Y Ban đầu, những nguồn lực thích hợp nhất đối với sản xuất mặt hàng Y được di chuyển, sản lượng Y do đó tăng lên nhanh chóng, còn sản lượng X bị giảm xuống nhưng với tốc độ chậm Điều này có nghĩa chi phí cơ hội của Y là rất thấp Khi qui mô ngành Y được mở rộng thì quốc gia bắt buộc phải sử dụng đến những nguồn lực kém thích hợp hơn để sản xuất mặt hàng Y, thậm chí sử dụng cả đến những nguồn lực vốn thích hợp cho sản xuất mặt hàng X Kết quả là tốc độ gia tăng sản lượng mặt hàng
Y bị chậm lại, còn sản lượng X thì giảm nhanh Nói cách khác chi phí cơ hội của Y tăng lên
Với chi phí cơ hội tăng dần, đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ là một đường cong lồi (Hình 3.3) Mỗi điểm trên đường
đó cho thấy số lượng hai mặt hàng được sản xuất ra khi toàn bộ nguồn lực của quốc gia được sử dụng Độ dốc của đường tiếp tuyến tại mỗi điểm trên đường giới hạn khả năng sản xuất đó sẽ chỉ ra chi phí cơ hội hoặc mức giá tương quan (hay còn gọi là tỷ
lệ chuyển đổi cận biên - MRT) giữa hai mặt hàng Khi điểm sản xuất dịch chuyển xuống phía dưới theo đường giới hạn khả năng sản xuất thì chi phí cơ hội của Y (hay giá của Y tính theo X) sẽ tăng dần
Hình 3.3 Đường giới hạn khả năng sản xuất trong trường hợp chi phí cơ hội tăng dần
X
Trang 19Chi phí cơ hội tăng dần và mô hình thương mại quốc tế
Một trong những hạn chế của mô hình Ricardo cũng như
các lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế nói chung là chưa
cho phép xác định được tỷ lệ trao đổi cân bằng quốc tế một cách
cụ thể mà mới chỉ cho thấy tỷ lệ đó phải nằm đâu đó trong
khoảng giữa hai tỷ lệ trao đổi nội địa Lý do là vì mô hình
Ricardo chỉ tập trung vào cung mà không chú ý đến các yếu tố
cầu Do vậy để mở rộng và hoàn chỉnh mô hình này cần có sự
kết hợp thêm yếu tố cầu
Yếu tố cầu được đưa vào mô hình thông qua khái niệm
đường bàng quan của một quốc gia Đây là sự khái quát hóa
khái niệm đường bàng quan cá nhân trong kinh tế học vi mô
Một quốc gia có thể được hiểu như là một người tiêu dùng đặc
biệt, và đường bàng quan của nó là tập hợp tất cả các đường
bàng quan của những người tiêu dùng trong nước Đường bàng
quan của một quốc gia cũng thỏa mãn tất cả các tính chất như
đường bàng quan cá nhân.(Hình 3.4)
Hệ số góc của đường tiếp tuyến tại mỗi điểm trên đường
bàng quan được gọi là tỷ lệ thay thế cận biên (MRS) giữa hai
mặt hàng Cụ thể nó đo lượng tiêu dùng một mặt hàng cần được
cắt giảm để tiêu dùng thêm một đơn vị mặt hàng khác mà mức
dụng ích của quốc gia vẫn giữ nguyên Khác với tỷ lệ chuyển
đổi cận biên/chi phí cơ hội, tỷ lệ thay thế cận biên có tính chất
giảm dần khi quốc gia di chuyển xuống dưới dọc theo đường
bàng quan
Cân bằng trong nền kinh tế đóng Trước hết xét trường hợp quốc gia ở trong tình trạng tự cung tự cấp Khi đó, quốc gia sẽ tiêu dùng những gì mà mình sản xuất được Vì vậy, đường giới hạn khả năng sản xuất cũng chính là đường giới hạn khả năng tiêu dùng, điểm cân bằng sản xuất cũng sẽ là điểm cân bằng tiêu dùng (Hình 3.4)
Hình 3.4 Cân bằng trong nền kinh tế đóng
Điểm E - điểm tiếp xúc giữa đường giới hạn khả năng sản xuất với đường bàng quan cao nhất trong tập hợp các đường bàng quan của quốc gia này chính là điểm cân bằng trong nền kinh tế đóng Tại E mức giá tương quan giữa hai mặt hàng/tỷ lệ chuyển đổi cận biên đúng bằng tỷ lệ thay thế cận biên giữa chúng (tại E có đường tiếp tuyến chung) Quốc gia có thể sản xuất tại những điểm khác trên đường giới hạn khả năng sản xuất, chẳng hạn tại F, nhưng khi đó mức độ thỏa mãn tiêu dùng
X
Y O
F
E
Trang 20sẽ thấp hơn mức tại điểm E (vì chỉ có thể đạt tới đường bàng
quan thấp hơn) Vì vậy, những điểm như điểm F là những điểm
không hiệu quả
Cân bằng trong nền kinh tế mở qui mô nhỏ
Một nền kinh tế mở qui mô nhỏ là nền kinh tế phải chấp
nhận giá thế giới, không có khả năng ảnh hưởng đến các biến số
kinh tế trên thị trường quốc tế và bất kỳ sự biến động nào về
quy mô xuất nhập khẩu của quốc gia này cũng sẽ không ảnh
hưởng gì tới mức giá thế giới đó Cân bằng trong một nền kinh
tế mở qui mô nhỏ được minh họa trong hình 3.5
Hình 3.5 Cân bằng trong nền kinh tế mở qui mô nhỏ
Khi đóng cửa nền kinh tế, điểm sản xuất và tiêu dùng của
quốc gia này là tại Po Khi mở cửa tham gia vào thương mại quốc
tế với qui mô một nền kinh tế nhỏ quốc gia này phải chấp nhận
mức giá thế giới hiện hành Cụ thể là với mức giá tương quan
quốc tế của hai hàng hoá X và Y được biểu thị bằng đường ST thì
ở quốc gia này sẽ diễn ra một quá trình điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng cho phù hợp với điều kiện mới Cụ thể là các nhà sản xuất hàng hoá X thấy rằng hàng hoá X rẻ hơn trên thị trường thế giới nên có xu hướng cắt giảm sản xuất mặt hàng này Trong khi
đó các nhà sản xuất hàng hoá Y nhận thấy hàng hoá Y đắt hơn trên thị trường thế giới nên họ sẽ mở rộng sản xuất hàng hoá Y (trên cơ sở nguồn lực được giải phóng do cắt giảm sản xuất hàng hoá X) Kết quả là điểm sản xuất di chuyển từ Po tới P1 là nơi tỷ
lệ chuyển đổi cận biên đúng bằng mức giá tương quan quốc tế (cùng thể hiện bằng độ dốc của đường ST) Còn đối với người tiêu dùng trong nước thì sự thay đổi giá cả tương quan giữa hai hàng hoá sẽ khiến họ điều chỉnh lại tỷ lệ thay thế cận biên sao cho đúng bằng mức giá tương quan trên thị trường thế giới Khi
đó điểm tiêu dùng C1 mới sẽ nằm trên đường giá cả quốc tế ST và
là giao điểm giữa đường ST với đường bàng quan cao nhất Điều
đó có nghĩa là khi mở cửa nền kinh tế quốc gia này sẽ có điểm sản xuất mới là P1 và điểm tiêu dùng mới là C1
Như vậy, thương mại quốc tế đã giúp cho quốc gia này mở rộng khả năng tiêu dùng, thể hiện ở điểm tiêu dùng mới nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất, trên đường bàng quan cao hơn so với trước khi có thương mại quốc tế Khi đó lượng hàng hoá Y dôi ra (BP1) được xuất khẩu để đổi lấy lượng hàng hoá X là C1B được nhập khẩu từ nước ngoài
Mô hình thương mại giữa hai nước với chi phí cơ hội tăng dần
Sử dụng mô hình thương mại giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, với hai mặt hàng là cà phê và thép với điều kiện chi
Trang 21S P' V
phí cơ hội tăng dần Với giả định mới, mô hình trao đổi thương
mại giữa hai nước được minh hoạ trong hình 3.6
Trong điều kiện tự cấp tự túc, điểm sản xuất và tiêu dùng
của hai nước Hàn Quốc và Việt Nam tương ứng tại PK và PV Ở
Hàn Quốc thép rẻ hơn một cách tương đối so với cà phê nên
nước này có lợi thế so sánh về thép Ngược lại, Việt Nam lại có
lợi thế so sánh về mặt hàng cà phê Vì vậy, mỗi nước sẽ thực
hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so
sánh Cụ thể là Việt Nam sẽ chuyển một phần nguồn lực từ sản
xuất thép sang sản xuất cà phê, làm cho sản lượng thép giảm
xuống, còn sản lượng cà phê thì tăng lên Điểm sản xuất của
Việt Nam sẽ di chuyển từ PV lên trên dọc theo đường giới hạn
khả năng sản xuất, và điều đó làm cho mức giá tương quan (chi
phí cơ hội) của cà phê tăng dần Ở Hàn Quốc thì ngược lại:
điểm sản xuất di chuyển từ PK xuống dưới dọc theo đường giới
hạn khả năng sản xuất, sản lượng thép tăng, còn sản lượng cà
phê giảm, làm cho mức giá tương quan của thép tăng dần (còn
mức giá của cà phê thì giảm dần)
Hình 3.6 Mô hình thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc
với chi phí cơ hội tăng dần
3.4 Lý thuyết tương quan các nhân tố Trong khi các lý thuyết cổ điển cho rằng sự khác biệt về năng suất lao động là nguyên nhân dẫn đến lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh của một quốc gia thì lý thuyết tân cổ điển về
