1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện trảng bom, tỉnh đồng nai

87 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 839,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu: Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là từ việc nghiên cứu lý luận,phân tích quy định của pháp luật, đánh giá thực tiễn việc xét xử, cụ thể là địnhtội danh và quy

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THÙY DUNG

TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 8.38.01.04

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Văn Độ

Hà Nội, T8/2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôithực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Độ Các số liệu và tríchdẫn trong luận văn là trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn khôngtrùng lặp với bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Đỗ Thùy Dung

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI

TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ THEO PHÁP LUẬT HÌNH

1.1 Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý 91.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất

Chương 2: ĐỊNH TỘI VÀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI

TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

2.1 thực tiễn định tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy 232.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên

2.3 Những bất cập, hạn chế trong định tội, áp dụng hình phạt đối với tội tàng

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP

LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA

3.2 Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- Thông tư liên tịch số 17/2007/

TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP: Thông tư liên tịch số 17

- Thông tư liên tịch số 08/2015/

TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP: Thông tư liên tịch số 08

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tỷ lệ % số vụ án/số bị cáo xét xử các tội về ma túy so vớitổng số vụ án/số bị cáo xét xử các loại tội

Bảng 2.2 Tỷ lệ số vụ án/số bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

so với tổng số vụ án/số bị cáo xét xử các tội về ma túy quy định tại Điều 194BLHS năm 1999 hay Điều 249 BLHS năm 2015

Bảng 2.3 Hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo phạm tội tàng trữtrái phép chất ma túy giai đoạn 2015 – 2019

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ma túy là hiểm họa của toàn nhân loại Nó không là vấn đề mang phạm

vi quốc gia mà mang tính toàn cầu Tệ nạn ma túy có ảnh hưởng, tác động sâusắc đến kinh tế, xã hội, tình hình an ninh trật tự và nòi giống, tàn phá thểtrạng, não bộ của người sử dụng Chính vì lẽ đó, cần có một cơ chế pháp lý đểđiều chỉnh những hành vi vi phạm có liên quan đến ma túy Các quốc gia, các

tổ chức quốc tế đã và đang không ngừng tăng cường hợp tác trong công tácđấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma túy thể hiện bằng việc ký kếtcác công ước quốc tế về kiểm soát ma túy, có thể kể đến: Công ước thốngnhất về các chất ma túy năm 1961; Công ước về các chất hướng thần năm1971; Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất gây nghiện và cácchất hướng thần năm 1988 Ở Việt Nam hiện nay vấn đề về ma tuý cũng đượcquy định trong: Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luậtphòng chống ma túy năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2008); cùng nhiều nghịđịnh, nghị quyết và thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành

Theo báo cáo của Bộ Công an, cả nước ta có trên 235.214 người nghiện

ma túy có hồ sơ quản lý (tính đến tháng 12/2019) Trong đó, trong đó: 67,5%(gồm cả khoảng 53.000 người đang điều trị Methadone) người nghiện ma túysống tại cộng đồng, 13,5 % người nghiện ma túy đang ở các cơ sở cai nghiện

do ngành LĐ-TB&XH quản lý và 19% số người nghiện đang ở trong các trại

giam do ngành Công an quản lý (Trích nguồn

http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintucID=222966 ) Riêng

tỉnh Đồng Nai có khoảng 4.500 người nghiện ma túy (tính đến tháng 6/2019),

trung bình số người nghiện mỗi năm tăng lên khoảng 500 người (Trích nguồn

https://www.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=166087&CatId

=73 ).

Trang 7

“Ma tuý từ nhiều thế kỷ nay đã trở thành vấn đề gây nhức nhối của xãhội Ngày 26/6 hàng năm đã được Liên Hợp Quốc chọn làm “Ngày Thế giớiphòng, chống ma túy” từ năm 1988 đã đủ thấy sự quan tâm của toàn thế giớiđối với tệ nạn xã hội này Bởi:

- Ma túy có tác hại đối với bản thân người sử dụng gây tổn hại về sứckhoẻ như hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, các bệnh về da, làm suy giảmchức năng thải độc, dẫn đến tình trạng suy nhược toàn thân, suy giảm sức laođộng Nghiện ma tuý dẫn đến tình trạng nhiễm độc ma tuý mãn tính, rối loạnnhịp sinh học, suy giảm sức lao động, giảm hoặc mất khả năng lao động vàkhả năng tập trung trí óc Trường hợp sử dụng ma tuý quá liều có thể bị chếtđột ngột;

- Tác hại đối với xã hội, hàng năm, Nhà nước phải chi phí hàng ngàn tỷđồng cho việc xóa bỏ cây thuốc phiện, cho công tác cai nghiện ma tuý, côngtác phòng, chống và kiểm soát ma tuý Ma túy cũng làm suy giảm lực lượnglao động của gia đình và xã hội cả về số lượng và chất lượng; làm cho thunhập quốc dân cũng giảm, chi phí cho dự phòng và chăm sóc y tế lại tăng; lànguyên nhân làm nảy sinh, gia tăng tình hình tội phạm trong nước gây ảnhhưởng đến an ninh trật tự (trộm, cướp, buôn bán ma túy, buôn bán người,khủng bố ); là nguyên nhân, điều kiện nảy sinh, phát triển các tệ nạn xã hộikhác (mại dâm,cờ bạc )”

Trảng Bom là huyện có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp pháttriển công nghiệp của tỉnh Đồng Nai, có vị trí nằm dọc theo quốc lộ 1A, làcửa ngõ đi vào thành phố Hồ Chí Minh nên có lợi thế về phát triển giao thông.Bên cạnh đó, Trảng Bom cách Biên Hòa 12 km và thành phố Hồ Chí Minh 42

km về phía đông nên thuận tiện cho việc giao thương, buôn bán và đầu tưcông nghiệp Là một huyện đông dân với dân số năm 2019 là 264.218 người,mật độ dân số khá cao, đạt 805 người/km² (mật độ dân số của cả nước

Trang 8

là 290 người/km2) Trong nhiều năm gần đây, dân số của Trảng Bom chủ yếu

là dân nhập cư từ miền Bắc do sự phát triển của các khu công nghiệp (tậptrung 04 Khu công nghiệp Hố Nai 3, Sông Mây, Bàu Xéo, Giang Điền) Dodân số tăng nhanh tạo áp lực lớn lên chính quyền địa phương trong nhiều vấn

