TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC CẢM GIÁC, TRI GIÁC VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG Qua những phân tích trong bài tiểu luận cho thấy rằng: Cảm giác của con người có thể phát triển đến vô cùng, nếu biết rèn luyện đúng lúc, có phương pháp và kiên trì. Tốt nhất là rèn luyện trong những hoạt động đòi hỏi độ nhạy cảm ngày càng cao của cảm giác.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
-o0o -
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
TÂM LÝ HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
CẢM GIÁC, TRI GIÁC VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG
CÁC QUY LUẬT CỦA CẢM GIÁC
Giảng viên hướng dẫn:
Mã lớp học:
Sinh viên thực hiện
Trang 2MỤC LỤC
Cảm giác và tri giác là gì 3
Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri giác 4
Những đặc điểm cơ bản của cảm giác 4
Những đặc điểm cơ bản của tri giác 6
Quy luật về sự thích ứng của cảm giác 9
Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác 10
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức - phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó mà con người tỏ thái
độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình Có thể nói rằng, nhờ có nhận thức mà con người làm chủ được tự nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ được bản thân mình
Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức
độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Mức
độ thấp nhất, đơn giản nhất trong số đó là nhận thức cảm tính nếu xét về mặt phát sinh chủng loại cũng như mặt phát triển cá thể
Nhận thức cảm tính bao gồm hai hình thức phản ánh tâm lý là cảm giác
và tri giác Trong đó cảm giác lại là hình thức phản ánh thấp hơn Cảm giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau trong mức
độ nhận thức “trực quan sinh động” về thế giới Cảm giác và tri giác có vai trò quan trọng đối với con người trong nhận thức thế giới xung quanh
1 Vậy cảm giác và tri giác là gì?
Mỗi sự vật, hiện tượng xung quanh ta đều được bộc lộ bởi hàng loạt thuộc tính bề ngoài như màu sắc, hình dáng, kích thước, mùi vị hoặc âm thanh Những thuộc tính này tác động lên từng giác quan của chúng ta
Trang 4tượng tác động vào các giác quan của chúng ta, một quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ các thuộc tính này diễn ra, chính là quá trình cảm giác
Ví dụ như khi một người gọi tên ta từ phía sau, ta nghe thấy giọng của họ, nhưng chỉ nghe được giọng mà không nhìn được họ, ta sẽ không biết họ trông ra sao, cao thấp thế nào mà chỉ biết được giọng của họ cao hay trầm, to hay nhỏ Tức là ta mới phản ánh được một thuộc tính bề ngoài đang trực tiếp tác động vào tai, ta mới chỉ có cảm giác về từng thuộc tính bề ngoài
Nhưng cũng trong tình huống trên, khi ta nghe tiếng gọi và lập tức quay đầu lại phía sau và nhìn thấy người đã gọi mình, ta có thể biết được
vẻ bề ngoài của họ, thậm chí khi lại gần, bắt tay chào hỏi họ ta còn có thể cảm thấy bàn tay của họ như thế nào, họ dùng nước hoa gì, … Nghĩa
là ta đã tiếp xúc với nhiều thuộc tính của sự vật Khi đó ta có thể phản ánh một cách đầy đủ hơn, tron vẹn hơn các thuộc tính ấy Quá trình tâm
lý này chính là tri giác
Ta đi tới kết luận:
Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta Còn tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta
Trang 52 Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri giác
Tuy cảm giác và tri giác có mối quan hệ mật thiết, chi phối lẫn nhau trong quá trình phản ánh các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng nhưng chúng có những đặc điểm riêng
Những đặc điểm cơ bản của cảm giác:
Cảm giác là một quá trình tâm lý, nghĩa là nó có mở đầu, diễn biến