thương mại quốc tế mà tiêu biểu là lý thuyết tương quan các nhân tố (của hai nhà kinh tế học người Thuỵ Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin) lại giải thích nguồn gốc của thương mại quốc tế thông qua việc xem xét hai khái niệm là hàm lượng các yếu tố sản xuất cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá nào đó
và mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất của một nước
Hàm lượng các yếu tố sản xuất và mức độ dồi dào của các yếu
tố sản xuất Hàm lượng các yếu tố sản xuất Xem xét một mô hình đơn giản chi bao gồm hai nguồn lực
cơ bản là lao động (L) và vốn (K), sử dụng để sản xuất ra hai
T
T
Trang 22hàng hoá là X và Y Hàng hoá X được coi là sử dụng nhiều (một
cách tương đối) lao động nếu tỷ lệ giữa lượng lao động và vốn
sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng X lớn hơn tỷ lệ
tương ứng các yếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng Y
Nói cách khác, hàng hoá X được coi là có hàm lượng lao động
Tương tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và lao động là lớn hơn thì X
được coi là hàng hoá có hàm lượng vốn cao
Lưu ý là định nghĩa về hàm lượng lao động (hay hàm lượng
vốn) không căn cứ vào tỷ lệ giữa lượng lao động (hay lượng
vốn) và sản lượng, cũng như số lượng tuyệt đối lao động (hay
vốn), mà được phát biểu dựa trên tương quan giữa lượng lao
động và lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm
Mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất
Xem xét một mô hình giản đơn với hai nước A, B chỉ gồm
hai yếu tố sản xuất là K, L Quốc gia A sẽ được coi là dồi dào về
yếu tố lao động nếu:
w w
Trong đó wA, rA là giá thuê lao động và vốn ở quốc gia A;
wB, rB là giá thuê lao động và vốn ở quốc gia B
Cần lưu ý rằng, trong khái niệm ở trên, một quốc gia được coi là dồi dào tương đối về lao động (hay về vốn) nếu tỷ lệ giữa lượng lao động (hay lượng vốn) và các yếu tố sản xuất khác của quốc gia đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng của các quốc gia khác Cũng tương tự như trường hợp hàm lượng các yếu tố, mức độ dồi dào của một yếu tố sản xuất của một quốc gia được đo không phải bằng số lượng tuyệt đối, mà bằng tương quan giữa
số lượng yếu tố đó với các yếu tố sản xuất khác của quốc gia Định lý Heckscher-Ohlin
Định lý Heckscher-Ohlin được phát biểu như sau:
Các nước sẽ có lợi thế so sánh trong việc sản xuất và xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu
tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở nước đó
Như vậy một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia Nói vắn tắt là một quốc gia tương đối giàu lao động sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động
Trang 23và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn
Như phân tích ở ví dụ trên thì quốc gia A sẽ xuất khẩu hàng
hoá X (vì X sử dụng nhiều lao động và lao động là yếu tố tương
đối phong phú và rẻ ở quốc gia A) còn quốc gia B sẽ xuất khẩu
hàng hoá Y
Học thuyết Heckscher-Ohlin được xây dựng dựa trên một
loạt các giả định sau:
Xem xét mô hình 2-2-2, thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2
yếu tố sản xuất (lao động và vốn), và 2 mặt hàng;
Sản xuất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo qui
mô, còn mỗi yếu tố sản xuất thì có năng suất cận biên giảm dần;
Các hàng hóa khác nhau về hàm lượng các yếu tố sản
xuất, và không có sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất
tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương quan nào;
Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hóa
lẫn thị trường yếu tố sản xuất;
Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa hai quốc gia;
Chuyên môn hóa là không hoàn toàn;
Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi
quốc gia, nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia;
Thương mại là tự do, chi phí vận chuyển bằng 0;
Sở thích là giống nhau giữa hai quốc gia
Mô hình trao đổi thương mại quốc tế theo Học thuyết H-O
Sử dụng mô hình hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, hai
hàng hoá là cà phê và thép, và hai yếu tố sản xuất là lao động và
vốn Việt Nam là nước dồi dào tương đối về lao động, còn Hàn
Quốc là nước dồi dào tương đối về vốn Hình 3.7 sẽ minh họa cho mô hình trao đổi thương mại quốc tế theo học thuyết H-O Giữ nguyên những giả định đơn giản như ở trên, vì cà phê là mặt hàng cần nhiều lao động nên đường giới hạn khả năng sản xuất của Việt Nam thoải dần về trục tung- trục biểu thị mặt hàng
cà phê Tương tự như vậy, do Hàn Quốc được giả định là quốc gia dồi dào về vốn và thép là mặt hàng cần nhiều vốn nên đường giới hạn khả năng sản xuất của Hàn Quốc thoải dần về trục hoành - trục biểu thị mặt hàng thép
Hình 3.7 Mô hình thương mại quốc tế theo học thuyết H-O
Do hai nước được giả định là có sở thích giống nhau cho nên hai nước có cùng một tập hợp các đường bàng quan I Trước khi có trao đổi thương mại, Việt Nam sản xuất và tiêu dùng tại PV còn Hàn Quốc sản xuất và tiêu dùng tại PK Đây
Trang 24là hai tiếp điểm giữa các đường giới hạn khả năng sản xuất của
hai nước với đường bàng quan cao nhất (I0) mà hai quốc gia đạt
được Độ dốc của các đường tiếp tuyến chung đi qua các điểm
PV và PK cho biết mức giá tương quan giữa cà phê và thép ở hai
nước trong điều kiện tự cấp tự túc Rõ ràng tiếp tuyến đi qua PK
có độ dốc thoải hơn tiếp tuyến đi qua PV, vì vậy thép ở Hàn
Quốc rẻ hơn một cách tương đối so với ở Việt Nam, và do đó
Hàn Quốc có lợi thế so sánh về thép Ngược lại ở Việt Nam, cà
phê rẻ hơn một cách tương đối so với ở Hàn Quốc, do đó Việt
Nam có lợi thế so sánh về cà phê Lúc đó mỗi quốc gia sẽ thực
hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so
sánh Cụ thể là Việt Nam chuyên môn hoá sản xuất cà phê còn
Hàn Quốc thì chuyên môn hoá sản xuất thép Điểm sản xuất của
Việt Nam sẽ có xu hướng dịch chuyển lên phía trên dọc theo
đường giới hạn khả năng sản xuất của Việt Nam, còn điểm sản
xuất của Hàn Quốc thì dịch chuyển xuống phía dưới dọc theo
đường giới hạn khả năng sản xuất của Hàn Quốc
Khi có trao đổi thương mại quốc tế, giá cà phê sẽ tăng ở
Việt Nam và giảm ở Hàn Quốc, còn giá thép sẽ tăng ở Hàn
Quốc và giảm ở Việt Nam Quá trình chuyên môn hóa sản xuất
và trao đổi được tiếp tục cho đến khi mức giá tương quan giữa
cà phê và thép ở hai nước trở nên cân bằng, khi đó Việt Nam đạt
tới điểm sản xuất mới là P’V, còn Hàn Quốc - tới P’K Lúc này,
Việt Nam sẽ tiêu dùng tại CV còn Hàn Quốc - tại CK Việc CK
nằm trên đường bàng quan thấp hơn (I1) so với đường bàng
quan của Việt Nam (I2) chứng tỏ rằng Việt Nam có lợi từ
thương mại hơn so với Hàn Quốc Tuy nhiên, điều quan trọng
nhất là cả hai nước đều có lợi từ thương mại vì đều đạt tới
đường bàng quan cao hơn so với trường hợp tự cung tự cấp
Tại mức giá quốc tế cân bằng Hàn Quốc xuất khẩu P’KM thép để đổi lấy MCK cà phê từ Việt Nam, còn Việt Nam xuất khẩu P’VN cà phê để đổi lấy NCV thép từ Hàn Quốc Với mô hình hai nước thì xuất khẩu của nước này đúng bằng nhập khẩu của nước kia: P’KM = NCV; MCK = P’VN, cho nên hai tam giác thương mại của Hàn Quốc và Việt Nam là bằng nhau
Cấu trúc cân bằng chung của học thuyết H-O Hình 2.8 Cơ cấu cân bằng chung của học thuyết H-O
Trong hình 3.8, mũi tên đơn chỉ quan hệ ảnh hưởng giữa các nhân tố giống nhau của hai quốc gia, mũi tên kép chỉ quan
