Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy hiện nay có một số quan niệm về thực hiện pháp luật sau: Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật củ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN DẦU TIẾNG,
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số : 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Lê Bí Bo
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LĐ - TB&XH Lao động - Thương binh và xã hội
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……… 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TRONG VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ASXH ĐỐI VỚI NCT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG….………… 14
1.1 Lý luận thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT………… 14
1.1.1 Các khái niệm ……….……… ……… … 14
1.1.2 Vị trí, vai trò, đặc điểm chung của NCT ……… …… … …18
1.1.3 Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT…… 22
1.2 Đặc điểm, vị trí, vai trò thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT 24
1.3 Nội dung của việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT 27
1.4 Phương thức thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT……… ……… 30
1.5 Yêu cầu của việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT……… …… … 32
1.5.1 Yêu cầu của thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT ……….… ……… ……… … 32
1.5.2 Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT……… … …33
Tiểu kết chương 1 ……… 36
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ASXH ĐỐI VỚI NCT TẠI HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG 37
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Dầu
Trang 62.2 Khái quát về hội NCT huyện Dầu Tiếng 41
2.3 Tình hình thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT 42
2.4 Kết quả thực hiện pháp luật ASXH cụ thể đối với NCT tại huyện Dầu Tiếng trong thời gian qua 44
2.4.1 Pháp luật quy định trợ giúp xã hội… 44
2.4.2 Pháp luật về chế độ hưu trí……… 50
2.4.3 Chế độ chăm sóc sức khỏe–Pháp luật về BHYT… 54
2.5 Đánh giá chung việc thực hiện pháp luật về An sinh xã hội đối với NCT tại huyện Dầu Tiếng trong thời gian qua… … 59
2.5.1 Ưu điểm……… ………… …59
2.5.2 Khó khăn, hạn chế……… … 60
Tiểu kết chương 2 ……… … …… 62
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ASXH ĐỐI VỚI NCT 63
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT……… 63
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT 65
3.2.1 Tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT…… 65
3.2.2 Xác định vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương, của các tổ chức NCT để đẩy mạnh xã hội hóa chăm sóc NCT để thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT…… 71
Trang 73.2.3 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động nguồn lực của các
tổ chức xã hội trong hoạt động chăm sóc NCT 74
Tiểu kết chương 3……… ………… 75
KẾT LUẬN……… 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… 77
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Chiến lược an sinh xã hội (ASXH) giai đoạn 2011-2020 là một bộ phận cấu thành của “Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020” Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định
“xây dựng hệ thống ASXH đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VI chỉ rõ “từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống ASXH để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”
tuổi trở lên Đa số NCT Việt Nam hiện nay là thế hệ sinh ra trong thời kỳ trước 1950, nhiều người tham gia các cuộc đấu tranh giữ nước, xây dựng đất nước Do sinh ra và trưởng thành trong các điều kiện hết sức khó khăn họ không có điều kiện bảo vệ sức khoẻ và tích luỹ vật chất cho tuổi già Chính vì vậy, khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, họ là những người đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc thích nghi với thay đổi
Bên cạnh đó, “Già hóa dân số” là một xu thế tất yếu, đã và đang diễn ra trên toàn cầu với tốc độ ngày càng nhanh và tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội
Trên thế giới, năm 2011, Liên hợp quốc đã chính thức công nhận thế giới đã bước vào giai đoạn già hóa dân số (tức là khi số người trên 60 tuổi chiếm 10% trở lên so với tổng dân số) và một số nước đã ở trong tình trạng dân số già (21% trở lên) với tốc độ nhanh Toàn thế giới hiện có gần 100 triệu người cao tuổi chiếm hơn 12% dân số; vào năm 2030 sẽ là hơn 16% Dự báo đến năm 2050, toàn thế giới sẽ có trên 2 tỉ NCT, chiếm hơn 33% [27]
Việt Nam đang có xu hướng già hóa dân số nhanh Nhu cầu thăm
Trang 9khám, chữa bệnh tăng lên, tuy nhiên sau hơn 1 năm triển khai Thông tư số 35/2011/TT-BYT thống kê mới nhất của Bộ Y tế cho thấy, cả nước mới có 28
viện chưa triển khai Mặc dù gánh nặng bệnh tật đối với NCT Việt Nam là khá lớn khi có tới 95% NCT có bệnh nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng y tế, chưa phát triển kịp với sự gia tăng nhanh chóng của NCT và yêu cầu được chăm sóc của họ
Mặt khác, đối với nhóm NCT, việc thực thi chính sách ASXH cho nhóm này còn rất hạn chế Hệ thống chăm sóc NCT hiện nay còn nhiều bất cập: nhận thức về già hóa dân số và tác động tới phát triển kinh tế-xã hội còn hạn chế; các cấp lãnh đạo chưa nhận thức rõ vấn đề; xã hội thay đổi cách nhìn nhận đối với người già; bản thân NCT chưa nhận thức được sự cần thiết phải chăm sóc, bảo vệ bản thân; người dân ở nông thôn chưa quan tâm chuẩn bị cho tuổi già; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe công lập không đảm bảo được nhu cầu khám chữa bệnh của NCT; trình độ của các bác sỹ còn hạn chế…; đồng thời xuất phát từ đặc điểm của người cao tuổi có thể thấy rằng họ thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, cuộc sống của một bộ phận trong số họ phải đối mặt với nhiều rủi ro Hiện tượng người cao tuổi phải lao động nặng nhọc, bị ngược đãi hay lang thang còn nhiều Mặt khác, xã hội Việt Nam hiện đại vẫn chưa đánh giá đúng vị thế, vai trò của người cao tuổi dẫn đến việc họ bị phân biệt đối xử Truyền thống hiếu kính với người cao tuổi có xu hướng giảm sút…
Tại Việt Nam, thực hiện pháp luật an sinh xã hội đối với NCT đã đuợc quy định bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên nhiều lĩnh vực song trên thực tiễn vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn và bộc lộ những bất cập nhất định
Yêu cầu chung khi nghiên cứu, xây dựng các chính sách, pháp luật của
Trang 10mỗi quốc gia đó là phải phù hợp với thực tiễn và tiến trình phát triển của xã hội, phù hợp với định hướng phát triển bền vững đồng thời cũng phải thể hiện được các cam kết về nhân quyền của Việt Nam với cộng đồng quốc tế Việc nghiên cứu về an sinh xã hội cho NCT sẽ góp phần đáp ứng những yêu cầu này Xuất phát từ những lý giải trên, gắn với thực tế tại địa phương đang công
tác tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với Người
cao tuổi từ thực tiễn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương” để làm luận văn
tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành chính