đề, trong đó có quản lý hành chính, tình hình an ninh, trật tự, nhà ở, môitrường, phúc lợi xã hội và thu nhập lao động Đặc biệt là tình hình tội phạm

và tệ nạn xã hội là vấn đề nan giải và được quan tâm hàng đầu, ảnh hưởngtrực tiếp đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Đáng chú ý là tình hìnhtội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạpcủa vụ việc Theo thống kê của Tòa án huyện Trảng Bom từ năm 2015 đếnnăm 2019 trên địa bàn huyện đã xét xử 1013 vụ, với 1645 bị cáo Trong đó,tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom đã xét xử 170 vụ (chiếm tỷ

lệ 16,8 % số vụ án của toàn huyện) với 216 bị cáo (chiếm tỷ lệ 13,1 % số bịcáo của toàn huyện)

Tình hình tội phạm ma túy nói chung và tội tàng trữ trái phép chất matúy trên địa bàn huyện Trảng Bom nói riêng có diễn biến phức tạp, khó quản

lý vì có nhiều người nghiện là lao động tự do, tạm trú trên địa bàn huyện, sốngười nghiện ma túy trên địa bàn huyện chỉ sau thành phố Biên Hòa Con sốthực tế sẽ cao hơn nữa nếu thống kê đủ số người nghiện chưa có hồ sơ quản

lý, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu sử dụng ma túycao, đồng nghĩa với tội phạm về tàng trữ trái phép chất ma túy phát triển

Địa bàn có các khu công nghiệp Sông Mây, Hố Nai 3, Giang Điền vàBàu Xéo (huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) có lượng người nhập cư kháđông và những bất ổn về an ninh trật tự đi kèm Xã Bắc Sơn là một trongnhững “điểm nóng” về ma túy của huyện Trảng Bom Các đối tượng mua bán,

sử dụng ma túy gồm nhiều thành phần trong xã hội và luôn thay đổi phươngtiện, địa điểm hoạt động nhằm tránh sự truy quét của công an Xác

Trang 9

định các biện pháp, như: tiếp xúc, trao đổi để động viên người sử dụng ma túy

đi cai nghiện, đồng thời áp dụng các biện pháp mạnh để răn đe, phòng ngừatội phạm nói chung Phần lớn những gia đình có người sử dụng ma túy ở xãđều thuộc diện khó khăn, đông nhân khẩu, do thiếu vắng sự quan tâm của cha

mẹ nên các em sớm vướng vào ma túy

Riêng địa bàn xã Bắc Sơn có khoảng 60 ngàn nhân khẩu, nơi tập trungkhu công nghiệp Hố Nai và Sông Mây nên lao động khắp các tỉnh, thành đổ

về sinh sống Kéo theo các gia đình công nhân, người lao động tự do cũngchiếm tỷ lệ khá cao Cùng với đó là các tệ nạn ma tuý, bài bạc, rượu chè…dẫn đến nảy sinh tội phạm ngày càng phức tạp Có điều đau xót khi triệt xoánhững ổ nhóm tội phạm, nhất là đối tượng ma tuý có tuổi đời khá trẻ Từ sựham chơi, đua đòi lêu lổng đã dẫn đến nhiều thanh thiếu niên nghiện ngập rồi

sa vào con đường phạm tội như trộm cắp, buôn bán, tàng trữ ma tuý…”

Trước tình hình nêu trên, các cấp, các ngành của huyện Trảng Bom đã

và đang thực hiện nhiều biện pháp để kìm chế, xóa bỏ ma túy trên địa bànnhư: tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục tác hại của ma túy trongcộng đồng, tăng cường công tác cai nghiện, quản lý sau cai nghiện Đặc biệt,nâng cao vai trò, hiệu quả trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án

về ma túy Bước đầu những biện pháp trên đã đạt được những kết quả nhấtđịnh, tuy nhiên hiệu quả đạt được vẫn chưa cao, vẫn còn những hạn chế Bằngchứng là tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện vẫn còn diễn biếnphức tạp, nhiều vụ việc gây ra những hậu quả nghiêm trọng, làm mất lòng tincủa nhân dân vào chính quyền địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tìnhhình an ninh trật tự - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Trước yêu cầu

đó, nghiên cứu làm rõ các tội về ma túy, cụ thể là tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy” bao gồm các vấn đề lý thuyết, phân tích các quy định của BLHS vàđánh giá thực tiễn xét xử để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện và áp dụng

Trang 10

đúng đắn tội phạm này là rất cần thiết Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề

tài: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” làm luận văn Thạc sĩ Luật học - chuyên ngành Luật hình sự và Tố

tụng Hình sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tham khảo những tài liệu như sau:+ Về giáo trình, sách gồm:

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1, tập 2 , Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2009;

- Giáo trình Lý luận chung về Định tội danh, GS.TS Võ Khánh Vinh, nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 2013;

- Sách Định tội danh: lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004;

- Sách Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017 (phần các tội phạm), PGS.TS.Trần Văn Luyện đồng chủ biên, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2018;

- Sách Luật hình sự Việt Nam (phần chung và phần các tội phạm), GS.TS Võ Khánh Vinh, nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2014

+ Về luận án, luận văn gồm:

- Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh (2015), Phòng ngừa các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã

hội

- Ngô Quỳnh Thanh, “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luậthình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân quận Hà Đông,thành phố Hà Nội", Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa Luật, Học viện Khoa học

Xã hội Việt Nam;

Trang 11

- Nguyễn Sỹ Quân, “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễnhuyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu" năm 2019, Luận văn thạc sĩ Luật học, khoaLuật, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam;

- Triệu Thị Ngân Hà “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luậthình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang", năm 2017, Luận văn Thạc sĩLuật học, khoa Luật, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam;

Những công trình nghiên cứu trên dưới góc độ của Luật hình sự hoặcdưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm đưa ra những kiến nghị vàgiải pháp hữu ích để áp dụng vào thực tiễn Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việcnghiên cứu tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tư cách là tội ghép theo quyđịnh tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) mà

ít có công trình nghiên cứu tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tư cách làmột tội danh độc lập, khi tội danh này được tách ra thành tội độc lập và cónhiều điểm mới theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sungnăm 2017) Do vậy, đề tài “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bànhuyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” có thể coi là một đề tài mới được nghiêncứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụnghình sự