hệ ảnh hưởng giữa các nhân tố khác nhau của hai quốc gia Qua
sơ đồ này Heckscher-Ohlin đã giải thích lý do tại sao sự khác biệt về mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất lại dẫn đến sự chênh lệch về giá hàng hoá được sản xuất ở hai nước khác nhau (lý do
Giá hàng hoá
Giá yếu tố
SX
Cầu các yếu tố sản xuất
Cầu về hàng hoá cuối cùng
Sở thích
Phân bổ sở hữu các yếu
tố sản xuất Cung các yếu tố
SX Công nghệ
Trang 25dẫn tới thương mại giữa hai nước) Xuất phát từ góc phải phía
dưới của sơ đồ có thể thấy: do sở thích và phân bổ sở hữu các
yếu tố sản xuất (phân phối thu nhập) ở hai nước là giống nhau
nên nhu cầu về hàng hoá của hai nước cũng giống nhau, nhu cầu
về hàng hoá cuối cùng như nhau dẫn đến nhu cầu đối với các
yếu tố sản xuất ở hai nước cũng như nhau Trong khi đó khả
năng cung cấp các yếu tố sản xuất của hai nước là không giống
nhau cho nên sẽ dẫn tới sự khác nhau về giá cả các yếu tố sản
xuất ở hai nước Cuối cùng, với công nghệ như nhau nhưng giá
các yếu tố sản xuất khác nhau sẽ làm cho giá tương đối của
hàng hoá là khác nhau ở hai nước Như vậy, sự khác biệt về
mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất (cung các yếu tố sản xuất) là
yếu tố quyết định sự khác biệt về giá cả hàng hoá cuối cùng Và
chính sự chênh lệch về giá cả cuối cùng của hàng hoá, trong
điều kiện thương mại tự do, cạnh tranh hoàn hảo, và chi phí vận
chuyển bằng 0 là động cơ để các nước thực hiện trao đổi thương
mại quốc tế
3.5 Nghịch lý Leontief
Lý thuyết tương quan các nhân tố được coi là một trong
những lý thuyết mạnh nhất của kinh tế học nói chung Vậy trên
thực tế các quốc gia có thực sự tiến hành trao đổi thương mại
trên cơ sở lý thuyết này hay không? Tức là các quốc gia có xuất
khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều
yếu tố dồi dào của mình và nhập khẩu những mặt hàng mà việc
sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố sản xuất khan hiếm của
mình như lý thuyết này dự đoán hay không? Để trả lời cho câu
hỏi này, nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành nhằm
kiểm nghiệm thực tế lý thuyết tương quan các nhân tố của
Heckscher - Ohlin, trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến công
trình nghiên cứu của nhà kinh tế học người Mỹ - Wassily Leontief
Mỹ là một nước phát triển, được đánh giá là nước dồi dào
về vốn Ông đã sử dụng những số liệu về nền kinh tế Mỹ năm
1947 để tính toán tỷ lệ giữa vốn và lao động được sử dụng trong sản xuất các mặt hàng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu của Mỹ (sở dĩ Leontief không tính toán chỉ tiêu trên đối với các mặt hàng nhập khẩu thực tế của Mỹ là vì không thể thu thập được các số liệu cần thiết) Các kết quả tính toán của Leontief cho thấy tỷ lệ vốn/lao động trong sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu của Mỹ lớn hơn 30% so với tỷ lệ tương ứng trong sản xuất hàng hóa xuất khẩu Điều này là hoàn toàn trái ngược với kết luận của lý thuyết H-O Vì theo lý thuyết H-O thì Mỹ là quốc gia dồi dào về vốn nên sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều lao động Chính vì vậy công trình nghiên cứu này của Leontief được gọi với cái tên là nghịch lý Leontief
Từ khi Leontief công bố kết quả công trình nghiên cứu này cho đến nay, đã có nhiều quan điểm khác nhau giải thích cho nghịch lý này Chính bản thân Leontif sau đó cũng lại có một nghiên cứu khác để phủ định kết quả này Tuy nhiên, vẫn chưa
có quan điểm nào thật sự thoả đáng Vì vậy nghịch lý Leontief vẫn tồn tại và trở thành một thách thức đối với các nhà kinh tế
Nó trở thành cơ sở để các nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu và đưa
ra các lý thuyết mới về thương mại quốc tế, trong đó các nhà kinh tế cố gắng trả lời câu hỏi tại sao các quốc gia lại trao đổi
thương mại quốc tế với nhau một cách đầy đủ hơn
Trang 26Câu hỏi ôn tập chương 3
1 Thương mại quốc tế dưới góc độ chủ nghĩa trọng
thương? Lấy thí dụ minh họa?
2 Mô hình thương mại quốc tế theo lý thuyết lợi thế so
sánh tuyệt đối của Adam Smith? Hãy phác họa mô hình thương
mại quốc tế Việt Nam trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa để
minh họa cho mô hình đó?
3 Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối? Sử dụng mô hình
hai quốc gia, hai sản phẩm để chứng minh? Phác thảo mô hình
thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác trong
giai đoạn đầu công nghiệp hóa để chứng minh cho sự vận dụng
lý thuyết này?
4 Phân tích mô hình thương mại quốc tế dựa trên lý thuyết
lợi thế so sánh trong điều kiện chi phí cơ hội tăng dần? Nhiều
nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa và hội
nhập kinh tế thế giới, chi phí cơ hội tăng dần nên lợi thế so sánh
tương đối giảm, hãy cho biết giải pháp cho vấn đề này?
5 Lý thuyết tương quan các nhân tố và mô hình thương
mại quốc tế theo lý thuyết tương quan các nhân tố? Phác họa mô
hình thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước để minh
họa cho việc vận dụng lý thuyết tương quan các nhân tố?
6 Sử dụng cấu trúc cân bằng chung của lý thuyết H – O để
giải thích các doanh nghiệp sẽ thương mại kinh doanh thương mại quốc tế do sự chênh lệch giá cả hàng hóa ở các quốc gia khác nhau?
7 Nghịch lý Leontief?
Trang 27Chương 4
LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
HIỆN ĐẠI
Chương 4 nghiên cứu một số lý thuyết thương mại quốc tế
mới như lý thuyết chu kì sống sản phẩm quốc tế, yếu tố chi phí
và thương mại quốc tế cũng như lý thuyết về cạnh tranh quốc
gia Các lý thuyết mới sẽ giải thích thương mại quốc tế giữa
các nước ở trạng thái động trong khi các lý thuyết cổ điển và
tân cổ điển giải thích thương mại quốc tế giữa các nước ở trạng
thái tĩnh Lý thuyết cạnh tranh quốc gia mới đưa ra hai cách
tiếp cận trên cơ sở phân tích các lý thuyết lợi thế so sánh trước
đó cho thấy sự khác biệt giữa lý thuyết cạnh tranh quốc gia mới
so với lý thuyết của các nhà kinh tế học tân cổ điển đánh giá lợi
thế cạnh tranh dựa trên hai tiêu thức là chi phí và năng suất
4.1 Lý thuyết chu kì sống sản phẩm và thương mại quốc tế
Trong lý thuyết của Ricardo và lý thuyết thương mại quốc
tế cổ điển mở rộng, thương mại diễn ra giữa các nước do có sự
khác biệt về năng suất lao động giữa hai quốc gia Và về phần
mình sự khác biệt về năng suất lao động là kết quả của sự khác
biệt về công nghệ sản xuất Còn mô hình H-O lại phân tích hoạt
động thương mại quốc tế ở trạng thái tĩnh tức là công nghệ được
coi là không đổi và giống nhau ở hai nước Tuy nhiên, ngày nay
công nghệ biến đổi rất nhanh chóng, thương mại giữa các nhóm
nước diễn ra cũng dựa trên sự biến đổi công nghệ khác nhau do
đó yếu tố công nghệ cần được xem ở trạng thái động
Lý thuyết về khoảng cách công nghệ Năm 1961 Posner đề xuất mô hình sự khác biệt về công nghệ là nguyên nhân chính dẫn đến thương mại giữa các nước phát triển Các nước này luôn đưa ra giới thiệu các các sản phẩm và phương thức sản xuất mới Hoạt động này dẫn đến các công ty đưa ra sản phẩm mới và công nghệ mới cũng như quốc gia của họ có được sự độc quyền trong ngắn hạn trên thị trường thế giới (do các nước đều có luật bản quyền) Đây cũng là cơ hội để các nước xuất khẩu các sản phẩm mới của mình sang nước có trình độ tương tự, mức thu nhập tương tự