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi là một đề tài rất mới trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý
Tác giả Bế Huỳnh Nga (2010) trong công trình nghiên cứu về “Người cao tuổi Việt Nam phúc lợi xã hội và các mô hình chăm sóc sức khỏe” đăng trên tạp chí xã hội số 2 (110), 2010 đã cho rằng Việt Nam cũng như các nước phát triển khác, tuổi thọ trung bình tăng nhanh cũng như số lượng người cao tuổi Bệnh tật thường hay xuất hiện ở lứa tuổi già Điều này đã làm cho mô hình đau ốm cũng thay đổi Sự thay đổi này đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của
hệ thống y tế và toàn xã hội trong chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi nhất
là các bệnh mãn tính và bệnh thoái hóa thường xuất hiện ở người cao tuổi Những vấn đề về sức khỏe và khả năng tiếp cận chăm sóc y tế là các vấn đề
ưu tiên cho người cao tuổi
Nghiên cứu của Trần Quốc Bảo (2019) trong công trình nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đã cho thấy những thuận lợi và khó khăn của gia đình, bản thân người cao tuổi và Nhà nước với việc lấy chính sách gia đình làm trung tâm trong việc phụng dưỡng và chăm sóc người cao tuổi hiện nay Điều này rất có ý nghĩa với bản thân tác giả trong việc đề xuất
Trang 11các chính sách các đối tượng trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Giáo trình ASXH của PGS.TS Nguyễn Văn Định (2008), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Tiếp cận theo quan điểm chức năng của chủ thể cung cấp dịch vụ một số tác giả đồng quan điểm cho rằng, bảo trợ xã hội và
sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc các phương tiện thích hợp để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống của bản thân và gia đình, sớm hòa nhập cộng đồng Đồng thời tác giả cũng đưa ra khái niệm khác gần giống với khái niệm bảo trợ xã hội là “cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của nhà nước và cộng
như: Thiên tai, bị tàn tật, già yếu…dẫn đến mức sống quá thấp lâm vào cảnh neo đơn, túng quẩn nhằm giúp họ đảm bảo điều kiện sống tối thiểu, vượt lên cơn nghèo khốn và vươn lên cộc sống bình thường” Với cách này thì cứu trợ
xã hội trước rồi mới đến trợ giúp xã hội Thể hiện chính sách cho đối tượng BTXH từ Nhà nước, cộng đồng và trong thực tiễn để thực hiện chính sách BTXH Nhà nước luôn giữ vững vai trò trong việc cung cấp nguồn lực và các dịch vụ BTXH
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Thực trạng đời sống người nghỉ hưu, những giải pháp về cung cấp các dịch vụ xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất tinh thần người nghỉ hưu” giai đoạn 2013-2014 của TS Phạm Đình Thành Một trong những số ít công trình nghiên cứu đánh giá chính sách hưu trí với đối tượng người cao tuổi Đề tài nghiên cứu mang tính thời sự, tại thời điểm mà Nhà nước và Quốc hội đang xem xét, thông qua việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội 2006 Thông qua việc nghiên cứu thực trạng đời sống của người nghỉ hưu, đề tài cũng nêu lên những nguyện vọng, mong muốn của một bộ phận NCT muốn đề đạt tới các cấp có thẩm quyền, những
Trang 12người làm chính sách để bổ sung, hoàn thiện chính sách hơn nữa, ngày càng đáp ứng nhu cầu của của NCT
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Vấn đề già hóa dân số và chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở Việt Nam” năm 2015 của Ths Đỗ Thị Kim Oanh Công trình này nghiên cứu mối quan hệ, tác động qua lại giữa vấn đề già hóa dân số và một số mặt của chính sách xã hội, chính sách y tế ở Việt Nam Đề tài đã bao quát được những tác động tích cực và tiêu cực chủ yếu của việc cân đối và xử lý quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế mà chưa thực sự quan tâm, đánh giá tới ảnh hưởng toàn bộ các mặt của chính sách: tác động, đối tượng hay tổ chức thực hiện chính sách Đề tài đã cung cấp được nguồn số liệu mới, gần như chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, phân tích của luận văn
Những nghiên cứu nêu trên có những cách nhìn khái quát khác nhau, tuy nhiên vì đây là một đề tài mới và mỗi nghiên cứu lại tiếp cận theo một hướng khác nhau hoặc tập trung làm rõ một vấn đề khác nhau, vì vậy việc nghiên cứu tổng quan Thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trên cơ sở tham chiếu với luật an sinh xã hội, luật người cao tuổi… sẽ mang đến những ý nghĩa thiết thực
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật về ASXH đối với người cao tuổi để hiểu biết, xem xét, đánh giá, nhận xét, qua đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác ASXH đối với người cao tuổi nói chung và người cao tuổi huyện Dầu Tiếng nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề của pháp luật lý luận về thực hiện công tác
an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Trang 13- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quy định pháp luật về công tác
an sinh xã hội đối với người cao tuổi; chỉ rõ những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác an sinh xã hội đối với người cao tuổi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện quy định pháp luật
về công tác thực hiện công tác an sinh xã hội đối với người cao tuổi tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện thực trạng thực hiện quy định pháp luật về thực hiện công tác an sinh xã hội đối với người cao tuổi tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật
về ASXH đối với NCT tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm chỉ đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu trên, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu thứ cấp được thu thập dựa vào các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, niêm giám thống
kê, các báo cáo tổng kết của địa phương và trên các trang thông tin điện tử
Trang 14chính thức của các cơ quan, tổ chức Các số liệu cơ bản liên quan đến luận văn được thu thập tại Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh Bình Dương, huyện Dầu Tiếng Các tài liệu thứ cấp được sắp xếp cho từng yêu cầu về nội dung nghiên cứu và phân thành các nhóm dữ liệu theo từng phần của đề tài, bao gồm: Những tài liệu về lý luận, những tài liệu tổng quan về thực tiễn nói chung, những tài liệu thu thập về thực trạng công tác thực hiện an sinh xã hội đối với NCT tại huyện Dầu Tiếng
- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, loại trừ
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến, áp dụng kinh nghiệm các chuyên gia về vấn đề này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng lý luận của hệ thống pháp luật để đánh giá việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam nói chung, trên địa bàn huyện Dầu Tiếng nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam nói chung, trên địa bàn huyện Dầu Tiếng nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật trong việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TRONG VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG 1.1 Lý luận thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
1.1.1 Các khái niệm