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là từ việc nghiên cứu lý luận,phân tích quy định của pháp luật, đánh giá thực tiễn việc xét xử, cụ thể là địnhtội danh và quyết định hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy trênđịa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, tìm ra những hạn chế, bất cập,nguyên nhân để đưa ra giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng pháp luật hình

sự đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 12

Từ mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Đề tài là:

- Nghiên cứu và làm rõ khái niệm, dấu hiệu pháp lý tội tàng trữ trái phép chất ma tuý;

- Phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội Tàng trữtrái phép chất ma túy;

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử tội tàng trữ trái phépchất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đếnnăm 2019 Từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản;

- Đưa ra những giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các quan điểm lý luận, quy định của pháp luật hình sự liên quan tới

“Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”

Thực tiễn việc xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bànhuyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn (định tội và ápdụng hình phạt) các quy định của Bộ luật Hình sự đối với tội tàng trữ tráiphép chất ma túy trong phạm vi hoạt động xét xử trên địa bàn huyện TrảngBom, tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đến năm 2019 Quá trình xét xử tại Tòa án

đã bao trùm hoạt động tố tụng cùa các cơ quan tiến hành tố tụng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 13

trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm về matúy nói riêng.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu luận văn: Tác giả vận dụng phương pháp phân tích,phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phươngpháp nghiên cứu các vụ việc cụ thể

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng để phân tích các nộidung cần nghiên cứu và nhận thức một cách khái quát các vấn đề được

nghiên cứu Qua đó, phân tích để tìm hiểu cụ thể quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

- Phương pháp thống kê dùng để tổng họp các số liệu về tội tàng trữtrái phép chất ma tuý cụ thể được áp dụng, cũng như số bị cáo được áp dụng

về tội này từ thực tế trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, từ đóđánh giả thực tiễn áp dụng các quy định về tội tàng trữ trái phép chất matuý

- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ những điểm giống vàkhác nhau trong các quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bộluật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) với các giai đoạntrước đó

- Phương pháp nghiên cứu các vụ việc điển hình để làm rõ bản chất,đặc điểm, các quy luật, quá trình diễn biến của đối tượng tham gia để hướng

sự phát triển của chúng theo mục tiêu dự kiến của mình và tìm ra được giảipháp tối ưu

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tộitàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Trang 14

Do đó có ý nghĩa về mặt lý luận là có thể làm tài liệu nghiên cứu, học tập củahọc viên; ý kiến tham khảo cho hoạt động hoàn thiện pháp luật hình sự và tốtụng hình sự Mặt khác có ý nghĩa về thực tiễn là góp phần nâng cao hiệu quả,chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự nói chung

và hoạt động xét xử nói riêng

Việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tộitàng trữ trái phép chất ma tuý trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Naigóp phần bổ sung vào lý luận về quy định của Bộ luật hình sự đối với tội tàngtrữ trái phép chất ma tuý Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấutranh phòng, chống tội phạm, xét xử vụ án đảm bảo tính khách quan đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động áp dụng pháp luậthình sự nói chung và hoạt động xét xử trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnhĐồng Nai nói riêng Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụngtrong việc giải quyết vụ án hình sự liên quan đến loại tội phạm về ma tuý,chuyên sâu là tội tàng trữ trái phép chất ma tuý được khách quan, có căn cứ,đúng pháp luật Ngoài ra, luận văn còn có cơ sở để đưa ra các kiến nghị hoànthiện pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến chất lượng xét xử nói chung

và công tác xét xử trên địa bàn huyện Trảng Bom nói riêng, góp phần nângcao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như phòng,chống oan, sai, vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự liên quan đến

ma tuý

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,Luận văn gồm 3 chương như sau:

Trang 15

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam.

Chương 2: Định tội và áp dụng hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT

VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ THEO PHÁP

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1.1.1 Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo luật hình sự Việt Nam:

Tàng trữ chất ma túy được hiểu là việc cất giữ, cất giấu ma túy ở bất

cứ nơi nào (trong nhà; ngoài sân; chôn dưới đất; để trong vali; cho vào thùng xăng xe; cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người ) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy Và thời gian tàng trữ dài – ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh này [11, tr.362].

Đối tượng tàng trữ của tội phạm này là chất ma tuý Tùy thuộc vàomục đích nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khácnhau về ma túy và chất ma túy Có trường hợp không cần đưa ra khái niệmchất ma túy mà liệt kê các chất ma túy đã được xác định, gọi tên riêng trongkhoa học được ban hành theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001(được thay thế bằng Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 và đượcsửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015); Nghịđịnh 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày29/5/2020 sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hànhkèm theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP

Theo Điều 2 Luật phòng, chống ma túy năm 2000 thì:

Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.

Trong đó:

Trang 17

- Chất gây nghiện: Là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

- Chất hướng thần: Là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với người

sử dụng [20, tr.1].

Khi cần xác định một chất có phải là ma túy hay không thì cần thuthập, đưa mẫu đến cơ quan giám định và căn cứ vào danh mục các chất matúy và tiền chất quy định trong các Nghị định

- Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đâygọi tắt là Bộ luật hình sự 2015) quy định riêng về tội tàng trữ trái phép chất

ma túy tại Điều 249 Tuy không còn là tội ghép như quy định tại Bộ luật hình

sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là Bộ luậthình sự 1999) nhưng Bộ luật hình sự 2015 cũng không đưa ra khái niệm vềtội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Tuy nhiên, từ khái niệm về tội phạm theo Điều 8 và Điều 249 Bộ luậthình sự 2015 có thể đưa ra khái niệm: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy làhành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào mà khôngnhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy,được quy định trong bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình

sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện một cách cố ý xâm phạm chính sáchthống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước”

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

Để phân biệt tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhóm tội phạm về

ma túy, cần dựa vào cấu thành tội phạm với 04 yếu tố luật định về khách thể,mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm Đây cũng chính là cơ

sở trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất lớn trong việc định tội Việc phân chiacấu thành tội phạm thành 4 yếu tố nêu trên chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận,

Trang 18

nhận thức còn trên thực tế các yếu tố cấu thành tội phạm là một thể thốngnhất không thể tách rời, tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưngcho một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

“1 Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án

về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới

Trang 19

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới

100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới

250 mililít;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này.

