TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ Tên đề tài: Giải pháp nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 20202025 Học viên: Nguyễn Việt Dũng Khóa: 3 Người hướng dẫn: TS. Phạm Công Trịnh Từ khóa (Keyword): Nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên Nội dung tóm tắt: Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Trong những nghiên cứu gần đây cho thấy, thanh niên Việt Nam còn thiếu hụt những thông tin về nghề nghiệp, công tác hướng nghiệp cho thanh niên còn nhiều bất cập, công tác định hướng việc làm cũng như tư vấn việc làm cho thanh niên vẫn còn nhiều hạn chế, tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm ngày càng trầm trọng. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi thiếu việc làm, việc làm không ổn định còn khá cao. Hiện nay, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đối với thanh niên ở tỉnh Vĩnh phúc đang thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành và đoàn thể trong tỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020 2025” là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao công tác Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các hoạt động nhằm nâng cao công tác giải quyết việc làm đối với thanh niên ở tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu hoạt động trong lĩnh vực giải quyết việc làm đối với thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu từ năm 2015 đến năm 2019 và đề xuất giải pháp đến năm 2025. Phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng; Phương pháp thu thập dữ liệu; Phương pháp hệ thống; Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và suy luận logic. Các kết quả nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho thanh niên từ năm 2015 đến năm 2019 Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện tốt hơn công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 20202025.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
Mã số: 8340101
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Công Trịnh
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Vĩnh Phúc, ngày tháng năm 2020 Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Dũng
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành tới: Các thầy cô giáo Trường Đại học Công nghệ giao thông vận tải đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phạm Công Trịnh
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè, những người đã động viên và chia sẻ với tôi rất nhiều trong suốt thời gian tôi tham gia học tập và làm luận văn.
Học viên
Nguyễn Việt Dũng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT 4
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 4
Chương 2 31
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 31
CHO THANH NIÊN TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2015 – 2019 31
Biểu 2.1: Quy mô dân số và lao động 32
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2018 32
Biểu 2.2: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 2005-2018 33
Biểu 2.3: Cơ cấu theo nhóm tuổi của lực lượng lao động năm 2018 34
Biểu 2 4: Tổng hợp kết quả giải quyết việc làm 39
Giai đoạn 2012- 2018 39
Biểu 2.5: Số liệu về xuất khẩu lao động năm 2019, dự kiến 2020 41
Biểu 2.6: Tổng hợp kết quả hỗ trợ học sinh, sinh viên học nghề 54
Biểu 2.7: Tổng hợp kinh phí đầu tư cho công tác dạy nghề Giai đoạn 2015-2019 55
Chương 3 70
GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIẢI QUYỂT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TỈNH VĨNH PHÚC 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
Biểu 2.1: Quy mô dân số và lao động 32
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2018 32
Biểu 2.2: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 2005-2018 33
Biểu 2.3: Cơ cấu theo nhóm tuổi của lực lượng lao động năm 2018 34
Biểu 2 4: Tổng hợp kết quả giải quyết việc làm 39
Giai đoạn 2012- 2018 39
Biểu 2.5: Số liệu về xuất khẩu lao động năm 2019, dự kiến 2020 41
Biểu 2.6: Tổng hợp kết quả hỗ trợ học sinh, sinh viên học nghề 54
Biểu 2.7: Tổng hợp kinh phí đầu tư cho công tác dạy nghề Giai đoạn 2015-2019 55
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
CNTT Công nghệ thông tin
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ Tên đề tài: Giải pháp nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2025
Học viên: Nguyễn Việt Dũng Khóa: 3
Trang 8Người hướng dẫn: TS Phạm Công Trịnh
Từ khóa (Keyword): Nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên Nội dung tóm tắt:
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, phấn đấu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Trongnhững nghiên cứu gần đây cho thấy, thanh niên Việt Nam còn thiếu hụt nhữngthông tin về nghề nghiệp, công tác hướng nghiệp cho thanh niên còn nhiều bất cập,công tác định hướng việc làm cũng như tư vấn việc làm cho thanh niên vẫn cònnhiều hạn chế, tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm ngày càng trầm trọng
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi thiếu việc làm, việc làm không ổn định còn khácao Hiện nay, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đối với thanh niên ở tỉnh Vĩnhphúc đang thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành và đoàn thể trong tỉnh
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020 -2025” là yêu
cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao côngtác Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời giantới, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các hoạt động nhằm nâng caocông tác giải quyết việc làm đối với thanh niên ở tỉnh Vĩnh Phúc
Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng; Phương pháp thu
Trang 9thập dữ liệu; Phương pháp hệ thống; Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, sosánh và suy luận logic.
Các kết quả nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho thanh niên từ năm
Trang 10ABSTRACT OF THESIS MASTER Project title: Solutions to improve job creation for young people in Vinh Phuc
province in the period 2020-2025
Student: Nguyen Viet Dung Course: 3
Instructor: TS Pham Cong Trinh
Keyword: Improve job creation for young people
Content summary:
The urgency of the subject
Currently, Vietnam is in the period of accelerating industrialization andmodernization of the country, striving to become an industrial country in thedirection of modernization In recent researches, Vietnamese youth still lackinformation about careers, career guidance for young people still has manyshortcomings, job orientation as well as job counseling for young people There arestill many limitations, the situation of labor surplus and underemployment is gettingworse and worse
The proportion of underemployed and unstable working age workers is stillquite high Currently, the issue of employment and job creation for young people inVinh Phuc province is attracting the attention of all levels, branches and unions inthe province
Therefore, the study of the topic: "Solution to improve job creation for young people in Vinh Phuc province in the period 2020 - 2025" is an essential,
objective and urgent requirement in both theory and Practice
Purpose, subject and scope of the thesis
Research purposes:
Thesis researching the feasible solution system to improve the job creation foryoung people in Vinh Phuc province in the coming time, based on the study ofrelevant theoretical and practical issues concerned
Object and scope of the study:
Trang 11Subjects: The research object of the dissertation is activities aimed atimproving job creation for young people in Vinh Phuc province.
(Sign, clearly state full name, title, degree)
TS Pham Cong Trinh
Author
(Sign, write full name)
Nguyen Viet Dung
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọngquyết định tương lai, vận mệnh dân tộc Thanh niên Việt Nam là lực lượng xã hộihùng hậu, luôn đi đầu trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, có đóng góp
to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đảng Cộng sản Việt Nam vàChủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên và công tác thanhniên trong tiến trình cách mạng và sự phát triển của đất nước
Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, phấn đấu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Cùng với nhiệm vụ chiến lược đó, Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới và xây dựng nền kinh tế tri thức Bối cảnh đó, việc quán triệt các quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thanh niên càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Trong những nghiên cứu gần đây cho thấy, thanh niên Việt Nam còn thiếu hụtnhững thông tin về nghề nghiệp, công tác hướng nghiệp cho thanh niên còn nhiều bấtcập, công tác định hướng việc làm cũng như tư vấn việc làm cho thanh niên vẫn cònnhiều hạn chế, tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm ngày càng trầm trọng
Vĩnh Phúc là một tỉnh có diện tích không rộng lớn so với các đơn vị hànhchính cấp tỉnh khác, dân cư đông đúc và có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triểnkinh tế, xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020
xác định: “Phấn đấu đến năm 2020, cơ bản hoàn thành hạ tầng khung đô thị tiến tới trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI” Trên thực tế,
Vĩnh Phúc đã là một trong những tỉnh có nền công nghiệp phát triển nhất miền Bắcnước ta, có nhiều lợi thế và đang có sự phát triển năng động trên tất cả các mặt Laođộng Vĩnh Phúc trẻ, chiếm tỷ lệ cao Trong những năm qua, Vĩnh Phúc đã có nhiềuchính sách hỗ trợ thanh niên trong đào tạo nghề, giải quyết việc làm Tuy nhiên, tỷ lệlao động trong độ tuổi thiếu việc làm, việc làm không ổn định còn khá cao Hiện nay,vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đối với thanh niên ở tỉnh Vĩnh phúc đang thuhút sự quan tâm của các cấp, các ngành và đoàn thể trong tỉnh
Để nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên tỉnh Vĩnh Phúctrước hết cần phải nghiên cứu nhiều vấn đề lý luận, pháp lý một cách thấu đáo, dựatrên các căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: giải pháp nâng
Trang 14cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giaiđoạn 2020 -2025 là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng caocông tác Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thờigian tới, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn cần phải giải quyết các nhiệm vụ cơbản sau:
- Hệ thống hóa lý luận, chọn lọc và phát triển một bước để có thể áp dụngtrong điều kiện cụ thể của đối tượng nghiên cứu là thanh niên tỉnh Vĩnh Phúc
- Đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu là tình hình việc làm của thanhniên tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2015 – 2019
- Xây dựng các giải pháp để nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanhniên tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các hoạt động nhằm nâng caocông tác giải quyết việc làm đối với thanh niên ở tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực giải quyết
việc làm cho thanh niên và các giải pháp đề xuất sẽ áp dụng trong thời gian tới
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động trong lĩnh vực giải quyết việc làm
đối với thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2015 đến 2019, các
giải pháp đề xuất áp dụng cho thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo củaUBND tỉnh, các sở ban ngành đoàn thể của tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian từ năm
2015 đến năm 2020
Trang 15- Thu thập dữ liệu sơ cấp liên quan các yếu tố về việc làm và giải quyết việclàm, về hoạt động sản xuất, về đời sống vật chất, văn hóa và tư tưởng của đoàn viênthanh niên thông qua phương pháp điều tra xã hội học.