Mĩ là quốc gia phát triển xuất khẩu một số lượng lớn các sản phẩm kĩ thuật cao và công nghệ chế tạo Các nhà sản xuất nước ngoài cũng cần nhập khẩu công nghệ mới để họ có thể cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường trong nước và nước ngoài kể cả tại thị trường Mĩ do họ có chi phí về nhân công thấp Trong lúc
đó, các nhà sản xuất của Mĩ lại đưa ra các sản phẩm và phương thức sản xuất mới hơn và có thể tiếp tục xuất khẩu những sản phẩm, công nghệ mới dựa trên sự cách biệt về trình độ công nghệ vừa mới hình thành
Lý thuyết khoảng cách về công nghệ có thể giải thích thương mại giữa hai nhóm nước Thứ nhất, nếu hai quốc gia có tiềm năng công nghệ như nhau thì vẫn có thể tiến hành thương mại, bởi vì các phát minh trong một chừng mực nào đó mang tính ngẫu nhiên Vai trò tiên phong của một nước ở một lĩnh vực này sẽ được đối lại bởi vai trò tiên phong của nước khác ở lĩnh vực khác Khi đó các nước tiến hành thương mại để đổi lấy những mặt hàng có tính ưu việt về công nghệ Đó là thương mại giữa các nhóm nước có cùng trình độ phát triển Thứ hai, thương mại diễn ra ở các nước có trình độ phát triển khác nhau Khi đó một nước có trình độ phát triển sẽ đưa ra các sản phẩm
Trang 28mới, công nghệ mới để đổi lấy các mặt hàng đã được chuẩn hoá
từ nước thứ hai Dần dần các sản phẩm mới lại được chuẩn hoá
ở nước thứ hai và nước thứ nhất với khả năng sáng tạo cao lại
đưa ra các sản phẩm mới phức tạp khác (có thể coi khoảng cách
về công nghệ là sự mở rộng của mô hình H-O, công nghệ được
xem xét trong trạng thái động)
Một nhược điểm của lý thuyết khoảng cách về công nghệ là
không chỉ rõ mức độ chênh lệch về trình độ công nghệ và cũng
không giải thích là tại sao có sự chênh lệch này, làm thế nào loại
bỏ nó theo thời gian
Lý thuyết chu kì sống sản phẩm quốc tế
Lý thuyết chu kì sống sản phẩm quốc tế do R.Vernon phát
triển năm 1966 là sự mở rộng của lý thuyết về khoảng cách
công nghệ Theo lý thuyết này, khi một sản phẩm mới được đưa
ra giới thiệu trên thị trường, quá trình sản xuất ra nó đòi hỏi
công nhân có trình độ tay nghề cao Khi ở giai đoạn chín muồi,
sản phẩm đã tiêu chuẩn hoá và có sự chấp nhận rộng rãi của thị
trường Lúc này sản phẩm có thể được sản xuất bằng nhiều
phương pháp và có thể sử dụng lao động có kĩ năng thấp Do
đó, lợi thế tương đối trong sản xuất sản phẩm mới chuyển từ
nước phát triển, nơi đưa sản phẩm và công nghệ ra thị trường,
sang các nước kém phát triển, nơi có giá nhân công thấp Hình
thức chuyển dịch sản xuất có thể thông qua đầu tư trực tiếp từ
nước phát minh ra sản phẩm sang nước có chi phí lao động thấp
Một ví dụ điển hình cho mô hình chu kì sống sản phẩm
trong thương mại quốc tế là các nhà sản xuất radio của Mĩ và
Nhật kể từ chiến tranh thế giới thứ hai đến nay Ngay sau chiến
tranh thế giới thứ hai, các hãng của Mĩ chiếm lĩnh thị trường thế
giới về radio do các ống chân không được sản xuất ở Mĩ Tuy
nhiên, chỉ sau đó một thời gian, Nhật đã lấy đi của Mĩ một thị phần lớn do họ đã copy công nghệ của Mĩ và tận dụng được chi phí nhân công thấp hơn Mĩ lại giành lại vị trí dẫn đầu trong công nghệ của mình bằng cách phát minh ra transitor Nhưng một lần nữa chỉ trong vòng vài năm, Nhật đã bắt chước công nghệ và bán với giá rẻ hơn so với Mĩ Và để cạnh tranh được với Nhật, Mĩ lại phát minh ra mạch in Không biết là công nghệ mới nhất để sản xuất radio sẽ đòi hỏi nhiều lao động hay nhiều vốn và cũng không biết Mĩ có thể tiếp tục cạnh tranh trên thị trường hay cả Mĩ và Nhật đều bị loại bỏ ra khỏi thị trường bởi các nhà sản xuất như Singapore, Hàn Quốc có chi phí sản xuất
Xuất khẩu
0 A B C D
Cim
Trang 29Trong đó: Cin, Pin là tiêu dùng và sản xuất tại nước phát
minh Cim, Pim là tiêu dùng và sản xuất tại nước bắt chước công
nghệ
Ở giai đoạn 1 sản phẩm được sản xuất và tiêu dùng chỉ ở
nước phát minh (khoảng thời gian OA) Chi phí triển khai và
phát triển sản phẩm mới rất cao, làm cho chi phí sản xuất cao và
dẫn đến giá thành sản phẩm cao Giá bán cao nên chỉ được tiêu
thụ chủ yếu tại thị trường trong nước
Trong giai đoạn tăng trưởng (giai đoạn 2) của sản phẩm
(khoảng thời gian AB), sản phẩm được hoàn thiện ở nước phát
triển và nhu cầu về loại sản phẩm này tăng lên cả ở trong và
ngoài nước Và ở giai đoạn này chưa có nước nào ngoài nước
phát minh có thể sản xuất được loại sản phẩm này, chính vì vậy
nên nước phát minh có được sự độc quyền về sản phẩm cả trong
và ngoài nước
Sang giai đoạn 3 (khoảng thời gian BC), sản phẩm đã được
tiêu chuẩn hoá, hãng phát minh ra sản phẩm thấy rằng họ có lợi
hơn khi họ cấp giấy phép cho các hãng trong và ngoài nước
khác cũng có nhu cầu sản xuất sản phẩm này Và một số nước
khác bắt đầu sản xuất sản phẩm mới phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng trong nước
Ở giai đoạn 4 (khoảng thời gian CD) nước ngoài có thể bán
sản phẩm với giá thấp hơn nước phát minh ra sản phẩm do họ
có chi phí lao động thấp hơn và không mất chi phí phát triển sản
phẩm, sản xuất ở nước phát minh giai đoạn này bắt đầu sụt
giảm Cạnh tranh về nhãn hiệu được thay thế bằng cạnh tranh về
giá
Cuối cùng, ở giai đoạn 5, nước bắt chước công nghệ bán
chính sản phẩm này sang nước phát minh Sự tràn lan công
nghệ, tiêu chuẩn hoá sản phẩm, và chi phí nhân công thấp làm cho sản phẩm dẫn đến suy giảm Đây là lúc các nước có trình độ phát triển tập trung phát triển công nghệ mới và phát minh ra sản phẩm mới
Hầu hết các sản phẩm công nghệ cao được phát triển ở các nước công nghiệp hoá sau đó được chuyển giao công nghệ sang các nước có trình độ phát triển thấp hơn Theo Vernon điều đó
do một số nguyên nhân: Thứ nhất, chi phí cơ hội để làm ra sản phẩm là rất lớn ; Thứ hai, việc phát triển sản phẩm mới đòi hỏi
có thị trường có thu nhập cao hỗ trợ lại nhằm tiếp tục tạo ra thị trường mới Thứ ba, khả năng cung cấp dịch vụ cho các sản phẩm ở các nước phát triển tốt và đồng bộ
Sự khác biệt về lý thuyết khoảng cách về công nghệ và lý thuyết chu kì sống sản phẩm quốc tế : Lý thuyết khoảng cách về công nghệ nhấn mạnh đến khoảng cách về thời gian chuyển giao công nghệ mới, nhưng ở lý thuyết chu kì sống sản phẩm quốc tế lại nhấn mạnh tới khoảng cách về thời gian để tiêu chuẩn hóa sản phẩm Theo hai mô hình này thì nước phát triển
là thường xuất khẩu các sản phẩm với công nghệ mới có kĩ thuật tiên tiến hơn và nhập khẩu sản phẩm có công nghệ thấp hay kĩ thuật kém hơn các sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước ở cùng thời điểm
4.2 Một số lý thuyết thương mại quốc tế mới khác 4.2.1 Chi phí vận chuyển và thương mại quốc tế
4.2.1.1 Mô hình thương mại quốc tế khi có chi phí vận chuyển
Các lý thuyết thương mại quốc tế trước đều đưa ra giả định chi phí vận chuyển bằng 0 Phần này sẽ tính đến chi phí vận
Trang 30chuyển tác động tới thương mại quốc tế giữa các quốc gia thông
qua tác động trực tiếp vào giá các sản phẩm có thể thương mại
được, và tác động một cách gián tiếp vào phân bổ sản xuất trên
qui mô quốc tế
Có thể hiểu chi phí vận chuyển bao gồm tất cả các chi phí
để chuyển hàng hoá từ nước này qua nước khác Như vậy, với
quan niệm trên, chi phí vận chuyển sẽ gồm cước phí vận tải,
cước phí xếp dỡ, chi phí bảo hiểm và lãi suất
Một hàng hoá được trao đổi trên thị trường quốc tế chỉ khi
mức chênh lệch giá trước khi có thương mại giữa các nước cao
hơn chi phí vận chuyển hàng hoá đó từ quốc gia này sang quốc
gia khác Những mặt hàng này được gọi là hàng hoá có thể
thương mại (traded goods) Khi tính tới yếu tố chi phí vận
chuyển sẽ thấy một số sản phẩm không được buôn bán trên thị