Khái niệm An sinh xã hội
ASXH theo nghĩa rộng: thực chất là sự đảm bảo của mỗi lãnh thổ, quốc
gia, chính phủ để thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội
ASXH theo nghĩa hẹp: là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết
yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập, do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế,
người bị thiên tai địch họa
Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần bảo đảm thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra cuộc sống tốt đẹp, bình an cho mọi thành viên trong xã hội
Khái niệm thực hiện pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Việc tự giác thực hiện các quy phạm pháp luật gắn chặt với yêu cầu của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, là mục tiêu và là đòi hỏi các tổ chức, cá nhân trong xã hội tôn trọng, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật Như vậy, thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con
Trang 16người phù hợp với quy định của luật pháp
Thực hiện pháp luật là bước tiếp theo sau khi văn bản pháp luật được ban hành để đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật trở thành hiện thực
Về pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó không trái, không vượt ra ngoài các quy định của pháp luật Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy hiện nay có một số quan niệm về thực hiện pháp luật sau:
Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về nhà
nước và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh thì:
"Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ
sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật" [23, tr.270]
Giáo trình của Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [21, tr.494]
Từ những quan niệm thực hiện pháp luật nêu trên cho thấy:
- Các định nghĩa đều thống nhất về thực hiện pháp luật là hoạt động
có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật
- Thực hiện pháp luật là một quá trình của các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật
Như vậy, theo chúng tôi khái niệm thực hiện pháp luật được hiểu như
Trang 17sau: Thực hiện pháp luật là một quá trình của chủ thể pháp luật nhằm mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT là một quá trình hoạt động
có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về NCT đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp trong mối quan hệ giữa quyền của NCT với quyền của các chủ thể khác nhau khi tham gia quan hệ pháp luật
Với tư cách chủ thể quản lý, nhà nước đã sử dụng pháp luật làm phương tiện quan trọng nhất để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhà nước mong muốn các văn bản đó phải được tôn trọng và thực thi có hiệu quả trong thực tế Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, định hướng nhằm hiện thực hoá nội dung các quy định của pháp luật bằng các hành vi thực tế của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật
Dưới góc độ pháp lý, chỉ những hành vi xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật về ASXH đối với NCT của các chủ thể có đầy đủ khả năng nhận thức được yêu cầu của quy phạm pháp luật, có khả năng tự chịu trách nhiệm và gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi của họ gây ra thì được coi là quá trình thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT
Như vậy, thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT là hoạt động có mục đích của các chủ thể mà các chủ thể đó có thể là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, các cá nhân được nhà nước trao quyền nhằm làm cho các quy định của pháp luật về ASXH đối với NCT trở thành những hành vi trong thực tế bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp đối với NCT
Khái niệm về người cao tuổi
Việc xác định người cao tuổi trên thế giới không giống nhau Ở đa số các
Trang 18nước trên thế giới thì người cao tuổi là những người bắt đầu từ 60 tuổi Tuy nhiên, cũng có một số nước châu Âu phát triển như Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Tây Ban Nha,… với độ tuổi nghỉ hưu là 65 thì người cao tuổi ở những nước này là những người có độ tuổi từ 65 trở lên; ở Singgapore là 62 tuổi,
Theo Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 quy định, người cao tuổi tại Việt Nam là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên
Như vậy, Người cao tuổi hay người cao niên hay người già là những
người lớn tuổi, thường có độ tuổi khoảng từ 60 trở lên, tùy vào mỗi quốc gia
1.1.2 Vị trí, vai trò, đặc điểm chung của người cao tuổi
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của người cao tuổi
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò của người cao tuổi đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, với gia đình, quê hương nói riêng Từ sớm, Người đã nhận thấy vị thế, vai trò, tiềm năng, sức mạnh và những giá trị cả về vật chất và tinh thần của người cao tuổi đối với sự nghiệp cách mạng, trong thời chiến cũng như trong thời bình Bác đã chỉ rõ vai trò của người cao tuổi có ảnh hưởng đến sự nghiệp cách mạng đất nước, đến quê hương và gia đình, họ chính là những người đáng kính, có uy tín, là nơi quy tụ tinh thần đoàn kết, sức mạnh dân tộc:
“Dẫu rằng tóc đã bạc, mắt đã hoa, tay run, chân mỏi, nhưng một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang, một hành động của phụ lão có ảnh hưởng đến giết giặc
Trong gia đình, NCT với kinh nghiệm sống đã góp phần quan trọng
hội kiến thức, kinh nghiệm để tiếp tục duy trì và phát triển mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra nền tảng và sự kế thừa phát triển xã hội không ngừng
Trang 19từ thế hệ này sang thế hệ khác
Ngoài xã hội, có một bộ phận NCT còn đủ sức khoẻ vẫn tiếp tục làm việc trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và tham gia lao động, sản xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước Hiện nay, khi số lượng NCT ngày càng gia tăng, tình trạng sức khỏe được cải thiện thì NCT cũng có thể trở thành nguồn nhân lực giàu kinh nghiệm cho phát triển toàn diện các mặt về
văn hóa, kinh tế và xã hội
1.1.2.2 Đặc điểm chung về người cao tuổi
Đặc điểm về nhân khẩu học
Thứ nhất, hiện nay số lượng dân số là người cao tuổi đang tăng nhanh
nhất so với tất cả các nhóm dân số khác nhóm dưới độ tuổi lao động, nhóm trong độ tuổi lao động Điều này được thể hiện rất rõ khi rất nhiều quốc gia phát triển, đang phát triển trên thế giới lần lượt bước vào giai đoạn già hóa, hoặc dân số già; chứng tỏ số lượng dân số già đang tăng nhanh chóng hơn số lượng sinh mới
Thứ hai, tỷ lệ giới tính ngày càng nghiêng về nữ giới, bao gồm cả mật
độ sinh và số lượng khi độ tuổi ngày càng cao Về tỷ lệ tự nhiên khi sinh sản thì phần trăm giới tính luôn ở mức độ cân bằng, nhưng do điều kiện sinh hoạt, tuổi thọ của nữ giới thường cao hơn nam giới là nguyên nhân dẫn đến việc mất cân bằng giới tính như hiện nay
Thứ ba, mức độ già hóa dân số ở các vùng có điều kiện và trình độ phát