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

10 năm đến 15 năm:

Trang 20

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở

lên;

Trang 21

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” [25].

1.1.2.1 Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

Là quyền và lợi ích xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâmhại, khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là chính sách độc quyền

về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy

Đối tượng tác động của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là các chất

ma túy và nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy [11, tr.326]

Các chất ma túy là chất gây nghiện ở dạng tự nhiên hoặc tổng hợp như:các chất hướng thần, các tiền chất ma túy, các tiền chất hướng thần, cácnguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy và tiền chất được quy định cụ thểtrong Nghị định của Chính phủ ban hành kèm theo danh mục các chất ma túy

và tiền chất (mới nhất là Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 củaChính phủ ban hành kèm theo danh mục các chất ma túy và tiền chất, Nghịđịnh 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 sửa đổi, bổ sung Nghị định73/2018/NĐ-CP) Do chất ma túy có đặc tính gây nghiện cho người sử dụng,khi được đưa vào cơ thể sẽ làm thay đổi về trạng thái ý thức, sinh lý Khi lạmdụng chất ma túy sẽ phụ thuộc, gây tổn thương cho sức khỏe người sử dụng

và gây nguy hại cho cộng đồng Người nghiện ma túy khi không được đápứng sẽ lên cơn, đau đớn về thể xác và tinh thần, mất lý trí, dễ dẫn đến việc

Trang 22

thực hiện hành vi phạm tội Vì vậy, Nhà nước ta quản lý chất ma túy mộtcách nghiêm ngặt, mọi hành vi vi phạm các quy định về chế độ độc quyềnquản lý chất ma túy đều bị coi là tội phạm và bị xử lý nghiêm khắc.

1.1.2.2 Mặt khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồmnhững biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới kháchquan [8, tr.99]

Hành vi khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện ởhành vi cất giữ, cất giấu trái phép chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trongngười, trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùngxăng xe hoặc nơi nào đó) Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm thực hiệnhành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không kể thời gian tàng trữ ngắn haydài và hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này (có cấu thành hìnhthức)

1.1.2.3 Chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

Chủ thể của tội phạm là người đạt độ tuổi luật định, không ở trong tìnhtrạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi phạmtội cụ thể [7, tr.122]

Theo quy định tại Điều 12 BLHS thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phảichịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệtnghiêm trọng đối với các tội phạm do luật định Đồng thời theo khoản 2 Điều

12 BLHS thì tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là loại tội mà người từ đủ 14tuối đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

Phân tích quy định tại Điều 249 BLHS thì tội tàng trữ trái phép chất

ma tuý quy định tại khoản 1 là tội phạm nghiêm trọng (chế tài quy định phạt

tù từ 1 đến 5 năm); tội phạm quy định tại khoản 2 (chế tài quy định phạt tù từ

Trang 23

5 đến 10 năm), tội phạm quy định tại khoản 3 (chế tài quy định phạt tù từ 10đến 15 năm) là tội phạm rất nghiêm trọng; tội phạm quy định tại khoản 4(chế tài quy định phạt tù từ 15 đến 20 năm hoặc tù chung thân là tội phạmđặc biệt nghiêm trọng);

Phân tích so sánh quy định tại Điều 12 BLHS và Điều 249 BLHS nêutrên thì chúng ta thấy chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là ngườikhông ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiện hình sự, đạt độ tuổitheo luật định như sau: 1/ chủ thể của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều

249 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên; còn chủ thể của tội phạm quy địnhtại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 249 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trởlên

1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

Mặt chủ quan của tội phạm là những hoạt động tâm lý bên trong củangười phạm tội gồm: lỗi, động cơ, mục đích

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.Người phạm tội nhận thức được rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấyđược tác hại của hành vi phạm tội nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp,không có trường hợp cố ý gián tiếp Mục đích của tội này là tàng trữ để sửdụng, không có mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép

1.1.3 Các dấu hiệu định khung tăng nặng của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 Bộ luậthình sự 2015 với 04 khung hình phạt Do là loại tội phạm có tính nguy hiểmcao cho xã hội nên quy định về hình phạt rất nghiêm khắc, khởi điểm củakhung hình phạt được xác định là tội phạm nghiêm trọng

Đối với khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 2, 3, 4Điều 249 BLHS 2015 Mức hình phạt của khoản 2 từ 05 năm đến 10 năm,

Trang 24

khoản 3 từ 10 năm đến 15 năm, khoản 4 từ 15 năm đến 20 năm hoặc tùchung thân tùy thuộc vào khối lượng ma túy thu giữ.

Hình phạt cao nhất của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là tù chungthân So với BLHS 1999, hình phạt tử hình đối với tội tàng trữ trái phép chất

ma túy đã được huỷ bỏ thể hiện chính sách hình sự nhân đạo, nguyên tắcphân hoá trách nhiệm hình sự Thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW với phươngchâm hạn chế áp dụng hình phạt tử hình đối với một số ít loại tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng Việc tách Điều 194 BLHS 1999 thành các tội độc lậptrong BLHS 2015 phân hoá trách nhiệm hình sự công bằng phù hợp giữa cáchành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hay chiếm đoạt trái phépchất ma túy (từ Điều 247 đến Điều 259), nhằm loại bỏ hình phạt tử hình đốivới tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội chiếm đoạt chất ma túy”, chỉ

áp dụng mức hình phạt cao nhất là chung thân

Ngoài ra Điều 249 BLHS còn quy định các hình phạt bổ sung áp dụngcho tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy như: Phạt tiền từ 5.000.000đ đến500.000.000đ; Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việcnhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Việc kết hợp giữa hình phạt chính và hình phạt bổ sung để đạt đượcmục đích của hình phạt Sự kết hợp này có ý nghĩa tích cực, chủ động trongviệc loại trừ khả năng tái phạm của người bị kết án cũng như tiếp tục giáodục cải tạo họ sau khi chấp hành xong hình phạt chính Từ đó, hệ thống hìnhphạt trở nên đa dạng, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội với các hoàncảnh khách quan và đặc điểm về nhân thân trong từng trường hợp phạm tội

cụ thể, đảm bảo nguyên tắc công bằng, nhân đạo và nâng cao hiệu quả củahình phạt trong bộ luật hình sự nước ta

