1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

102 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, phải kể đến vai trò QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng tầm nhận thức của nhân dân

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Hồ Quang Huy - Giám

đốc Nhà xuất bản Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp, là người đã hướng dẫn tôi rất tận tâm, nhiệt tình và khoa học để tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này Bên

cạnh đó, Tiến sĩ Hồ Quang Huy luôn tạo điều kiện để tôi chủ động trình bày quan điểm, bày tỏ ý kiến và Tiến sĩ đưa ra những nhận xét, góp ý, dẫn dắt tôi

đi đúng hướng trong suốt thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô trong khoa Luật - Học viện Khoa học Xã hội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn của ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính trong suốt thời gian theo học nơi đây Từ đó, tôi có được nền tảng kiến thức hỗ trợ rất lớn cho quá trình thực hiện luận văn của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã luôn hỗ trợ, động viên tôi trong suốt những năm học tập và trong suốt quá trình nghiên cứu, viết luận văn này

Xin chân thành cảm ơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan mọi kết quả nghiên cứu của đề tài: “Quản lý Nhà nước

đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn Thành phố

Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu

tham khảo và nội dung trích dẫn đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác và trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác cho đến thời điểm hiện tại

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VĂN HÓA PHẨM Ở VIỆT NAM 101.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm 10 1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước, quản lý nhà nước đối với hoạt động

văn hóa, quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm 10 1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập

khẩu văn hoá phẩm 14 1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập

khẩu văn hoá phẩm 15 1.2 Nội dung, chủ thể, đối tượng và phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm 16 1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập

khẩu văn hóa phẩm 16 1.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

văn hóa phẩm 17 1.2.3 Đối tượng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập

khẩu văn hóa phẩm 18 1.2.4 Phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập

khẩu văn hóa phẩm 18

Trang 6

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu,

nhập khẩu văn hóa phẩm 20

1.3.1 Yếu tố chính trị 20

1.3.2 Yếu tố kinh tế thị trường 24

1.3.3 Yếu tố văn hóa - xã hội 24

1.3.4 Luật pháp và các chính sách có liên quan 25

1.3.5 Khoa học công nghệ 27

1.4 Khung pháp luật hiện hành về quản ý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh 27

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VĂN HÓA PHẨM TẠI TP.HCM 30

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm 31

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

2.1.2 Đặc điểm xã hội 31

2.1.3 Đặc điểm văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh 33

2.1.4 Tổng quan về hoạt động văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh 34

2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh 35

2.2.1 Về tổ chức bộ máy 35

2.2.2 Về chức năng, nhiệm vụ 36

Trang 7

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

văn hóa phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh 38

2.4 Kết quả thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh 40

2.4.1 Quy định về thẩm quyền cấp phép, giám định nội dung văn hóa phẩm trước khi xuất khẩu, nhập khẩu 40

2.4.2 Kết quả kiểm tra, giám định văn hóa phẩm xuất khẩu, nhập khẩu 42

2.5 Những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong việc thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh 49

2.5.1 Ưu điểm 49

2.5.2 Hạn chế 50

2.6 Nguyên nhân 53

2.6.1 Nguyên nhân khách quan 53

2.6.2 Nguyên nhân chủ quan 57

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VĂN HÓA PHẨM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 62

3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 62

3.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 64

Trang 8

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 66 3.3.1 Nhóm giải pháp về sửa đổi, bổ sung khuôn khổ chính sách, pháp

luật ………66 3.3.2 Nhóm giải pháp về xây dựng, củng cố, hoàn thiện bộ máy quản lý

nhà nước về xuất nhập khẩu văn hóa phẩm ở địa phương 68 3.3.3 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 69 KẾT LUẬN 72

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

BCH TW Ban chấp hành Trung ương BVH, TT & DL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch CTQG Chính trị Quốc gia

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Hình sao chụp Quyết định thành lập Phòng Kiểm tra Văn hóa phẩm

Xuất nhập khẩu 35

Hình 2.2 Hình ảnh bộ phim truyền hình Madam Secretary ghi chú địa danh Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam thành địa danh của Trung Quốc "Fuling, China" Phù Lăng, Trung Quốc 40

Hình 2.3 Hình ảnh bộ phim hoạt hình “Everest - Người tuyết bé nhỏ” xuất hiện hình ảnh đường lưỡi bò trong phim 40

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.4 Thống kê số liệu văn hóa phẩm được cấp phép năm 2015 42

Bảng 2.5 Thống kê số liệu văn hóa phẩm được cấp phép năm 2016 43

Bảng 2.6 Thống kê số liệu văn hóa phẩm được cấp phép năm 2017 44

Bảng 2.7 Thống kê số liệu văn hóa phẩm được cấp phép năm 2018 45

Bảng 2.8 Thống kê số liệu văn hóa phẩm được cấp phép năm 2019 47

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.9 Văn hóa phẩm được cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu 48