triển kinh tế - xã hội khác nhau là rất khác nhau Thường thì ở khu vực thành thị, trình độ hiểu biết cao, cuộc sống vật chất tốt hơn, điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn, trong khi đó tại khu vực nông thôn, nhất là những nước chưa phát triển hoặc đang phát triển, nhận thức và điều kiện sống còn hạn chế, nên tuổi thọ của người dân ở nông thôn luôn thấp hơn người dân ở thành thị, bỏ qua sự tác động khách quan của vấn đề di cư
Trang 20Đặc điểm đời sống gia đình, văn hóa và tinh thần của người cao tuổi
Trong cuộc sống văn hóa, gia đình của người Việt Nam nói riêng hay trên toàn thế giới nói chung đều có những nhiệm vụ, chức năng quan trọng như truyền tải các giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác; và hình thành các giá trị văn hoá mới
Trong đời sống gia đình có thể dễ dàng nhận thấy người cao tuổi có vai trò rất lớn trong việc hình thành những giá trị văn hoá gia đình Đây là nhóm người người chọn lọc, phát triển và cuối cùng là người truyền lại những giá trị văn hoá tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau
Tuy nhiên, trong gia đình thời hiện đại, vai trò, vị trí của người cao tuổi hiện đang có dấu hiệu giảm sút; nhiều NCT đang ngày càng cảm thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình So với trước kia thì tiếng nói của NCT hiện nay có vẻ như ít được lắng nghe và thực hiện Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến hiện trạng này, về cơ bản có thể là do sự khác biệt về tâm lý lứa tuổi và nhận thức thế hệ, khiến mối quan hệ giao tiếp giữa con cháu và ông bà gặp không ít trở ngại Bên cạnh đó cũng là sự xung đột về văn hóa, nhận thức giữa các thế hệ NCT như bên trên phân tích có vai trò lớn trong việc truyền lại những giá trị truyền thống cho các thế hệ mai sau, tuy nhiên đây cũng là lớp người bảo thủ, khó có thể tiếp cận những thay đổi mới một cách nhanh chóng, trong khi đó lớp người trẻ lại có xu hướng cập nhật nhanh chóng những thay đổi, tiến bộ xã hội nhanh mà dễ dàng bỏ qua những giá trị truyền thống đã có từ trước đó Khi tiếp xúc với lớp người trẻ hơn NCT dễ xảy ra những mặc cảm, sống khép kín, và không muốn giao tiếp Đây cũng là một trong những xu hướng nảy sinh thực tế Khi NCT cảm thấy mối xung đột về văn hóa với những người trẻ hơn, họ sẽ tìm đến nhau, xây dựng cộng đồng có tiếng nói chung, phù hợp về trình độ, văn hóa cũng như về tâm lý
Đặc điểm về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Trang 21Nhóm người cao tuổi là nhóm chịu tác động tiêu cực của vấn đề tuổi tác nhiều nhất, trong đó tuổi càng cao thì tỷ lệ người cao tuổi có sức khỏe yếu càng nhiều, số bệnh mắc phải càng tăng và thời gian nằm bệnh càng dài
Nhưng thách thức lớn nhất đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay là mô hình và nguyên nhân bệnh tật của người cao tuổi đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng “bệnh tật kép” ngày càng rõ ràng
Hệ quả của sự thay đổi mô hình bệnh tật là các bệnh không lây nhiễm đang nhanh chóng trở thành nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tàn phế cho người cao tuổi và xu hướng này sẽ tiếp tục diễn ra trong những thập niên tới Thêm vào đó, do mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe và tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi còn thấp dù phải đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe Trước hết việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi phải do chính mình thực hiện dựa trên sự hiêu biết và tinh thần tự giác của bản thân Theo các nhà nghiên cứu về lão khoa cho biết: tuổi già là kết quả tất yếu của một quá trình lão hóa bắt đầu diễn ra từ tuổi trung niên
Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm tùy thuộc môi trường sống, làm việc và sự rèn luyện thân thể cũng như chế độ ăn uống và nếp sống của mỗi người Để bảo vệ sức khỏe, làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ chính là nếp sống lành mạnh, sinh hoạt điều độ, tập thể dục thường xuyên và
ăn uống hợp lý, đủ dưỡng chất Tuy nhiên, do điều kiện và hoàn cảnh mà không phải NCT nào cũng có thể nhận thức đầy đủ và có khả năng thực hiện được những hiểu biết về chăm sóc sức khỏe như trên
Và cuối cùng là khả năng và tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm người cao tuổi hết sức khác nhau Người cao tuổi thì ở vùng nào cũng có những điều kiện tiếp cận với những dịch vụ, mô hình chăm sóc sức khỏe mới, tiên tiến nhất thì thường tập trung tại những khu vực thành thị
và ngoại ô của thành thị Vì vậy, nhóm NCT ở nông thôn mặc dù vẫn có hiểu
Trang 22biết về những loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe mới nhưng vẫn có sự hạn chế về việc tiếp cận hơn so với nhóm NCT ở khu vực thành thị
Đặc điểm về hoạt động kinh tế, thu nhập của người cao tuổi
Theo thời gian, tỷ lệ người cao tuổi tham gia lao động nhìn chung có xu hướng giảm, khi tuổi càng tăng thì tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế càng giảm
Thu nhập của người cao tuổi có thể bắt nguồn từ 3 nguồn cơ bản sau đây:
- Từ lao động sản xuất hàng ngày
- Do tích lũy từ lúc còn trẻ tài sản, tiền tiết kiệm, hưu trí, …
- Từ nguồn trợ cấp khác con cái, người thân, Nhà nước, …
Nhu cầu được làm việc, tiếp tục cống hiến cho gia đình và xã hội phù hợp với sức khỏe và điều kiện cũng là một yêu cầu của các vị cao niên Một
số Nhà nước đã và đang nghiên cứu để sử dụng chất xám, khả năng của những vị cao niên, nhất là những vị vừa mới rời khỏi dây chuyền sản xuất và công tác, vẫn còn trí tuệ, kinh nghiệm và sức khỏe nhằm phát huy một cách phù hợp sự cống hiến của họ Được làm việc, được cống hiến tạo ra niềm vui cho cuộc sống, do đó có tác dụng làm cho trí não và thân thể khỏe mạnh Đây còn là một quyền của người cao tuổi mà nhiều quốc gia đang quan tâm
1.1.3 Thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
1.1.3.1 Quyền an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Theo luật nhân quyền quốc tế, thuật ngữ “an sinh xã hội” được hiểu là những trợ cấp của nhà nước cho công dân gắn với những rủi ro liên quan đến việc mất kế sinh nhai vì những lý do ngoài tầm kiểm soát của một cá nhân Quyền an sinh xã hội được quy định trong Điều 9 ICESCR và các Công ước
số 102 về An sinh xã hội (các tiêu chuẩn tối thiểu) (1952) và Công ước số 128
về trợ cấp cho người khuyết tật, người già, người gặp nạn (1967) của ILO Những công ước này đều yêu cầu các quốc gia thành viên phải có chương
Trang 23trình bảo hiểm tuổi già bắt buộc.Bên cạnh việc yêu cầu các quốc gia thực hiện các công ước nêu trên, Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá đã khuyến nghị các quốc gia thành viên xác định độ tuổi về hưu linh hoạt, phụ thuộc vào nghề nghiệp và khả năng làm việc của người cao tuổi, dựa trên các
yếu tố về dân số học, kinh tế và xã hội [1]
Ngoài ra, Uỷ ban còn đề nghị các quốc gia thành viên, trong giới hạn các nguồn lực sẵn có, cần cung cấp những trợ cấp cho người có tuổi không đóng bảo hiểm và những hỗ trợ khác cho tất những người có tuổi mà vẫn chưa hoàn thành việc đóng bảo hiểm theo luật định và do đó không được hưởng trợ cấp