và kết thúc một cách rõ ràng, cụ thể Cảm giác nảy sinh, diễn biến khi sự vật, hiện tượng khách quan hoặc một trạng thái nào đó của cơ thể đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta Khi kích thích ngừng tác động thì cảm giác ngừng tắt Điều này dễ thấy, vì khi một người rời xa khỏi tầm mắt của ta thì ta sẽ không còn nhìn thấy hình ảnh của họ, hay khi một người dừng nói thì ta không còn nghe thấy tiếng của họ
Cảm giác chỉ phản ánh từng thuộc tính cụ thể của sự vật hiện tượng thông qua hoạt động của từng giác quan riêng lẻ như ta đã thấy ở ví dụ trước đó Do vậy, cảm giác chưa phản ánh được một cách trọn vẹn, đầy
đủ các thuộc tính của sự vật, hiện tượng Nghĩa là, cảm giác mới chỉ cho
ta từng cảm giác cụ thể, riêng lẻ về từng thuộc tính của vật kích thích Mỗi kích thích tác động vào cơ thể cho ta một cảm giác tương ứng
Cảm giác của con người khác xa về chất so với cảm giác của con vật Điểm khác nhau cơ bản là cảm giác của con người mang bản chất xã hội Bản chất xã hội của cảm giác của con người được thể hiện ở chỗ:
Trang 6- Đối tượng phản ánh của cảm giác ở người không chỉ là những thuộc tính của sự vật hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình giao tiếp, ví dụ như việc loài người làm ra máy lạnh để có thể cảm thấy mát vào mùa hè, hay việc nấu chín thức ăn để khi ăn cảm thấy ngon miệng hơn
- Cơ chế sinh lý của cảm giác ở người không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn chịu sự chi phối bởi hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ hai – hệ thống tín hiệu ngôn ngữ Ta có thể thấy được điều này qua nhiều tình huống trong cuộc sống Khi một đứa trẻ bị ngã, nếu người mẹ chạy lại ôm ấp vỗ về, tỏ ra xót con thì đứa
bé sẽ khóc rất to, còn nếu ta lờ đi thì đứa bé sẽ khóc tỏ ra đau đớn một lúc để gây sự chú ý nhưng rồi sẽ tự nín khóc và đứng dậy
- Cảm giác ở người chỉ là định hướng đầu tiên đẳng nhất, chứ không phải là mức độ cao nhất, duy nhất như ở một số loài động vật Cảm giác
ở người chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lý khác của con người, như khi đói thì ăn gì cũng thấy ngon, hay khi gặp chuyện buồn hoặc bị ốm thì ăn gì cũng cảm thấy chán
- Cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục, tức là cảm giác của con người được tạo ra theo phương thức đặc thù của xã hội, do đó mang tính chất
Trang 7xã hội Ví dụ như nhờ hoạt động nghề nghiệp mà có người thợ “đo” được bằng mắt, người đầu bếp “nếm” được bằng tai
Những đặc điểm cơ bản của tri giác
Tri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở cảm giác, nhưng tri giác không phải là một phép cộng đơn giản của cảm giác, mà là sự phản ánh cao hơn so với cảm giác Do vậy, tri giác cũng có những đặc điểm giống với cảm giác, nhưng cũng có những đặc điểm khác với cảm giác Tri giác có những đặc điểm giống với cảm giác như:
-Tri giác cũng là một quá trình tâm lý (tức là có nảy sinh diễn biến và kết thúc) và cũng chỉ phản ánh những thuộc tính trực quan, bề ngoài của
sự vật hiện tượng
-Tri giác cũng chỉ phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp khi chúng tác động vào các giác quan của chúng ta
Ngoài hai điểm giống nhau trên, tri giác và cảm giác có những điểm khác biệt bao gồm:
-Nếu cảm giác phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính bề ngoài của
sự vật hiện tượng thì tri giác phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
bề ngoài của sự vật hiện tượng và phản ánh nó theo một cấu trúc nhất định
Trang 8-Tri giác là mức độ cao nhất của nhận thức cảm tính trong khi cảm giác chỉ mới là mức độ đầu tiên