Biểu đồ 2.10 Văn hóa phẩm không được cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu 48

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giai đoạn bắt đầu đổi mới năm 1986, Đảng ta tiếp tục kế thừa, phát triển, mở rộng quan điểm về văn hóa của các giai đoạn trước và Đảng xác định văn hóa là nền tảng, động lực phát triển kinh tế - xã hội Tại Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Trên tinh thần đó, Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý để bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có sàng lọc các giá trị văn hóa thế giới, coi trọng chính sách đầu tư văn hóa, đầu tư cho con người; khuyến khích

và tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động văn hóa ngày càng nhiều hơn

Quá trình phát triển và hội nhập thế giới ngày càng sâu rộng, bên cạnh việc tiếp thu những giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại, Việt Nam cũng phải đối mặt với những sản phẩm văn hóa “xấu” len lỏi vào đời sống xã hội, làm mất đi hoặc xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tác động bằng nhiều hình thức, nhiều con đường xâm nhập khác nhau, có nguy cơ làm cho môi trường văn hoá lành mạnh bị phai nhạt, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tư tưởng chính trị của các tầng lớp nhân dân, đe dọa đến an ninh, an toàn xã hội và thế hệ mai sau Thời gian qua, có nhiều loại sản phẩm văn hoá độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều hình thức như: băng, đĩa, thiết bị lưu trữ dữ liệu, sách, báo… có nội dung kích động gây hận thù dân tộc; xuyên tạc lịch sử; tuyên truyền mê tín dị đoan; vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam Các sản phẩm này không chỉ tác động xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của các tầng lớp nhân dân, làm ảnh hưởng đến những giá trị đạo đức tốt đẹp truyền thống dân tộc, tạo cơ hội, điều

Trang 12

kiện cho cái xấu, cái ác, phi nhân tính ăn mòn, hủy hoại những giá trị nhân văn

QLNN là một lĩnh vực công tác hết sức quan trọng, có tác động to lớn tới sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia nói chung và của một địa phương nói riêng Ngày 09 tháng 6 năm 2014, Tổng Bí thư Nguyễn

Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về “Xây dựng

và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, vai trò QLNN về văn hóa ngày càng được đề cao trong việc

quản lý và phát triển văn hóa từ trung ương đến địa phương, góp phần tích cực vào việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong

đó, phải kể đến vai trò QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng tầm nhận thức của nhân dân, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài có chọn lọc; ngặn chặn sự xâm nhập của văn hóa độc hại, gây ảnh hưởng xấu đến qúa trình phát triển của đất nước Công tác QLNN đối với hoạt động xuất nhập khẩu văn hóa phẩm đã không ngừng được đổi mới, tăng cường chất lượng, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế, bất cập so với tình hình phát triển mạnh

mẽ như hiện nay

Thực trạng công tác QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, cụ thể là trên địa bàn TP.HCM đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách trong tình hình hiện nay như: Vấn đề QLNN về văn hóa trong giai đoạn hội nhập, đầu tư nguồn nhân lực, hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, kinh phí hoạt động v.v… còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn Việc nghiên cứu, đánh giá công tác QLNN đối với hoạt động xuất nhập khẩu văn hóa phẩm nhằm đề xuất các giải pháp QLNN hiệu quả hơn, là một nhiệm vụ cấp bách đặt ra đối với các cơ quan QLNN trong giai đoạn hiện

Trang 13

nay Từ những yêu cầu thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài “QLNN đối với

hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sĩ Luật học, ngành Luật hiến pháp và Luật

Hành chính của mình

Trang 14

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

QLNN đối với hoạt động văn hóa là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, điển hình là một số công trình nghiên cứu liên quan như:

- Phan Hoàng Giang và Bùi Hoài Sơn, (2014), Quản lý văn hóa trong

tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb CTQG, Hà Nội Nội dung giới

thiệu những quan điểm chung về quản lý văn hóa trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; giới thiệu kinh nghiệm quản lý văn hóa của một số quốc gia trên thế giới; đánh giá thực trạng quản lý văn hóa ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986); đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế

- Song Thành, (2010), “Hồ Chí Minh - nhà văn hóa kiệt xuất”, Nxb

CTQG, Hà Nội Nội dung sách chủ yếu nêu lên tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Cuốn sách đã nêu rõ nguồn gốc tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh từ khía cạch văn hóa phương Đông với sự tiếp thu những mặt tích cực của Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và văn hóa phương Tây mà điển hình là văn hóa Pháp: Tự

do - Bình đẳng - Bác ái Những tư tưởng đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hình thành tư tưởng của Bác về văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa mới ở Việt Nam Đó là: văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa ứng

xử, văn hóa ngoại giao…

- Trần Quốc Vượng, (2003), Văn hoá Việt Nam - Tìm tòi và suy

ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội Nội dung cuốn sách là tài liệu có giá trị giúp

cho bạn đọc nhìn nhận được giá trị của nền văn hóa của dân tộc Việt Nam sâu sắc và thiết thực hơn

- Phan Văn Tú, Nguyễn Văn Hy, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền,

Trần Thị Diên (1998), Quản lý hoạt động văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin,

Trang 15

Hà Nội Nhóm tác giả đã nêu những vấn đề chủ yếu về quản lý như: Chính sách quản lý, hoạt động văn hóa, nội dung quản lý hoạt động văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay

- Nguyễn Văn Tình (2009), Chính sách văn hóa trên thế giới và việc

hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

Nội dung sách đề cập đến những khái niệm về văn hóa, quản lý và quản lý văn hóa, giới thiệu những chính sách về văn hóa của các quốc gia trên thế giới, tình hình xây dựng và hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam

- Đỗ Huy, (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển

nền văn hoá mới Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Nội dung sách

trình bày các tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền văn hóa mới Việt Nam từ những định hướng cơ bản đến các tư tưởng cụ thể về văn hóa: văn hóa giáo dục, đạo đức, văn hóa pháp luật, nghệ thuật

Một số tài liệu nghiên cứu liên quan đến hoạt động QLNN trên lĩnh vực văn hóa như:

- Hồ Sĩ Quý (2008), Về phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người, Tạp chí Triết học, (số 8), tr 207 Nội dung bài viết đề cập và gợi mở nhiều vấn đề liên quan đến phương pháp luận nói chung, phương pháp luận nghiên cứu văn hoá và con người nói riêng Cụ thể là, tác giả đã đưa ra những

ý kiến trao đổi xoay quanh hệ vấn đề: khái niệm phương pháp luận, phương pháp luận nghiên cứu văn hoá, phương pháp luận nghiên cứu con người, phương pháp luận nghiên cứu phức hợp, phương pháp luận về khái niệm người Việt, phương pháp luận về tính cách dân tộc nhằm góp phần vào việc

nghiên cứu văn hoá và con người một cách đầy đủ hơn

- Lê Ngọc Anh (2007), Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, Tạp chí Triết học, (số 9), tr 196 Tác giả nêu quan điểm phát triển văn hoá là cần phải xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách

Trang 16

con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng

và phát triển lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam; đồng thời gắn kết chặt chẽ chiến lược phát triển văn hoá với chiến lược phát triển kinh tế, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với việc phát triển mạnh và không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá

- Vũ Thị Phương Hậu (2008): QLNN trên lĩnh vực văn hóa những vấn

đề lý luận và thực tiễn, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội Tác giả đã đề

cập đến những vấn đề lý luận mà thực tiễn đặt ra, đồng thời cũng chỉ ra những mặt yếu kém trong công tác QLNN và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác QLNN

Các công trình, đề tài nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo có giá trị thiết thực cho tác giả kế thừa trong việc nghiên cứu xây dựng đề tài của mình Mục tiêu chung của việc nghiên cứu các hoạt động văn hóa là nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân nhằm xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiến bộ, mang tính chất đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc Đó là phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức và nâng cao tri thức dân tộc Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Từ

đó cho thấy, đề tài “QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa

phẩm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” trong giai đoạn hiện nay là một

hướng nghiên cứu mới Kết quả nghiên cứu của đề tài là hệ thống các cơ sở khoa học, giải pháp khả thi có thể vận dụng vào thực tiễn tại địa phương phù hợp trong tình hình mới hiện nay

Trang 17

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn TP.HCM, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công tác QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng trên địa bàn TP.HCM, luận văn đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao công tác QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

- Đánh giá thực trạng công tác QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn tại TP.HCM

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật, hệ thống thể chế, chính sách, cơ chế tổ chức và hoạt động của các cơ quan QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Cụ thể là tập trung vào công tác QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn TP.HCM

Trang 18

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn gồm: phân tích tài liệu, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn tình hình xuất nhập khẩu văn hóa phẩm trên địa bàn TP.HCM

Trang 19

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, luận văn xác định rõ những nhân tố ảnh hưởng, tác động, làm rõ ý nghĩa và góp phần hệ thống hóa các quy định của pháp luật về QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Từ đó, xác định rõ tầm quan trọng của công tác QLNN về văn hóa nói chung trong giai đoạn hội nhập, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong tình hình hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Phân tích, đánh giá ưu điểm, nhược điểm trong công tác QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn tại địa TP.HCM