người cao tuổi hoặc các lợi ích an sinh xã hội khác, cũng như không có nguồn thu nhập nào khác [1]
1.1.3.2 Hệ thống văn bản pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Bản thân chính sách được cụ thể hóa bằng nhiều loại văn bản Chính
sách là công cụ giải quyết vấn đề xã hội đặt ra mà nhà nước tồn tại dưới nhiều hình thức như chủ trương, kế hoạch,… mang tính khuyến khích, không bắt buộc Tuy nhiên cũng có những chính sách đã được thể chế hóa bằng luật, như vậy chính sách sẽ mang tính bắt buộc Vì vậy với một chính sách đưa ra,
có thể có nhiều văn bản về quy định, hướng dẫn, bổ sung,… Các văn bản quy định là cơ sở cho việc thực thi Do đó, việc đánh giá hệ thống văn bản của chính sách góp phần bổ sung, nâng cao hiệu quả của việc thực thi chính sách,
cụ thể: Luật Người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12); Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người cao tuổi; Thông tư số 21/2011/TT-BTC ngày 18/02/2011 của Bộ Tài chính Quy định quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng người cao tuổi; Thông tư số
Trang 2417/2011/TT-BLĐTBXH ngày 19/5/2011 của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội Quy định hồ sơ, thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cơ sở bảo trợ xã hội; Quyết định
số 1878/QĐ-UBND ngày 18/7/2011 của UBND tỉnh Bình Dương Về mức quà tặng mừng thọ người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi…
1.2 Đặc điểm, vị trí, vai trò thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT mang đầy đủ đặc điểm của quá trình thực hiện pháp luật nói chung Với bản chất là hoạt động xã hội của con người, thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT hàm chứa những đặc điểm chung của các hoạt động xã hội khác đồng thời với bản chất pháp lý của mình, thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT đã tạo nên những đặc điểm nổi trội và đặc thù sau đây:
Thứ nhất: Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT bao giờ cũng
thông qua những hành vi cụ thể của con người Đời sống xã hội của con người bao giờ cũng được bộc lộ thông qua các hành vi cụ thể trong các mối quan hệ
xã hội Hành vi cũng chính là các phương thức tồn tại của con người, chính vì
lẽ đó, việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT thường tồn tại là những dạng hành động tích cực là chủ yếu và phổ biến của các cá nhân hoặc cơ quan trong bộ máy nhà nước
Kết quả của việc thực hiện các hành vi đó trên thực tế không phải lúc nào cũng hợp pháp, cũng bảo vệ và mang lại lợi ích đối với NCT mà có thể do nhiều nguyên nhân dẫn tới hoặc trái pháp luật hoặc mục đích bảo vệ và bảo đảm ASXH đối với NCT không thể đạt được
Thứ hai: Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT là hành vi phù hợp
Trang 25với pháp luật về NCT Đó là những hành vi cụ thể của con người song thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT có đặc điểm là phải phù hợp với các quy định hiện hành liên quan tới NCT Việc phù hợp ở đây được hiểu là pháp luật cấm điều gì làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của NCT thì chủ thể không làm, pháp luật có những quy định bắt buộc gì nhằm tạo điều kiện và bảo vệ quyền ASXH đối với NCT, quyền tiếp cận đời sống xã hội của NCT thì chủ thể tích cực tham gia và pháp luật cho phép làm gì thì các chủ thể đưa ra quyết định để thực hiện hành vi hoặc không thực hiện hành vi phù hợp
Nói đến việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT bao giờ các chủ thể cũng quan tâm tới việc thực hiện cái gì? Nói cách khác là thực hiện nội dung gì liên quan tới NCT và cách thức, hình thức thực hiện bằng hình thức nào? Như vậy, tính hợp pháp trong quá trình thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT bao gồm thực hiện cả những quy phạm về nội dung và những quy phạm về hình thức, quy trình và thủ tục Chỉ có sự đảm bảo và phù hợp cả
về nội dung và hình thức thì quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật mới làm cho các hành vi và quan hệ pháp luật phát sinh trong thực tế hợp pháp và tích cực bảo vệ việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT
Thứ ba: Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT là một quá trình có
mục đích, nó bao gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau Để biến những quyền và nghĩa vụ pháp lý bảo vệ người khuyết tật thành những hành vi xử sự trong thực tế thì cần thiết phải thông qua hàng loạt các hoạt động cụ thể của con người mà các hoạt động đó phải có mục đích, mục tiêu cụ thể
Các hoạt động cụ thể đó bao gồm: Chủ thể tìm hiểu các quy định của pháp luật có nội dung cụ thể như thế nào? Xem xét vị trí, chức năng vai trò của bản thân, ra các quyết định về cách thức, thời gian hoạt động cụ thể Tất
cả các hoạt động đó phải cần thiết xác định mục tiêu cụ thể là bảo vệ và bảo
Trang 26đảm quyền ASXH của NCT thông qua việc thực hiện các quy phạm cụ thể Tích mục đích có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện pháp luật nói chung Đối với quá trình thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi NCT là đối tượng có xu hướng tăng nhanh trong thời gian qua Như vậy, đòi hỏi tích mục tiêu, mục đích không chỉ có ý nghĩa trong việc thiết lập, xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể
mà còn là đòi hỏi đối với các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT
Thứ tư: Quá trình thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT được bảo
đảm bằng các biện pháp của nhà nước
Để pháp luật thật sự đi vào đời sống xã hội thì quá trình thực hiện pháp luật cần thiết phải được bảo đảm từ phía nhà nước chính đặc điểm này tạo ra
sự khác biệt cơ bản giữa pháp luật với đạo đức Đối với nước ta pháp luật về ASXH đối với NCT thể hiện ý chí của nhà nước nhằm bảo vệ và bảo đảm cho NCT tiếp cận với đời sống xã hội do vậy thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT không chỉ là mong muốn của quản lý hành chính nhà nước mà còn
là nguyện vọng chung của đa số nhân dân lao động Chính sự bảo đảm của nhà nước mới làm cho pháp luật về ASXH đối với NCT được thực thi trong môi trường thực hiện bình đẳng bảo đảm cho việc thụ hưởng các lợi ích hợp pháp của NCT Trong trường hợp các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật liên quan tới NCT không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các yêu cầu thì nhà nước bằng quyền lực của mình sử dụng các biện pháp bắt buộc hoặc các biện pháp cưỡng chế nhằm yêu cầu các chủ thể thực hiện hành vi hợp pháp với NCT Nhà nước sử dụng các hình thức bảo đảm pháp lý, sử dụng các
tổ chức xã hội hoặc các thiết chế khác nhau phù hợp với NCT
Thứ năm, thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT vừa mang tính thực
hiện quyền lực nhà nước, vừa mang tính xã hội rộng rãi Thực hiện pháp luật