trường quốc tế, những sản phẩm gọi là hàng hoá không thương
mại được (nontraded goods) Hai khái niệm này chỉ áp dụng
trong thương mại quốc tế
Mô hình cân bằng bộ phận sau đây sẽ minh hoạ thương mại
quốc tế của mặt hàng X là hàng hoá có thể thương mại có tính
tới chi phí vận chuyển Trong mô hình này có đưa ra một số giả
định đó là tỉ giá hối đoái giữa hai đồng tiền không đổi, thu nhập
và các yếu tố khác cố định ngoại trừ khối lượng hàng hoá đang
xét có thay đổi
Khác với các lý thuyết trước, giá trao đổi quốc tế dựa trên
sản phẩm trung gian, phần này giá trao đổi quốc tế dựa trên tiền
tệ Trục thẳng đứng cho biết giá của sản phẩm (tính bằng
EURO) ở cả hai quốc gia 1 và 2 Giá sản phẩm X ở quốc gia 1
thấp hơn giá ở quốc gia 2 trong điều kiện chưa có thương mại
quốc tế Khối lượng hàng X tăng lên được thể hiện ở việc dịch
chuyển sang phải đối với quốc gia 1 và dịch sang trái đối với quốc gia 2
Hình 4.2 Mô hình thương mại quốc tế khi có chi phí vận chuyển
Trong điều kiện không có thương mại quốc tế, quốc gia 1 sẽ sản xuất và tiêu dùng tại mức sản lượng Qx1 với mức giá cân bằng là P1, quốc gia 2 sản xuất và tiêu dùng tại mức sản lượng
Qx2 với mức giá cân bằng là P2 Giá hàng hoá X tại quốc gia 2 cao hơn so với quốc gia 1, và X là hàng hoá có thể thương mại nên có xu hướng xuất khẩu hàng X từ quốc gia 1 sang quốc gia 2
Trong điều kiện có thương mại giá hàng X có xu hướng tăng lên ở quốc gia 1 và giảm ở quốc gia 2 Và nếu như không
có chi phí vận chuyển mức giá cân bằng sẽ là Ptm, nhưng do phải có chi phí vận chuyển với t EURO/sản phẩm nên lượng
Trang 31xuất khẩu ở quốc gia 1 sẽ là Q3Q4, và lượng nhập khẩu ở quốc
gia 2 là Q5Q6
Như vậy, do có chi phí vận chuyển nên mức độ chuyên môn
hoá trong sản xuất của quốc gia 1 cũng như khối lượng và lợi
ích từ thương mại đều giảm đi Hơn nữa, vì có chi phí vận
chuyển nên giá của hàng X sẽ có sự khác biệt giữa hai nước và
mức độ khác biệt này lớn hơn chi phí vận chuyển Tại điểm cân
bằng thương mại Ptm, giá của quốc gia xuất khẩu vẫn thấp hơn
giá ở quốc gia nhập khẩu bằng khoảng chi phí vận chuyển
4.2.1.2.Tác động của chi phí vận chuyển tới phân bố các
ngành công nghiệp
Chi phí vận chuyển cũng tác động gián tiếp tới thương mại
quốc tế thông qua việc phân bố lại vị trí sản xuất của các ngành
theo hai hướng đó là nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất
và thị trường cho sản phẩm đầu ra
Một số ngành cần đặt gần với nguồn nguyên liệu đầu vào
để giảm chi phí vận chuyển, ví dụ ngành khai khoáng phải có
các nhà máy đặt gần các khu mỏ Những ngành định hướng theo
nguồn lực đầu vào thường là những ngành mà chi phí vận
chuyển nguyên liệu thô cho sản xuất cao hơn nhiều so với chi
phí vận chuyển sản phẩm cuối cùng của ngành tới thị trường
Tuy nhiên đối với một số ngành khác, các doanh nghiệp
trong ngành thường đặt gần thị trường tiêu thụ sản phẩm cuối
cùng của doanh nghiệp Những ngành có sản phẩm cuối cùng
thường nặng hoặc khó khăn trong vận chuyển trong quá trình
sản xuất cần đặt địa điểm gần nơi tiêu thụ (Xem ví dụ trong
Hộp 1)
Hộp 3.1 Khu công nghiệp Maquiladoras: các nhà máy của Hoa Kì nằm khắp biên giới Hoa Kì- Mêxico Trong hai thập kỉ qua, hơn nghìn công ty của Hoa Kì
đã đầu tư hàng triệu đôla vào Mêxico dọc theo biên giới Hoa Kì Các khu Maquiladoras theo tiếng Tây Ban Nha
có nghĩa là thu phí cầu phà đã thu hút hơn 500 nghìn công nhân Mêxico đến làm việc tại các nhà máy lắp ráp của Hoa Kì, các sản phẩm sau khi được lắp ráp sẽ quay lại thị trường Hoa Kì Các công ty Hoa Kì đặt nhà máy tại đây nhằm khai thác chi phí nhân công rẻ (lương chỉ bằng 1/6 lương công nhân Hoa Kì)
Năm 1996, chính phủ Mêxico có kí hiệp định với Hoa Kì là cho miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu vào lắp ráp tại Mêxico, các công ty Hoa Kì chỉ phải trả thuế nhập khẩu vào giá trị gia tăng của sản phẩm sử dụng lao động nước mình Cách làm này giúp cho các công ty Hoa Kì có thể cạnh tranh được với các công ty nước ngoài khác có lợi thế về nhân lực giá rẻ và đồng thời vẫn tạo được việc làm cho công nhân nước mình Đến năm 1993, doanh thu
từ các khu Maquiladoras chỉ sau xuất khẩu dầu lửa của Mêxico Hiệp định NAFTA kí tháng 10 năm 1993 giữa Hoa Kì, Canada và Mêxico sẽ xoá bỏ dần các rào cản thương mại trong vòng 15 năm và biến Mexico thành một Maquiladora khổng lồ chứ không còn bó hẹp tại vùng biên giới hai quốc gia
Nguồn: International Economics, Salvator, fifth edition,
p 174
Trang 324.2.2 Chính sách môi trường và thương mại quốc tế
Việc phân bổ các ngành công nghiệp và hoạt động thương
mại quốc tế của các quốc gia cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi nhân
tố tiêu chuẩn môi trường Các tiêu chuẩn môi trường thường ở
dạng tiêu chuẩn về ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm
đất… Vấn đề ô nhiễm sẽ ảnh hưởng tới thương mại vì giá của
các hàng hoá được đem ra trao đổi trên thị trường quốc tế
thường không phản ánh được tất cả chi phí về môi trường Quốc
gia có tiêu chuẩn về môi trường thấp có thể sử dụng môi trường
như một nhân tố sản xuất để sản phẩm của mình có thể cạnh
tranh trên thị trường thế giới Cụ thể, mô hình thương mại giữa
Hàn Quốc và Hoa Kì cho thấy tác động của các qui định về môi
trường ảnh hưởng tới thương mại giữa hai quốc gia Giả sử có
hai nước là Hàn Quốc và Hoa Kì tham gia thương mại quốc tế
với mặt hàng là thép Đường cung và cầu về thép của Hàn Quốc
và Hoa Kì tương ứng là: Sh và Dh, và Sus và Dus
Hình 4.3 Ảnh hưởng của chính sách môi trường đến
thương mại quốc tế
Giả sử Hoa Kì đánh thuế vào nước thải sản xuất thép làm cho chi phí sản xuất thép tăng lên, làm đường cung sản xuất thép của Hoa Kì dịch về phía trên bên trái từ Sus đến Sus1 Hàn Quốc mở rộng sản xuất với mức sản lượng 9 tấn, giá $600/tấn Với mức giá này tiêu dùng tại Hàn Quốc là 1 tấn, 8 tấn xuất khẩu sang Hoa Kì Tại Hoa Kì sản xuất tại mức giá $600/tấn là
4 tấn, nhu cầu trong nước là 12 tấn, họ nhập khẩu 8 tấn từ Hàn Quốc
Như vậy, các qui định về môi trường của Hoa Kì làm cho nước này lại phụ thuộc lớn hơn vào các nhà sản xuất thép nước ngoài Tuy nhiên, các qui định về môi trường lại làm cho nước thải công nghiệp sạch hơn và làm tăng chất lượng cuộc sống tại quốc gia này Và nếu Hàn Quốc cũng qui định về điều kiện nước thải trong ngành sản xuất thép làm cho chi phí sản xuất tăng lên và giảm sản lượng mặt hàng Hàn Quốc có lợi thế so sánh Điều này dẫn tới Hàn Quốc giảm lợi ích thu được từ thương mại
4.3 Lý thuyết về khả năng cạnh tranh cấp độ quốc gia 4.3.1.Cách tiếp cận của Diễn đàn Kinh tế Thế giới
Trong “Báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể” năm 1997,
Trang 33Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đưa ra định nghĩa về tính
cạnh tranh của một quốc gia là “năng lực của nền kinh tế nhằm
đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao" trên cơ sở các chính
sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác
Theo WEF (1997), tám nhóm nhân tố xác định tính cạnh
tranh tổng thể của nền kinh tế gồm:
- Độ mở cửa: Mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế giới và
mức độ tự do hoá về ngoại thương và đầu tư (thuế, hàng rào phi
thuế quan, khuyến khích xuất khẩu, chính sách tỉ giá, đầu tư
trực tiếp nước ngoài,…)
- Chính phủ: Vai trò và phạm vi can thiệp của chính phủ và
chất lượng các dịch vụ do chính phủ cung cấp, tác động của
chính sách tài chính (chi tiêu chính phủ, hệ thống thuế, mức
thuế, trợ cấp chính phủ, năng lực công chức trong khu vực công,
ảnh hưởng của các nhóm lợi ích lên các chính sách của chính
phủ, tính minh bạch trong các qui chế của chính phủ)
- Tài chính: Vai trò của các thị trường tài chính trong, hành
vi tiết kiệm và tính hiệu quả của các trung gian tài chính trong
việc chu chuyển nguồn tiết kiệm vào các đầu tư có hiệu quả
(đầu tư và tiết kiệm, tỉ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân, rủi ro tài
chính)
- Kết cầu hạ tầng: Số lượng và chất lượng hệ thống giao
thông vận tải, mạng viễn thông, điện cung ứng, bến bãi kho tàng
và các điều kiện phân phối là cơ sở vật chất hạ tầng giúp nâng
cao hiệu quả đầu tư (điện thoại các loại, hỗ trợ kết cấu hạ tầng,
mức độ tham gia của khu vực tư nhân vào các dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng)
- Công nghệ: mức độ nghiên cứu và phát triển (R&D), trình
độ công nghệ của một quốc gia (năng lực công nghệ nội sinh, năng lực tiếp nhận công nghệ mới)
- Quản trị: chiến lược cạnh tranh, phát triển sản phẩm, kiểm tra chất lượng, hoạt động tài chính công ty, nguồn nhân lực và khả năng tiếp thị
- Lao động: Hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động
- Thể chế: Tính đúng đắn của các thể chế pháp lý và xã hội tạo cơ sở cho việc hỗ trợ một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, hiện đại, gồm luật lệ và mức độ bảo hộ quyền sở hữu
Chỉ số chung đánh giá thứ hạng cạnh tranh của các quốc gia được tính theo tỷ trọng của tám nhóm nhân tố đó Tất cả có khoảng 250 chỉ số định tính và định lượng được sử dụng để đánh giá tính cạnh tranh cấp quốc gia Cách tiếp cận của WEF được các nhà lập chính sách rất chú trọng vì nó mang tính khái quát, bao quát được toàn bộ nền kinh tế Mặt khác nó lại thể hiện được sự gắn kết giữa môi trường kinh tế và các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tạo ra cái nhìn đồng bộ về tình hình kinh tế của mỗi nước Và từ đó đưa ra những chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia trong từng thời kì nhất định
Quan điểm của WEF đánh giá về tính cạnh tranh quốc gia
đã kết hợp được những nhân tố then chốt trong các học thuyết tân cổ điển thúc đẩy tăng trưởng Đó là tự do cạnh tranh, tự do hoá thương mại, ổn định vĩ mô khuyến khích đầu tư và tiết kiệm tạo sự tăng trưởng ổn định và bền vững Đồng thời, vai trò của công nghệ, tài chính và thể chế cũng được tính đến trong quá trình tăng trưởng Do đó, có thể thấy là cách tiếp cận của WEF
Trang 34rất tổng thể, cho phép so sánh khả năng cạnh tranh của các quốc
gia với nhau
Các hạn chế của mô hình cạnh tranh theo WEF
Tăng trưởng là điều kiện cần song chưa phải đã đủ cho sự
phát triển bền vững, một chỉ tiêu bao hàm những mục tiêu rộng
lớn hơn Cách tiếp cận của WEF cũng làm cho việc chọn lựa các
ưu tiên chính sách ngắn hạn gặp những khó khăn nhất định Mặt
khác, cách đánh giá theo WEF còn mang những yếu tố chủ quan
do hơn nửa số lượng chỉ số là dựa trên mẫu điều tra phỏng vấn
4.3.2 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của M.Porter
Theo M.Porter, Tổng năng suất các nhân tố1 là một thước
đo quan trọng nhất cho tính cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là
yếu tố cơ bản quyết định việc nâng cao mức sống của quốc gia
xét về dài hạn Điều này lại phụ thuộc vào sự phát triển và tính
năng động của các công ty Chính vì vậy, câu hỏi chuẩn cho tính
cạnh tranh hay lợi thế cạnh tranh quốc gia phải là: Tại sao các
công ty của một quốc gia nào đó lại thành công (trên trường
quốc tế) đối với một số ngành hàng hay khâu đoạn ngành hàng?
Hay nói cách khác, những nhân tố cơ sở tại gia nào (home base)
của quốc gia, của công ty, cho phép công ty sáng tạo và duy trì
lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực cụ thể?
Câu trả lời là ở bốn thuộc tính cơ bản của một quốc gia: Xét
riêng và xét chung như một hệ thống, chúng tạo nên ‘khối kim
cương’ lợi thế cạnh tranh quốc gia Các điều kiện về nhân
tố/đầu vào sản xuất thể hiện vị thế của quốc gia về nguồn lao
động (có đào tạo), tài nguyên, vốn, kết cấu hạ tầng, năng lực
1 Năng suất được đo bằng giá trị hàng hoá và dịch vụ tạo ra trên một đơn vị
lao động, vốn và tài nguyên
hành chính, thông tin và tiềm năng khoa học-kỹ thuật Các điều kiện về cầu phản ánh độ tinh tế của nhu cầu thị trường trong nước cũng như áp lực của người mua đối với việc cải thiện chất lượng sản phẩm hay dịch vụ Chiến lược và cơ cấu công ty phụ thuộc nhiều vào cách thức công ty được (phép) sáng lập, tổ chức
và quản lý cũng như trạng thái các đối thủ cạnh tranh Việc có hay không các ngành bổ trợ và liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế cũng là một yếu tố quan trọng
Hình 3.4 “Mô hình kim cương” về các yếu tố xác định
lợi thế cạnh tranh quốc gia
Chính phủ
Chiến lược, cơ cấu công ty và đối thủ cạnh tranh
Các điều kiện về nhân tố đầu vào sản xuất
về cầu
Các ngành bổ trợ
và liên quan
Cơ hội
Đồng thời, Porter cũng nhấn mạnh đến vai trò xúc tác của chính phủ trong lan truyền và thúc đẩy những điều kiện thuận lợi trong khối kim cương tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia Những chính sách chính phủ tập trung vào sự sáng tạo các nhân
tố sản xuất chuyên môn hoá, tiền tiến cho các ngành hay nhóm ngành riêng biệt; tránh can thiệp vào thị trường tỷ giá và các thị
Trang 35trường nhân tố sản xuất; buộc thực hiện nghiêm túc các chuẩn
mực về sản phẩm, độ an toàn và môi trường; hạn chế mạnh sự
hợp tác trực tiếp giữa các đối thủ trong ngành; khuyến khích các
mục tiêu dẫn tới việc duy trì đầu tư; phi điều tiết cạnh tranh và
có chính sách chống độc quyền mạnh và nhất quán; loại trừ kiểu
thương mại bị quản lý Theo ông, nhà nước không thể tạo ra
được các ngành có năng lực cạnh tranh cao; đó chỉ có thể là việc
của chính các công ty Tức là nhà nước không đóng vai trò như
một thành tố tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Điều kiện các yếu tố sản xuất
Các yếu tố sản xuất được chia thành hai nhóm: các yếu tố
cơ bản và các yếu tố tiên tiến Các yếu tố cơ bản còn được gọi
là các yếu tố chung bao gồm tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị
trí địa lí, nguồn lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo giản
đơn và nguồn vốn Đây được coi là nền tảng của học thuyết
thương mại chuẩn Nhóm thứ hai là các yếu tố tiên tiến như cơ
sở hạ tầng, thông tin liên lạc viễn thông, kĩ thuật số hiện đại,
nguồn nhân lực chất lượng cao gồm các kĩ thuật viên được đào
tạo đầy đủ, các nhà nghiên cứu, các nhà quản trị… Trong hai
nhóm nhân tố đó, nhóm thứ hai được Porter chú trọng hơn và
coi đây là nhóm nhân tố mang tính quyết định tới khả năng cạnh
tranh của một quốc gia
Trong hai nhóm yếu tố trên, nhóm nhân tố tiên tiến được
hình thành trên cơ sở nhóm nhân tố cơ bản, việc hình thành
nhóm nhân tố tiên tiến chủ yếu thông qua hoạt động đào tạo và
chính sách phát triển nguồn nhân lực của từng quốc gia
Điều kiện về cầu
Điều kiện về cầu được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của thị
