Như vậy, giải pháp này nhiều chuyên gia cho rằng tính bỏ ngỏ của CƯ là vô cùng hợp lý và thuyết phục, bởi các lý do sau: i mỗi quốc gia có truyền thống và nhận thức pháp luật nói chung,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUY ỄN THỊ NGỌC THỦY
CÔNG NH ẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUY ỄN THỊ NGỌC THỦY
CÔNG NH ẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3Ngoài ra tác giả cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ts Luật sư Nguyễn Thị Kim Vinh, Ts Dương Quỳnh Hoa và các anh, chị, em ở Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa kinh tế TP.Hồ Chí Minh, Tạp chí Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả bổ sung hoàn thiện luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả nên không thể tránh được những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được tốt hơn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn thạc sỹ Luật học “Công nhận và cho thi hành Phán quyết nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” của tôi là hoàn toàn trung thực, các thông tin, tài liệu trình bày
trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS TRẦN ĐÌNH HẢO - Học viện Khoa học xã hội
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài 5 1.2 Khái niệm công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng Tài nước ngoài 10 1.3 Cơ sở pháp luật về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài 11 1.4 Nguyên tắc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài 14 1.5 Thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài 16
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI 22
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết Trọng tài nước ngoài 22
2.1.1 Đối với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 26 2.1.2 Đối với Luật Trọng tài thương mại năm 2010 31
2.2 Thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam 42 2.3 Đánh giá chung 55
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI 59
3.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt nam phán quyết của trọng tài nước ngoài 59
3.1.1 Quan điểm về góc nhìn thực tiễn 59 3.1.2 Về hướng dẫn xây dựng pháp luật 63
Trang 6và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài 68 3.2.4 Hoàn thiện các quy định Luật Trọng tài thương mại liên quan đến thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài thương mại nước ngoài 70
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi về công nhận và cho thi hành phán
quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
3.3.1 Nâng cao nhận thức, phổ biến về tư pháp quốc tế và các điều ước quốc
tế liên quan đến giải quyết tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài và đầu tư nước ngoài mà Việt Nam đã ký kết và tham gia 70 3.3.2 Giải pháp tăng cường vai trò của Tòa án trong việc hỗ trợ hoạt động của trọng tài 71
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
LTTTM : Luật Trọng tài Thương mại
CƯ 1958 : Công ước New York năm 1958
HĐTPTANDTC :Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
PQTTNN : Phán quyết trọng tài nước ngoài
Trang 8
8
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 20 năm qua Việt Nam đã tham gia Công ước New York năm 1958 (CƯ 1958) về Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (PQTTNN) Tuy nhiên, PQTTNN được công nhận chưa nhiều bởi trong hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp PQTTNN phát sinh từ hoạt động thương mại toàn cầu còn được phát luật Việt Nam qui định ở Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trên thực tế, Tòa án và trọng tài thương mại đều là những hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Thủ tục của hai cơ quan này đều dựa trên những nguyên tắc chung như tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, đảm bảo
sự độc lập của người tài phán
Việc các giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài là cách giải quyết tranh chấp đã xuất hiện từ rất lâu và hiện nay cách giải quyết bằng trọng tài đang được các thương nhân, doanh nghiệp trên thế giới ưa chuộng giải quyết tranh chấp thay vì tòa án
Chính vì vậy, Công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề mà các nhà đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, đối với thủ tục công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn còn tồn tại những điểm
bất cập, chưa đồng bộ, chưa thống nhất, thể hiện rõ nét sự phân biệt đối xử đối với phán quyết của Trọng tài nước ngoài, vì vậy nhiều quyết định dẫn đến kết quả chưa phù hợp với nội dung CƯ 1958
Hiện nay, việc Công nhận và thi hành PQTTNN ở Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều khó khăn cho việc thực thi, nhiều phán quyết chưa được thi hành tại Việt Nam dẫn đến hình thành tâm lý phân vân có nên thực hiện tranh chấp theo thể thức trọng tài bởi họ thiếu niềm tin đối với hiệu lực phán quyết trọng tài nhất là các PQTTNN được thực thi ở Việt Nam Điều đó, vô hình dung làm cản trở những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc đưa tranh chấp bằng trọng tài thành công cụ pháp lý hữu ích giải quyết các tranh chấp thương mại bên cạnh Tòa án Đặc biệt, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngoài việc Việt Nam phải thực hiện đúng những cam kết trong các điều ước quốc tế chúng ta đã tham gia thì còn đòi hỏi pháp luật cần tiếp tục
Trang 99 được bổ sung, hoàn thiện nhằm bảo đảm sự tương thích với các quy định của pháp
Trang 1010
Trang 11Từ sự phát triển và giao thoa văn hóa, kinh tế giữa Việt Nam và các nền kinh tế thế giới, sẽ có nhiều hoạt động kinh doanh phải giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài
Ngày nay, các chủ thể của tranh chấp kinh doanh thường lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp Trọng tài do các ưu điểm về bảo mật thông tin, tiết kiệm thời gian, công sức cũng như tiền bạc Nhưng cũng chính vì bảo mật thông tin, ít công bố nên tác giả cũng gặp khó khăn trong việc thực tế đi thu thập tài liệu