Trang 27về ASXH đối với NCT thông qua các hình thức riêng có của mình làm cho những quy phạm pháp luật về ASXH đối với NCT đi vào cuộc sống Những quy phạm này chính là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực NCT Đó chính là hệ thống các quy phạm quy định về các giải pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NCT trong việc tiếp cận các hoạt động về tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, về các đảm bảo khác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về NCT Những quy phạm này có tính bắt buộc chung đối với mọi công dân, mọi chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về NCT Việc thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống quy phạm này cũng chính là thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực NCT Mặt khác, NCT là bộ phận dân cư quan trọng, là bộ phận không thể tách rời của đời sống xã hội Việc tiếp cận với đời sống xã hội của bộ phận dân cư như thế này có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống cộng đồng Vì lẽ đó, để thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT có hiệu quả cần phải phát huy sức mạnh tối đa của các chủ thể, các cá nhân, tổ chức và toàn xã hội trong chấp hành, tuân thủ, sử dụng và áp dụng pháp luật về ASXH đối với NCT Do đó, thực hiện pháp luật có tính xã hội rộng lớn
1.3 Nội dung của việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Thứ nhất, về trợ cấp xã hội và bảo trợ xã hội (BTXH)
Các văn bản quy định rõ về đối tượng bảo trợ, chế độ cho từng loại đối tượng, nguồn kinh phí và trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc quản lý, phân bổ ngân sách, trực tiếp thực hiện chính sách bảo trợ
Các văn bản chính sách, luật pháp luôn nhấn mạnh vai trò thiết yếu của gia đình trong chăm sóc, phụng dưỡng NCT, trong khi đó, NCT thuộc nhóm yếu thế cần được bảo đảm các nhu cầu như ăn, mặc, ở, đi lại…, vì vậy, Nhà
Trang 28nước phải luôn giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc nhóm NCT cô đơn, không nơi nương tựa và những người đã quá già mà không có lương hưu hay các trợ cấp khác Cần xác định rõ: chính sách xã hội (CSXH) đã được ban hành là để góp phần điều tiết sự phân bổ về quyền lợi giữa các nhóm người trong xã hội, bảo đảm công bằng xã hội
Thứ hai, về chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi
Sau tuổi 60, cơ thể đã bước vào thời kỳ lão hóa, NCT luôn đứng trước nguy cơ bệnh tật, đặc biệt là các bệnh mãn tính, việc chăm sóc sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém Do vậy, các quy định ưu tiên chăm sóc sức khỏe
ở các tuyến y tế đối với NCT chính là nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực nhất của NCT, giảm thiểu các rủi ro về bệnh tật, giảm bớt khó khăn về kinh phí cho bản thân NCT, cho gia đình và xã hội
Các quy định về tài chính trong chăm sóc sức khỏe ban đầu đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích của NCT, tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 96/2018/TT-BTC về nguồn kinh phí quy định:
“Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú;…” có thể sẽ gây nên những khó khăn trong việc thực hiện chính sách đối với các địa phương nghèo, kinh tế chưa ổn định, nhất là trong điều kiện tuổi thọ trung bình ngày càng tăng, số NCT dần chiếm tỷ lệ cao trong xã hội Nên chăng, Nhà nước cần có những chính sách
hỗ trợ đối với các địa phương đang gặp khó khăn về kinh tế trong vấn đề hỗ trợ chi phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT
Thứ ba, về lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch
Thông tư số 127/2011/TT-BTC ngày 09/9/2011 của Bộ Tài chính quy định mức thu phí thăm quan di tích văn hóa, lịch sử, bảo tàng, danh lam thắng cảnh đối với NCT, trong đó quy định rõ mức thu phí bằng 50% mức phí hiện hành Tại Thông tư số 06/2012/TT-BVHTTDL ngày 14/5/2012 của Bộ Văn
Trang 29hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết việc hỗ trợ NCT tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, trong đó không chỉ quy định mức thu phí dịch
vụ mà còn yêu cầu các cơ quan, tổ chức, các cá nhân hỗ trợ, tạo điều kiện cho NCT tiếp cận các dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch Điều 3 Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ quy định rất rõ vai trò của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong việc đầu tư xây dựng, cải tạo cơ sở văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và rèn luyện sức khỏe của NCT
Thứ tư, về lĩnh vực giao thông công cộng
Việc đưa ra các quy định hỗ trợ NCT tham gia dịch vụ giao thông công cộng là góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống của NCT, tạo cơ hội để NCT tham gia các hoạt động cộng đồng, giảm bớt khó khăn về kinh tế trong việc chi trả phí di chuyển, đồng thời tạo điều kiện để NCT được bảo vệ
an toàn và bảo vệ sức khỏe trước nguy cơ tai nạn giao thông trong trường hợp
di chuyển bằng phương tiện cá nhân Do đó, cần tiếp tục được phát huy và nhân rộng trong cả nước
Thứ năm, về chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi
Luật Người cao tuổi năm 2009 đã đưa ra các nội dung về phát huy vai trò
NCT, trong đó quy định: Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để NCT phát huy trí tuệ, kinh nghiệm quý và phẩm chất tốt đẹp… Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam gia đoạn 2012 – 2020 Chương trình đã đưa ra các mục tiêu cụ thể, các chỉ tiêu cần đạt và các hoạt động cần thực hiện nhằm chăm sóc và phát huy tốt vai trò của NCT Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Quyết định số 544/QĐ-TTg ngày 25/4/2014 quy định hàng năm lấy tháng 10 là tháng hành động vì NCT
Trang 301.4 Phương thức thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Các quy phạm pháp luật liên quan đến NCT được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau Việc thực hiện đầy đủ các văn bản pháp luật này đòi hỏi có sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong
hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước Căn cứ vào tính chất và đặc điểm hoạt động thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT có thể chia hình thức thực hiện pháp luật về NCT bao gồm:
Tuân thủ pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Tuân thủ pháp luật về ASXH đối với NCT là một hình thức thực hiện pháp luật về NCT, trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật tự kiềm chế để không tiến hành những hoạt động mà những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm điều chỉnh những quan hệ pháp lý liên quan đến NCT ngăn cấm Thực tiễn cho thấy đang tồn tại khoảng hai mươi văn bản luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến NCT, những văn bản này quy định những biện pháp, giải pháp nhằm bảo vệ và bảo đảm quyền tiếp cận đối với NCT trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Tuân thủ pháp luật về ASXH đối với NCT vừa là hành vi không thực hiện những hành vi nguy hiểm đối với NCT mà còn thực hiện hành vi bắt buộc hoặc làm việc bắt buộc nào đó do pháp luật quy định nhằm đảm bảo về ASXH đối với NCT trong những điều kiện và hoàn cảnh mà các quy phạm pháp luật cụ thể đã dự liệu
Thi hành pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Điều này có nghĩa rằng những quy phạm pháp luật liên quan đến ASXH đối với NCT bao giờ cũng xác định trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia
quyền và lợi ích hợp pháp của NCT Trong một số trường hợp, nếu các chủ thể không thực hiện hành vi phù hợp sẽ bị các cơ quan chức năng của nhà
Trang 31nước thực hiện biện pháp cưỡng chế và việc thực hiện đó cũng chính là quá trình thi hành pháp luật về ASXH đối với NCT
Sử dụng pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Sử dụng pháp luật về ASXH đối với NCT là hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật sử dụng các quyền năng về mặt pháp lý, công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NCT Trong nội dung này bao hàm cả hoạt động mà bản thân NCT sử dụng các công cụ pháp lý nhằm bảo vệ chính bản thân mình Trong quá trình sử dụng pháp luật đối với NCT, biểu hiện là những hoạt động như sử dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền khởi kiện hoặc các quyền năng pháp lý khác nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của bản thân NCT
Quá trình sử dụng pháp luật phải bảo đảm tuân thủ pháp luật một cách tuyệt đối, bởi chính từ quá trình sử dụng pháp luật rất có thể dẫn tới hiện tượng vượt quá thẩm quyền hoặc không sử dụng đúng các quy định của pháp luật về ASXH đối với NCT
Áp dụng pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Áp dụng pháp luật về ASXH đối với NCT là một hình thức thực hiện
pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan trong bộ máy nhà nước hoặc đội ngũ cán bộ công chức có thẩm quyền do pháp luật quy định thực hiện hoạt động tổ chức cho các chủ thể khác nhau thực hiện những quy định
có liên quan đến NCT Tuy nhiên biểu hiện phổ biến của hoạt động áp dụng pháp luật là các cán bộ, công chức trong các cơ quan chức năng của nhà nước căn cứ vào các quy định hiện hành của nhà nước về ASXH đối với NCT để ra các quyết định pháp lý nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan
hệ pháp lý liên quan tới NCT
1.5 Yêu cầu của việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Trang 321.5.1 Yêu cầu của thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Thứ nhất, Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT cần thiết và trên
nguyên tắc căn cứ nội dung của các văn bản pháp lý hiện hành Hiện nay những vấn đề liên quan tới người khuyết tật có 20 mươi văn bản luật và khoảng gần 100 văn bản của các Bộ, Ngành hướng dẫn thi hành Thực tế trong nhiều văn bản, tính thống nhất và chặt chẽ chưa được bảo đảm, tuy nhiên không thể thực hiện pháp luật nếu không dựa trên cơ sở là những văn bản pháp lý quy định những vấn đề bảo đảm quyền tiếp cận của NCT trong
các lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, việc làm…
Thứ hai, Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT đòi hỏi sự phối
hợp của nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước bởi lĩnh vực NCT liên quan tới nhiều cơ quan khác nhau Việc chăm sóc sức khoẻ hoặc việc làm đối với NCT cần có sự phối kết hợp cả ngành Lao động - Thương binh và Xã
hội, Bộ Y tế
Đặt ra yêu cầu là cần thiết phải có sự tham gia của nhiều ngành trong việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT bởi thực tiễn những khó khăn của NCT rất phức tạp và cần thiết phải huy động nhiều nguồn lực của nhiều cấp chính quyền thì quá trình thực hiện chính sách mới đồng bộ trong phạm vi
cả nước và mới khả thi trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn như ở
nước ta hiện nay
Thứ ba, Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT được bảo đảm bởi
những nguyên tắc của quản lý nhà nước; công khai; minh bạch và bình đẳng
trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của nhà nước
Thực hiện chính sách đối với người cao tuổi bao gồm những chính sách tác động trực tiếp và những chính sách tác động gián tiếp Những chính sách gián tiếp phần lớn là những bảo đảm từ phía xã hội bảo đảm quyền tiếp cận
Trang 33đối với người cao tuổi Do điều kiện kinh tế xã hội của đất nước còn có sự chênh lệch giữa các vùng miền do vậy đòi hỏi của quá trình này cần phải có
sự thống nhất trong phạm vi toàn quốc
1.5.2 Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT
Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT là các
điều kiện để qui định pháp luật về NCT thành hiện thực Những yếu tố ấy bảo đảm và có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp tới kết quả thực hiện pháp luật
về ASXH đối với NCT và là cơ sở để xây dựng các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay
Để pháp luật về ASXH đối với NCT được thực hiện nghiêm chỉnh đáp ứng yêu cầu hoàn thiện chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn sắp tới cũng như trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần phải có các yếu tố bảo đảm như sau:
-Hoàn thiện quy định pháp luật về ASXH đối với NCT
Pháp luật là tiền đề, là cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Hệ thống pháp luật về ASXH đối với NCT là cơ sở pháp lý cho
cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có thẩm quyền tiến hành hoạt động bảo
vệ và bảo đảm quyền tiếp cận đời sống xã hội của NCT
Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước cho thấy nếu như hệ thống pháp luật về lĩnh vực nào đó không hoàn chỉnh thì không thể có hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước cũng như hoạt động thực hiện pháp luật
-Nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật
cụ thể
Để pháp luật về ASXH đối với NCT được thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hỏi các chủ thể pháp luật, đặc biệt với các chủ thể là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có thẩm quyền phải nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện pháp luật NCT
Trang 34Đối với mỗi cá nhân là NCT thì thấy rằng, nếu nhận thức của bản thân NCT, thành viên gia đình NCT không đầy đủ về vấn đề quyền hoặc trình tự thủ tục của những chính sách bảo trợ xã hội thì quá trình thực hiện pháp luật cũng không được bảo đảm
Nhận thức của xã hội cũng có nhiều vấn đề liên quan tới khả năng thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT Nếu xã hội chỉ nhìn nhận NCT là gánh nặng cho nhà nước và NCT không còn khả năng tham gia đời sống xã hội và còn có nhiều định kiến thì NCT không thể có cơ hội tham gia đời sống xã hội nữa Những nhận thức của xã hội liên quan tới các nhận thức về bảo đảm về
dân chủ, dân chủ và công bằng là điều kiện quan trọng để bảo đảm thực hiện
pháp luật trên thực tế Trong môi trường không có dân chủ, pháp luật rất dễ bị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích riêng của một hoặc một số người nhất định Vì vậy, phải đảm bảo dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mà quá trình này có sự tham gia của các tổ chức của NCT là quan trọng có ý nghĩa hàng đầu
-Hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức
trong hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT
Bộ máy nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT Khi có hệ thống pháp luật
chặt chẽ và hợp lý thì những nội dung của pháp luật không thể đi vào thực tiễn
là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện pháp luật, chỉ khi những người thực thi pháp luật thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ, hiểu biết về pháp luật, xử lý nghiêm minh, không bị sa ngã trước sự cám dỗ của đồng tiền, phẩm chất đạo đức trong sáng và tạo được niềm tin trước Đảng, Nhà
Trang 35nước và nhân dân thì hoạt động thực hiện pháp luật mới được bảo đảm
-Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình tổ chức thực hiện
pháp luật về ASXH đối với NCT
Thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT cũng như việc thực hiện pháp luật nói chung đòi hỏi phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là quan điểm, nguyên tắc đã được ghi nhận trong các nghị quyết của Đảng và đã được thể chế hoá tại Điều 4 Hiến pháp năm 1992 [29]
Các cấp uỷ Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT bằng việc quán triệt về mặt nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng
cơ quan, đơn vị, địa phương nào có sự quan tâm lãnh đạo đúng đắn của cấp
uỷ Đảng, việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT ở đó đạt hiệu quả tốt hơn
Tiểu kết Chương 1
Từ những công trình nghiên cứu được đề cập, có thể thấy rằng thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT cơ bản đã đề cập được những nội dung lý luận và thực tiễn về chính sách ASXH đối với NCT ở nước ta
Trong Chương 1, tác giả đã nêu lại các vấn đề về thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT; đã đề cập đến nội dung của pháp luật; các hình thức thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT; các yếu tố ảnh hưởng, các yêu cầu và điều kiện để thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT Đây là những cơ sở
lý luận quan trọng để tác giả phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với NCT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HUYỆN DẦU TIẾNG,
TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Dầu Tiếng
Quận Dầu Tiếng thuộc tỉnh Bình Dương, gồm 1 tổng Bình Thạnh Thượng; quận lỵ đặt tại xã Định Thành
Ngày 2 tháng 7 năm 1962, quận Dầu Tiếng đổi tên thành quận Trị Tâm Ngày 14 tháng 3 năm 1963, xã Bến Củi thuộc quận Khiêm Hanh, tỉnh Tây Ninh được sáp nhập vào quận Trị Tâm Tuy nhiên đến năm 1967, lại được trả
về cho quận Khiêm Hanh như cũ Sau năm 1975, quận Trị Tâm đổi thành huyện Dầu Tiếng
Tháng 2 năm 1976, 3 tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Long hợp nhất thành tỉnh Sông Bé, huyện Dầu Tiếng thuộc tỉnh Sông Bé Ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Dầu Tiếng sáp nhập vào huyện Bến Cát Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Bình Dương được tái lập từ tỉnh Sông Bé, huyện Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương Ngày 23 tháng 7 năm 1999, huyện Dầu Tiếng được tái lập từ huyện Bến Cát, gồm thị trấn Dầu Tiếng và 9 xã: Định Hiệp, Minh Hòa, Minh Tân, Minh Thạnh, Long Tân, An Lập, Thanh An, Thanh Tuyền, Long Hòa; trong đó 3 xã: Minh Hòa, Minh Tân, Minh Thạnh được chuyển từ huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước về huyện Bến Cát quản lý vào tháng 1 năm 1997 Đồng thời, thành lập xã Định An trên cơ sở 11.570 ha diện tích tự nhiên và 5.377 nhân khẩu của xã Định Hiệp
Ngày 10 tháng 12 năm 2003, thành lập xã Định Thành thuộc huyện Dầu Tiếng trên cơ sở 550 ha diện tích tự nhiên và 822 nhân khẩu của thị trấn Dầu Tiếng, 4.256 ha diện tích tự nhiên và 873 nhân khẩu của xã Định An, 555 ha
Trang 37diện tích tự nhiên và 1.004 nhân khẩu của xã Định Hiệp
Dầu Tiếng là một huyện phía bắc của tỉnh Bình Dương được tách ra từ huyện Bến Cát theo Nghị định số 58/1999/NĐ-CP, ngày 20/8/1999 của Chính phủ Cách trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương khoảng 50 km Phía bắc giáp huyện Bình Long (tỉnh Bình Phước), Phía Đông và Đông Nam giáp thị
xã Bến Cát (tỉnh Bình Dương), phía Tây Bắc và Tây Nam giáp huyện Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh), phía Nam giáp huyện Củ Chi (thành phố Hồ Chí
dân sống tại đô thị chiếm 20,6% và sống ở vùng nông thôn chiếm 79,4% Đơn
vị hành chính: 11 xã, 01 thị trấn với 89 ấp, khu phố
Đất đai Dầu Tiếng chủ yếu là đất xám nâu và đất xám phù hợp trồng các
hình gò đồi nhấp nhô, lượn thoải dần về phía Nam Phía Bắc có dãy Núi Cậu,
tổ hợp của 02 ngọn Núi Ông và Tha La Nằm trong khu vực nhiệt đới vùng Đông Nam Bộ, Dầu Tiếng có chung đặc điểm là nắng nóng và mưa nhiều Tuy nhiên, khí hậu ở đây tương đối ôn hòa, ít thiên tai, bão lụt
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bao thế hệ người dân Dầu Tiếng đã lên đường tòng quân chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, họ đã chiến đấu quên mình và anh dũng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần giải phóng đất nước nói chung và Dầu Tiếng nói riêng
Về phát triển kinh tế -xã hội:
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV, nhiệm
kỳ 2015-2020, đã đề ra các chỉ tiêu cụ thể trên các lĩnh vực, như: Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10%/năm, trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng 16%, thương mại - dịch vụ tăng 13% và nông nghiệp tăng 4% Cơ
Trang 38cấu kinh tế của huyện được xác định là Công nghiệp - xây dựng, Thương mại
- dịch vụ, Nông nghiệp với tỷ lệ tương ứng 36% - 34% - 30%; thu nhập bình quân đầu người đạt 55 - 60 triệu động/người/năm Phấn đấu 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới, huyện Dầu Tiếng được công nhận đạt chuẩn huyện nông thôn mới; tỷ lệ hộ sử dụng điện, sử dụng nước sạch đạt gần 100%; Về văn hóa xã hội: Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ tỷ lệ trường học đạt chuẩn Quốc gia chiếm 80-85%, giữ vững 100% xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt từ 70% trở lên, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế toàn huyện đạt từ 75% trở lên, 90% trở lên xã đạt tiêu chuẩn văn hóa nông thôn mới, cố gắng thực hiện mục tiêu đến năm 2020 số hộ nghèo toàn huyện theo tiêu chí của Tỉnh còn dưới 1%
Phấn đấu hằng năm có 85% trở lên tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh; kết nạp được 600 đảng viên mới trở lên Giữ vững Đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh, Chính quyền, đoàn thể vững mạnh đạt 90% trở lên; không có đơn vị yếu kém trong hệ thống chính trị
Trong giai đoạn này, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện tiếp tục nêu cao truyền thống cách mạng của địa phương, đoàn kết, nỗ lực, quyết tâm vượt qua thử thách, nhằm xây dựng thành công huyện nông thôn mới, đưa Dầu Tiếng trở thành một địa phương phát triển năng động và bền vững Trong hơn nửa nhiệm kỳ qua, huyện Dầu Tiếng đã tập trung triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV, đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển và an sinh xã hội của địa phương Đến cuối năm 2018, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn đạt trên 13.590 tỉ đồng, tăng 13,96% so cùng kỳ, đạt 100% so kế hoạch Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt gần 5.445 tỉ đồng, tăng 22% so cùng kỳ, đạt 100,1% so kế hoạch; giá trị thương mại - dịch vụ đạt trên 4.320 tỉ đồng, tăng 11,9% so cùng kỳ, đạt 100% so kế