trường đối với sản phẩm của ngành Thị trường là nơi quyết định cao nhất tới sự cạnh tranh của một quốc gia Thị trường trong nước có những đòi hỏi cao về sản phẩm sẽ là động lực để các công ty thường xuyên cải tiến sản phẩm nếu các công ty đó muốn tồn tại và phát triển Điều kiện về cầu theo mô hình khối kim cương của M.Porter lại chú trọng nhấn mạnh đến cầu trong nước là cơ sở để nghành có khả năng cạnh tranh trên thị trường Thực tế không phải cầu trong nước quyết định đến khả năng cạnh tranh của một nghành hay công ty trên thị trường trong và ngoài nước, mà yếu tố quyết định là khả năng đổi mới và đáp ứng của công ty đối với các yếu tố thị trường nước ngoài sẽ giúp cho công ty đứng vững trên thị trường quốc tế Nguyên nhân của sự sai lệch này trong cách nhìn của M.Porter chính do ông tập trung nghiên cứu và lấy ví dụ của các nước phát triển, nơi có mức độ cạnh tranh rất cao Và các nước này có xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế nên không còn sự khác biệt giữa thị trường nội địa và thị trường nước ngoài
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp liên quan
Khả năng cạnh tranh của một công ty, một ngành hay cả một nước phụ thuộc vào các ngành công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp liên quan vì các công ty không thể tách biệt đối với các công ty khác trong hoạt động sản xuất và kinh doanh Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan chủ yếu là các ngành cung cấp các yếu tố đầu vào cho một hoặc các ngành khác Khi một ngành phát triển sẽ dẫn tới sự liên kết với các ngành khác theo cả chiều dọc và chiều ngang
Các mối liên hệ, tác động qua lại giữa các công ty trong ngành với các ngành khác sẽ phát huy thế mạnh và tăng cường
Trang 36khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành Quá
trình trao đổi thông tin sẽ giúp các doanh nghiệp trong và ngoài
ngành phối hợp hoạt động mạnh hơn các hoạt động nghiên cứu
triển khai, phối hợp giải quyết các vấn đề mới nảy sinh thúc đẩy
các công ty có khả năng thích ứng với điều kiện kinh doanh
luôn thay đổi
Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành
Khả năng cạnh tranh quốc gia là kết quả của sự kết hợp hợp
lí các nguồn lực có sức cạnh tranh đối với mỗi ngành công
nghiệp cụ thể Chiến lược của từng doanh nghiệp, cơ cấu của
ngành là những nhân tố tác động tới khả năng của bản thân
ngành đó Ví dụ, các doanh nghiệp đều có chiến lược phát triển
kinh doanh cụ thể trong điều kiện môi trường luôn thay đổi thì
khả năng thành công trong kinh doanh cao và do đó khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp lớn hơn Cơ cấu ngành tức là nói
đến số lượng công ty trong ngành, khả năng tham gia vào ngành
cũng như rút khỏi ngành của từng doanh nghiệp Mức độ cạnh
tranh của ngành trong nước sẽ quyết định đến khả năng cạnh
tranh của các công ty trên thị trường quốc tế Mức độ cạnh tranh
trong nước sẽ giúp các doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm, tiến
hành đổi mới hoạt động kinh doanh và do đó sẽ có những chiến
lược cạnh tranh quốc tế hữu hiệu
Đóng góp của M Porter
Lý thuyết cạnh tranh quốc gia của M.Porter đứng trên quan
điểm quản trị ngành, tức là ông coi khả năng cạnh tranh của một
quốc gia phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của ngành và cụ thể
hơn nữa là cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành Không
có một nước nào lại có khả năng hơn một nước khác chỉ có
doanh nghiệp nước này có khả năng cạnh tranh cao hơn doanh
nghiệp nước khác Đây là một quan điểm chính xác Lý thuyết của M Porter có giá trị cao đối với các chính phủ trong việc xây dựng chiến lược phát triển ngành, phát triển cụm công nghiệp
Vì đề cập nhiều đến môi trường kinh doanh vi mô nên cách tiếp cận của M Porter có mối liên hệ chặt chẽ với quan điểm quản trị chiến lược dựa trên việc phân tích ưu thế cấu trúc của từng ngành/công ty Tuy nhiên, cách tiếp cận này có phần phù hợp hơn với các nước phát triển Nó cũng có thể dẫn đến kiểu chính sách công nghiệp ‘chọn người thắng cuộc’ (‘picking winners’) nếu như vai trò của chính phủ không được xác định đúng
Tuy nhiên, lý thuyết của ông cũng có những hạn chế đó là nhấn mạnh vai trò của cầu trong nước đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, nhấn mạnh vai trò của ngành hỗ trợ Nhật Bản là trường hợp điển hình để kiểm chứng
lý thuyết của Porter, nguyên liệu đầu vào từ thiên nhiên đều phải nhập khẩu nhưng các ngành sản xuất như thép cũng cực kì phát triển, Mazda không nổi tiếng tại thị trường trong nước nhưng lại rất thành công trên thị trường nước ngoài thậm chí cả thị trường Mĩ
Trang 37Câu hỏi ôn tập chương 4
1 Nêu sự khác biệt giữa lý thuyết khoảng cách công nghệ
và lý thuyết chu kì sống sản phẩm quốc tế?
2 Lý thuyết “Khoảng cách công nghệ” kết hợp với lý
thuyết “Tổng năng suất các nhân tố” đã giải thích tăng trưởng
kinh tế của các nước mới công nghiệp hóa (NICs) và các nước
đang phát triển như thế nào? Có thể vận dụng cho Việt Nam
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế được
không? vì sao?
3 Chi phí vận chuyển tác động như thế nào tới hoạt động
thương mại quốc tế giữa các quốc gia?
4 Các chính sách về môi trường có tác động như thế nào
tới hoạt động thương mại quốc tế giữa các nước?
5 “Vai trò của chính phủ tạo môi trường cho các hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp thực ra không quan trọng lắm”
Theo anh/chị đúng hay sai? Hãy cho ví dụ minh hoạ?
6 Lý thuyết của M Porter giải thích nguyên nhân và lợi
ích thương mại quốc tế như thế nào? Để tăng khả năng cạnh
tranh của một quốc gia khi tham gia thương mại quốc tế, dưới
góc độ của lý thuyết cạnh tranh quốc gia cần phải tập trung giải
quyết vấn đề gì? vì sao?
7 Lý thuyết chu kì sống sản phẩm của R Vernon giải thích
thương mại quốc tế giữa các quốc gia như thế nào? Hãy lấy một
thí dụ về thương mại quốc tế giữa các quốc gia để phân tích và
chứng minh sự vận dụng lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm trong
thương mại quốc tế?
8 Ba năm trở lại đây chỉ số cạnh tranh quốc gia của Việt Nam luôn bị tụt hạng, theo anh/chị nguyên nhân nào dẫn tới khả năng cạnh tranh cấp quốc gia Việt Nam lại suy giảm?
Trang 38Chương 5 LỢI THẾ THEO QUI MÔ, CẠNH TRANH
KHÔNG HOÀN HẢO VÀ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ NỘI NGÀNH
Các lý thuyết đề cập ở các chương trên đều xem xét thương
mại quốc tế dưới góc độ cung Tuy nhiên, thực tế cho thấy
thương mại quốc tế giữa các nước có mức độ phát triển tương
tự mạnh hơn các nước chênh lệch trình độ phát triển Các lý
thuyết thương mại quốc tế mới cố gắng giải thích vấn đề tại sao
một nước có khả năng sản xuất ô tô nhưng vẫn nhập khẩu ô tô
từ nước ngoài? Một số cách giải thích cho hiện tượng thương
mại này tập trung vào nhân tố cạnh tranh không hoàn hảo như
lợi thế theo qui mô, sự khác biệt sản phẩm trong ngành hoặc
yếu tố chất lượng sản phẩm trong cùng một ngành hàng Lý
thuyết thương mại quốc tế ở chương này tập trung giải thích các
vấn đề thương mại giữa các nước diễn ra trong phạm vi một
ngành phản ánh những thay đổi trong mậu dịch quốc tế từ thế kỉ
20 đến nay
5.1 Lợi thế theo qui mô và thương mại quốc tế
Một cách giải thích khác tại sao thương mại lại diễn ra giữa
các nước dựa vào hiệu quả sản xuất trên qui mô lớn trong một số
ngành, làm giảm chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm (lợi thế
theo qui mô) Lợi thế theo qui mô đề cập tới hoạt động sản xuất
một sản phẩm nào đó có tỉ lệ gia tăng đầu ra lớn hơn tỉ lệ gia tăng
đầu vào Tức là chi phí trên đơn vị sản phẩm sẽ giảm khi sản xuất
trên qui mô lớn, sản xuất lúc đó được coi là hiệu quả nhất Ví dụ: các đầu vào tăng lên hai lần thì sản lượng tăng lên hơn hai lần Lợi thế gia tăng theo qui mô đạt được có thể do với qui mô sản xuất lớn, mức độ chuyên môn hoá vào sản xuất cao làm cho năng suất tăng lên, đồng thời việc khai thác sử dụng máy móc cũng đạt hiệu quả cao hơn nên dẫn tới sản lượng chung gia tăng
Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế theo qui mô đưa ra giả định hai nước giống nhau tại mọi góc độ nên có đường giới hạn khả năng sản xuất, đường bàng quan giống nhau, và mức giá tương quan hai mặt hàng của mỗi nước trước khi có thương mại cũng bằng nhau
Trong trường hợp hiệu suất tăng dần theo qui mô thì đường giới hạn khả năng sản xuất có hình dạng là đường cong lồi về gốc toạ độ, khi đó chi phí cơ hội giảm dần Điều này cho phép thương mại giữa các nước có nền kinh tế giống nhau đều thu được lợi ích
Hình 5.1 Lợi thế theo qui mô và thương mại quốc tế
Trang 39Để phân tích và chỉ ra lợi ích thương mại quốc tế thu được
đối với mỗi nước khi tham gia thương mại giả sử xét mô hình
thương mại giữa hai quốc gia Đức và Pháp Thương mại dựa
trên lợi thế theo qui mô của hai mặt hàng A và B giữa hai nước
Đức và Pháp, đồng thời hai nước này giống nhau về các mặt
như sở thích, công nghệ sản xuất, trang bị các yếu tố… Các giả
thiết này đặt ra để loại trừ khả năng hai nước thương mại theo lý
thuyết H-O tức là thương mại dựa trên sự khác biệt về cung
nguồn lực sẵn có Hai nước đều có khả năng sản xuất hai mặt
hàng là A và B Do giống nhau nên Đức và Pháp có cùng một
đường giới hạn khả năng sản xuất lõm về phía gốc toạ độ là UV
và các đường bàng quan I1, I2, I3
Khi chưa có thương mại, hai nước cùng chung một điểm
cân bằng, tức là sản xuất bằng tiêu dùng tại E, nơi đường giới
hạn khả năng sản xuất tiếp xúc với đường bàng quan I1 Mức
giá hàng hoá tương quan giữa hai nước cũng bằng nhau và bằng
độ dốc đường ST đường giá cả chung
Khi có thương mại, Pháp tập trung sản xuất mặt hàng A còn
Đức tập trung sản xuất mặt hàng B Cả hai nước thực hiện
chuyên môn hoá hoàn toàn việc sản xuất, nên sản xuất của Pháp
sẽ tại U còn của Đức là tại V Nguyên nhân mỗi nước lại chuyên
môn hoá hoàn toàn trong sản xuất mỗi hàng hoá A và B là càng
dịch chuyển lên phía trên dọc đường giới hạn khả năng sản xuất
thì chi phí cơ hội sản xuất mặt hàng B càng tăng còn chi phí cơ
hội sản xuất mặt hàng A càng giảm Ngược lại, càng đi xuống
dọc đường giới hạn khả năng sản xuất chi phí cơ hội sản xuất
mặt hàng B càng giảm còn chi phí cơ hội sản xuất mặt hàng A
càng tăng Do đó, mỗi nước sẽ tiến hành sản xuất tại điểm có
chi phí cơ hội sản xuất các mặt hàng thấp nhất, và chi phí cơ hội
sản xuất mặt hàng A thấp nhất là tại điểm U còn chi phí cơ hội sản xuất mặt hàng B thấp nhất là tại điểm V Tức là, hai nước Pháp và Đức chuyên môn hoá hoàn toàn trong sản xuất sản phẩm A và B
Pháp xuất khẩu UR đơn vị hàng hoá A để đổi lấy HV đơn
vị hàng hoá B từ Đức Khi đó điểm tiêu dùng mới của Pháp tại J
và điểm tiêu dùng mới của Đức tại M Hai tam giác thương mại URJ và MHV bằng nhau (UR =MH và RJ = HV)
Như vậy, mức giá hàng hoá tương quan giống nhau không cản trở hai nước tiến hành thương mại với nhau Lưu ý, mô hình thương mại tính kinh tế nhờ qui mô khác với mô hình Ricardo ở chỗ, tỉ lệ trao đổi quốc tế cũng đúng bằng tỉ lệ trao đổi trong nước khi chưa có thương mại và mỗi nước tiến hành chuyên môn hoá hoàn toàn nhưng hướng chuyên môn hoá không xác định; như mô hình trên Pháp cũng có thể chuyên môn hoá hoàn toàn sản xuất mặt hàng B và Đức lại chuyên môn hoá hoàn toàn trong việc sản xuất mặt hàng A Trong khi đó mô hình Ricardo lại có sự khác biệt giữa tỉ lệ trao đổi quốc tế với tỉ lệ trao đổi trong nước khi chưa có thương mại, hai nước tiến hành chuyên môn hoá hoàn toàn với từng mặt hàng được xác định rõ ràng 5.2 Cạnh tranh không hoàn hảo và thương mại quốc tế 5.2.1 Khái niệm và chỉ tiêu đo lường thương mại nội bộ ngành Khái niệm thương mại nội bộ ngành
Mô hình thương mại quốc tế truyền thống tập trung giải thích hoạt động thương mại liên ngành, tức là sự trao đổi hàng hoá khác nhau thuộc các lĩnh vực hoặc ngành sản xuất khác nhau Chẳng hạn, lúa mì đổi lấy vải Tuy nhiên, thực tế nhiều giao dịch diễn ra giữa các nước liên quan tới việc trao đổi các
Trang 40mặt hàng liên quan với nhau hoặc những mặt hàng được xếp
vào cùng ngành hoặc cùng lĩnh vực sản xuất Thương mại quốc
tế diễn ra đồng thời vừa xuất khẩu lại vừa nhập khẩu một mặt
hàng cơ bản giống nhau gọi là thương mại quốc tế “hai chiều”
hoặc thương mại “nội ngành”
Thương mại nội ngành được hiểu là mua bán hàng hóa
trong cùng một ngành hàng hay cùng một ngành sản xuất
Ví dụ, Việt Nam xuất khẩu gạo sang các nước nhưng cũng
nhập khẩu một số loại gạo từ Thái Lan Tức là hoạt động xuất
và nhập khẩu gạo của Việt Nam diễn ra đồng thời Hay Nhật là
quốc gia xuất khẩu nhiều ô tô ra thị trường thế giới nhưng vẫn
nhập khẩu ô tô từ Mĩ, châu Âu
Hoạt động xuất nhập khẩu các sản phẩm trong cùng một
ngành hàng cho thấy có sự phân hoá sản phẩm hay sự khác biệt
sản phẩm trong một ngành hàng Thương mại quốc tế nội ngành
nhấn mạnh tới hoạt động trao đổi những sản phẩm có sự khác
biệt trong một ngành hàng hoàn toàn trái ngược với hoạt động
thương mại giữa các sản phẩm thuộc các ngành khác nhau
(thương mại liên ngành) Thực tiễn cho thấy thương mại nội
ngành giữa các nhóm nước có cùng trình độ phát triển diễn ra
rất phổ biến Do đó, lý thuyết lợi thế so sánh xem ra không phù
hợp để giải thích hoạt động thương mại quốc tế nội ngành
Thực tế có hai nguyên nhân chính làm gia tăng hoạt động
thương mại quốc tế nội ngành Thứ nhất, cùng một loại sản
phẩm được sản xuất tại những nơi khác nhau đòi hỏi tỉ lệ đầu
vào khác nhau với những công nghệ khác nhau Khi đó theo lý
thuyết H-O, mỗi quốc gia sẽ sản xuất dạng sản phẩm phù hợp
nhất với mức độ công nghệ đó Tuy nhiên, cách tiếp cận này
không thể lí giải được mức tăng trưởng nhanh chóng thương
mại nội bộ ngành Thứ hai, cách này gắn liền với sự khác biệt sản phẩm dựa trên lợi thế theo qui mô Do cạnh tranh nên tất cả các nước không thể sản xuất cùng một lúc những sản phẩm tương tự nhau Họ sẽ lựa chọn sản xuất các mặt hàng có lợi thế nhất đối với họ Đây là vấn đề rất quan trọng quyết định tới việc làm giảm chi phí cho mỗi đơn vị sản phẩm Và mỗi nước tiến hành sản xuất các mặt hàng cá biệt rồi tiến hành trao đổi với nhau
Thương mại quốc tế dựa trên lợi thế theo qui mô trong ngành hàng có sự khác biệt sản phẩm giữa các nước cần có hai điều kiện: Thứ nhất, tồn tại nhu cầu về các loại sản phẩm trong cùng một ngành hay một nhóm sản phẩm Ví dụ, cùng là ô tô nhưng người tiêu dùng có những nhu cầu khác nhau về từng nhãn hiệu nhất định do sở thích và thu nhập Do đó, người tiêu dùng cần nhiều lựa chọn hơn và gia tăng lợi ích của mình lên Điều này được nhận thấy rất rõ khi thuế quan và các rào cản phi thuế quan khác được dỡ bỏ giữa các nước trong liên minh châu
Âu năm 1958, Balassa đã thống kê thấy rằng thương mại quốc
tế giữa các hàng hoá có sự khác biệt trong cùng một ngành hàng của các nước trong liên minh EU gia tăng nhanh như ô tô Đức được trao đổi lấy ô tô Pháp và Italia, máy giặt của Pháp được trao đổi lấy máy giặt của Đức, máy chữ của Italia được trao đổi lấy máy chữ của Đức Thứ hai, thị trường nội địa không đủ lớn đối với các hãng và do đó để khai thác tính kinh tế theo qui mô, các hãng phải sản xuất với số lượng lớn để giảm chi phí cho một đơn vị sản phẩm
Đo lường thương mại nội bộ ngành
Để đánh giá hoạt động thương mại nội bộ ngành của một ngành hàng hay nhóm sản phẩm có khả năng thay thế hoàn toàn,