1.2 Quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất

ma túy

Trang 25

1.2.1 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

1.2.1.1 Quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, đánh dấu sự ra đời của nướcViệt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Ngày 05/3/1945, Thủ tướng Chính phủ đã banhành Nghị định số 150/TT quy định việc xử lý đối với những hành vi viphạm thể lệ quản lý thuốc phiện, tiếp theo là Nghị định số 225/TTg ngày22/12/1952 quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốcphiện có thể bị tịch thu thuốc phiện, phạt tiền hoặc bị truy tố trước Tòa ánnhân dân Tuy nhiên, hai nghị định này chỉ dừng lại ở việc xử lý đối với hành

vi vận chuyển, tàng trữ trái phép ma túy (vẫn cho phép trồng cây thuốc phiện)

Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 580/TTg ngày19/5/1955 quy định những trường hợp cụ thể có thể đưa ra Tòa xét xử Saukhi giải phóng miền Nam, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số76/CP ngày 25/3/1977 về chống buôn lậu thuốc phiện

Như vậy, từ khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chủtịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã sớm nhận thức được tầm quan trọng củacông tác phòng, chống ma túy nên đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật

để điều chỉnh hành vi vi phạm trong quản lý thuốc phiện

1.2.1.2 Quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự 1985.

Bộ luật hình sự năm 1985 là Bộ luật hình sự đầu tiên của nước CộngHòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có một điều luật riêng quy định

về tội “Tổ chức dùng chất ma túy” tại Điều 203, còn những hành vi tàng trữ,vận chuyển, sản xuất, mua bán ma túy được giải quyết bằng các quy định

Trang 26

khác nhau, tương ứng với hành vi cụ thể: Điều 97 quy định về “Tội buôn lậuhoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”; Điều 166 quyđịnh về “Tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm” Vì việc quy định chung nàydẫn tới hình phạt áp dụng chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa tội phạm nêntháng 12/1989, tháng 8/1991 và tháng 12/1992 đã tách một số hành vi liênquan đến ma túy thành tội độc lập và quy định trong một điều luật riêng Đếnngày 10/5/1997, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luậtcủa BLHS năm 1985 và quy định các tội phạm về ma túy thành một chươngriêng với 14 điều luật, quy định 13 tội danh Việc quy định thành các điềuluật riêng, rõ ràng từng hành vi tương ứng với khung hình phạt cho thấy tưduy và trình độ lập pháp của Nhà nước ta đã có nhiều chuyển biến tiến bộ vànhận thức sâu sắc về tác hại của ma túy, quy định chế tài nghiêm khắc đối vớinhững hành vi vi phạm về ma túy.

1.2.1.3 Quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự 1999.

Quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong Bộ luật hình sựnăm 1999 tại Chương XVIII, gồm 10 tội (từ Điều 192 đến Điều 201) Trong

đó, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là tội ghép theo quy định tại Điều194

Trong thời gian áp dụng, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

đã ban hành Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/03/2001 về hướng dẫn

áp dụng Điều 194 BLHS năm 1999; Thông tư liên tịch số BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 (sau đây gọi tắt là thông

17/2007/TTLT-tư liên tịch số 17) hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “Các tộiphạm về ma túy”, trong đó hướng dẫn cách thức, phương pháp tính, quy đổiđịnh lượng ma túy, xác định cấu thành tội phạm về ma túy Sự ra đời củathông tư này đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải

Trang 27

quyết vụ án về ma túy tại thời điểm đó và có giá trị áp dụng cho đến thờiđiểm hiện tại khi BLHS 2015 có hiệu lực Bởi các quy định của thông tư đãtạo cơ sở pháp lý rõ ràng, hướng dẫn chi tiết về định lượng, tỷ lệ phần trăm

về trọng lượng của các chất ma túy, có ý nghĩa trong việc định khung hìnhphạt để tránh được sự áp dụng tùy tiện của cơ quan tiến hành tố tụng vàngười tiến hành tố tụng

Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng hướng dẫn của thông tư này cũng

có phát sinh vướng mắc Ngày 17/9/2014, Tòa án tối cao đã có công văn234/TANDTC-HS về quán triệt, thực hiện nghiêm việc giám định hàm lượngchất ma túy

Ngày 14 tháng 11 năm 2015, thông tư liên tịch số BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP (sau đây gọi tắt là thông tư liên tịch số 08)

08/2015/TTLT-về sửa đổi một số điều của thông tư liên tịch số 17 để khắc phục bất cập, khókhăn trong quá trình áp dụng

Đối với quy định về hình phạt: Theo Điều 194 BLHS 1999, quy địnhhình phạt chính gồm 04 khung, trong đó mức hình phạt thấp nhất là 02 năm

và cao nhất là tử hình Bên cạnh đó còn quy định hình phạt bổ sung như phạttiền, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm côngviệc nhất định

1.2.2 Quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình

Trang 28

thấy việc gộp chung các tội danh trong cùng một điều luật gặp không ít khókhăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, trong việc xác định tội danh và ápdụng hình phạt đối với người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán tráiphép hoặc chiếm đoạt chất ma túy Như vậy các tội phạm về ma túy quy địnhtại Chương XX của BLHS năm 2015 gồm 13 điều luật, so với BLHS năm

1999 tăng thêm 3 điều luật (từ Điều 247 - Điều 259)

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong BLHS năm 2015 đã pháp điểnhóa cụ thể mức tối thiểu định lượng các chất ma túy để làm căn cứ truy cứutrách nhiệm hình sự Ngoài các trường hợp thỏa mãn dấu hiệu về định lượng,Điều 249 BLHS năm 2015 còn bổ sung thêm dấu hiệu định tội “đã bị xử phạthành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích

mà còn vi phạm”

- Quy định về định lượng: Về định lượng các chất ma túy, BLHS năm

2015 đã pháp điển hóa quy định cụ thể, rõ ràng mức tối thiểu đến mức tối đađịnh lượng các chất ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự trong từng điềuluật

- Quy định thêm về một số chất ma tuý: Đồng thời BLHS năm 2015 đãquy định thêm một số chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy đãđược Chính phủ quy định vào các Điều luật cụ thể như chất ma túy

Methamphetamine, Amphetamine, MDMA…

- Thay đổi về đơn vị tính: BLHS 2015 có sự thay đổi về đơn vị tính,các vụ án ma túy từ trước đến nay khi thu giữ được vật chứng đều được xácđịnh bằng gam, kilogam,… đây chính là đơn vị tính khối lượng chứ khôngphải trọng lượng Vì vậy, BLHS năm 2015 đã thay đổi đơn vị tính từ “trọnglượng” thành “khối lượng” trong các điều luật để đảm bảo tính chính xác củađơn vị tính

Trang 29

Đối với quy định về hình phạt: Theo Điều 249 BLHS 2015, quy địnhhình phạt chính gồm 04 khung, trong đó mức hình phạt thấp nhất là 01 năm(nhẹ hơn so với BLHS 1999) và cao nhất là chung thân (bỏ hình phạt tử hìnhđối với tội này).