Do đó, đề tài nghiên cứu: “Công nhận và cho thi hành Phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” của tác giả mang tính cấp thiết, điều này hy vọng được các ban ngành trong lĩnh vực pháp luật cũng như Đảng và Nhà nước quan tâm Nhận thức được sự cầp thiết đó cho nên tác giả đã chọn đề tài “Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay.” làm luận văn thạc sĩ luật học
Tình hình nghiên c ứu đề tài
Mặc dù công nhận và thi hành các phán quyết của Trọng tài nước ngoài ở Việt Nam số vụ được công nhận rất ít, lý do mà việc Công nhận và thi hành các Phán quyết của Trọng tài nước ngoài ở Việt Nam gặp khó khăn do nhiều yếu tố mang lại trong đó có yếu tố con người Chính vì vậy, cũng không ít các hội thảo và các công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng chưa gỡ được nút thắt của hệ thống Ngoài các chế định về Pháp luật mà Việt Nam đã điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ
Trang 122
quốc tế thì nhiều nhà nghiên cứu và cán bộ làm công tác thực tiễn trăn trở quan tâm, được thể hiện qua một vài công trình khoa học sau:
- Nguyễn Văn Đức, Thi hành phán quyết trọng tài thương mại - Mối quan
hệ giữa Trọng tài và Tòa án, Luận văn Thạc sĩ Luật học, TPHCM, 2010
- Nguyễn Tiến Lộc, Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Trọng tài - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, TPHCM, 2000
- Nguyễn Trung Tín, Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của Trọng tài kinh tế, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2002
- Trương Quốc Tuấn, Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế bằng con đường Trọng tài, Luận văn Thạc sĩ Luật học, TPHCM, 2003
- Nguyễn Văn Bình, Thực trạng và hướng hoàn thiện Trọng tài thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Luận văn Thạc sĩ Luật học, TPHCM, 2003
- Phan Thông Anh, Mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, TPHCM, 2005
- Trần Dự Yên, Hiệu lực của quyết định trọng tài đối với vấn đề thi hành trong pháp luật và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, TPHCM, 2006
- Đặng Quang Phương, Những vấn đề lý luận và thực tiễn của công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài, Đề tài khoa học cấp cơ sở của Tòa án nhân
dân tối cao, Hà Nội, 2009
Mặc dù vậy, nhưng vì nhiều lý do và nhiều quy định đã tạo ra sự sai biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước khác cũng là thành viên của Công ước News York 1958, dẫn đến khó khăn trong việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn của tác giả đưa ra giải pháp khoa học mong mỏi hoàn thiện pháp luật
về Công nhận và cho thì hành Phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện
Trang 133
nay, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực thi các phán quyết trọng tài nước ngoài
ở Việt Nam hiện nay, đẩy mạnh quan hệ tư pháp thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước Qua đó, dần hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật, thể chế, tăng cường các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực về đội ngũ Thẩm phán, Trọng tài, phải đáp ứng đầy đủ bao gồm có cả việc thay đổi và xây dựng pháp luật phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là việc công nhận và cho thì hành Phán quyết trọng tài của nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Các quy định, hạn chế và bất cập về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định theo CƯ 1958, Bộ Luật Tố tụng dân sự năm
2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 về Công nhận và cho thì hành Phán quyết trọng tài của nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, luận văn này còn tham khảo một số ý kiến của chuyên gia, Thẩm phán và các nhà nghiên cứu về Công nhận và cho thì hành Phán quyết trọng tài nước ngoài ở Việt Nam làm cơ sở cho việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật về Công nhận và cho thì hành Phán quyết trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành của Pháp luật Việt Nam và CƯ 1958, Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010, luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận tư tưởng
Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc phân tích, giải quyết các vấn đề Trên cơ sở phương pháp luận nêu trên, luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, thống kê
và phỏng vấn một số chuyên gia…
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 144
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trên cơ
sở đó nhằm mục đích hướng đến hoàn thiện pháp luật về Công nhận và cho thì hành Phán quyết trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Qua đó, nâng cao hiệu quả, điều chỉnh và rút kinh nghiệm để thực thi các phán quyết trọng tài nước ngoài ở Việt Nam Góp phần đưa thực tiễn vào giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp lý trong việc thực hiện nghiêm các qui định của pháp luật Việt Nam cũng như các qui định khác mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia khác trên thế giới Góp phần giảm tải
về giải quyết các tranh chấp thương mại bên cạnh Tòa án, trong bối cảnh thương mại hóa toàn cầu đòi hỏi pháp luật hiện hành phải tuân thủ luật chơi quốc tế Hy vọng luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đối tượng được nghiên cứu sau này
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành ba chương và phần tài liệu tham khảo kèm theo như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp luật về việc công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài
Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành
tại Việt Vam phán quyết của trọng tài nước ngoài
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
phán quyết của trọng tài nước ngoài
Trang 15
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI
HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái ni ệm phán quyết trọng tài nước ngoài
Công nhận và cho thi hành PQTTNN có nghĩa là thừa nhận giá trị pháp lý và
áp dụng các biện pháp qui định của pháp luật để thực hiện Phán quyết Trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ của nước mà bên yêu cầu được thi hành
Song song đó, khái niệm “phán quyết trọng tài nước ngoài” là khái niệm đóng vai trò chủ đạo cho toàn bộ quy trình công nhận và cho thi hành Một khi đã xác định chính xác thế nào là PQTTNN thì quy trình công nhận và cho thi hành mới diễn ra một cách đúng đắn