4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp so sánh
Dùng phương pháp so sánh (theo vùng sinh thái, theo đặc điểm dân tộc, theo
cơ cấu kinh tế) để xem xét xác định xu hướng mức biến động của các chỉ tiêu phântích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, phân tích tài liệu khoa học, kháchquan, phản ánh đúng nội dung việc làm của người lao động, kết hợp với so sánhtheo thời gian, theo ngành nghề, theo độ tuổi lao động, theo cơ cấu lao động…
- Phương pháp thống kê
Luận văn có sử dụng phương pháp thống kê dùng để phân tích dữ liệu điều trađược, những tài liệu mang tính đại diện cao, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu,giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán, nghiên cứu các chỉ tiêu đúng đắn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giải quyếtviệc làm cho thanh niên tỉnh Vĩnh Phúc
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về việc làm và công tác giải
quyết việc làm cho thanh niên;
Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho thanh niên tỉnh Vĩnh Phúc;
Chương 3: Giải quyết việc làm cho thanh niên tỉnh Vĩnh Phúc;
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT
1.1.1 Khái niệm việc làm
Có nhiều quan điểm khác nhau về việc làm, theo từ điển tiếng Việt: “Việclàm là công việc được giao cho làm và được trả công” Khái niệm này vừa rộng lạivừa hẹp Bởi một mặt có thể có một số người lao động tự tạo việc làm cho chínhmình, họ được tạo ra thu nhập nhưng không được trả công Mặt khác, có một sốngười làm những việc nhưng đó là những công việc mà pháp luật ngăn cấm thì đókhông thể coi là việc làm Để khắc phục vấn đề này, Điều 13, chương II của BộLuật lao động đã chỉ rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bịpháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Như vậy, việc làm có hai đặc tính cơbản:Một là, xét dưới khía cạnh kinh tế, việc làm là hoạt động của con người tạo rathu nhập; Hai là, dưới khía cạnh pháp lý, hoạt động tạo ra thu nhập đó chỉ được coi
là việc làm khi hoạt động đó không bị pháp luật cấm Trên thực tế, có nhiều hoạtđộng tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật ngăn cấm thì không được thừa nhận là việclàm; đồng thời có những hoạt động không bị pháp luật cấm nhưng không tạo ra thunhập cũng không thể coi làviệc làm Phân loại việc làm:
Căn cứ vào nguồn gốc thu nhập: Việc làm có thể chia làm các dạng sau:+ Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật cho côngviệc đó
+ Làm các công việc để tạo thu nhập và thu lợi nhuận cho bản thân bao gồmsản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên sở hữu, quản lý hoặc có quyền sửdụng, hoặc các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủtoàn bộ hay một phần
+ Làm các công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hìnhthức tiền công, tiền lương cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất
do chủ hộ hoặc thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hoặc có quyền sử dụng, hoặccác hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộlàm chủ hoặc quản lý
Căn cứ vào mức độ đầu tư thời gian cho việc làm phân thành:
Trang 17+ Việc làm chính là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sovới các việc khác.
+ Việc làm phụ là những việc làm mà người lao động dành thời gian ít hơn sovới việc làm chính
Căn cứ vào thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm, phân thành:+ Người có việc làm ổn định: là những người làm việc từ 6 tháng trở lêntrong một năm hoặc những người làm việc dưới 6 tháng trong năm và sẽ tiếp tụclàm công việc đó trong những năm tiếp theo
+ Người có việc làm tạm thời là những người làm việc dưới 6 tháng trong 2tháng trước thời điểm điều tra, đang làm việc tạm thời hay không có việc làm dưới 1tháng
Người có việc làm là người có đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong cácngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra có thời gianlàm việc không ít hơn mức chuẩn quy định được coi là có việc làm Ở nhiều nước
sử dụng mức chuẩn này là 1 giờ, còn ở nước ta mức chuẩn này là 8 giờ Riêng vớinhững người trong tuần lễ tham khảo không có việc làm vì các lý do bất khả khánghoặc do nghỉ ốm, thai sản, nghỉ phép, nghỉ hè, đi học có hưởng lương, nhưng trước
đó họ đã có một công việc nào đó với thời gian thực tế làm việc không ít hơn mứcchuẩn quy định cho người được coi là có việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại làm việcbình thường sau thời gian tạm nghỉ, vẫn được tính là người có việc làm
Căn cứ vào chế độ làm việc, thời gian thực tế và nhu cầu làm thêm của ngườiđược xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra Người có việc làm chiathành hai nhóm: Người đủ việc làm và người thiếu việc làm
Tóm lại: Việc làm là những hoạt động lao động sản xuất trong tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị phápluật ngăn cấm
1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạngthái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất,công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó Rõ ràng tạo được việc làm cho người laođộng hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, pháthuy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ranhiều của cải cho xã hội Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ
“Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định vàphát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêucầu bức xúc của nhân dân” Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần
Trang 18thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới.Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người
ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗlàm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làmchất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động,đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chứcnăng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanhnghiệp và ngay bản thân người lao động
1.1.3 Khái niệm giải quyết việc làm cho thanh niên
Khái niệm thanh niên
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển
xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của Đất nước Khái niệm Thanh niênđược sử dụng thường xuyên rộng rãi hàng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoahọc xã hội nhân văn Thanh niên là một khái niệm có thể được hiếu và định nghĩatheo nhiều cách Tùy thuộc vào nội dung tiểp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độđánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau vể Thanh niên
Về góc độ pháp luật, theo Điều 1 Luật Thanh niên năm 2015: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 đến 30 tuổi.
Theo điều lệ Đoàn thì Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một tổ chức chính
trị-xã hội của Thanh niên, bao gồm những Thanh niên ưu tú trong độ tuổi 16 đến 30.Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếptục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp Thanh niên vàcác hoạt động khác của Đoàn và phong trào Thanh niên đến 35 tuổi
Từ góc độ xã hội học, Thanh niên được xem là một nhóm xã hội của nhữngngười “mới lớn” Theo PGS TS Phạm Hồng Tung thì: “Tuổi Thanh niên là độ tuổiquá độ từ trẻ con sang người lớn trong cuộc đời mỗi người” Tiếp đó Ông chorằng: “ Đây là một nhóm động, không ổn định, nó như một dòng chảy, thườngxuyên đón nhận những thành viên mới và chia tay những người đã trưởng thành,vượt quá phạm vi lứa tuổi của nhóm”
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi Thanh niên là một giai đoạn xácđịnh trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận
Trang 19Thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độclập với tư cách là một công dân có trách nhiệm.