Trang 30

Kết luận Chương 1

Quá trình hình thành, hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đưa ra khái niệm, phân tích dấu hiệu pháp

lý giúp cho việc định tội và áp dụng hình phạt được chính xác, khách quan.Nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển cho thấy tội phạm ma túy được quyđịnh sớm trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự của Nhà nước ta, sau

đó được quy định trong các BLHS năm 1985, 1999 và năm 2015 Các quyđịnh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày càng được hoàn thiện vàgắn liền với quá trình lịch sử phát triển của đất nước ở từng giai đoạn Mỗi sựthay đổi về quy định đều cho thấy sự thay đổi trong quá trình lập pháp pháthuy, kế thừa, khắc phục những hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung cho phùhợp với tình hình thực tế

Trang 31

Chương 2 ĐỊNH TỘI VÀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Thực tiễn định tội tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

2.1.1 Khái quát lý luận định tội:

2.1.1.1 Khái niệm về định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

Việc định tội được thực hiện nhằm đi đến các quyết định hành vi thựchiện có cấu thành tội phạm hay không Có ý nghĩa trong việc xác định tội,khung hình phạt đối với hành vi phạm tội Khi định tội, người định tội căn cứvào quy phạm pháp luật cụ thể quy định về tội phạm để xác định hành vi thựchiện có cấu thành tội phạm hay không

Tác giả Lê Cảm cho rằng: “Định tội danh là một quá trình nhận thức

lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách – trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định” [13, tr 33].

Tác giả Ngô Quỳnh Thanh cho rằng: “Định tội danh là việc xác định

và ghi nhận về mặt pháp lý và sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [14, tr.20].

Chúng tôi cho rằng, các khái niệm nêu trên chỉ khác nhau về cách diễnđạt, về nội dung thì thống nhất với nhau Vì vậy, hiểu định tội là một dạngcủa hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự,

Trang 32

được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu được thu thập theo quyđịnh của pháp luật và các tình tiết thực tế của vụ án để xác định sự phù hợpgiữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện vớicác dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định vàkết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có phạm tội hay không, nếu có thìphạm tội gì, theo điểm khoản điều luật nào của bộ luật hình sự.

Qua khái niệm chung về định tội và khái niệm tội tàng trữ trái phépchất ma túy có thể đưa ra khái niệm định tội danh về tội tàng trữ trái phépchất ma túy như sau: Định tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy là việc xácđịnh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác của hành vi cất giữ,cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào, như: trong nhà, ngoàivườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trongquần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người mà không nhằm mụcđích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy đã được thựchiện qua các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong vụ án với các dấu hiệucủa cấu thành tội phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã được quy địnhtrong Bộ luật hình sự

2.1.1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

Cơ sở pháp lý của định tội danh tội tàng trữ trái phép chất ma túy làĐiều 249 Bộ luật hình sự Ngoài ra, còn có Bộ luật tố tụng hình sự, Nghịquyết của Quốc hội, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Nghị quyếtcủa Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị định, thông tư liêntịch và các văn bản chuyên ngành Khi xem xét định tội cần xem xét đếnphần chung những quy định chung (như: đồng phạm, tuổi chịu trách nhiệmhình sự, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt ) và phần các tội phạm

2.1.1.3 Nội dung định tội tội tàng trữ trái phép chất ma tuý trong hoạt

Trang 33

có dấu hiệu tội phạm thì tiến hành các bước tiếp theo để xác định hành vi,tình tiết đó được quy định tại chương nào, điều nào, khoản nào của Bộ luậthình sự.

- Thứ hai, nhận thức các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội tàng trữtrái phép chất ma túy được quy định trong Bộ luật hình sự một cách thốngnhất và chính xác Đối với yêu cầu về định tội cần phải chính xác nhưngnhững dấu hiệu của cấu thành tội phạm lại mang tính chất trừu tượng, phảnánh những nét đặc trưng nhất Chính vì vậy, trong thực tiễn xét xử có nhữngquan điểm đánh giá khác nhau về tội danh là vì lý do này Ranh giới để phânbiệt “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” với “Tội mua bán trái phép chất matúy” rất mong manh, khó khăn trong việc phân định tội danh trong một sốtình huống xảy ra trong thực tiễn như: A mua bán chất ma túy để kiếm lời,khi kiểm tra khám xét trong nhà A có một khối lượng lớn ma túy (100gheroine) nhưng khi bị bắt A khai mua để sử dụng dần và khao bạn bè Thựctiễn có hai quan điểm đánh giá về tội danh của A đã thực hiện là tội tàng trữ

Trang 34

và mua bán trái phép chất ma túy Từ đó cho thấy, để định tội đúng thì cầnphải có nhận thức thống nhất và chính xác về các dấu hiệu của cấu thành haitội nêu trên Và để đảm bảo nguyên tắc pháp chế thì Hội đồng xét xử cầnphải đảm bảo những điều kiện và tiêu chuẩn như đã phân tích, đánh giá tạibước thứ nhất.