Chính vì vậy, mà ngay từ những phần đầu tiên của CƯ 1958 đã khẳng định về khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài Cho nên, Điều I (1) CƯ có nêu ra các yếu
tố để xác nhận một phán quyết trọng tài có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không, đó là vấn đề trọng tâm Đồng thời, Công ước còn được áp dụng cho những Phán quyết trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng khi được yêu cầu
Điều I (3) CƯ cho rằng: Thuật ngữ “các phán quyết trọng tài” bao gồm không chỉ những phán quyết được ban hành bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng
vụ mà còn bao gồm những phán quyết được ban hành bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết
Căn cứ vào Điều 1 CƯ nêu rõ: “Công ước này áp dụng đối với việc công nhận
và thi hành các phán quyết trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân Công ước còn được áp dụng cho những phán quyết trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu
Trang 166
PQTTNN được xem là yếu tố chủ yếu vì đây là yếu tố có tính căn bản, có tính nền tảng để các quốc gia thành viên khi xây dựng những quy định pháp luật trong nước của mình phải tuyệt đối tuân thủ Vì lẽ đó cho nên (Điều I) CƯ cũng khẳng định: Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi
áp dụng Công ước theo điều X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác mà thôi Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh
từ các quan hệ pháp lý dù là quan hệ hợp đồng hay không thì cũng được coi là quan
hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó Như vậy, có thể thấy rằng, yếu tố chủ yếu để CƯ xem một phán quyết trọng tài nước ngoài có thể thuộc đối tượng điều chỉnh của mình hay không chính là nguyên tắc lãnh thổ Tức là ở đây yếu
tố lãnh thổ có vai trò quyết định về tính nước ngoài của một phán quyết Trọng tài
Theo đó, bất kỳ phán quyết nào được tuyên tại một quốc gia khác với quốc gia của Tòa án công nhận và cho thi hành đều có thể thuộc phạm vi của CƯ Có nghĩa là
“Phán quyết Trọng tài nước ngoài” bất kể là nước nơi Phán quyết Trọng tài được tuyên có phải là thành viên công ước hay không Chính vì vậy, quốc tịch, nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, hoặc trụ sở của các bên không liên quan đến việc xác định liệu một phán quyết có phải là Phán quyết trọng tài nước ngoài hay không Một ví dụ sau đây, trọng tài VACC tuyên phán quyết tại Việt Nam nhằm giải quyết tranh chấp giữa hai doanh nghiệp của Singapore thì phán quyết này là PQTTNN Ngoài ra, một Phán quyết được tuyên trong lãnh thổ của quốc gia nơi tiến hành việc công nhận và cho thi hành nhưng không được xem là Phán quyết Trọng tài trong nước thì cũng được xem
là PQTTNN
Tóm lại, yếu tố về mặt lãnh thổ là vấn đề quan trọng, đã được áp dụng một cách rộng rãi và chiếm đa số trên hầu hết các quốc gia thành viên của CƯ 1958 Song song đó, CƯ 1958 còn cho phép các nước thành viên vận dụng thêm, một phán quyết được tuyên ngay trên lãnh thổ của nước được yêu cầu công nhận và cho thi hành cũng
có thể xem là PQTTNN nếu phán quyết này không được xem là Phán quyết trong
Trang 177
nước Nếu như với yếu tố quan trọng vốn được ưu tiên là “nguyên tắc lãnh thổ”, thì yếu tố ít quan trọng hơn lại tập trung vào tính “không phải trong nước”của một PQTTNN
Có thể hiểu rằng, khi yếu tố quan trọng được quy định một cách rõ ràng và cụ thể thì thứ yếu lại hoàn toàn được CƯ 1958 bỏ ngỏ, đây cũng là một đều kiện thuận lợi cho các nước có tham giam gia CƯ 1958 Cho nên, việc xác định thế nào là một
“Phán quyết Trọng tài” không phải trong nước sẽ được điều chỉnh do pháp luật của quốc gia nơi tiến hành công nhận và cho thi hành Như vậy, giải pháp này nhiều chuyên gia cho rằng tính bỏ ngỏ của CƯ là vô cùng hợp lý và thuyết phục, bởi các lý
do sau:
(i) mỗi quốc gia có truyền thống và nhận thức pháp luật nói chung, cũng như truyền thống đối với việc công nhận và cho thi hành Phán quyết Trọng tài nước ngoài nói riêng, vốn dĩ pháp luật mỗi nước thực tế là khác nhau, nên việc đặt ra một quy trình “chuẩn” cho tất cả các quốc gia thành viên CƯ là điều không thể;
(ii) xuất phát từ cách thức và hành động mà một quốc gia thành viên quan niệm
về việc công nhận và cho thi hành Phán quyết Trọng tài nước ngoài tại quốc gia của mình sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến cách nhìn của Tòa án quốc gia đó về tính “không phải trong nước” của một Phán quyết Trọng tài
Ví dụ như, việc thừa nhận và cho phép thi hành tại Việt Nam PQTTNN có thể được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam và Phán quyết trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên, theo những nguyên tắc và trình tự pháp lí nhất định
Tòa án Việt Nam xem xét việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam PQTTNN trong trường hợp Phán quyết được tuyên tại nước hoặc của trọng tài của nước mà Việt Nam và nước đó đã kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế về vấn đề này Ngoài ra, trên cơ sở Việt Nam đã kí kết với nhiều quốc gia về các Hiệp định thương mại, thì PQTTNN cũng có thể được Tòa án Việt Nam dựa trên các yếu tố đó
để xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở “có đi có lại”
Trang 18Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức phải thi hành đóng trụ sở chính, nơi cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan
Tại Việt Nam từ khi gia nhập CƯ 1958 đến nay, trải qua nhiều văn bản pháp luật từ Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, và Luật Trọng tài thương mại
2010 đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đều sử dụng thuật ngữ “phán quyết của trọng tài nước ngoài” thay vì thuật ngữ “phán quyết trọng tài nước ngoài” là đúng hơn Trên thực tế diễn giải một cách dài dòng hơn là “phán quyết của trọng tài nước ngoài” Để được hiểu nghĩa rộng theo quan niệm của pháp luật Việt Nam hiện thời thì “phán quyết của trọng tài nước ngoài” chính là phán quyết được tuyên ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam bởi trọng tài nước ngoài (trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài) nhằm giải quyết các tranh chấp tức là PQTTNN