-Tri giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn, giúp con người điều chỉnh một cách hợp lí hoạt động của mình trong thế giới, giúp con người phản ánh thế giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa Còn cảm giác giúp con người thu nhận nguồn tài liệu trực quan sinh động, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn
Từ những đặc điểm trên, ta có thể thấy tri giác là một mức độ cao hơn so với cảm giác Cảm giác là mức độ đầu tiên, sơ đẳng nhất của nhận thức cảm tính, xuất hiện ngay khi có một kích thích tác động lên một giác quan của ta Tri giác có thể nói là một sự tổng hợp của các cảm giác, tập hợp tất cả các thuộc tính của sự vật đã được cảm giác phản ánh lại để có một sự phản ánh đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn về sự vật, hiện tượng đó
3 Vai trò của cảm giác và tri giác
Cảm giác và tri giác có những vai trò quan trọng trong việc nhận thức thế giới của con người
Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan Nhờ có cảm giác mà ta mới có được những nhận thức đầu tiên về thế giới xung quanh Không có cảm giác thì con người sẽ không biết được những thuộc tính của các sự vật hiện tượng xung quanh
Trang 9quanh mình trông như thế nào lúc này, vì thị giác của người đó không hoạt động, nên quá trình cảm giác những kích thích dạng hình ảnh không diễn ra
Cảm giác cung cấp những nguyên liệu cần thiết cho các hình thức nhận thức cao cấp hơn Từ các phân tích ở trước, ta đã có kết luận rằng tri giác là sự tổng hợp của cảm giác, lấy nguyên liệu từ cảm giác, nếu không có cảm giác thì cũng không có tri giác và từ đó không có cả các hình thái nhận thức khác
Cảm giác là điều kiện đảm bảo hoạt động của vỏ não, nhờ đó mà hoạt động tinh thần của con người được bình thường
Cảm giác là con đường nhận thức khách quan đặc biệt quan trọng đối với người khuyết tật Người khiếm thị có thể nhận ra người thân qua giọng nói nhờ vào thính giác, nhận biết đồ vật qua xúc giác,…
Cảm giác của con người được chia làm hai loại là cảm giác bên ngoài và cảm giác bên trong Cảm giác bên ngoài bao gồm cảm giác nhìn (thị giác), cảm giác nghe (thính giác), cảm giác ngửi (khứu giác), cảm giác nếm (vị giác) và cảm giác tiếp xúc (xúc giác) Cảm giác trong được chia thành cảm giác cơ thể, cảm giác vận động, cảm giác thăng bằng và cảm giác rung Mỗi loại cảm giác đều có một vai trò riêng trong phản ánh các yếu tố khách quan
Trang 10Tri giác, với tư cách là mức độ nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, có vai trò vô cùng quan trọng Nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính, đặc biệt là ở người trưởng thành
Tri giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh Hình ảnh của tri giác thực hiện chức năng điều chỉnh các hành động
Đặc biệt, hình thức tri giác cao nhất, tích cực nhất, chủ động và có mục đích là quan sát và làm cho tri giác của con người khác xa tri giác của con vật Cùng với sự phát triển và phức tạp dần lên của đời sống xã hội và của các thao tác lao động, quan sát trở thành một mặt tương đối độc lập của hoạt động và đã trở thành một phương pháp nghiên cứu quan trọng của khoa học cũng như của nhận thức thực tiễn
4 Các quy luật của cảm giác
Cảm giác tuân theo một số quy luật nhất định
Quy luật về ngưỡng của cảm giác
Không phải kích thích nào cũng gây ra cảm giác Chỉ những kích thích có cường độ nằm trong một giới hạn nào đó mới có thể gây ra cảm giác cho cơ thể Giới hạn đó được gọi là ngưỡng của cảm giác
Có hai loại ngưỡng tuyệt đối đánh dấu hai đầu mút giới hạn mà ở đó
cơ thể còn cảm nhận được kích thích:
Trang 11-Ngưỡng tuyệt đối phía trên là cường độ kích thích tối đa vẫn còn gây cho ta cảm giác
-Ngưỡng tuyệt đối phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu cần thiết để gây cho ta cảm giác