- Thứ 3, đối chiếu những tình tiết thực tế của vụ án, những tài liệu,chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án với các dấu hiệu trongcấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định trong Bộ luật hình

sự Tuy nhiên, trong quy định của Bộ luật hình sự về tội tàng trữ trái phépchất ma túy lại chưa nêu bật được những dấu hiệu hành vi đặc trưng của tộidanh này Nên khi Hội đồng xét xử xem xét đánh giá thường nghiên cứuthêm trong những văn bản hướng dẫn, trong bình luận của nhiều nhà nghiêncứu nên việc định tội danh có phần ảnh hưởng từ quan điểm cá nhân, không

có sự thống nhất cao trong thực tiễn

- Thứ 4, đưa ra kết luận những tình tiết xảy ra trong thực tiễn đó cóđáp ứng những dấu hiệu cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy haykhông? Trường hợp có thì thuộc khoản nào của Điều 249 BLHS Trên cơ sởkết luận đó, ra văn bản áp dụng pháp luật là bản án kết tội hoặc bản án tuyênkhông có tội

2.1.2 Thực tiễn định tội tội tàng trữ trái phép chất ma tuý trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019:

2.1.2.1 Tình hình xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2015 – 2019:

Trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019, tình hình tội phạm về matúy trên địa àn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có diễn biến phức tạp, mức

độ nguy hiểm có xu hướng gia tăng và phần lớn là tội tàng trữ trái phép chất

Trang 35

ma túy.

Nghiên cứu, phân tích bảng số liệu:

Bảng 2.1: Số vụ án/số bị cáo xét xử các tội về ma túy so với tổng số vụ án/số bị cáo xét xử các loại tội.

Năm Các tội đã được Các tội về ma túy Tỷ lệ % của

Nguồn: Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom

Phân tích bảng 2.1, chúng ta thấy: Loại án về ma túy tăng đều theohàng năm (trừ năm 2017), các năm 2015, 2016, 2017 loại án về ma túy chiếm

tỷ lệ thấp trong tổng số án hình sự giải quyết do đây là 03 năm đầu áp dụngbiện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên số vụ án

và số bị cáo phạm tội về ma túy giảm đáng kể Nhưng đến năm 2018, 2019thì lại tăng cao về số vụ án và số bị cáo

Bảng 2.2: Tỷ lệ số vụ án/số bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy so với tổng số vụ án/số bị cáo xét xử các tội về ma túy quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999 hay Điều 249 BLHS năm 2015.

Năm Tội tàng trữ trái Các tội về ma túy Tỷ lệ % của

(I)

2015 11 vụ 13 bị cáo 26 vụ 35 bị cáo 42,3% 37,1%

30

Trang 36

2016 06 vụ 08 bị cáo 28 vụ 34 bị cáo 21,4% 17,6%

2018 26 vụ 28 bị cáo 37 vụ 42 bị cáo 70,3% 66,7%

2019 49 vụ 63 bị cáo 64 vụ 90 bị cáo 76,6% 70%

Nguồn: Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom

Phân tích bảng 2.2, chúng ta thấy: Số vụ án, số bị cáo tàng trữ tráiphép chất ma túy hàng năm nhìn chung là luôn tăng về số lượng, đặc biệtnăm 2018, 2019 số lượng án này chiếm đa số (hơn 2/3) số lượng án về matúy

Đánh giá về đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của huyệnTrảng Bom (tại Mục 1, phần Mở đầu) và bảng số liệu thống kê đã được phântích (tại tiểu mục 2.1.1) cho thấy: Các vụ án về ma túy nói chung và tội tàngtrữ trái phép chất ma túy nói riêng ngày càng tăng về số lượng vụ án và sốlượng bị cáo (năm 2014 do bắt đầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưavào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên số lượng án về ma túy giảm, nhưng sốlượng vụ án vẫn tăng đều theo các năm)

2.1.2.2 Hoạt động định tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai:

Cấu thành tội phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy gồm 04 yếu tố:khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể Việc phân định này chỉmang tính tương đối, tất cả đều tồn tại trong một thể thống nhất và nó có ýnghĩa trong việc giúp cho người tiến hành tố tụng tư duy để phân tích, đánhgiá sâu sắc hơn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Định tội đúng sẽ loạitrừ việc kết án vô căn cứ, tạo điều kiện cho quyết định hình phạt một cáchcông bằng

- Xác định hành vi khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy làhoạt động định tội rất quan trọng Xác định hành vi tàng trữ như cất giấu, cất

Trang 37

giữ bất hợp pháp ma túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích mua bán,vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy bị xâm phạm Để cấu thành tộiphạm, người phạm tội phải tàng trữ nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc caocôca có khối lượng từ 01g trở lên; heroine, cocaine, methamphetamine,amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1g trở lên; lá câycoca, lá khát, cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy cókhối lượng từ 01 kilogam trở lên.

Thực tiễn cho thấy, xác định hành vi tội phạm này là khó khăn Ngườiphạm tội bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt cất giấu ma túy nhằm quamặt, trốn tránh sự kiểm tra, truy bắt của lực lượng chức năng Trong thời gianqua, việc định tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo mặt khách quan củatội phạm tại Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom là chính xác, do 100% các vụ

án này là bắt người phạm tội quả tang nên việc chứng minh tội phạm khônggặp khó khăn

Bên cạnh đó việc định tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy thông quahoạt động giám định để xác định trọng lượng, hàm lượng chất ma túy làmcăn cứ định tội, định khung hình phạt gặp nhiều khó khăn, bất cập trong quátrình thực hiện Vì vậy, các cơ quan chức năng cũng như Tòa án nhân dân tốicao đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành việc giám định để xácđịnh khối lượng, hàm lượng chất ma túy để đảm bảo tính khách quan, côngbằng và chính xác

Qua công tác giám đốc việc xét xử, Tòa án nhân cấp cao nhận thấy cónhiều trường hợp vụ án được xét xử chỉ căn cứ vào kết luận giám định khốilượng của các chất nghi là ma túy để kết tội các bị cáo (khối lượng ma túyđánh giá bị cáo có phạm tội không, thuộc khoản nào của Điều luật), màkhông yêu cầu giám định hàm lượng chất ma túy trong các chất thu được nên

có thể dẫn đến việc xét xử oan, sai Do ảnh hưởng chung của toàn ngành Tòa

Trang 38

án trong giai đoạn năm 2015 – 2016, thực tiễn xét xử các vụ án tàng trữ tráiphép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom có đề nghị giám định hàmlượng chất ma túy đã phát sinh quan điểm đánh giá và cách hiểu khác nhaugiữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Việc khởi tố, truy

tố và xét xử trong giai đoạn này thường kéo dài thời gian, Tòa án huyệnTrảng Bom đã trả nhiều hồ sơ để điều tra, bổ sung do chưa giám định hàmlượng chất ma túy Đồng thời, cũng có nhiều hồ sơ vụ án xét xử phúc thẩmhủy án (trường hợp huyện khác) vì không tiến hành giám định hàm lượng matúy Đã có nhiều cuộc họp liên ngành, nhiều văn bản nội bộ chỉ đạo và nhiều