- Trên cơ sở nhận diện thực trạng QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tại TP.HCM, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động xuất nhập khẩu văn hóa phẩm với những năm tiếp theo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm

Trang 20

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VĂN HÓA PHẨM Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

1.1.1 Khái niệm QLNN, QLNN đối với hoạt động văn hóa, QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

1.1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Hoạt động QLNN xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước QLNN

về bản chất là quản lý toàn bộ hoạt động của xã hội, mặc dù nội hàm của QLNN thay đổi ít nhiều khác nhau phụ thuộc vào chế độ chính trị, đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử QLNN bao gồm 3 chức năng [1]:

- Chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện;

- Chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm;

- Chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện

Mô hình QLNN trong mỗi quốc gia đều có nhiều chủ thể tham gia quản

lý xã hội như: các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế…, QLNN có những điểm khác biệt so với quản lý của các tổ chức khác như sau:

- Chủ thể QLNN là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền như: cơ quan lập pháp; cơ quan hành pháp; cơ quan tư pháp;

- Đối tượng của QLNN là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia;

Trang 21

- QLNN là quản lý toàn diện mọi mặt của của đời sống xã hội: chính trị; an ninh, quốc phòng, ngoại giao; kinh tế; văn hóa; xã hội…;

- QLNN mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ bằng pháp luật, chính sách để quản lý xã hội

Tất cả các yếu tố QLNN nêu trên nhằm mục tiêu là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội theo một trật tự nhất định mà nhà nước đó đề ra QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, do các công chức

và cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì

sự ổn định và phát triển của xã hội [17, tr.3]

1.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa

Nói về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng

như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật; Những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ấy tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự

sinh tồn” [2, tr 431] Điều đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành mối

quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam và Bác đã có những quyết sách, chủ trương hành động đúng đắn, khơi dậy được sức mạnh của toàn dân, tạo điểm tựa tinh thần để cùng nhân dân làm nên

những chiến công trong lịch sử dân tộc

Theo định nghĩa của Tổng thư ký UNESCO thì văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành

Trang 22

nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [3, tr.29] Tóm lại, văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn

Tiếp thu quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết, Đảng ta cũng khẳng định những giá trị trường tồn

và sức mạnh to lớn của văn hóa Đó là: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng

nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Vǎn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [4] Đây là biểu hiện của sự kế thừa, tiếp thu và

bổ sung tinh thần, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa trong điều kiện, tình hình hiện nay

Từ công tác quản lý, có thể nhận thấy hai yếu tố cốt lõi khi đề cập tới khái niệm văn hóa là: giá trị văn hóa và hoạt động văn hóa:

- Giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh

và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người Đảng ta rất đề cao giá trị văn hóa và xuyên suốt trong mỗi thời kỳ, gần đây tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) của Đảng đã xác định:

"Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật";

Ví dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: "Dân ta có một lòng nồng nàn

yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ

Trang 23

quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [5] Chính vì vậy, tinh thần yêu nước đã

thấm sâu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác cho dù chúng có hùng mạnh đến đâu, đó là một giá trị truyền thống cơ bản của dân tộc ta Ngày nay, giá trị văn hóa đặt trong bối cảnh của tình hình quốc tế và trong nước ở thời kỷ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Cụ thể, thời gian vừa qua, xảy

ra dịch bệnh được xác định từ ngày 23 tháng 01 năm 2020 (thời điểm xác định trường hợp đầu tiên mắc ca bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra) Từ đây, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại bước

vào “cuộc chiến đấu trong thời bình” Cuộc chiến phòng, chống dịch

Covid-19 với tư tưởng chỉ đạo và phương châm hành động là “Chống dịch như

chống giặc” Một lần nữa, truyền thống đó lại được khơi dậy trong nhân dân

bằng việc chấp hành nghiêm túc mọi yêu cầu từ Chính phủ và chung tay cùng nhau chống dịch Covid-19;

- QLNN đối với hoạt động văn hóa là sự tác động của Nhà nước đến đời sống văn hóa thông qua việc tổ chức, quản lý mọi hoạt động văn hóa nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển văn hóa trong quá trình xây dựng CNXH, đảm bảo sự phát triển của văn hóa theo đúng định hướng của Đảng và

Nhà nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân;

- QLNN đối với hoạt động văn hoá bao gồm toàn bộ hoạt động văn

hóa và thông tin, toàn bộ nền văn hóa quốc gia (văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và những hoạt động của con người liên quan đến văn hóa) bằng quyền lực của nhà nước, thông qua hiến pháp, pháp luật và các cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa

Trang 24

1.1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 32/2012/NĐ-CP về quản lý xuất, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh như sau:

Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh (sau đây gọi là xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm): là hoạt động đưa từ Việt Nam ra nước ngoài, đưa từ nước ngoài vào Việt Nam qua cửa khẩu, mạng internet hoặc các hình thức khác đối với văn hóa phẩm để sử dụng riêng, biếu, tặng, thừa kế, triển lãm, dự thi, hợp tác trao đổi, hội thảo, liên hoan, viện trợ, phổ biến hoặc các mục đích khác không mang tính thương

mại thu lợi nhuận

1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm

QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm có những đặc điểm sau:

- Chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Bảo đảm dân chủ cho hoạt động sáng tạo, phát triển các sản phẩm

văn hóa

- Bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và bảo đảm

tính đa dạng của sản phẩm văn hóa

- Kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc với mở rộng giao lưu

- Tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài làm giàu đẹp thêm nền văn hóa

Việt Nam, ngăn chặn chống sự xâm nhập của văn hóa phẩm xấu

- Góp phần xã hội hóa các hoạt động văn hóa và chống xu hướng thương mại hóa hoạt động văn hóa

Trang 25

1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm

Điều 60 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) đề ra mục tiêu: xây dựng

nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Và với quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hôi, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính

Trang 26

- Bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc, đây là vai trò rất quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu văn hóa phẩm Thông qua hoạt động xuất khẩu, một lượng lớn văn hóa phẩm đã được đưa ra nước ngoài, giới thiệu những hình ảnh, con người, văn hóa và những thành tựu trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước

- Chọn lọc tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật của thế giới du nhập

vào Việt Nam nhằm phục vụ nhu cầu cho các cá nhân, tổ chức: Nghiên cứu, học tập, giải trí… góp phần nâng cao dân trí, trình độ cho mọi tầng lớp nhân

dân, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2 Nội dung, chủ thể, đối tượng và phương thức quản lý nhà nước

đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

Nội dung QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh được thực hiện theo Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ Theo đó, cơ quan QLNN về văn hóa, thể thao và du lịch giám định, kiểm tra văn hóa phẩm trước khi xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm:

- Các loại phim của các cơ quan, tổ chức hoặc phim hợp tác cung cấp dịch vụ làm phim cho nước ngoài chưa được công bố, phổ biến;

- Các bản ghi âm, ghi hình nghệ thuật biểu diễn;

- Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tranh, nhiếp ảnh;

- Di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia, DSVH vật thể và các sản phẩm liên quan đến DSVH phi vật thể

- Tổ chức giám định văn hóa phẩm theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức

và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm;

Trang 27

- Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan thực hiện việc kiểm tra, thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm về xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm theo thẩm quyền

- Và một số nội dung liên quan khác

Nghị định này không điều chỉnh việc quản lý xuất khẩu, nhập khẩu xuất bản phẩm, báo, tạp chí không nhằm mục đích kinh doanh Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu xuất bản phẩm, báo, tạp chí thực hiện theo quy định của pháp luật về báo chí và xuất bản.

1.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

Chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước về quản lý văn hoá, trong đó đứng đầu là BVH, TT & DL (Phòng Quản lý xuất nhập khẩu văn hoá phẩm thuộc Văn phòng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch )

Ở địa phương là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan văn hóa, thể thao và

du lịch do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch uỷ quyền làm thủ tục đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Chủ thể QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

là các cá nhân, tổ chức trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm và có một quyền lực nhất định (tính mệnh lệnh đơn phương) buộc các đối tượng quản lý phải tuân thủ các quy định do mình đề ra nhằm đạt được những mục tiêu đã định

Chủ thể QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm mang tính quyền lực nhà nước với thẩm quyền nhất định Thẩm quyền được thực hiện thông qua các quyết định quản lý (cấp phép nhập khẩu văn hóa

Trang 28

phẩm; cấp phép xuất khẩu văn hóa phẩm); các văn bản hành chính (thông báo, hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách)

1.2.3 Đối tượng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

Đối tượng của QLNN về xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm hay khách thể quản lý là các quá trình của xã hội, các hành vi hoạt động của con người, là trật tự quản lý mà chủ thể quản lý bằng sự tác động lên khách thể quản lý thông qua các phương pháp quản lý và công cụ quản lý nhất định nhằm thiết lập được những mục tiêu đã đề ra

Khách thể của QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm là những hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu văn hoá, những hoạt động giao lưu văn hoá dưới hình thức sản phẩm văn hóa, các sản phẩm văn hóa rất

đa dạng, nhiều chủng loại, bao gồm: Các bản ghi âm, ghi hình; các loại phim, băng từ, đĩa mềm, đĩa cứng, đĩa quang đã ghi nội dung; các sản phẩm công nghệ nghe nhìn khác đã ghi thông tin ở dạng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh; tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tranh, nhiếp ảnh; DSVH vật thể

và các sản phẩm liên quan đến DSVH phi vật thể Chúng liên tục vận động, biến đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau

Chủ thể quản lý và khách thể quản lý có tính tách biệt tương đối, có mâu thuẫn với nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

1.2.4 Phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

Phương pháp QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm là cách thức tác động của chủ thể quản lý (Nhà nước) lên đối tượng quản lý của Nhà nước trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước nhằm đạt được những mục tiêu đã định trước Theo cách tiếp cận đó, phương pháp quản lý hành chính nhà nước

Trang 29

là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết [7, tr.75]

QLNN đối với hoạt động xuất nhập khẩu văn hoá phẩm được thực hiện qua các phương pháp như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về văn hoá phẩm xuất nhập khẩu và các hoạt động khác mang tính khuôn khổ pháp lý để điều chỉnh các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đối với văn hóa phẩm của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Các phương pháp này được pháp luật quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng

Ví dụ: Đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia khi xuất khẩu phải được

BVH, TT & DL cấp phép Còn trường hợp nhập khẩu thì Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp phép nhập khẩu nếu sử dụng ở địa phương

Cụ thể hơn, các phương pháp QLNN có thể sử dụng trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm bao gồm phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế, phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế, trong đó:

- Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý về văn hoá phẩm xuất nhập khẩu hiểu và tự giác chấp hành những nội dung pháp luật cho phép trong hoạt động của mình

Ví dụ: Trường hợp cá nhân, tổ chức khi tham gia hoạt động xuất khẩu,

nhập khẩu văn hóa phẩm có một phần nội dung vi phạm mà có thể khắc phục bằng cách xóa một phần nội dung vi phạm đó Người có thẩm quyền QLNN

sẽ tiến hành thuyết phục cá nhân, tổ chức xóa phần vi phạm để được cấp phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với văn hóa phẩm đó Đây cũng là việc làm hợp lý, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, hữu nghị và nhân văn

Trang 30

- Cưỡng chế là việc cơ quan nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, người có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước bắt buộc

cá nhân, tổ chức trong những trường hợp pháp luật quy định phải thực hiện theo hoặc không được thực hiện những hành vi văn hoá nào đó trong hoạt động của mình theo pháp luật quy định

Ví dụ: Tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày

12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định về văn hóa phẩm cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu: có nội dung chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân Nếu cá nhân, tổ chức có văn hóa phẩm vi phạm tại điều này, thì người có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức trong trường hợp này phải chấp hành pháp luật

- Phương pháp hành chính hay phương pháp kinh tế là phương thức tác động trực tiếp tới cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định, nghĩa vụ phải thi hành hoặc tác động đến việc tham gia hoạt động của chủ thể nhằm hạn chế hoặc điều phối hoạt động đó

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm

Đề cập các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm là nói đến mối liên hệ, vai trò và sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến QLNN đối với hoạt động văn hóa nói chung và QLNN về xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm nói riêng Nhận diện đúng và đầy đủ các yếu tố này là cơ sở để điều chỉnh, quản lý tốt các mối quan hệ trong hoạt động QLNN về văn hóa, tạo điều kiện hoàn thiện, phát triển, giao lưu văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập như hiện nay

1.3.1 Yếu tố chính trị

Trang 31

Hệ thống chính trị ở nước ta là sự phản ánh cơ chế thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động Hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Nhà nước

và các đoàn thể chính trị - xã hội Các quyết sách chính trị của Đảng là cơ sở chính trị, định hướng cho hoạt động QLNN, nên hoạt động QLNN mang tính chính trị sâu sắc, gắn bó chặt chẽ với chính trị

Các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng làm cơ sở cho hoạt động QLNN về văn hóa nói chung như:

- Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khoá VI (1987) về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên

một bước mới đã xác định: “Văn hóa là bộ phận trọng yếu của cách mạng tư

tưởng và văn hóa là một động lực mạnh mẽ, đồng thời là mục tiêu lớn trong

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng khóa VII (1993) đã

xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự

phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH TW Đảng khóa VIII (1998)

tiếp tục khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục

tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ( ) Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển” [8, tr 55]

- Kết luận Hội nghị lần thứ mười BCH TW Đảng khoá IX (2004) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đã xác lập vị trí của văn

Trang 32

hóa là một trong ba bộ phận hợp thành sự phát triển bền vững và toàn diện

của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh phải: “Tiếp tục xây

dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại ” [9, tr 39]

- Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong giai đoạn phát triển của đất nước, giai đoạn chủ động và tích

cực hội nhập quốc tế như sau: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù

hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với lĩnh vực văn hóa” [10]

Những chủ thể hoạt động trong bộ máy QLNN về văn hóa, trong đó có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm là những cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước, và những cá nhân, tổ chức ngoài khu vực nhà nước tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, cùng tham gia vào quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Các chủ thể quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm chịu sự điều chỉnh, chi phối bởi các yếu tố quyền lực chính trị Bản thân các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước họ đều chịu sự chi phối của đảng, của các quyết sách chính trị Với các chủ thể ngoài khu vực nhà nước, tham gia vào việc hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm thì bản thân họ phải là

Trang 33

những người chấp hành đúng mọi chủ trương của đảng, pháp luật của nhà

nước, như vậy họ cũng chịu ảnh hưởng bởi các thiết chế chính trị

Dựa trên các quyết sách chính trị đó, để đưa các mục tiêu chính trị của Đảng vào cuộc sống, Sở Văn hóa và Thể thao tổ chức quán triệt đến cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân Triển khai thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhờ vậy, việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật tạo nên sự chuyển biến tích cực trong hoạt động QLNN, định hướng XHCN, với mục tiêu của Đảng là: công khai, minh bạch, dân chủ và là cơ sở

để xây dựng các quy định, hành lang pháp lý về văn hóa

Trang 34

1.3.2 Yếu tố kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường chi phối mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội,

là xu thế chung của thời đại trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

dựa trên cơ sở sự hợp tác của các bên tham gia và cùng có lợi

Do trước đây, cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp, chính sách quản lý đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm chủ yếu do nhà nước thực hiện chức năng quản lý, đầu tư và phát triển (Nghị định số 100/1966/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 1966 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý

xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm - Hết hiệu lực năm 2002) Đại hội VI của

Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Từ đó nền kinh tế đất nước chuyển sang thể chế kinh tế thị trường, sự vận hành của nền kinh tế chịu tác động đáng kể của những quy luật thị trường Vì thế, đặt ra yêu cầu việc hoạch định các chính sách quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm phải phù hợp các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, xây dựng và hoàn thiện các chức năng quản lý nhằm thúc đẩy sự phát triển văn hóa theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng đã đề ra, phù hợp thể chế chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong tiến trình hội nhập, ngăn chặn sự xâm nhập và bài trừ những sản phẩm văn hóa có

nội dung độc hại góp phần thúc đẩy phát triển đất nước toàn diện

1.3.3 Yếu tố văn hóa - xã hội

Với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

là mục đích của Việt Nam ta Trước hết, cần khơi dậy một văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sẽ là nhân tố và điều kiện thúc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, sáng tạo, trách nhiệm xã hội,

ý thức chấp hành pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc trước

Trang 35

xã hội và đất nước Trên tinh thần đó, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số

33/NQ-TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 Hội nghị lần thứ Chín BCH TW Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu

cầu phát triển bền vững đất nước đã nêu rõ mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa

và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”

Để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết số 33/NQ-TW đề ra, cần đổi mới mạnh mẽ và triệt để nhận thức, tư duy về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tư duy mới về các vấn đề phát triển của nhân loại và có thái độ cầu thị, lắng nghe với phương châm: Học mọi cái khôn, cái tốt của nhân loại để dựng

xây và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập ngày nay

1.3.4 Luật pháp và các chính sách có liên quan

Luật pháp là công cụ hiệu quả nhất để Nhà nước quản lý và điều hành

xã hội Hệ thống chính sách, pháp luật có tác động điều chỉnh các hoạt động văn hóa, trong đó có hoạt động QLNN về xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, ban hành quy chế hoạt động, xây dựng cơ chế quản lý, lực lượng quản lý, xử lý, đầu tư chính sách phát triển về các hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm nói riêng với việc thực hiện các chính sách lĩnh vực văn

hóa

Nhà nước ta đang áp dụng một số chính sách quan trọng đối với hoạt động QLNN về văn hóa hiện nay Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa, phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân Những chính sách này có ảnh hưởng tích cực đến định hướng, mang lại hiệu quả cao nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN về hoạt

Trang 36

động xuất nhập khẩu văn hóa phẩm trong thời kỳ hội nhập Chính sách Nhà

nước về văn hoá thể hiện trong các luật và các chương trình mục tiêu, chiến

lược phát triển văn hoá Cụ thể như:

- Một số luật về văn hoá: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Di sản văn hoá, Luật Xuất bản, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Quảng cáo v.v…

- Một số chương trình mục tiêu, chiến lược phát triển văn hoá: chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012-2015; Chương trình mục tiêu bảo tồn và tôn tạo di tích danh thắng; chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở; chương trình xoá đói giảm nghèo v.v…

Mục đích của các chính sách đó là: thống nhất quản lý và xây dựng cơ chế phát triển sự nghiệp văn hoá; quy định các biện pháp để bảo tồn, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hoá, khuyến khích phát triển tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật Chống việc truyền bá tư tưởng và sản phẩm văn hoá độc hại, bài trừ mê tín,

hủ tục; không ngừng xây dựng nếp sống văn minh trong xã hội Chính sách về văn hóa được ghi trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 tại các Điều sau:

- Điều 18, khoản 2 Nhà nước CHXHCN Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước

- Điều 41 Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa

- Điều 60 Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa

nhân loại [11]

Trang 37

1.3.5 Khoa học công nghệ

Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng

Chính phủ đã xác định: “Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho

phát triển bền vững đất nước” Khoa học công nghệ hỗ trợ cho công tác quản

lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm như: Giám định văn hóa phẩm công nghệ mới, cải cách thủ tục hành chính, cấp phép xuất nhập khẩu

qua mạng, đào tạo, bồi dưỡng lực lượng chuyên môn quản lý Vì vậy, lực

lượng cán bộ giám định phải tự trao dồi, tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn công tác và khả năng sử dụng các thiết bị công nghệ, đáp ứng được yêu cầu của công việc ngày càng chuyên nghiệp trong giai đoạn phát triển và hội nhập Khoa học công nghệ càng phát triển càng đòi hỏi đội ngũ quản lý phải nâng cao năng lực và kỹ năng, chất lượng đội ngũ quản lý phải được nâng cao xứng tầm với yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay

1.4 Khung pháp luật hiện hành về quản ý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh

- Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh

- Thông tư số 07/2012/TT-BVHTTDL ngày 16 tháng 7 năm 2012 của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc hướng dẫn Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh

- Thông tư số 22/2018/TT-BVHTTDL ngày 29 tháng 6 năm 2018 của BVH, TT & DL sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2012/TT-BVHTTDL ngày 16 tháng 7 năm 2012 của Bộ trưởng BVH, TT & DL hướng dẫn Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ

Trang 38

về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh

- Thông tư số 28/2014/TT- BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2014quy định về quản lý hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thuộc diện quản lý chuyên ngành văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

- Thông tư 26/2018/TT-BVHTTDL sửa đổi Thông tư BVHTTDL quy định về quản lý hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thuộc diện quản lý chuyên ngành văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

28/2014/TT Thông tư số 260/2016/TT28/2014/TT BTC ngày 14 tháng 11 năm 2016 quy định

về mức thu, chế độ thu, quản lý và sử dụng phí thẩm định nội dung văn hóa phẩm xuất khẩu, nhập khẩu

Ngoài ra, một số văn bản pháp luật cơ bản liên quan như:

- Luật di sản văn hóa 2001 (Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001)

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa 2009 (Luật số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001)

- Luật điện ảnh 2006 (Luật Điện ảnh số 62/2006/QH11 ngày 29 tháng

Trang 39

- Nghị định số 54/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 05 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật điện ảnh số 62/2006/QH11 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật điện ảnh số 31/2009/QH12

- Nghị định số 76/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

- Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao,

du lịch và quảng cáo

- Nghị định 28/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 03 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và nghị định số 158/2013/ND0-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy đỊnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Với những nội dung đã trình bày, tác giả đề cập những khái niệm căn bản liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Qua phân tích cơ sở lý luận về công tác QLNN lĩnh vực văn hóa, trong đó tập trung nội dung QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, tác giả trình bày chi tiết, dẫn chứng minh họa, phân tích và tham chiếu để làm nổi bật các vấn đề lý luận liên quan, làm rõ một số đặc điểm, nội dung trong QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm của ngành văn hóa cấp tỉnh; nêu một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Những vấn đề lý luận này là căn cứ, tiền đề cho việc tham chiếu với thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tại TP.HCM Qua đó, lấy thực tiễn để minh họa, làm sáng tỏ các nội hàm của

lý luận, đồng thời từ việc rút ra kết luận để có cơ sở để điều chỉnh thực tiễn, hướng đến xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển, định hướng trong tiến trình hội nhập, ngăn chặn sự xâm nhập và bài trừ những sản phẩm văn hóa có nội dung xấu, góp phần thúc đẩy phát triển đất nước, tạo tiền đề để đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm từ thực tiễn TP.HCM trong thời gian tới

Ngày đăng: 14/12/2020, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w