Từ góc độ tâm lý học, thanh niên là một độ tuổi, ở giữa lứa tuổi trẻ em vàtuổi trưởng thành Ở giai đoạn này, thể chất của con người đã được phát triển toàndiện, đầy đủ Tuy nhiên, các yếu tố tâm sinh lý vừa được định hình và còn thiếu ổnđịnh Thanh niên có sự khác biệt lớn về nhiều mặt Do đó, đặc điểm tâm sinh lýcủa thanh niên cũng rất phong phú, đa dạng Tuy vậy, chúng có một điểm chung làtính trẻ Vì vậy, Thanh niên luôn có sự năng động, nhiệt huyết, chấp nhận mạohiểm, giàu mơ ước, có hoài bão lớn, thích cái mới, thích giao lưu, học hỏi vàmong muốn có những cống hiến, xung kích, tình nguyện đóng góp sức trẻ cho xãhội để khẳng định bản thân
Theo Từ điển Tiếng Việt: "Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổitrưởng thành” Khái niệm này mới hiểu Thanh niên ở 2 khía cạnh là Thanh niên làngười có độ tuổi còn trẻ và đang trưởng thành, chưa xác định được Thanh niêntrong độ tuổi bao nhiêu, có vai trò như thế nào trong sự nghiệp phát triển kinh tế-
xã hội của Đất nước
Để nhìn nhận đánh giá Thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể baohàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, trong phạm vi đề tài này Thanh niênđược hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi,gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi Lĩnh vực hoạt độngcủa đời sống xã hội
Từ sự phân tích trên, khái niệm Thanh niên có thể được hiểu như sau:Thanh niên Việt Nam là những người từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, gồm những người
có sức khỏe thể chất đạt đến đỉnh cao; năng động, nhiệt huyết, dám nghĩ, dámlàm, thích giao lưu, học hỏi đê nâng cao trình độ về mọi mặt, mong muốn đónggóp cho xã hội để khẳng định bản thân Họ là một lực lượng quan trọng của xã hộihiện tại cũng như tương lai
Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là một bộ phận của chính sáchgiải quyết việc làm cho người lao động nói chung Đặc biệt ở chỗ, đối tượng củacác chính sách này là dành cho thanh niên Ở nước ta, căn cứ Luật Thanh Niên số53/2005/QH11, thanh niên là những người trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi
Do đó, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là các biện pháp của Nhà nướctác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm cho thanh niên như khắc
Trang 20phục tình trạng thất nghiệp, khuyến khích, hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm, khuyếnkhích, hỗ trợ doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển việc làm và tiếp nhận độingũ thanh niên vào làm việc Trong bất kỳ quốc gia nào, thanh niên luôn là lựclượng dân số quan trọng cấu thành nên lực lượng lao động chủ yếu của nền kinh tế,
là nhóm xã hội giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của quốc gia Thanh niên
là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi niên thiếu và tuổi trưởng thành nhưng là nhóm xãhội có tính độc lập Thông thường ở các quốc gia trên thế giới, người trong nhómtuổi 15-24 được gọi là thanh niên, nhưng tại các quốc gia đang phát triển như ViệtNam, thanh niên thường được mở rộng sang nhóm tuổi 25-29 (vì thanh niên ViệtNam trưởng thành chậm hơn, nhất là khu vực nông thôn và tổ chức Đoàn thanh niênViệt Nam hoạt động đến độ tuổi 30)
Theo số liệu thống kê, hiện nay tỷ lệ thanh niên chiếm hơn 50% lực lượnglao động xã hội, là một tiềm năng vô cùng to lớn cho sự phát triển đất nước Tuynhiên, cùng với sự gia tăng nhanh chóng số người đến tuổi lao động, vấn đề tạo việclàm cho thanh niên ngày càng trở nên khó khăn hơn Hiện nay hàng năm có hàngtriệu thanh niên cần việc làm, bao gồm số thanh niên mới bước sang độ tuổi laođộng, học sinh thôi học, công nhân dôi ra từ những xí nghiệp làm ăn thua lỗ, bộ độixuất ngũ, thanh niên xung phong, lao động từ nước ngoài về nước chính vì vậyđòi hỏi Nhà nước phải quan tâm đặc biệt và có chính sách việc làm cho thanh niên.Một số chính sách cơ bản mà Nhà nước đã ban hành như sau:
Một là, Luật Thanh niên số 53/2005/QH11 Tại Điều 10 - Quyền và nghĩa vụ
của thanh niên trong lao động có ghi rõ: (1) Thanh niên lao động đế lập thân, lậpnghiệp, làm giàu chính đáng, góp phần xây dựng đất nước; (2) chủ động tiếp cậnthông tin thị trường lao động; lựa chọn việc làm và nơi làm việc phù họp với khảnăng của bản thân và nhu cầu của xã hội; (3) rèn luyện tác phong công nghiệp, nănglực quản lý, kinh doanh, tuân thủ kỷ luật lao động; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹthuật; nâng cao trình độ nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triên khoa học và côngnghệ; (4) xung kích thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khókhăn Điều 18 về trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với thanh niên
như sau: (1) Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân giải quyết
việc làm cho thanh niên; ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai để phát triển giáo dụcnghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề cho thanh niên; phát triển hệthống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp thanh niên tiếp cận thị trường lao động; ưu tiên
Trang 21dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn, thanh niên sau khi hoànthành nghĩa vụ quân sự, thanh niên tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ thựchiện chương trình, dự án phát triến kinh tế - xã hội; thanh niên của hộ nghèo đượcvay vốn từ quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, quỹ xoá đói, giảm nghèo, vốn tín dụng
ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tự tạo việc làm; (2) Nhà nước có
cơ chế, chính sách giao cho tổ chức thanh niên huy động thanh niên thực hiện cácchương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hộikhó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chương trình,
dự án khác đê thanh niên có điều kiện phấn dấu, rèn luyện, lập thân, lập nghiệp; (3)Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất dai để khuyến khích các doanhnghiệp tạo chỗ ở cho lao động trẻ của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân xây nhà chothuê, bán cho thanh niên theo phương thức trả dần với thời hạn và giá cả hợp lý ởnhững nơi tập trung đông lao động trẻ; (4) Gia đình có trách nhiệm giáo dục ý thứclao động, tôn trọng sự lựa chọn nghề nghiệp, việc làm của thanh niên; tạo điều kiệncho thanh niên có việc làm
Hai là, Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/ 2015 của Chính phủ quy
định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm Nghị địnhdành riêng chương 4 nói về “Hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên” Đối tượng hỗ trợđào tạo nghề là thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanhniên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh
tế - xã hội được hỗ trợ đào tạo nghề khi đáp ứng các điều kiện: (1) Có nhu cầu đàotạo nghề trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụcông an; hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xãhội; (2) Chưa được hỗ trợ đào tạo nghề từ chính sách hỗ trợ đào tạo nghề khác có sửdụng nguồn kinh phí của ngân sách nhà nước kể từ ngày hoàn thành nghĩa vụ quân
sự, nghĩa vụ công an; hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triểnkinh tế - xã hội Các đối tượng theo quy định tham gia đào tạo nghề trình độ trungcấp, cao đẳng được hỗ trợ: (1) Miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theoquy định của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp và các văn bản hướng dẫn;(2) Vay vốn để tham gia đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng theo quy địnhcủa chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn Các đốitượng theo quy định tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp được cấp thẻ đào tạonghề có giá trị tối đa bằng 12 tháng tiền lương cơ sở tại thời điểm đào tạo nghề và
có giá trị sử dụng trong 01 năm kể từ ngày cấp
Trang 22Với thanh niên lập nghiệp, Nhà nước hỗ trợ cho đối tượng là: Học sinh các trườngtrung học phổ thông; Thanh niên đang học tại cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghềnghiệp; Thanh niên đã tốt nghiệp cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp Nộidung hỗ trợ là định hướng nghề nghiệp; cung cấp thông tin về việc làm, nghề nghiệp; đàotạo, bồi dưỡng kỹ năng tìm việc và làm việc; tham gia chương trình thực tập làm việc tạidoanh nghiệp, tổ chức; cho vay ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định của phápluật [2].
Với thanh niên khởi sự doanh nghiệp Nhà nước thực hiện hỗ trợ cho nhómđối tượng là thanh niên có nhu cầu khởi sự doanh nghiệp và Thanh niên đã khởi sựdoanh nghiệp, với nội dung hỗ trợ là: (1) Cung cấp kiến thức về pháp luật, quản trịdoanh nghiệp và các vấn đề có liên quan khởi sự doanh nghiệp; (2) Đào tạo, bồidưỡng kiến thức khởi sự doanh nghiệp; (3) Cho vay ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việclàm theo quy định của pháp luật
Ba là, Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” với nhóm đốitượng thanh niên là học sinh, sinh viên đang học tại các đại học, học viện, trường đạihọc, trường cao đẳng, trường trung cấp, học sinh đang học tại các trường trung học phổthông và các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trong toàn quốc;Cán bộ, giảng viên, giáo viên, người làm công tác hỗ trợ sinh viên trong các đại học,học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp và giáo viên hướng nghiệptại các trường trung học phổ thông và các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dụcthường xuyên trong toàn quốc [3]
Bốn là, Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020[12] (Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số1956/QĐ-TTg) Trong đó nói rõ nhóm đối tượng là: (1) lao động nông thôn trong độtuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học Trong đó
ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưuđãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thunhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canhtác; (2) Cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính quyền và côngchức chuyên môn xã; cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức xã đếntuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán
bộ đến năm 2015 và đến năm 2020
Trang 23Năm là, Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phầngiảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020 cho nhóm đối tượng là người lao động cưtrú dài hạn tại 61 huyện nghèo; các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Ngườilao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, các cơ sở dạy nghề cho laođộng xuất khẩu [5]
Lực lượng lao động là thanh niên ngày càng có vị trí to lớn trong các hoạt độngsản xuất, nghề nghiệp, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước.Nhưng dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thực trạng việc làmcủa thanh niên trong thời gian gần đây diễn biến khá phức tạp Tình trạng thấtnghiệp, thiếu việc làm trong thanh niên vẫn gia tăng, chính vì vậy đặt ra yêu cầuNhà nước chăm lo, bồi dưỡng và phát huy vai trò, sức mạnh của thanh niên trongthời kỳ mới Trên đây là một số chính sách mà Nhà nước ban hành để hỗ trợ tạoviệc làm cho thanh niên, đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, hội nhập quốc tế và phát triển vũng mạnh./
1.2.1 Vai trò việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đốivới từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong cáchoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn
bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bảnthân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân.Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cánhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào nhữngvùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, ),vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ vănhoá thấp, ) Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi,nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức,trình độ vốn có
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầuvào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăngtrưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việclàm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và
Trang 24kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững,ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động.
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xãhội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tíchcực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xãhội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội ,không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện vềnhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việclàm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnhhưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người Con người có nhu cầu lao độngngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tựhoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đếnlòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xãhội Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàunghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hìnhchính trị
Vai trò việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng, vì vậy
để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi nhà nước phải có nhữngchiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này
1.2.2 Vai trò của giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra việc làm để thuhút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế Giải quyết việc làm khôngchỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất lượng việc làm Đây là vấn đềcòn ít được chú ý khi đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm, người ta chỉ quan tâm đếnkhía cạnh thứ hai của nó là vấn đề tạo ra việc làm Vậy tạo việc làm là gì?
Tạo việc làm là hoạt động kiến thiết cho người lao động có được một công việc cụthể mang lại thu nhập cho họ và không bị pháp luật ngăn cấm Người tạo ra côngviệc cho người lao động có thể là Chính phủ thông qua các chính sách, có thể là một
tổ chức hoạt động kinh tế ( các công ty, doanh nghiệp, các cơ sở hoạt động sản xuấtkinh doanh…) và các cá nhân, thông qua các hoạt động thuê muớn nhân công
Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế quốc dân
Việc làm đang là vấn đề bức xúc có tính thời sự không chỉ đối với nước ta mà cònđối với tất cả các nước trên thế giới, sức ép về việc làm đang ngày càng gia tăng Vìvậy giải quyết việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta hiện
Trang 25nay Đối tượng để giải quyết việc làm chính là con người, cụ thể là người lao động,một lực lượng chiếm tỷ lệ rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong xã hội, do đó đểthấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong nềnkinh tế thị trường hiện nay thì trước hết ta phải tìm hiểu rõ về vai trò quan trọng củacon người trong xã hội.
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội ởbất cứ giai đoạn nào thì con người cũng luôn là trung tâm của sự phát triển vì vậy
mà Mác đã từng nói: “ Con người là lực lượng sản xuất cơ bản nhất của xã hội
Con người với sức lao động, chất lượng, khả năng, năng lực, với sự tham giatích cực vào quá trình lao động là yếu tố quyết định tốc độ phát triển của tiến bộ kỹthuật” Khi nghiên cứu, tìm hiểu về con người thì ta phải nghiên cứu trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, con người là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải, vật chất và tinh thần.
Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của mình (một yếu tốcủa quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất) tạo ra giá trị hàng hoá vàdịch vụ
Muốn vậy, phải có quá trình kết hợp sức lao động với các tư liệu sản xuất, gọi làquá trình lao động làm việc hay là họ có việc làm Vậy thông qua việc làm conngười mới tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội
Thứ hai, con người là chủ thể sử dụng và tiêu dùng của cải vật chất và tinh
thần thông qua quá trình phân phối và tái phân phối Trong khái niệm đã nêu ở trên,việc làm đem lại thu nhập cho người lao động và không bị pháp luật ngăn cấm.Người ta sử dụng thu nhập đó để tiêu dùng, để tái sản xuất sức lao động và phục vụnhững nhu cầu khác cho bản thân cũng như là gia đình… từ đó góp phần cho sảnxuất và phát triển kinh tế
Như vậy, việc làm có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đó làđộng lực cho sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, tạo việc làm càng đóng vai tròquan trọng hơn nữa cho sự phát triển vì:
Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện để ngườilao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống đồng thời giảm các tệ nạn xã hội, làmcho xã hội ngày càng văn minh hơn
Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động còn có ý nghĩa quan trọng ở chỗ:tạo cơ hội cho người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đóquyền cơ bản nhất của họ là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và giađình, góp phần xây dựng đất nước
Trang 26Như vậy, ta thấy được tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làmđối với người lao động trong xã hội hiện nay.
1.3. Các nguyên tắc cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm
Luận văn trình bày về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm vàgiải quyết việc làm Theo đó, để quy định và điều chỉnh lĩnh vực việc làm và giảiquyết việc làm, pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm cần phải ápdụng và tuân thủ một số nguyên tắc như sau:
+ Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do việc làm của công dân
+ Nguyên tắc cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động
+ Nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng trong lĩnh vực việc làm
+ Nguyên tắc thực hiện một số ưu đãi đối với một số đối tượng đặc thù
+ Nguyên tắc khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo ra việc làm.+ Nguyên tắc bảo vệ người lao động
Những nguyên tắc pháp lý trên đây là những quan điểm tư tưởng chỉ đạo toàn
bộ quá trình giải quyết việc làm ở nước ta, phù hợp với những nguyên tắc của phápluật lao động quốc tế về việc làm và đặc điểm cũng như thực trạng kinh tế - xã hội ởViệt Nam
Thứ nhât, việc là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của
cá nhân Người có việc làm là khái niệm dùng để chỉ những người hiện đang thamgia các hoạt động nói trên Tùy theo mức độ tham gia và thu nhập từ những hoạtđộng đó mà có thể chia đối tượng này làm hai loại là: người có việc làm đầy đủ vàngười có việc làm không đầy đủ (hoặc người thiếu việc làm)
Thứ hai, việc làm là vấn đề của cộng đồng vì con người không sống đơn lẻ
và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thểcác hoạt động sản xuất của xã hội Việc làm và thu nhập không phải là vấn đề màlúc nào mỗi cá nhân NLĐ cũng quyết định được Vì vậy bên cạnh ý nghĩa là vấn đề
cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội Điều này đòi hỏi phải cónhững chính sách và biện pháp nhất định phù hợp từ phía Nhà nước nhằm tăng sốlượng việc làm và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thấtnghiệp và thông qua đó mà giải quyết các vấn đề xã hội khác
Thứ ba, việc làm còn được đánh giá trên các mặt như tính chất cá nhân haytập thể, tính chất kĩ thuật, tính chất kinh tế Dựa trên các tiêu chí này mà người tachia việc làm thành các phạm trù nghề nghiệp – xã hội khác nhau Việc làm vừa có
Trang 27tính chất cá nhân (mức độ thành thạo trong công việc của NLĐ) vừa có tính chất xãhội của việc làm (tính tập thể) Tính xã hội của việc làm đòi hỏi việc làm phải đápứng được các yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận Điều này lí giải tại saotrong xã hội có nhiều hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng không được coi làviệc làm cả về phương diện xã hội và luật
1.5. Nội dung giải quyết việc làm
Hỗ trợ tín dụng cho thanh niên để tìm và tự tạo việc làm
Trong bối cảnh chung của thế giới và tại Việt Nam hiện nay, số lượng việc làmthường không đáp ứng được nhu cầu của người lao động Do đó, một cách hiệu quảnhất là khuyến khích thanh niên khởi nghiệp, tự tìm và tạo việc làm cho bản thân.Tuy vậy, yếu tố cần thiết đầu tiên cần đáp ứng đó là có nguồn vốn để khởi nghiệp.Nhưng không phải đối tượng nào cũng có thể vay vốn từ ngân hàng, bên cạnh đó,hình thức vay vốn ngân hàng chỉ giải quyết có những cá nhân nhỏ lẻ vàcó nguồn lựcđảm bảo cho phần vốn vay Để đa số thanh niên có nhu cầu khởi nghiệp và cónguồn vốn phục vụ cho những đầu tư ban đầu, Nhà nước đưa ra chính sách về hỗtrợ tín dụng, từ đó triển khai xuống địa phương để thực hiện chính sách này Điềunày đáp ứng được số lượng lớn nhu cầu thanh niên cần nguồn vốn cho khởi nghiệpđồng thời tránh được tình trạng “tín dụng đen” trong xã hội để giảm gánh nặng vềlãi cho người khởi nghiệp trong quá trình hoạt động ban đầu.Trách nhiệm của địaphương là bố trí ngân sách, phối hợp kêu gọi các nguồn khác để thành lập một loạihình quỹ tín dụng nhằm sử dụng cho mục địch giải quyết việc làm tại chính địaphương đó.Việc lập, quản lý và sử dụng quỹ này được quy định tại các VBQPPLhiện hành
Thực hiện việc đào tạo nghề
Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế - xã hội,xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp Chất lượng nguồn lao động làyếu tố then chốt quyết định sực phát triền kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Mộttrong những minh chứng rõ nét nhất là đất nước Nhật Bản - một quốc gia nghèo nàn
về tài nguyên và gắn liền với nhiều thiên tai nhưng con người nơi đây đã chăm chỉ
và không ngừng sáng tạo để vượt qua những cản trở của thiên nhiên để trở thànhcường quốc kinh tế trên thế giới; là tấm gương sáng cho các nước khác trên thế giớitrong đó có Việt Nam Một trong những phương pháp giúp nâng cao chất lượngnguồn lao động là hệ thống giáo dục của quốc gia nói chung và địa phương nóiriêng phải hiện đại, phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với đối tượng
Trang 28người học Trong hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc khácnhau trong đó đào tạo nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt đến chấtlượng đội ngũ lao động Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triểnkinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làmcho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí.
Hiện nay, đào tạo nghề không chỉ còn là trách nhiệm cá nhân của người laođộng mà còn là trách nhiệm chính của Nhà nước nói chung và địa phương nói riêng.Bởi lẽ việc đào tạo nghề có phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội haykhông? Chất lượng đào tạo có đáp ứng với yêu cầu công việc mà xã hội cần haykhông? Đấy là trách nhiệm trong tổ chức, quản lý của Nhà nước Cụ thể hơn, việcđào tạo nghề đáp ứng đúng chất lượng, đúng số lượng mà xã hội cần thì địa phươngthực hiện tốt chính sách này sẽ gặp nhiều thuận lợi trong ổn định an ninh xã hội vàphát triển kinh tế của chính địa phương đó
Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn để tạo việc làm
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cần chú trọngphát triển “kinh tế tư nhân” xem kinh tế tư nhân là động lực quan trọng để phát triểnđất nước, hay Chính phủ đã quan niệm rằng “Quốc gia khởi nghiệp” và “Chính phủkiến tạo” Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc khuyến khích doanhnghiệp đầu tư, phát triển nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế nói chung và giảiquyết việc làm nói riêng
Nhà nước thực hiện các biện pháp sau đây nhằm hỗ trợ các hoạt động đầu tưtrong nước: Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai; Xâydựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê làm mặt bằng xây dựng cơ sởsản xuất, kinh doanh; Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tưtrung hạn và dài hạn; Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, ngân hàng thươngmại, công ty tài chính vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh
tế trên cơ sở cùng có lợi; khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công tytài chính nhà nước bảo lãnh tín dụng đầu tư cho nhà đầu tư tư nhân trong nước; Hỗtrợ và tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư, gồm: Tưvấn quản lý và kinh doanh; Tư vấn pháp lý; Tổ chức dạy nghề và đào tạo cán bộ kỹthuật; Đào tạo và nâng cao kiến thức quản lý; Cung cấp thông tin kinh tế; Phổ biến
và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng với mứcphí ưu đãi các công nghệ mới tạo ra bởi vốn ngân sách nhà nước
Trang 29Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hàng năm công bốquy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; công
bố quỹ đất chưa sử dụng, quỹ đất đang có nhu cầu cho thuê, kèm theo danh mục các
dự án kêu gọi đầu tư của địa phương trên các phương tiện truyền thông đại chúng
và tại trụ sở của UBND để các nhà đầu tư có nhu càu đầu tư tham gia
Nhìn chung, Nhà nước đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thuhút đầu tư và phát triển khu vực tư một cách bền vững, nhưng quan trọng là chínhquyền địa phương phải nghiêm túc thực hiện các chính sách nêu trên, để tránh tìnhtrạng “trên dải thảm, dưới dải đinh” như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc
đã từng đề cập
Thực hiện xuất khẩu lao động
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, có một thuật ngữ mới được đưa ra đó
là “công dân toàn cầu”, có thể hiểu theo nghĩa là khi một người có kiến thức, kỹnăng, am hiểu các nền văn hóa thì có thể sinh sống và lao động ở các quốc gia khácnhau mà mình mong muốn Bên cạnh đó, nguồn việc làm trong nước chưa đáp ứng
kì vọng về số lượng của người lao động thì xuất khẩu lao động là một trong nhữnggiải pháp tốt để giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc gia Trong những năm qua, sốlượng người đi xuất khẩu lao động của nước ta ngày càng gia tăng.Theo số liệuthống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, Bộ LĐTB & XH có khoảng500.000 LĐVN đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó cónhững nước nhận số lượng lớn LĐVN như: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc Tuynhiên, không chỉ cần tăng về số lượng lao động được xuất khẩu đi nước ngoài làmviệc, mà chất lượng tay nghề cần gia tăng, bên cạnh đó các vấn đề về quyền lợi củangười lao động ở nước ngoài, việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của nước ngoài và
ý thức văn hóa của người lao động Việt Nam tại nước ngoài là những vấn đề cầnhoàn thiện hơn nữa Do đó, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng và quản lí nguồn laođộng trong nước là trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm hướng tới mụctiêu tạo ra một nguồn lao động đảm bảo chất lượng, có văn hóa tốt để đưa đi ranước ngoài làm việc, từ đó đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động và cũngthu về các nguồn lợi từ người lao động đóng góp về cho đất nước Để thực hiện tốtchính sách xuất khẩu lao động, chính quyền địa phương cần làm tốt hơn nữa từcông tác lập qui hoạch, kế hoạch, đào tạo nguồn lao động cho đến công tác quản lý,kiểm soát tình hình người lao động chuẩn bị ra nước ngoài làm việc cho đến khinhững người này quay về nước
Trang 301.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động thanh niên
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này như sau:
Quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương
Sự phát triển sản xuất kinh doanh xét về qui mô đầu tư phụ thuộc rất lớn vàocác điều kiện tự nhiên cũng như kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cácđịa phương Nhiệm vụ của mỗi địa phương là sử dụng và phát huy tối đa các điều kiện
tự nhiên chi phối sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch chính sáchphát triển đúng đắn, bền vững nhằm mục tiêu quan trọng là phát triển con người – chủthể và động lực chủ yếu của nền sản xuất và mọi hoạt động xã hội Thực hiện đườnglối đổi mới, Đảng và Chính phủ đã ban hành và hoàn thiện hệ thống chính sách và cơchế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo ra nhiều điều kiệnthuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế các vùng phát triển, tạo nhiều việc làmmới, đáp ứng từng bước nhu cầu việc làm và nâng cao đời sống của người lao độngnói chung, lao động thanh niên nói riêng
Bên cạnh đó, đầu ra của thị trường là một phần quan trọng của yếu tố quy môđầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương Thị trường đầu ra của sảnxuất hàng hóa ở các địa phương trong nước ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đếngiải quyết việc làm cho thanh niên Một khi hàng hóa ứ đọng không bán được là sựphản ánh rõ nét hạn chế về trình độ tổ chức sản xuất, kinh doanh, trình độ tay nghềcủa các lực lượng lao động; từ đó dẫn đến phá sản doanh nghiệp và thất nghiệp tấtyếu sẽ xảy ra Theo đó, nâng cao trình độ quản lý, tổ chức sản xuất của chủ thể sửdụng lao động và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ là nhân tốquyết định sức sống vững bền của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Số lượng, chất lượng lao động thanh niên
Số lượng lao động thanh niên là yếu tố đầu tiên để chính quyền địa phương
và doanh nghiệp dự báo có thể giải quyết được bao nhiêu việc làm trong tổng lựclượng thanh niên đến độ tuổi lao động Số lượng lao động thanh niên chi phối đếngiải quyết việc làm còn phải tính đến tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố và nông thôn.Theo tính toán của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội thì tình trạng thất nghiệpcủa thanh niên ở khu vực thành thị trong những năm gần đây dao động từ 5-8%;trong đó, một số tỉnh, thành phố thường có tỉ lệ thất nghiệp cao là Hà Nội, HảiPhòng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ… Tình trạng thất nghiệp phụ thuộc rất nhiềuvào cấp độ đào tạo và nhóm ngành nghề đào tạo.Tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, số
Trang 31lượng sinh viên qua đào tạo được tuyển dụng rất ít, trong khi số lượng đã tốt nghiệpngày càng gia tăng Nhiều ngành đào tạo khó kiếm việc làm như nông, lâm, thuỷsản Điều đó, cho thấy chất lượng lao động thanh niên là yếu tố chi phối mạnh nhấtđến khả năng giải quyết việc làm của xã hội.