ý kiến phản ánh trong các cuộc họp giao ban toàn tỉnh Khi thống nhất thựchiện thì thực tế việc giám định hàm lượng chất ma túy lại phát sinh khó khăn

do không đủ phương tiện kỹ thuật hoặc có trường hợp vụ án giám định nhiềulần, việc bảo quản chất ma túy còn lại sau giám định không đảm bảo nên khốilượng ma túy không đủ để giám định lại Do đó, việc xét xử các vụ án vềtàng trữ trái phép chất ma túy trong thời điểm này gặp rất nhiều khó khăn

- Việc xác định được khách thể và đối tượng của tội phạm có ý nghĩatrong xác định được người thực hiện hành vi phạm tội có tội hay không; đồngthời giúp phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác Đốitượng tác động của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là các chất ma túy vàcác nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy Để xác định được đúng về chất

ma túy, khối lượng ma túy để định tội cho phù hợp thì cần căn cứ vào kết quảgiám định Trong khi đó, quy định về giám định chất ma túy không thốngnhất nên không đảm bảo được nguyên tắc pháp chế

Qua thực tiễn xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bànhuyện Trảng Bom từ năm 2015 – 2019, các bản án xét xử về tội này đã xácđịnh đúng khách thể của tội phạm Tuy nhiên quy định của pháp luật có bấtcập sau:

Trang 39

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTPngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa ánnhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tạichương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999 đã hướng dẫn:

“Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất”

[1]

Công văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014 (sau đây gọi tắt làCông văn 234), khái niệm “trọng lượng chất ma túy” lại được hiểu theo mộtnghĩa khác Và từ cách hiểu này đã dẫn đến hàng loạt xáo trộn trong quá trình

áp dụng pháp luật trong thực tiễn, đặt ra vấn đề giám định hàm lượng chất matúy trong các chất thu được

Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTPngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa ánnhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tưliên tịch số 17, trong đó hướng dẫn chỉ bắt buộc phải trưng cầu giám định

hàm lượng để xác định khối lượng chất ma túy trong 04 trường hợp: “Chất

ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; Xái thuốc phiện; Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần” [2] Tuy nhiên, vẫn hướng dẫn trường hợp nếu có căn cứ và xét

thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử

đúng pháp luật Và “Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì

Trang 40

tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm

về ma túy” [2, tr.2] Hướng dẫn này đã gây ra nhiều cách hiểu khác nhau và

phát sinh nhiều quan điểm về hướng xử lý trong các cơ quan tiến hành tốtụng

Bên cạnh đó, thực tế xét xử những vụ án truy tố về tội tàng trữ tráiphép chất ma túy trên địa bàn huyện Trảng Bom thì 100% vụ án là bắt quảtang, thu giữ được chất nghi là ma túy để tiến hành giám định, không cótrường hợp nào bị xét xử mà căn cứ vào lời khai của bị cáo, đồng phạm hayngười làm chứng để xác định khối lượng ma túy Trong khi đó, theo lý luận

về pháp luật hình sự thì có thể kết tội được bị cáo nhưng việc xác định khốilượng lại gặp khó khăn và chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc này nêncác cơ quan tiến hành tố tụng chưa mạnh dạn trong việc xử lý

Về mặt chủ quan: Là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội,

là quan hệ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hộicủa người đó thực hiện với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc đốivới khả năng gây hậu quả đó Mặt chủ quan của tội phạm gồm: lỗi, động cơ,mục đích Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, yếu tố lỗi của ngườiphạm tội là cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức được rõ hành vi củamình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện; Động cơ

là động lực bên trong vì nhu cầu, lợi ích của mình làm thúc đẩy người phạmtội thực hiện hành vi (như: để đáp ứng nhu cầu sử dụng chất ma túy, có chất

ma túy để sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện của người phạm tội đã thúc đẩyngười phạm tội cất giấu ma túy); Mục đích là là quan niệm của người phạmtội về những thay đổi trong thế giới khách quan mà người phạm tội muốn đạtđược bằng việc phạm tội Mục đích là dấu hiệu bắt buộc của tội tàng trữ tráiphép chất ma túy (chỉ có mục đích tàng trữ, không có mục đích mua bán, vận

Ngày đăng: 14/12/2020, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (2015), Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLN-BCA- VKSNDTC- TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy ” của Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội phạm về ma túy
Tác giả: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp
Năm: 2015
2. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (2015), Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLN-BCA- VKSNDTC- TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội phạm về ma túy
Tác giả: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp
Năm: 2015
14. Ngô Quỳnh Thanh, “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội", từ năm 2012 đến năm 2017, Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa Luật, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo phápluật hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân quận Hà Đông,thành phố Hà Nội
26. Triệu Thị Ngân Hà, “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang" năm 2017, Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa Luật, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo phápluật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang
3. Bộ Tư pháp (2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, tập II phần các tội phạm cụ thể, quyển 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Chính phủ (2013), Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 quy định về việc ban hành danh mục chất ma túy và tiền chất, Hà Nội Khác
5. Chính phủ (2015), Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 quy định về việc ban hành danh mục chất ma túy và tiền chất, Hà Nội Khác
6. Chính phủ (2018), Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, Hà Nội Khác
7. Chính phủ (2020), Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, Hà Nội Khác
8. Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác
9. Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Khác
11. GS.TS. Võ Khánh Vinh (2014), Luật hình sự Việt Nam (phần chung, phần các tội phạm), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; GS.TS. Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
12. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2018), Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Hà Nội Khác
13. Lê Cảm (2004), Định tội danh: lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
16. Quốc hội (1989), Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều), Hà Nội Khác
17. Quốc hội (1997), Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều), Hà Nội Khác
21. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều), Hà Nội Khác
23. Quốc hội (2015), Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc thi hành bộ luật hình sự, Hà Nội Khác
24. Quốc hội (2016), Nghị quyết số 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w