Phạm vi nằm giữa ngưỡng tuyệt đối phía dưới và ngưỡng tuyệt đối phía trên là vùng cảm giác, trong đó có một vùng phản ánh tốt nhất
Quy luật này được thể hiện qua việc mắt người chỉ có thể nhìn được các ánh sáng có tần số nằm trong khoảng từ 380nm đến 760nm và phản ánh tốt nhất với bước sóng 565nm, tai người chỉ có thể nghe thấy âm thanh có tần số từ 16Hz đến 20kHz và phản ánh tốt nhất với tần số 1kHz
Tuy nhiên không phải tất cả kích thích (nằm trong vùng cảm giác) với cường độ khác nhau đều gây ra những cảm giác khác nhau, chỉ khi chúng lệch nhau một khoảng nhất định, cơ thể mới cảm nhận thấy sự khác biệt Sự chênh lệch này được gọi là ngưỡng sai biệt Ngưỡng sai biệt là mức chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích đủ để ta phân biệt được hai kích thích đó Ngưỡng sai biệt là hằng
số, đối với cảm giác thị giác là 1/100, với thính giác là 1/10 Một vật nặng 1kg thì cần thêm vào ít nhất 34g nữa để nhận thấy sự thay đổi khối lượng của nó
Quy luật về sự thích ứng của cảm giác
Trang 12Để đảm bảo cho sự phản ánh được tốt nhất và hệ thần kinh không bị hủy hoại, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với các kích thích Đó là khả năng thay đổi độ nhạy cảm cho phù hợp với cường độ kích thích
Có nhiều kiểu thích ứng:
Cảm giác hoàn toàn mất đi khi kích thích kéo dài Đó chính là quy luật được thể hiện khi ta ngồi lâu trên xe buýt và không còn cảm thấy mùi hôi nồng nặc nữa, trong khi người mới lên xe thì cảm thấy vô cùng khó chịu vì mùi đó Ở đây, mùi xe không hề mất đi, nó vẫn “tấn công” những người mới bước chân lên, nhưng với người đã ngồi lâu trên xe buýt thì cơ thể họ đã thích ứng và mất cảm giác
Độ nhạy cảm giảm khi cường độ kích thích tăng và ngược lại Ví dụ như khi bị chiếu sáng bất ngờ vào mắt thì ta sẽ bị chói mắt và không nhìn thấy gì khác ngoài ánh sáng trắng lóa, một số người còn có thể bị
mù tạm thời, phải mất một lúc sau mắt mới nhìn lại bình thường được Ngược lại, khi đang từ ánh sáng bước vào bóng tối, mắt lại nhạy cảm hơn
Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống nhau Khả năng thích ứng của cảm giác là do rèn luyện Ta có thể thấy điều này ở những người khiếm thị, tuy rằng không nhìn được nhưng họ lại có xúc giác, vận động giác, cảm giác rung nhạy bén, có thể dễ dàng phân biệt được các vật bằng cách chạm tay, cảm nhận độ rung, … đó
Trang 13chính là vì họ không thể nhìn nên họ sử dụng xúc giác, khứu giác, cảm giác rung và vận động giác để nhận biết xung quanh, họ rèn luyện các cảm giác đó thường xuyên dẫn tới chúng vô cùng nhạy bén, vô cùng chính xác
Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác
Tính nhạy cảm của cảm giác không chỉ thay đổi theo cường độ của kích thích, nó còn thay đổi dưới tác động của các cảm giác khác Đó chính là sự tác động qua lại giữa các cảm giác Sự tác động đó tuân theo một quy luật chung: sự kích thích yếu lên một cảm giác này sẽ làm tăng
sự nhạy cảm của cảm giác kia và ngược lại, sự kích thích mạnh lên một cảm giác này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của cảm giác kia Ví dụ khi ngồi học bài, người học sinh thường dấp nước lạnh lên mặt để khỏi buồn ngủ Bởi vì cảm giác da mặt bị lạnh nó mạnh hơn, lấn át đi cảm giác mệt mỏi,
lờ đờ của đôi mắt, làm giảm độ nhạy cảm về cảm giác buồn ngủ Chính
vì thế nó sẽ giúp người học sinh tỉnh táo hơn
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại Khi ăn dứa hoặc bưởi, chúng ta thường chấm muối trước khi đưa vào miệng Sở dĩ ta làm như vậy vì nếu như không chấm muối, sau khi ăn miếng dứa, miệng và lưỡi của bạn có cảm giác tê rát, đó là vì ruột quả dứa không những có rất nhiều đường và vitamin C, mà còn có một chất xúc tác Chất xúc tác này
đủ mạnh để phân giải lòng trắng trứng, đối với niêm mạc miệng và biểu