Trong bất kỳ vụ án hình sự nào, chứng cứ luôn là một vấn đề không thể thiếu nhằm chứng minh một người có thực hiện hành vi phạm tội hay không. Chứng cứ là một trong những chế định quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự. Để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xác định sự việc phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội là quá trình đã xảy ra trong quá khứ, muốn hình dung, tái hiện được diễn biến của nó cơ quan tiến hình tố tụng phải dựa vào chứng cứ của vụ án. Muốn có chứng cứ thì trước hết phải thu thập chứng cứ, tôi đã chọn đề : “Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự” để có thể đi sâu vào hiểu rõ hơn vấn đề trên.
Trang 1TRƯỜNG KHOA
BỘ MÔN LUẬT
.………***………
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỀ BÀI:
Thu thập chứng cứ trong tố
tụng hình sự
HỌ VÀ TÊN : MSSV :
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong bất kỳ vụ án hình sự nào, chứng cứ luôn là một vấn đề không thể thiếu nhằm chứng minh một người có thực hiện hành
vi phạm tội hay không Chứng cứ là một trong những chế định quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự Để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xác định sự việc phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội Quá trình thực hiện hành vi phạm tội là quá trình đã xảy ra trong quá khứ, muốn hình dung, tái hiện được diễn biến của nó
cơ quan tiến hình tố tụng phải dựa vào chứng cứ của vụ án Muốn có chứng cứ thì trước hết phải thu thập chứng cứ, tôi đã chọn đề : “Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự” để có thể
đi sâu vào hiểu rõ hơn vấn đề trên
NỘI DUNG
1. Chứng cứ
a. Căn cứ pháp lý
Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành
vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.”
b. Khái niệm
So với quy định tại BLTTHS 2003 trước đây, khái niệm trong BLTTHS 2015 đã mở rộng chủ thể sử dụng chứng cứ khi không quy định chỉ giới hạn “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án" mới có quyền này Điều này đảm bảo quyền tham gia của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác vào quá trình giải quyết vụ án Cụ thể là việc tham gia sử dụng chứng cứ, và cả việc kiểm tra, đánh giá các nguồn chứng cứ
Trang 3Có thể thấy rằng, chứng cứ bao gồm các thuộc tính: tính khách quan (có thật), hợp pháp và liên quan, đó là những nội hàm chính trong khái niệm chứng cứ Chứng cứ trong vụ án hình sự
là những gì có thật liên quan đến vụ án hình sự mà dựa vào nó, các cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, mức độ, tính chất hành vi và từ những tình tiết khác liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
c. Đặc điểm
- Chứng cứ là có thật, bảo đảm tính khách quan
- Chứng cứ có tính hợp pháp
- Chứng cứ phải liên quan đến vụ án
Như vậy, nếu thiếu một trong ba yếu tố trên thì sẽ không được xem là chứng cứ
2. Nguồn chứng cứ
Điều 87 BLTTHS năm 2015 quy định:
“1 Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; g) Các tài liệu, đồ vật khác
Trang 42 Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.”
Ta có thể hiểu, nguồn chứng cứ là hình thức, nơi chứa đựng những gì có thật liên quan đến vụ án hình sự
- Vật chứng
Vật chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng mà thông qua nó các cơ quan tiến hành tố tụng có thể chứng minh được sự việc hoặc định hướng điều tra
Vật chứng rất đa dạng, có thể là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, thậm chí là tiền,…có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết
vụ án
Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, nó ghi nhận chính xác những sự kiện thực tế của vụ án nên giá trị chứng minh của nó trong vụ án hình sự có thể là rất cao Vật chứng là chứng cứ mang tính vật chất, nó tồn tại độc lập, khách quan và không bị chi phối bởi ý thức chủ quan của con người
- Lời khai, lời trình bày
Lời khai trong vụ án hình sự có thể nói cũng là một nguồn chứng cứ rất quan trọng Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án, người tố giác tin báo về tội phạm, người chứng kiến được xem xét là nguồn chứng cứ
So với vật chứng, lời khai mang tính chủ quan và chịu sự tác động của nhiều yếu tố Do vậy, trong nhiều vụ án, việc chỉ đánh
Trang 5giá lời khai mà đưa ra quyết định có hay không hành vi tội phạm, đôi khi sẽ mang tính chủ quan và rất dễ dẫn đến oan sai Lời khai ban đầu do cơ quan điều tra thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà có được, sau đó trong quá trình xét xử Toà án tiếp tục kiểm tra tính hợp pháp của nguồn chứng cứ này
- Dữ liệu điện tử:
Dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ đặc thù bởi lẽ nó thể hiện ở ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử
Dữ liệu điện tử không giống với nguồn chứng cứ thông thường, không phải là sự vật hay sự kiện như quan niệm trước đây, đây
là những ký tự dưới dạng số hóa được lưu giữ trong phương tiện, thiết bị điện tử hoặc trên mạng thông tin toàn cầu qua quá trình
xử lý sẽ cho ra các dữ liệu bao gồm số, chữ viết, âm thanh, hình ảnh… từ đó cung cấp thông tin liên quan đến sự kiện phạm tội
- Kết luận giám định, định giá tài sản:
Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định Đây cũng một nguồn chứng
cứ quan trọng về tình tiết của vụ án mà việc xem xét nó dựa trên kiến thức chuyên môn, khoa học kĩ thuật… làm căn cứ vạch ra sự thật khách quan của vụ án hình sự
Trang 6Ngoài kết luận giám định thì kết luận định giá tài sản cũng được coi là nguồn của chứng cứ, nó là văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu
- Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án:
Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là một trong những biện pháp tố tụng được thực hiện trong quá trình chứng minh Mọi thông tin về nội dung và những tình tiết liên quan đến vụ án hình sự được ghi chép lại theo quy định của pháp luật tức là lập thành biên bản
- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác:
Uỷ thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Các tài liệu, đồ vật khác
Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án hình sự cũng được coi là nguồn chứng cứ có giá trị trong quá trình chứng minh Đó là các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, không phải do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập mà do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp
3. Thu thập chứng cứ
a. Căn cứ pháp lý
Trang 7Điều 88 BLTTHS năm 2015 quy định:
“1 Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án
2 Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người
mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa
3 Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật,
dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án
4 Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này
5 Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên
Trang 8bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ
vụ án Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu
hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.”