Có hai vấn đề cần làm rõ từ định nghĩa này: trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và nơi tuyên phán quyết
Căn cứ Luật trọng tài thương mại 2010, được qui định tại khoản 11(Điều 3):
“trọng tài nước ngoài là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam” Như vậy, trong qui định
pháp luật hiện hành của Việt Nam, một phán quyết có phải là “phán quyết của trọng tài nước ngoài” hay không thì Điều 3 (12) Luật Trọng tài thương mại cũng khẳng
Trang 199
định: “phán quyết của trọng tài nước ngoài” là phán quyết do trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn
Song song đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, với tư cách là đạo luật điều chỉnh toàn bộ quy trình công nhận và cho thi hành “Phán quyết Trọng tài nước ngoài”
ở Việt Nam thì cũng dẫn chiếu ngược lại các quy định của Luật Trọng tài thương mại (Điều 424 (3) Bộ luật tố tụng dân sự 2015)
Hiểu một cách đơn giản là cho dù Phán quyết Trọng tài được tuyên tại Việt Nam hay ngoài lãnh thổ Việt Nam, chỉ cần do trọng tài nước ngoài tuyên thì đều được xem là “Phán quyết Trọng tài nước ngoài”, điều đó được hiểu như sau:
a) Trọng tài nước ngoài ban hành phán quyết ngoài lãnh thổ Việt Nam (áp dụng nguyên tắc lãnh thổ)
b) Trọng tài nước ngoài ban hành Phán quyết trong lãnh thổ Việt Nam thì trường hợp này là (phán quyết được ban hành trên lãnh thổ của nước công nhận và cho thi hành nhưng không phải là phán quyết trong nước)
Có thể hiểu thêm là: Một phán quyết do trọng tài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ban hành trong lãnh thổ của một nước khác là PQTTNN, như vậy sẽ phù hợp và sát sao với nguyên tắc lãnh thổ của CƯ hơn Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật, trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam
Tóm lại, dù có cần giải nghĩa ra thì “Phán quyết trọng tài nước ngoài” cũng là
“Phán quyết của trọng tài nước ngoài” và được hiểu rằng: Phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc được tuyên ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận lựa chọn
Trang 20CƯ có tổng cộng 16 điều, trong đó 9 điều quy định về các thủ tục gia nhập, ký kết, phê chuẩn của các quốc gia thành viên, về hiệu lực của công ước, các điều còn lại quy định về thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, việc từ bỏ tham gia công ước, việc sử dụng công ước của các quốc gia và trách nhiệm của Liên Hợp quốc trong việc triển khai thi hành công ước Như vậy, mục tiêu của
CƯ 1958 là tạo ra những tiêu chuẩn pháp lý chung cho tất cả các nước tham gia về việc công nhận các thỏa thuận trọng tài cũng như việc công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài
Theo đó, chính vì mục tiêu chuẩn về pháp lý cho nên các quốc gia thành viên
CƯ không được phân biệt đối xử đối với các PQTTNN và có nghĩa vụ phải đảm bảo các PQTTNN được công nhận và có khả năng thi hành giống như các phán quyết trọng tài trong nước
Ngoài ra, CƯ 1958 còn yêu cầu Tòa án của các nước thành viên trao hiệu lực đầy đủ cho thỏa thuận trọng tài bằng cách từ chối giải quyết các các tranh chấp có dẫn chiếu đến một thoả thuận trọng tài Như vậy, điều này cũng cho thấy tính chất chuẩn mực về pháp lý của công ước cũng như những mục tiêu yêu cầu đề ra
Ngày 28/7/1995, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 453/QĐ-CTN về việc tham gia Công ước về công nhận và thi hành Phán quyết trọng tài nước ngoài Được biết cho đến nay đã có 157 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia CƯ 1958
Ngoài ra, Việt Nam đã ký kết với 18 nước Hiệp định song phương, trong đó
có 14 hiệp định về tương trợ tư pháp đề cập đến quy định về công nhận và cho thi
hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, PQTTNN Bao gồm: Liên bang Nga, Séc, Xlôvakia, Ba Lan, Hungari, Bungari, CuBa, CHDCND Lào, Trung
Trang 2111
Quốc, CHDCND Triều Tiên, Ucraina, Belarut, Pháp, Mông Cổ Tất cả các Hiệp định song phương này đều có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài Chế định công nhận và thi hành bản án, quyết định của nước ngoài trong các Hiệp định tương trợ
tư pháp thường bao gồm các nội dung: phạm vi công nhận và thi hành; về điều kiện công nhận và thi hành; về nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành; thủ tục công nhận và thi hành; việc chuyển tiền và tài sản để đảm bảo thi hành quyết định a/ Phạm
vi công nhận và thi hành: các bản án, quyết định của nước ngoài được công nhận và cho thi hành bao gồm: bản án, quyết định dân sự; phần dân sự trong bản án hình sự; các quyết định của Trọng tài thương mại Đặc biệt trong một số các Hiệp định tương trợ tư pháp ký với các nước còn phân biệt các bản án, quyết định dân sự có tính chất tài sản và bản án, quyết định không mang tính chất tài sản trong việc công nhận và cho thi hành Điều 51 Hiệp định với Nga quy định đối với các bản án, quyết định dân
sự không mang tính tài sản của Bên ký kết này được công nhận trên lãnh thổ của Bên
ký kết kia mà không phải qua một thủ tục đặc biệt nào Như vậy, ở đây có thể hiểu việc Toà án xem xét công nhận và cho thi hành chủ yếu đặt ra đối với các bản án, quyết định có tính chất tài sản và trong tương lai sẽ phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành b/ Điều kiện công nhận và thi hành: các Hiệp định đều quy định rất cụ thể các điều kiện đặt
ra đối với một bản án, quyết định để có thể được công nhận và cho thi hành Tóm lại:
Thứ nhất, bản án, quyết định phải có hiệu lực pháp luật trên lãnh thổ nước tuyên bản
án, quyết định đó; Thứ hai, bản án, quyết định được cơ quan có thẩm quyền tuyên; Thứ ba, các thủ tục tố tụng phải được đảm bảo
1.3 Cơ sở pháp luật về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quy ết của Trọng tài nước ngoài
Sau khi tham gia CƯ 1958 vào năm 1995, đến nay Việt Nam đã nội luật hóa các quy định của Công ước thể hiện tại BLTTDS năm 2015, Luật trọng tài thương mại năm 2010 làm cơ sở pháp lý cho việc công nhận PQTTNN Vấn đề công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam PQTTNN hiện đã được quy định tại Phần thứ bảy
Trang 22án dân sự.”
Theo Điều 424 BLTTDS năm 2015;
+ Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm (a) khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại
+ Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài
và có hiệu lực thi hành
+ Trọng tài nước ngoài, Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam
Việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài là một việc làm tất yếu để thi hành Việc thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện trên cơ sở quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền về công nhận và cho thi hành (khoản 3 Điều 427 BLTTDS) về bảo đảm hiệu lực quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận Phán quyết của Trọng tài nước ngoài; Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ
Trang 23là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên thống nhất đưa tranh chấp
ra một bên thứ ba là bên sẽ đưa ra quyết định chung thẩm và có tính ràng buộc thay
vì đưa ra Tòa án”
Phán quyết trọng tài có 3 ý nhĩa sau:
+ Có sự đồng thuận dựa trên thỏa thuận của các bên;
+ Là biện pháp giải quyết tranh chấp có tính chất chung thẩm (có hiệu lực pháp luật ngay) và ràng buộc các bên;
+ Là phương thức thay thế tố tụng tại Tòa án
- Phán quyết Trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn
bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài (khoản 10 Điều 3 Luật TTTM)
và khoản 2 Điều 424 BLTTDS năm 2015 quy định: “Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành”
- Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam (khoản 11 Điều 3 Luật TTTM)
- PQTTNN là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn (khoản 12 Điều 3 Luật TTTM)
Trang 2414
- PQTTNN được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án của Việt Nam khi có hiệu lực pháp luật
- Địa điểm giải quyết tranh chấp là nơi Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên hoặc do Hội đồng trọng tài quyết định nếu các bên không có thỏa thuận Nếu địa điểm giải quyết tranh chấp được tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam thì phán quyết phải được coi là tuyên tại Việt Nam mà không phụ thuộc vào nơi Hội đồng trọng tài tiến hành phiên họp để ra phán quyết đó (khoản 11 Điều 3 Luật TTTM)
Có thể nói, khi Tòa án được yêu cầu công nhận phán quyết trọng tài, Tòa án không chỉ được yêu cầu công nhận hiệu lực pháp lý của phán quyết, mà còn phải đảm bảo phán quyết đó được thi hành
BLTTDS năm 2015 cũng quy định rằng: “Phán quyết được công nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
có hiệu lực pháp luật” (Điều 427 BLTTDS)
Cho nên, trên cơ sở luật định thì việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay là một thủ tục tố tụng đặc biệt do Tòa
án tiến hành để xem xét, và cho công nhận PQTTNN trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam
1.4 Nguyên t ắc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của
Tr ọng tài nước ngoài
Để đảm bảo quyền lợi của các chủ thể liên quan, trên cơ sở chủ quyền quốc gia, việc công nhận, thi hành PQTTNN phải tuân theo một số nguyên tắc công nhận
và cho thi hành PQTTNN ở Việt Nam pháp lý nhất định bao gồm:
Trên cơ sở Công ước New York 1958, khi gia nhập Việt Nam đã giới hạn phạm vi áp dụng của Công ước New York 1958 tại Quyết định số 453/QĐ-CTN ngày 28-7-1995 của Chủ tịch nước về việc tham gia Công ước New York 1958 Theo quy định tại Điều 2 của Quyết định số 453/QĐ- CTN ngày 28-7-1995 của Chủ tịch nước
Trang 2515
về việc tham gia Công ước New York 1958 thì Việt Nam đưa ra 3 điều bảo lưu cơ bản đó là:
(1) Công ước chỉ áp dụng đối với việc công nhận và thi hành tại Việt Nam
quyết định của Trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của các q uốc gia thành viên của Công ước; đối với quyết định của Trọng tài nước ngoài tuyên tại
lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, Công ước được áp dụng tại Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại
(2) Chỉ áp dụng Công ước đối với “t ranh chấp phát sinh từ các quan hệ p háp luật thương mại.”
(3) Mọi sự giải thích Công ước trước Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam
Tuy nhiên, sau đó tại Điều 21 Pháp lệnh công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam quy định: ”Trường hợp điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác quy định của pháp lệnh này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế” và nay tại khoản
3 Điều 2 BLTTDS năm 2015 quy định: ”Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối
v ới việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước quốc
t ế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp
d ụng quy định của điều ước quốc tế đó”
Theo quy định tại Điều 424 BLTTDS năm 2015 thì Toà án Việt Nam xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo 2 nguyên tắc cơ bản như sau
- Theo quy định tại Điều 424 BLTTDS năm 2015 thì Toà án Việt Nam xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo 2 nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất, dựa trên cơ sở điều ước quốc tế:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại
Tuy nhiên, trong thực tiễn còn vướng mắc bởi pháp luật chưa định ra được
Trang 2616
thẩm quyền, trình tự cũng như thủ tục cho việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại
1.5 Th ẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành
t ại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
- Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
+ Người có quyền nộp đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 425 BLTTDS):
+ Hình thức và nội dung đơn yêu cầu (Điều 452 BLTTDS) (khoản 2 Điều 452 BLTTDS)
a) Các giấy tờ, tài liệu kèm theo (Điều 453 BLTTDS)
- Đối với đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo Công ước 1958 thì các giấy tờ, tài liệu kèm theo được quy định trong Công ước 1958
- Đối với đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định thì đơn yêu cầu phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu sau:
+ Bản chính hoặc bản sao có chứng thực phán quyết của Trọng tài nước ngoài; + Bản chính hoặc bản sao có chứng thực thỏa thuận trọng tài giữa các bên Nếu phán quyết trọng tài và thỏa thuận trọng tài không được lập bằng tiếng Việt, người nộp đơn phải gửi kèm theo bản dịch đã được công chứng, chứng thực hợp pháp của các văn bản này Công ước 1958 quy định rằng, bản dịch phải được cán bộ hoặc phiên dịch có trình độ chứng thực hoặc cơ quan ngoại giao hoặc lãnh sự xác nhận (Điều IV Công ước 1958)
b) Thời hạn nộp đơn (Điều 451 BLTTDS)
Thời hạn nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài là 3 năm kể từ ngày phán quyết trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà họ không thể nộp đơn trong thời hạn 3 năm thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan sẽ không được tính vào thời hạn nộp đơn
c) Xử lý đơn
+ Nhận và thụ lý đơn của Tòa án
- Nhận đơn: (khoản 1 Điều 451 và Điều 454 BLTTDS)
Trang 27Nên theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm
a khoản 3 Điều 38 của Bộ luật TTDS 2015 thì Tòa án có thẩm quyền xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài là Tòa kinh
tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh
- Thẩm quyền theo lãnh thổ:
Theo điểm e khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi:
+ Cá nhân phải thi hành án cư trú hoặc làm việc;
+ Cơ quan hoặc tổ chức phải thi hành án có trụ sở;
+ Có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Theo khoản 2 Điều 424 BLTTDS 2015 thì: “Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành”
+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ việc khi đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý, và Thẩm phán thực hiện như sau:
(i) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân
sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí;
(ii) Tòa án tiến hành thụ lý khi người nộp đơn xuất trình biên lai nộp lệ phí (Luật án phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016);
(iii) Thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu nếu người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ phí
Trang 2818
+ Thụ lý đơn yêu cầu (Điều 455 BLTTDS)
+ (Điều 456 BLTTDS): Sau khi thụ lý mà Tòa án đã nhận đơn thấy rằng việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam thuộc thẩm quyền của Tòa án khác, thì Tòa án đã thụ lý vụ việc phải ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho Viện kiểm sát
và các bên liên quan
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, các đương sự có quyền khiếu nại và Viện kiểm sát có quyền kiến nghị đối với quyết định chuyển hồ sơ vụ việc Thủ tục giải quyết khiếu nại và kiến nghị được thực hiện theo quy định tại (Điều 41): Chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền và Điều 456 BLTTDS)
d) Xem xét đơn yêu cầu
+ Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
- (khoản 1 Điều 457 BLTTDS)
- Những trường hợp không công nhận cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
+ Tại Điều V Công ước 1958 quy định:
“Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng:
Các bên của thỏa thuận nói ở điều II, theo luật áp dụng đối với các bên, không
có đủ năng lực, hoặc thoả thuận nói trên không có giá trị theo luật mà các bên chịu
sự điều chỉnh, nếu không có chỉ dẫn về điều này, theo luật của Quốc gia nơi ra phán quyết;
Nếu bên phải thi hành quyết định không được thông báo thích đáng về việc
chỉ định trọng tài viên hay về tố tụng trọng tài hoặc do một nguyên nhân gì khác không thể trình bày vụ việc của mình; hoặc Quyết định giải quyết một tranh chấp không được dự liệu trong các điều khoản của đơn yêu cầu đưa ra trọng tài giải quyết hay nằm ngoài các điều khoản đó, hoặc quyết định trọng tài gồm các quyết định về
Trang 2919
các vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu xét xử bằng trọng tài Tuy nhiên, nếu các quyết định về các vấn đề được yêu cầu xét xử bằng trọng tài có thể tách rời khỏi các quyết định về các vấn đề không được yêu cầu, thì phần của quyết định trọng tài gồm các quyết định về vấn đề được yêu cầu có thể được công nhận và thi hành;
Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc, nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật của nước tiến hành trọng tài;
Quyết định chưa có hiệu lực ràng buộc đối với các bên, hoặc bị huỷ hay đình hoãn bởi cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc theo luật của nước nơi quyết định được lập”
- Trên cơ sở các quy định của Điều V Công ước 1958, Việt Nam đã nội luật hóa những quy định này tại Điều 459 BLTTDS năm 2015
- Tòa án Việt nam cũng không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy:
+ Theo khoản (2 Điều V) CƯ 1958 thì: Cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu cho rằng:
“Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật pháp của nước đó; hoặc việc công nhận và thi hành quyết định sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó”
+ Theo khoản 2 Điều 459 BLTTDS năm 2015 thì nếu Tòa án Việt Nam xét thấy:
(a) “Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài”
Tức là nội dung tranh chấp giữa các bên không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc “không được trọng tài” theo quy định của nước nơi thực thi phán quyết Căn cứ này giống như căn cứ hủy phán quyết trọng tài Mặt khác, một tranh chấp có thể được coi là không thể gọi là phán quyết trọng tài nước ngoài nếu nó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam theo Điều 470 BLTTDS
Trang 30a Thủ tục sơ thẩm
- Hội đồng xét đơn yêu cầu phải đánh giá chứng cứ do các bên xuất trình một cách cẩn trọng, kỹ lưỡng và vô tư Tòa án chỉ được kiểm tra và đối chiếu phán quyết của Trọng tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật TTDS, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết đó
b Th ủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (khoản 6 Điều 462 BLTTDS) và quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật cũng có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Thủ tục, căn cứ và các vấn đề khác liên quan đến việc xem xét lại quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài được thực hiện theo quy định tại chương XX và chương XXI phần thứ
V của Bộ luật tố tụng dân sự
Kết Luận Chương 1
Đề tài Công nhận và cho thi hành Phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được một số tác giả trong nước nghiên cứu, đánh giá, qua nhiều nghiên cứu cho thấy sự không tương đồng trong khái niệm về phán quyết trọng tài nước ngoài Luận văn tập trung nghiên cứu về pháp luật Phán quyết trọng tài về Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hiện nay thông qua việc phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật, trách nhiệm của cơ quan tố tụng và từ đó đưa ra giải pháp hoàn
Trang 3121
thiện để phù hợp với bối cảnh thương mại hóa toàn cầu mà Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đã ký kết, từ đó đưa ra các giải pháp bổ sung để dần hoàn thiện cho lĩnh vực pháp luật này Công nhận và cho thi hành Phán quyết Trọng tài tại Việt Nam hiện nay là một thủ tục chặt chẽ nhưng khá cởi mở phù hợp cho các quốc gia trên thế giới tham gia trong lĩnh vực giao thương kinh doanh thương mại Điều quan trọng nhất là chúng ta có một điều ước quốc tế Công ước New York 1958 để làm kim chỉ nam cho các nước tham gia, CƯ ra đời được quốc tế đón nhận và khẳng định Công ước New York 1958 là công cụ đa phương thành công nhất trong lĩnh vực pháp luật thương mại quốc tế CƯlà trung tâm của tập hợp các hiệp ước và luật trọng tài nhằm bảo đảm việc công nhận phán quyết trọng tài và thỏa thuận trọng tài Tòa án trên khắp thế giới
đã áp dụng và diễn giải Công ước này trong hơn năm mươi năm qua, theo cách giải quyết ngày càng thống nhất và hài hòa hơn
Trong khuôn khổ chương I của luận văn nêu ra tác giả tóm tắt các khái niệm
về Phán quyết trọng tài nước ngoài, khái niệm công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng Tài nước ngoài, cơ sở, nguyên tắc và thẩm quyền, trình tự thủ tục quy trình công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài Từ đây
là cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng, đánh giá thực tiễn pháp luật Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài ở chương tiếp theo
Trang 3222
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO
THI HÀNH TẠI VIỆT VAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI 2.1 Th ực trạng pháp luật Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành tại
Vi ệt Nam Phán quyết Trọng tài nước ngoài
Thế nhưng trên thực tế, phán quyết trọng tài chỉ liên quan tới các bên tranh chấp là bên có nghĩa vụ thi hành phán quyết phải thực hiện những yêu cầu nhất định mà họ không mong muốn khi đưa tranh chấp ra giải quyết trước Trọng tài Từ thực tiễn pháp lý cho thấy, phán quyết trọng tài nước ngoài có thể được thi hành
bằng một trong hai cách: thứ nhất, bên có nghĩa vụ thi hành tự nguyện thực hiện theo các yêu cầu của phán quyết trọng tài; thứ hai, bên có nghĩa vụ thi hành bị
cưỡng chế thi hành trong trường hợp không tự nguyện thực hiện hoặc chưa thực
Trang 3323
hiện
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là: trong trường hợp người có nghĩa vụ thi hành tự nguyện thực hiện thì có được coi là công nhận và thi hành phán quyết trọng tài hay không? Song song đó, nếu như việc “công nhận và thi hành” được hiểu theo thực tiễn nêu trên thì việc tự nguyện thực hiện cũng được xem là công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài Cho nên, trong trường hợp này, việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài không đặt ra những vấn đề pháp lý quá phức tạp, cho nên trong thực trạng pháp luật cũng như trong khoa học pháp lý, trường hợp này ít được đặt ra và giải quyết Tuy nhiên, chính vì không đặt ra những vấn đề quá phức tạp dẫn đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài gặp khó khăn Dẫn đến việc cần quan tâm ở đây là trong trường hợp bên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì việc công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài được hiểu và giải quyết theo hướng như thế nào?
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định trong trường hợp bên phải thi hành phán quyết trọng tài không tự nguyện thi hành thì có thể “cưỡng chế” thi hành theo yêu cầu của bên được thi hành Như vậy, sự cưỡng chế trên không thể do bên được thi hành hoặc Trọng tài thực hiện, bởi vì họ đều không phải là người thực thi quyền lực Nhà nước để cưỡng chế thi hành Chính vì vậy, “Việc công nhận và cho thi hành Phán quyết trọng tài trong trường hợp bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện chỉ có thể do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tức là Tòa án thực hiện”
Thực tế pháp luật và khoa học pháp lý đều thống nhất rằng, việc công nhận
và cho thi hành phán quyết trọng tài là một loại việc trong tố tụng dân sự Trong thời gian này khi Tòa án xem xét công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài đóng vai trò quan trọng nhất Cho nên việc “công nhận” và cho “thi hành” nó có ý
nghĩa xuất phát từ mục đích của việc công nhận và thi hành Vì thế, nếu “công
nhận” và cho “thi hành” được tách thành hai chế định độc lập thì vẫn có ý nghĩa thực tiễn Bởi lẽ, đã công nhận thì tức là phải thi hành
Như vậy mục đích của việc “công nhận” là gì, tại sao phải có cơ quan quyền lực Nhà nước Công nhận? Công nhận tức là dung quyền lực Nhà nước để ngăn ngừa các bên tranh chấp tiếp tục khởi kiện ở vụ việc đã được giải quyết thì mục
Trang 34hiểu một cách đơn giản là thừa nhận giá trị pháp lý của một quyết định nào đó, còn
“thi hành” là thừa nhận hiệu lực cưỡng chế thi hành của quyết định đó Vì lẽ đó, nếu phán quyết trọng tài nếu như không tự nguyện thi hành thì có thể có trường hợp đó chỉ được công nhận nhưng lại không cần thi hành, trong khi đó, nếu một phán quyết của Trọng tài được thi hành thì cũng có nghĩa là phán quyết đó đã được công nhận Vì việc thi hành phán quyết trọng tài không chỉ là việc công nhận hiệu lực của phán quyết đó mà còn bao gồm cả việc đưa phán quyết đó vào cuộc sống (đảm bảo thực thi phán quyết giảm các áp lực về các biện pháp cưỡng chế) Do
đó, nếu Tòa án có thẩm quyền đã ra quyết định cho thi hành phán quyết trọng tài thì cũng có nghĩa là Tòa án đã công nhận hiệu lực của phán quyết trọng tài Nói cho cùng Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài cho dù đứng ở góc độ nào thì cũng có ý nghĩa thực tiễn, đi vào đời sống kinh doanh
Như vậy, từ định nghĩa và các quan điểm trên có thể xác định rằng: “Thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài là cách thức mà Tòa án của một quốc gia thừa nhận giá trị pháp lý của một phán quyết trọng tài nước ngoài
và làm cho phán quyết trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực thi hành trên thực tế với nội dung và theo trình tự do pháp luật quy định”
Trình tự, thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài ở các quốc gia có sự khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào vấn đề quốc gia đó có thừa nhận phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm hay không?
Về vấn đề trên, có ý kiến cho rằng: Pháp luật về trọng tài ở một số nước, đặc biệt là các quốc gia theo hệ thống pháp luật chung (Common Law), quy định cơ chế kháng cáo đối với phán quyết trọng tài trên cơ sở tuân theo pháp luật Quy định trên là cần thiết nhằm mục đích ngăn ngừa những quyết định không đúng của
Trang 3525
Trọng tài, được áp dụng trong trường hợp có những vi phạm pháp luật rõ ràng khi đưa ra phán quyết trọng tài Điều đó có nghĩa là, cho dù thừa nhận tính chung thẩm của phán quyết trọng tài, nhưng không có nghĩa là phán quyết trọng tài đó mặc nhiên được “công nhận và thi hành”
Tức là, cho dù việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài không đặt ra những vấn đề pháp lý quá phức tạp, cho nên trong thực trạng pháp luật cũng như trong khoa học pháp lý, trường hợp này ít được đặt ra và giải quyết Có nghĩa là thực trang Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài sẽ có khẽ hơ dẫn đến việc cần cơ quan nhà nước ra công nhận phán quyết cần có nhiều chế định, dần hoàn thiện để đi đến sự lựa chọn chế tài cơ bản
Mặc dù trên phương diện về điều kiện kinh tế, nhanh gọn và đặc biệt là bảo mật thông tin việc giải quyết tranh chấp Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp ngày càng được các thương nhân ưa chuộng, bởi các ưu điểm mà phương thức giải quyết tranh chấp này mang lại Tuy nhiên, thực trạng về các quy định pháp luật
về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết Trọng tài nước ngoài còn nhiều điều chưa thực sự tương thích với các qui định của pháp luật quốc tế qui định
Năm 2003 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại và ngày 17/6/2010 Quốc hội khóa 12 đã thông qua Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM)
để thay thế Pháp lệnh Trọng tài thương mại nhằm đưa ra các quy định hợp lý, đầy đủ
và chặt chẽ hơn cho hoạt động trọng tài, tạo thêm sự lựa chọn cho các thương nhân Việt Nam trong giải quyết tranh chấp Tùy theo ý chí, sự lựa chọn của các bên mà tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài Việt Nam hoặc được giải quyết bằng trọng tài nước ngoài Trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng hoặc sau khi có tranh chấp các bên có thể thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Tại Việt Nam, một khi các bên lựa chọn trọng tài Việt Nam là phương thức giải quyết tranh chấp thì khi có phán quyết, một trong các bên không đồng ý với phán quyết trọng tài sẽ có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài
Trong trường hợp các bên lựa chọn Trọng tài nước ngoài, đó là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài, do các bên thỏa thuận,
Trang 3626
lựa chọn để giải quyết tranh chấp ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam điều đó có nghĩa là cho dù phán quyết được tuyên ở trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam đều có hiệu lực như nhau
Theo đó, Phán quyết do trọng tài nước ngoài ban hành được coi là PQTTNN Các PQTTNN sẽ không bị Tòa án Việt Nam hủy theo Luật TTTM như phán quyết của “trọng tài trong nước” Mà dựa trên các nguyên tắc cơ bản và luật định của pháp luật để Công nhận và cho thi hành Phán quyết trọng tài nước ngoài hoặc không cho công nhận
+ PQTTNN muốn có giá trị pháp lý tại Việt Nam, muốn được thi hành trên lãnh thổ Việt Nam thì phải thực hiện theo thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam PQTTNN Thực trạng pháp luật về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài sau đây cho chúng ta thấy còn nhiều chồng chéo trong thủ tục được ban hành
2.1.1 Đối với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết quốc tế về hoàn thiện thủ tục giải quyết các vụ việc có yếu
tố nước ngoài, BLTTDS 2015 cũng đã có nhiều quy định về thủ tục giải quyết các yêu cầu, tranh chấp có yếu tố nước ngoài như:
Các quy định về giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam PQTTNN cũng đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những bất cập hiện nay về trình tự, thủ tục giải quyết đơn yêu cầu; về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu; về thời hạn yêu cầu…
Theo đó, bên cạnh việc có quyền nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành PQTTNN Đồng thời, thời hạn nộp đơn yêu cầu cũng có những sửa đổi cơ bản theo
Trang 3727
hướng thời hạn yêu cầu được quy định dài hơn là 03 năm đối với yêu cầu công nhận
và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài kể từ ngày PQTTNN có hiệu lực pháp luật
Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền, nghĩa vụ tố tụng, năng lực pháp luật
tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài, bổ sung quy định về việc cho phép xem lại các quyết định của Tòa án theo thủ tục qui định
Sửa đổi quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo hướng quy định đầy đủ, cụ thể hơn được qui trong bộ luật TTDS năm 2015
Thay đổi căn bản thủ tục thông báo, tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đa dạng hóa các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả và rút ngắn thời gian của việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài
BLTTDS năm 2015 cũng đã bổ sung thêm các phương thức tống đạt mới như: Tống đạt theo đường dịch vụ bưu chính, tống đạt qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam, trường hợp thực hiện các phương thức tống đạt không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
Bổ sung quy định mới về việc người khởi kiện, người yêu cầu có quyền yêu cầu Tòa án đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương
sự trong trường hợp không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài thì có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
Trang 3828
nghĩa Việt Nam là thành viên và bổ sung quy định về thu thập chứng cứ ở nước ngoài
Quy định mới, đặc thù về thủ tục thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa, thời hạn mở phiên tòa, phiên họp hòa giải đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài; về thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài; về xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương
sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ; về tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm cho đương sự ở nước ngoài; về xác định
và cung cấp pháp luật nước ngoài để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
+ Quy định chung về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Chương XXXV)
+ Quy định cụ thể Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam (Điều 424) bao gồm:
BLTTDS 2015 cũng không định nghĩa phán quyết của Trọng tài nước ngoài
mà quy định cụ thể phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành ở Việt Nam gồm: Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ký kết, trừ trường hợp đương nhiên được công nhận quy định tại (Điều 431) của BLTTDS Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Như vậy, phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận
và cho thi hành thì phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực thi hành + Quy định về việc gửi quyết định của Tòa án về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 428)
Theo quy định này, Tòa án có trách nhiệm chuyển giao trực tiếp hoặc qua dịch
vụ bưu chính hoặc thông qua Bộ Tư pháp quyết định của Tòa án cho người được thi hành, người phải thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc người đại diện
Trang 39+Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Chương XXXVII)
- Quy định cụ thể về thời hạn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 451)
BLTTDS 2015 đã quy định cụ thể thời hạn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài Theo đó, trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của BLTTDS trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc
tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn
+ Quy định đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài và giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu (Điều 452 và Điều 453)
BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung quy định mới, theo đó đương sự có thể lựa chọn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng
Trang 4030
tài nước ngoài thông qua Bộ Tư pháp hoặc gửi trực tiếp đến Tòa án Việt Nam có thẩm quyền Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải có các nội dung theo quy định
+ (Điều 454) - Quy định việc chuyển hồ sơ cho Tòa án trong trường hợp người yêu cầu gửi đơn qua Bộ Tư pháp Việt Nam
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy
tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn quy định thì Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền Trường hợp Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ cho Tòa án mà sau đó Bộ Tư pháp lại nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho biết đang xem xét hoặc đã hủy bỏ, đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì Bộ Tư pháp phải thông báo ngay bằng văn bản cho Tòa án biết
+ (Điều 455) - Quy định về thụ lý hồ sơ
Yêu cầu công nhận và cho thi hành Phán quyết của Trọng tài nước ngoài là việc dân sự Vì vậy BLTTDS 2015 quy định: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc nhận được đơn và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có đơn yêu cầu gửi đến, Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các điều 363 (thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu), 364 (trả lại đơn yêu cầu) và 365 (thông báo thụ lý đơn yêu cầu) của Bộ luật để xem xét, thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của
họ tại Việt Nam, VKS cùng cấp và Bộ Tư pháp
+ (Điều 456) - Quy định chuyển hồ sơ cho Tòa án khác, giải quyết tranh chấp
về thẩm quyền
BLTTDS 2015 bổ sung quy định cụ thể việc chuyển hồ sơ cho Tòa án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền Theo đó, trường hợp sau khi thụ lý mà Tòa án xét thấy việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam thì Tòa
án đã thụ lý ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên yêu cầu
đó trong sổ thụ lý Quyết định này phải được gửi ngay cho VKS cùng cấp và đương
sự Đương sự có quyền khiếu nại, VKS có quyền kiến nghị đối với quyết định này