Chất lượng lao động thanh niên là yếu tố then chốt mà người sử dụng laođộng dựa vào đó để tuyển dụng lao động Do đó, phải nâng cao chất lượng giáodục hướng nghiệp, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động thanh niên
để nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của lao động than niên, đápứng tốt hơn cầu về lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa phương.Ngoài các yếu tố trên, còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việclàm như: trình độ kỹ năng, phẩm chất, tính kỷ luật lao động, sức khoẻ, thể chất của lao động thanh niên Phong tục, tập quán, thói quen, trình độ dân trí, ý thứcchấp hành pháp luật, trình độ văn minh của xã hội
Cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Để giải quyết việc làm cho thanh niên, vấn đề quan trọng hàng đầu là Chínhphủ phải tạo ra môi trường thuận lợi một mặt, để người sử dụng lao động có thể tạo
ra nhiều chỗ làm việc thu hút đáng kể lao động thanh niên, mặt khác để bản thân laođộng thanh niên có thể tự tạo việc làm…thông qua cơ chế, chính sách cụ thể củaChính phủ
Cơ chế về giải quyết việc làm cho lao động nói chung, thanh niên nói riêngđều dựa trên sự đánh giá khách quan tình trạng thất nghiệp trên thực tế của lựclượng lao động, trong đó đa phần ở lứa tuổi thanh niên hiện nay Đồng thời đánh giárất rõ khả năng của nền kinh tế thị trường có thể thu hút số lượng lao động là baonhiêu trong từng thời kỳ Việc từng bước hình thành cơ chế phân bố lao động theocác quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ chế chính sách xuất khẩu laođộng…sẽ tạo ra các điều kiện cho giải quyết việc làm tốt hơn
Các chính sách về giải quyết việc làm là những chính sách chi phối trực tiếp
và gián tiếp đến cung và cầu về lao động, làm cho cung và cầu về lao động xích lạigần nhau, phù hợp với nhau thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với
cơ cấu kinh tế Các chính sách chủ yếu thường được đề cập đến là chính sách pháttriển các ngành, lĩnh vực kinh tế; chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thunhập; chính sách về đất đai; chính sách về thuế; chính sách về giáo dục và đào tạo;chính sách về xuất khẩu lao động
Trang 32Chủ trương về tạo việc làm đã được Đảng ta nêu rõ: “Khuyến khích mọithành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiềuviệc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướnnhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bổ lại dân cư
và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư các địa bàn có tính chiến lược vềkinh tế, an ninh quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuấtkhẩu.Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn”
Sự nỗ lực của các chủ thể trong giải quyết việc làm
Đối với lực lượng lao động thanh niên: Cơ hội lựa chọn việc làm ngày càngđược mở rộng Người lao động đã chủ động tự tìm việc trong bối cảnh các thànhphần kinh tế đa dạng như hiện nay và giảm bớt sự thụ động chờ vào sắp xếp việclàm của Nhà nước Người lao động có xu hướng tìm việc phù hợp với năng lựccũng như theo các mong muốn khác về việc làm (ví dụ như muốn làm việc trongmôi trường năng động, sáng tạo hay trong môi trường ít áp lực, hay trong môitrường có điều kiện làm việc tốt v.v )
Đối với người sử dụng lao động trong các thành phần kinh tế: Họ đượckhuyến khích làm giàu hợp pháp cho nên một khi các thành phần kinh tế đượcquan tâm phát triển, nghĩa là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có điều kiện đẩymạnh đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động Cácchủ thể của thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, được tự
do tổ chức sản xuất kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, mở rakhả năng to lớn giải quyết việc làm cho lao động thanh niên
Đối với Nhà nước: Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước chi phối mạnh mẽđến giải quyết việc làm, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường Hiện nay, thay vìbao cấp trong giải quyết việc làm, nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ chế, chínhsách thông thoáng, tạo hành lang pháp luật, xóa bỏ hàng rào về hành chính tạo điềukiện môi trường kinh tế, pháp luật đảm bảo cho mọi người được tự do đầu tư pháttriển sản xuất, tạo thêm việc làm, tự do hành nghề, hợp tác và thuê mướn lao động,
cơ hội việc làm được tăng lên và ít bị ràng buộc bởi các nguyên tắc hành chính và ýchí chủ quan của Nhà nước
Tóm lại, giải quyết việc làm cho thanh niên chịu sự chi phối của các nhân tốkinh tế - xã hội, số lượng và chất lượng lực lượng lao động thanh niên, cơ chế vàchính sách giải quyết việc làm, thị trường đầu ra, sự nỗ lực của các chủ thể trong
Trang 33giải quyết việc làm Bởi vây, để giải quyết tốt việc làm cho thanh niên phải chútrọng phát triển mặt tích cực của các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và chất lượnglao động, mặt khác, phải có những biện pháp hữu hiệu chủ động nhằm triệt tiêunhững mặt tiêu cực của các nhân tố đó.
nước ngoài và một số địa phương trong nước Bài học rút ra cho tỉnh Vĩnh Phúc
1.7.1.Kinh nghiệm của Trung Quốc
Tính đến thời điểm năm 2020, dân số của Trung Quốc là 1439,4 triệu người,với lực lượng lao động là 858,2 triệu người Trung Quốc là một nước nông nghiệpvới số dân nông thôn chiếm trên 70% dân số Số lượng nông dân vẫn cao và khônggiảm qua các năm Trung Quốc là một nước thực hiện CNH, HĐH khá thành côngtrong hơn hai thập kỷ qua, nhiều vùng nông thôn, diện tích canh tác ngày càng bịthu hẹp đã dẫn tới có khoảng 100-120 triệu lao động nông thôn không có việc làm
và thiếu việc làm ở mức nghiêm trọng Dòng lao động nông thôn nhập cư vàothành phố rất lớn trong các năm đầu CNH, HĐH, vấn đề giải quyết việc làm ở cácthành phố trở nên gay gắt Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc rất coi trọnggiải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn ngay tại địa phương qua việc pháttriển doanh nghiệp hương trấn, để thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”.Đây là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc rất nhỏ Có tới 99% xí nghiệp hươngtrấn có không quá 50 lao động Chính quyền Trung Quốc xếp các doanh nghiệpnày vào một khu vực riêng Trong bối cảnh lúc đó của một nền kinh tế thiếu côngviệc và thu nhập, tăng sức mua trong nông thôn và cung cấp những mặt hàng cầnthiết Cụ thể số lao động trong các doanh nghiệp này đã tăng từ 28 triệu năm 1978đến 135 triệu của năm 1996
Chính phủ Trung Quốc có chính sách hỗ trợ, phát triển hệ thống các lớp, cơ
sở dạy nghề nhằm đáp ứng cho phát triển doanh nghiệp hương trấn.Đồng thời,khuyến khích các doanh nghiệp hương trấn mở các lớp dạy nghề bên cạnh doanhnghiệp để đào tạo lao động Doanh nghiệp hương trấn đã sử dụng những người laođộng ở nông thôn có chuyên môn, dám nghĩ, dám làm, trưởng thành từ thực tiễn đểđào tạo tay nghề cho những người vừa tốt nghiệp các cấp
Chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo, dạynghề, tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các khu vực đô thị hóanhanh như Thẩm Quyến, ngoại thành Bắc Kinh, Thượng Hải để tạo điều kiện cholao động ở nông thôn chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư
Trang 34nước ngoài, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các cụm kinh tế mở Cácthành phố mới phát triển của Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao (30-35%/năm) nên thu hút một lượng lao động nông thôn rất lớn vào các ngành côngnghiệp và dịch vụ Trong khi đó, nguồn lao động ở nông thôn dồi dào, có trình độvăn hóa khá cao, vì vậy, đào tạo lao động ở nông thôn để đáp ứng nhu cầu sử dụngcủa các vùng đô thị hóa nhanh, ngành mới phát triển mạnh như điện tử, côngnghiệp lắp ráp, chế tạo, chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng, ngành sắt thép.được chính phủ và chính quyền các địa phương rất quan tâm.
1.7.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất nước Từđầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo những thế hệ mới có tínhnăng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng suy nghĩ và làm việcđộc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến
bộ không ngừng của khoa học và xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu Luật Dạy nghềđược ban hành năm 1958, được chỉnh sửa vào năm 1978, hướng vào thiết lập và duytrì hệ thống huấn luyện nghề nghiệp, bao gồm hệ thống “dạy nghề công” mang tínhhướng nghiệp và “dạy nghề được cấp phép” là giáo dục và huấn luyện nghề cho từngnhóm công nhân trong hãng xưởng do các công ty đảm nhiệm và được chính quyềncông nhận là dạy nghề Các hình thức huấn luyện nghề gồm: “dạy nghề cơ bản” chogiới trẻ mới ra trường; “dạy tái phát triển khả năng nghề nghiệp” chủ yếu cho nhữngcông nhân không có việc làm; và “nâng cao tay nghề” cho công nhân đang làm việctrong các hãng xưởng Những thay đổi về cấu trúc KT - XH, sự tiến bộ nhanh chóngcủa khoa học công nghệ đã tác động đến nhiều lĩnh vực và nội dung huấn luyện làm
mở rộng khung dạy nghề truyền thống Kết quả là đến năm 1985, Luật Dạy nghềđược chỉnh sửa và đổi tên thành Luật Khuyến khích Phát triển Nguồn nhân lực vàcụm từ “phát triển nguồn nhân lực” được dùng để chỉ quan niệm mới về dạy nghề.Hiện nay, Nhật Bản thực hiện phát triển nguồn nhân lực theo một hệ thống huấnluyện suốt đời
1.7.3 Kinh nghiệm đào tạo nghề của CHLB Đức
Ở CHLB Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong mộtmôi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một cơ sở Hệ thốngđào tạo nghề kép ở CHLB Đức có một số ưu điểm sau:
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông bắt buộc, theo quy định của Chínhphủ CHLB Đức, học sinh có thể tham gia vào học nghề ở lứa tuổi 15- 18 Tham gia
Trang 35vào hệ thống đào tạo nghề, học sinh có thể lựa chọn hình thức đào tạo toàn bộ tạitrường hoặc hệ thống đào tạo nghề kép.Hiện nay, 2/3 học sinh trong nhóm độ tuổinày đã chọn hình thức đào tạo nghề kép.Tiêu chuẩn được lựa chọn vào hệ thống đàotạo nghề kép phụ thuộc vào chất lượng học nghề của học sinh.
Các học sinh tham gia hệ thống này, được dậy các kỹ năng cơ bản cho ngànhnghề đã chọn và sau đó được đào tạo chuyên sâu Học sinh có thể theo học ngành củamình 3 ngày tại công ty, những ngày còn lại học tại trường nghề hoặc học sinh có thể
sử dụng nhiều thời gian hơn tại công ty, và cũng có thể tham gia học ngoài giờ tạitrường nghề Hiện nay, trong chương trình học của hệ thống đào tạo nghề kép thì cácmôn chuyên ngành chiếm 60% và các môn phổ thông chiếm 40%
Tên mô hình đào tạo nghề kép còn gắn liền với cơ chế quản lý hệ thống đàotạo nghề ở Đức Chẳng hạn, Chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý trườngnghề và Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề tại công ty.Việc dạy nghề tại công ty đều do các công ty trực tiếp tổ chức, song việc kiểm soátlại do Công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát viên và hội đồng côngnhân tại công ty thực hiện Trên thực tế, công đoàn tham gia vào mọi công đoạncủa hệ thống đào tạo kép trong công ty, từ quá trình lựa chọn học sinh cho đến duytrì một chương trình học hiện đại, kiểm soát chất lượng và bảo vệ công nhân khỏinguy cơ như bị trả lương thấp hoặc không được đào tạo đầy đủ
Hệ thống đào tạo nghề kép được điều chỉnh bởi nhu cầu cung cấp vị trí đàotạo của các công ty Các công ty là người quyết định số lượng công nhân được đàotạo và đào tạo theo chuyên ngành nào Công ty được quyền tự do lựa chọn các ứng
cử viên được tham gia đào tạo Tuy nhiên, trong việc thực hiện những chức năngnhư vậy, công ty phải tuân thủ hàng loạt những quy chế do Chính phủ Liên bang đặt
ra với sự tư vấn của các đoàn thể xã hội Sau khi học sinh tốt nghiệp từ hệ thống đàotạo nghề kép, tình hình việc làm của học sinh nói chung tốt, phần lớn học sinh xinđược việc làm ngay Theo báo cáo về hệ thống đào tạo kép của Bộ Giáo dục và Khoahọc CHLB Đức cho biết, sau 6 tháng học sinh tốt nghiệp từ hệ thống đào tạo nghềkép, khoảng 60% học sinh nhận được việc làm với hợp đồng không hạn chế, cónghĩa là hợp đồng trong thời gian 3-4 năm, rồi sau đó ký tiếp hoặc hợp đồng vĩnhviễn nếu cả hai bên mong muốn, 10% thất nghiệp, 17% tham gia quân ngũ hoặcnhận hợp đồng ngắn hạn (từ 6 tuần cho đến 5 năm) và 13% tham gia đào tạo tiếp.Trong số những học sinh có việc làm ngay, 78% học sinh được làm việc theo đúngchuyên ngành đào tạo Thông thường, các học sinh theo học các khóa đào tạo nghề
Trang 36trong các công ty lớn có cơ hội việc làm lớn hơn so với học sinh theo học các khóađào tạo trong các công ty nhỏ Theo số liệu thống kê, có khoảng 80% học sinh tốtnghiệp học nghề trong các công ty lớn được ở lại làm việc tại công ty đã đào tạo Chỉ
số này khiêm tốn hơn nhiều đối với đào tạo trong các công ty nhỏ, sử dụng chưa đến1/2 số học sinh họ đã đào tạo Song, nhờ chất lượng đào tạo của hệ thống đào tạonghề kép, nên cơ hội việc làm của các học sinh tốt nghiệp không được công ty đàotạo thuê vẫn cao Hơn nữa, thường xuyên diễn ra quá trình trao đổi giữa hãng tổchức đào tạo và hãng không tổ chức đào tạo, nên việc điều chỉnh về các quyết địnhđào tạo và sử dụng được diễn ra theo điều kiện thị trường lao động Một yếu tố chủchốt tạo ra hiệu quả cao của hệ thống đào tạo nghề kép ở Đức là chất lượng cao, chế
độ đãi ngộ tốt là các động cơ khuyến khích mạnh của giáo viên trong cả hai bộ phận,tại trường nghề và tại công ty Khả năng cung cấp các giáo viên có chất lượng cao làmột tiêu chuẩn chính yếu, cho phép các hãng thực hiện quá trình đào tạo trong hệthống đào tạo kép.Các giáo viên đào tạo tại hãng được lựa chọn từ các xưởng vàphòng làm việc của công ty và phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc Họ cònphải là những người có đủ năng lực sư phạm và chuyên môn để tham gia giảng dạy.Các yêu cầu chuyên môn là một chứng chỉ thợ chính thức của ngành cộng với 1,5năm đào tạo thêm tại các lớp học buổi tối của trường kỹ thuật và kỳ thi tốt nghiệp,xác nhận trình độ về cả chuyên môn lẫn sư phạm Đối với những người được lựachọn làm giáo viên, họ có quyền lợi đi kèm là được chuyển hẳn từ vị trí sản xuất như
là “công nhân cổ xanh” sang vị trí làm việc của tầng lớp nhân viên cổ trắng, với 20giờ dạy trong một tuần, thay cho khoảng thời gian tăng gấp đôi làm việc tại nơi sảnxuất Những quyền lợi này là động cơ thực sự cho phép lớp trẻ tham gia đội ngũgiảng dạy tại hệ thống đào tạo nghề kép
Có thể khẳng định, hệ thống đào tạo nghề kép là mô hình đào tạo chiếm vị tríquan trọng trong hệ thống đào tạo ở CHLB Đức, được thế giới công nhận là môhình đào tạo tiên tiến với mục đích chính là phát triển một lực lượng lao động chấtlượng cao với quy mô ngày càng tăng
1.7.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên tại tỉnh Nam Định
UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôntỉnh Nam Định đến năm 2020” Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án; Ban hànhQuy định mức hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Đồngthời UBND tỉnh, các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh đã ban hành nhiều văn bảnchỉ đạo, tuyên truyền hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện đề án có
Trang 37hiệu quả.
Tỉnh đã tiến hành điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề và nhu cầu việc làm.Theo kết quả điều tra, toàn tỉnh có 108.151 người Nhu cầu sử dụng lao động quađào tạo của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 672.72 người Trên cơ sở kếtquả khảo sát, Sở LĐ- TB & XH tỉnh đã chủ trì phối hợp với các sở, ngành liênquan xây dựng Đề án
Sở LĐ-TB&XH đã tổ chức được 263 lớp dạy nghề cho 8.483 lao động,trong đó nhóm nghề phi Nông nghiệp là 4.872 lao động, nhóm nghề Nông nghiệp
là 1.792 lao động, nhóm nghề Tiểu thu công nghiệp là 1.819 lao động Tổ chứcdạy nghề cho 83/96 xã điểm xây dựng Nông thôn mới với số lao động học nghề là5.122 lao động Đồng thời đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 1.886 cán bộ côngchức xã, phường, trong đó đào tạo tập trung được 385 người, gồm: Đại học hànhchính: 95 người; Đại học Luật: 94 người; Trung cấp văn hóa: 32 người;
Về đào tạo, dạy nghề cho lao động Nông thôn, hiện nay trên địa bàn tỉnhNam Định có 37 cơ sở đào tạo nghề, năm 2010 huy động và chọn 22 cơ sở, đến25/8/2011 huy động 24 cơ sở để tham gia tổ chức dạy nghề cho lao động nôngthôn Các cơ sở dạy nghề đã gắn kết với các địa phương, các doanh nghiệp để tổchức dạy nghề và giải quyết việc làm sau học nghề
Về xây dựng cơ sở vất chất, Sở LĐ- TB&XH đã phối hơp với Sở Kế hoạch
và đầu tư, Sở Tài chính hướng dẫn, tổng hợp và trình UBND tỉnh phê duyệt các dự
án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề
Trang 381.7.5 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên tại tỉnh Bắc Ninh.
Đến nay, thành phố Bắc Ninh đã triển khai đề án về giải quyết việc làm chongười lao động được 2 năm, trong đó điểm nổi bật là thành phố vận dụng nhiềubiện pháp thiết thực, hiệu quả như dạy nghề, hỗ trợ người lao động vốn để sảnxuất, kinh doanh, tìm nguồn tuyển dụng lao động, xuất khẩu lao động
Với lực lượng nòng cốt là phòng LĐ-TB&XH thành phố; trung tâm dạy nghềcùng với các trường dạy nghề trên địa bàn; trung tâm Khuyến nông và các đoàn thểquần chúng như: Hội Phụ nữ; Đoàn thanh niên, Hội Nông dân Cùng nhau vào cuộc,nhờ vậy mà mỗi năm thành phố đã tổ chức được 30-40 lớp học nghề thu hút gần 900-1.200 học viên và mở trên 40 lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật chohàng nghìn người lao động
Ngoài ra, thành phố còn chỉ đạo các xã, phường tổ chức xuất khẩu lao độnghoặc liên hệ với các doanh nghiệp trên địa bàn tổ chức tuyển dụng, bình quân mỗinăm hơn 1.350 lao động Các đoàn thể trong thành phố cũng tích cực tìm nhiềucách tạo việc làm, tín chấp với Ngân hàng Chính sách xã hội giúp hội viên vayhàng trăm tỷ đồng để giảm nghèo, phát triển kinh tế gia đình Thành phố còn tranhthủ khai tách nguồn vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm qua các dự án đầu tưtrên địa bàn để hỗ trợ người lao động
Bằng các biện pháp tích cực trên, hàng năm thành phố Bắc Ninh đều thựchiện vượt chỉ tiêu về giải quyết việc làm: Năm 2010, giải quyết được 5.150 laođộng, xuất khẩu 270 lao động, vượt 14,44% so kế hoạch; năm 2011, giải quyếtđược 5.100 lao động, xuất khẩu 184 lao động; năm 2012, mặc dù tình hình kinh tếgặp khá nhiều khó khăn song thành phố vẫn tạo việc làm cho 5.200 lao động, xuấtkhẩu 120 lao động Tính đến cuối năm 2012, trên địa bàn thành phố đã có trên1.000 doanh nghiệp thuộc các loại hình khác nhau hoạt động, thu hút trên 20.000lao động, nhiều doanh nghiệp thu hút đến hàng nghìn lao động như: May ĐápCầu, May việt Hàn, Tập đoàn Dabaco
Bên cạnh những kết quả khả quan, trong việc giải quyết việc làm ở thành phốBắc Ninh còn có một số khó khăn đó là: Vay vốn để sản xuất, kinh doanh và ápdụng nghề học còn gặp khó khăn, do nguồn vốn vay không đủ cho đầu tư; thànhphố chưa nắm bắt được nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp đẻ liên kếtphối hợp trong tuyển dụng, đào tạo lao động cho các xã, phường sát với khả năng
Trang 39và đạt kết quả hơn Một số cơ sở dạy nghề trên địa bàn chất lượng đào tạo còn chưacao, chưa theo kịp nhu cầu thị trường nên đào tạo ra không tìm được việc làm hoặc
có làm song cũng không tồn tại được lâu dài
1.7.6 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho thanh niên tại Hải Phòng.
Trong những năm vừa qua, UBND Thành phố và Thành Đoàn Hải Phòng
đã có nhiều giải pháp để GQVL cho người lao động và thanh niên Trong đó, côngtác tạo việc làm thông qua chương trình cho vay vốn giải quyết việc làm đượcthành phố quan tâm
Với tổng nguồn vốn do tỉnh quản lý trên địa bàn Hải Phòng đến thời ddiermhiện tại là 50,377 tỷ đồng (Quỹ quốc gia GQVL là 45,377 tỷ dồng, quỹ QGVL đạiphương 5 tỷ đồng), trong 3 năm 2009, 2010 và năm 2011 đã cho vay trên 1.000 dự
án, giải quyết việc làm cho khoảng 11.000 lao động Riêng nguồn vốn cho vay củaQũy quốc gia về việc làm do Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phốquản lý là 9.838 triệu đồng, với nguồn vốn bổ sung mới hàng năm khoảng 2 tỷđồng và nguồn vốn thu hồi quy vòng cộng thêm nguồn từ Quỹ GQVL của địaphương và thành phố Trong những năm qua các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội
đã cho vay thực hiện hàng nghìn dự án, trở thành một trong những hướng quantrọng hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nóiriêng Hoạt động của nghìn lao động mỗi năm, trong đó lao động thanh niên chiếm50% (khoảng 2.500 lao động), riêng các dự án từ nguồn vốn cho vay theo kênhthành Đoàn năm 2011 thu hút được 1.397 lao động Nhiều mô hình tạo việc làm cóhiệu quả với sự hỗ trợ từ nguồn vốn vay được triển khai rộng như sản xuất hàngthủ công mỹ nghệ, dệt, phát triển kinh tế trang trại
Với nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia GQVL, trong năm 2009 Hải phòng đãxét duyệt cho 447 dự án, với tổng vốn huy động là 42.577 triệu đồng,với doanh sốcho vay là 16.453 triệu đồng, nhờ đó tạo việc làm cho 4.709 lao động ( trong đó50% là cho thanh niên) năm 2010 với tổng vốn huy động là 46.077 triệu đồng, vớidoanh số cho vay là 22.680 triệu đồng tổng vốn vay là 4300 triệu đồng cho 460 dự
án được xét duyệt, từ đó GQVL cho 5.060 lao động, năm 2011 với tổng vốn huyđộng là 49.577 triệu đồng, với tổng vốn vay 22.500 triệu đồng nhờ vậy đã GQVLcho 5.000 lao động
Như vậy trong vòng 3 năm với nguồn vốn vay tập trung chủ yếu cho NôngLâm - Ngư nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các loại hình doanh nghiệp
Trang 40vừa và nhỏ đó tạo việc làm bình quân cho 14.769 lao động (trong đó thanh niênkhoảng 2.500 người) Nguồn vốn này đó góp phần tăng số lao động có việc làm,giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thời gia sử dụng lao động của Hải Phòng, giúp phầnchuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế của Hải Phòng theo hướng CNH, HĐH.
Trong những năm gần đây, hệ thống các cơ sở đào tạo nghề Hải Phòng đã
có sự phát triển đa dạng, phát triển cả về số lượng và chất lượng đào tạo, từ đó gópphần gia tăng chất lượng lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế,gia tăng số lao động được tạo việc làm tại địa phương và tham gia xuất khẩu laođộng Tính đến tháng 6/2012, Hải Phòng có 58 cơ sở đào tạo nghề, gồm 10trường Cao đẳng Nghề, 13 trường trung cấp nghề, 19 trung tâm dạy nghề và 17 cơ
sở khác có dạy nghề, ngoài ra còn có hơn 110 cơ sở khác có tham gia dạy nghềtrong các doanh nghiệp, làng thề, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp vớiquy mô đào tạo trong các năm qua tăng nhanh Năm 2009 với quy mô đào tạo của
34 cơ sở dạy nghề trên địa bàn Hải Phòng đạt 22.977 người/năm Với tốc độc tăngnhanh về quy mô đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề lũy kế đến năm 2010 là252.000 người, đạt tỷ lệ 25.35% so với lực lượng lao động của Thành phố Trong
đó, trên 80% số người qua đào tạo có việc làm, trên 75% có việc làm phù hợp vớingành nghề được đào tạo Đến năm 2011, quy mô đào tạo nghề đã tăng lê 2%,nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 27.35% so với lực lượng lao động( tươngđương với 20.800 người được đào tạo nghề trong năm)
Tạo việc làm thông qua các hoạt động dịch vụ việc làm:Trong những nămqua các Trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố đã tư vấn việc làm và tư vấnnghề nghiệp cho trên 30.000 lượt người, cung cấp thông tin cho người lao động vàngười sử dụng lao động cho hơn 4000 lượt người và dạy nghề ngắn hạn cho20.492 lượt người
Bên cạnh đó, hàng năm, Ủy ban Hội Liên hiệp thanh niên thành phố đãphối hợp với Cổng tri thức Thánh Gióng- Trung ương Hội Liên hiệp thanh niênViệt Nam tổ chức 02 lớp đào tạo khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp cho 400 sinhviên tại 02 trường Đại học Dân lập và Cao Đẳng Cộng đồng Hải Phòng Đây làhoạt động có ý nghĩa trong công tác việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của thanhniên về nghề nghiệp việc làm, đồng thời khơi dậy tinh thần và khát vọng làm giàutrong thanh niên sinh viên
Sở LĐ-TB&XH thành phố đã phối hợp với các tổ chức hướng dẫn và tuyểndụng hàng năm đã đưa được hàng trăm lao động ra nước ngoài làm việc Chủ yếu là