b. Khái niệm
Thu thập chứng cứ là một giai đoạn của quá trình chứng minh Nếu không có thu thập chứng cứ thì cũng không có kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ Thu thập chứng cứ là hoạt động phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ Để sử dụng chứng cứ với tính chất là căn cứ xác định có hay không có hành
vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình
sự, trước hết cần phải thu thập nó Thu thập chứng cứ là một giai đoạn của quá trình chứng minh Nếu không có thu thập chứng cứ thì cũng không có kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ Các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thu thập chứng cứ
c. Mục đích
Thu thập chứng cứ là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm tìm ra và thu giữ những sự kiện chứng minh hoặc những nguồn chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định, để
từ đó khai thác những sự kiện chứng minh Xét trên góc độ thông tin, thì thu thập chứng cử là quá trình thu thập thông tin
để làm căn cứ xác định sự thật của vụ án Nếu không có thu
Trang 9thập chứng cứ thì cũng không có kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cử Việc thu thập chứng cứ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sai lầm trong một loạt các giai đoạn tiếp theo, nếu việc thu thập chứng cứ không đáp ứng được các nguyên tắc cơ bản như khách quan, đúng trình tự thủ tục tố tụng hình sự thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khởi
tố, truy tố, xét xử sai
d. Phân tích
- Khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2015:
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể trực tiếp thu thập chứng cứ bằng việc tiến hành các hoạt động mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như: Khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, lấy lời khai, hỏi cung… Các hoạt động này hướng tới việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án, trên cơ sở phải tuân thủ về trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định Để tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án được thuận lợi, cùng với việc trực tiếp áp dụng các biện pháp để thu thập chứng cứ, Bộ luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan này có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án Khi được cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu, các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan có nghĩa vụ phải cung cấp những vấn đề mình biết
- Khoản 2 Điều 88 BLTTHS năm 2015:
Quy định này đã có bổ sung về việc cho phép người bào chữa
có cơ sở pháp lý để tự mình thu thập chứng cứ hoặc đề nghị các
Trang 10cơ quan khác thu thập chứng cứ Việc bổ sung quyền này góp phần làm cho vụ án được xem xét một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ hơn Những quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi
để người bào chữa thực hiện nhiệm vụ bào chữa của mình Tuy nhiên, do địa vị pháp lý có sự khác biệt so với người tiến hành
tố tụng, người bào chữa không được áp dụng tất cả các biện pháp như cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để thu thập chứng cứ mà chỉ có quyền áp dụng một số biện pháp nhất định Đó là gặp người mình bào chữa, những người biết về
vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến việc bào chữa Cùng với việc trực tiếp thu thập chứng cứ, người bào chữa còn có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa, việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có chấp thuận đề nghị của người bào chữa hay không không phụ thuộc vào đề nghị của người bào chữa và quan điểm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được đề nghị
- Khoản 3 Điều 88 BLTTHS năm 2015
Quy định này ghi nhận quyền của bất cứ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào trong việc đưa ra chứng cứ, những vấn đề liên quan
để làm sáng tỏ vụ án Cùng với việc mở rộng chủ thể có quyền thu thập chứng cứ, cung cấp chứng cứ, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận chứng cứ, tài liệu,
đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp, theo đó, khi tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo
Trang 11quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Đây là những quy định mới nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, một mặt gắn trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đồng thời khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần tạo nên phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự xã hội và cuộc sống bình an cho nhân dân
- Khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015
Quy định trình tự thu thập tài liệu trong hoạt động điều tra mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát thì cơ quan điều tra, cơ quan được giao thực hiện một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển giao cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát đóng dấu bút lục, sao lưu sau đó bàn giao lại cho cơ quan điều tra Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động điều tra, lập hồ sơ vụ án của Điều tra viên, đồng thời là căn cứ để Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn quyền công tố của mình trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
e. Cách thu thập và sử dụng chứng cứ
Để thu thập chứng cứ, tùy theo giai đoạn tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) tiến hành tố tụng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền thực hiện các hoạt động điều tra như khám xét, thu giữ, tạm giữ, đồ vật, tài liệu; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; xem xét dấu vết của thân thể; đối chất; nhận dạng; nhận biết giọng nói, thực
Trang 12nghiệm điều tra; áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của BLTTHS…
Để sử dụng chứng cứ với tính chất là căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, trước hết cần phải thu thập nó Vì vậy,
có thể nói thu thập chứng cứ là một bước quan trọng của quá trình chứng minh
f. Quyền thu thập chứng cứ
Quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa và cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ, gồm: gặp thân chủ, bị hại, người làm chứng, những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử
và các tình tiết liên quan đến việc bào chữa Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều
có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án
g. Thủ tục tiếp nhận chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền
Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của BLTTHS
- Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng bị áp dụng: