Một trong những vấn đề đang gây tranh luận hiện nay chính là những quy định hiện hành của pháp luật về thỏa thuận trọng tài và các vấn đề có liên quan. Trong quy định về thỏa thuận trọng tài còn nhiều điểm chưa được giải thích rõ ràng trong Luật Trọng tài Thương mại 2010, gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng pháp luật đối với những tổ chức, cơ quan trực tiếp áp dụng đó là các tổ chức Trọng tài Thương mại, Tòa án và đặc biệt là các doanh nghiệp có tranh chấp yêu cầu trọng tài giải quyết. Vì vậy tôi chọn đề bài: “Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thoả thuận trọng tài thương mại.” để đi sâu và tìm hiểu rõ hơn vấn đề.
Trang 1KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
.………***………
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỀ BÀI:
Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại.
HỌ VÀ TÊN:
Hà Nội, 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ BÀI 3
NỘI DUNG 3
I Khái quát chung 3
1 Trọng tài thương mại 3
a Khái niệm 3
b Bản chất 3
c Đặc điểm 3
2 Thoả thuận trọng tài 4
a Khái niệm 4
b Thời điểm xác lập thoả thuận trọng tài 5
c Ý nghĩa 5
d Đặc điểm 5
II Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thoả thuận trọng tài thương mại 7
1 Quy định về vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngoài hợp đồng 8
2 Quy định về hình thức thoả thuận của trọng tài 8
3 Quy định về quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng 9
4 Quy định về thoả thuận trọng tài vô hiệu 10
5 Quy định về tính độc lập của thoả thuận trọng tài .11
KẾT BÀI 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ BÀI
Một trong những vấn đề đang gây tranh luận hiện nay chính là những quy định hiện hành của pháp luật về thỏa thuận trọng tài và các vấn đề có liên quan Trong quy định về thỏa thuận trọng tài còn nhiều điểm chưa được giải thích rõ ràng trong Luật Trọng tài Thương mại 2010, gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng pháp luật đối với những tổ chức, cơ quan trực tiếp áp dụng đó là các tổ chức Trọng tài Thương mại, Tòa án và đặc biệt là các doanh nghiệp có tranh
chấp yêu cầu trọng tài giải quyết Vì vậy tôi chọn đề bài: “Bình luận quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành về thoả thuận trọng tài thương mại.” để đi
sâu và tìm hiểu rõ hơn vấn đề
NỘI DUNG
I Khái quát chung
1 Trọng tài thương mại
a Khái niệm
Khoản 1, điều 3, Luật trọng tài thương mại có quy định:
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do
các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.”
b Bản chất
Bản chất của trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ những thuộc tính nêu trên và phù hợp với thông lệ quốc tế Bản chất của trọng tài thương mại có sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán Thỏa thuận làm tiền
đề cho phán quyết và phán quyết phải được đưa ra trên cơ sở những vấn đề đã được thỏa thuận Thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi yếu tố địa lý, hệ thống pháp luật hay chế
độ chính trị Tuy vậy, Nhà nước vẫn giành cho mình quyền năng
Trang 4xét xử trong những lĩnh vực nhất định nhằm bảo vệ không chỉ quyền lợi của các bên trong tranh chấp mà còn bảo vệ trật tự công cộng, quyền lợi của những người liên quan, đa số các quốc gia trên thế giới chỉ qui định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài trong lĩnh vực luật tư
c Đặc điểm
- Trọng tài Thương mại là một loại hình tổ chức phi Chính phủ, trọng tài có quyền phán quyết như Tòa án và quyết định của trọng tài được cưỡng chế thi hành
- Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán Thỏa thuận làm tiền
đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly được những yếu tố đã được thỏa thuận
- Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự rất cao Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên, quy tắc tố tụng trọng tài, luật
áp dụng
- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực thi hành với các bên Nếu một bên không thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài
- Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại cần sự hỗ trợ của Tòa án Sở dĩ cần sự hỗ trợ của Tòa án
vì phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực Nhà nước, do đó cần phải có một cơ quan Nhà nước hỗ trợ, đó là Tòa á
- Trọng tài tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là: trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực Trọng tài vụ việc là hình thức
Trang 5trọng tài được lập ra để giải quyết các tranh chấp cụ thể và
tự giải thể khi giải quyết xong tranh chấp đó Trọng tài thường trực là những tổ chức trọng tài có hình thức tổ chức, trụ sở ổn định, danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng
2 Thoả thuận trọng tài
a Khái niệm
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại 2010 thì:
“Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”
b Thời điểm xác lập thoả thuận trọng tài
Theo quy định của Luật Trọng tài Thương mại 2010 thì tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại là “tranh chấp
có thể phát sinh” hoặc “đã phát sinh” Như vậy, thời điểm hai bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có thể là trước khi tranh chấp giữa hai bên xảy ra hoặc vào thời điểm sau khi tranh chấp đã xảy ra
c Ý nghĩa
- Thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của hội đồng trọng tài Khi có tranh chấp rảy ra thì vấn đề đầu tiên cần xác định là phương thức giải quyết tranh chấp nào sẽ được áp dụng và việc áp dụng giải quyết bằng phương thức nào do các bên thỏa thuận
- Thỏa thuận trọng tài ràng buộc trách nhiệm của các bên Qua đó giúp các bên nâng cao ý thức trong việc thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết, là một biện pháp tích cực để phòng ngừa các tranh chấp
Trang 6- Thỏa thuận trọng tài là cơ sở pháp lý để thực hiện phán quyết của trọng tài, phán quyết của trọng tài là kết luận cuối cùng của hội đồng trọng tài về giải quyết tranh chấp
- Thỏa thuận trọng tài được xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, Có thể nói, không có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
d Đặc điểm
Đặc điểm hình thức
Trong hầu hết các trường hợp, thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới hình thức văn bản Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như một chứng cứ xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Thông thường có hai cách để thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài: Một là, các bên dự đoán trước và tha thuận ngay
từ khi bắt đầu quan hệ thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết tranh chấp phát sinh trong tương lai Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài Tuy nhiên trên thực tế, trường hợp thứ hai
ít xảy ra vì sau khi đã xảy ra tranh chấp thì việc các bên ngồi lại với nhau để thỏa thuận cách thức giải quyết tranh chấp là không dễ dàng, trong trường hợp đó, vụ việc thường được giải quyết theo con đường Tòa án
Đặc điểm nội dung
Nội dung của thỏa thuận trọng tài chính là việc xác định cách thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết những tranh chấp bất đồng phát
Trang 7sinh hay liên quan đến hợp đồng chính Việc xác lập nội dung các điều khoản trong thỏa thuận trọng tài đều phụ thuộc vào sự
tự nguyện thỏa thuận của các bên mà không chịu sự can thiệp của pháp luật Pháp luật quy định một số điều khoản mang tính
cơ bản trong một thỏa thuận trọng tài như: phương thức trọng tài, tổ chức trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, luật áp dụng, địa điểm trọng tài, chi phí trọng tài, cam kết thi hành quyết định trọng tài Ngoài ra, các bên có thể lựa chọn thỏa thuận thêm các điều khoản khác nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất Một thoả thuận chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật về nội dung
Đặc điểm mối quan hệ
Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thồn thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và độc lập với hợp đồng chín Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị thay đổi, hủy bỏ, bị hết hiệu lực thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị Tuy nhiên, đối với trường hợp hợp đồng chính bị vô hiệu thì tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài chỉ là tương đối Việc xác định thỏa thuận trọng tài có vô hiệu hay không còn phụ thuộc vào nguyên nhân hợp đồng chính bị vô hiệu Nếu nguyên nhân dẫn đến hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài
vô hiệu là trùng nhau thì khi đó , đương nhiên cả hai cùng vô hiệu
Đặc điểm điều kiện
Điều kiện về năng lực chủ thể: Chủ thể ở đây gồm ba dạng là
cá nhân, pháp nhân và quốc gia (hoặc các cơ quan nhà nước),
Trang 8đối với mỗi loại chủ thể pháp luật các nước đều có những quy định về cách xác định luật áp dụng riêng
Điều kiện về thẩm quyền của trọng tài: Không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng trọng tài, ngay cả khi giữa các bên tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện thỏa thuận Đó là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho phép giải quyết loại tranh chấp đó thông qua hình thức trọng tài
Điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể: Thỏa thuận trọng tài sẽ không có giá trị pháp lý nếu nó không phải là kết quả của
sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể hay là sự áp đặt ý chí của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Dựa trên cơ sở thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận về các yếu tố liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp như tổ chức trọng tài, hình thức trọng tài, ngôn ngữ, địa điểm và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của các bên
Điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài: Hình thức của thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ thương mại Nhìn chung, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới dạng văn bản Quy định này đã trở thành một tập quán quốc tế chung bởi chỉ
có thể xác lập bằng văn bản mới tạo ra sự tin tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các bên khi phát sinh tranh chấp
II Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về thoả thuận trọng tài thương mại
Trang 91 Quy định về vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh
chấp phát sinh từ quan hệ ngoài hợp đồng.
Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại 2010 đã quy
định: “Thỏa thuận trọng tài thương mại là việc thỏa thuận giữa
các bên về gải quyết bằng Trọng tài thương mại các tranh chấp
có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.”
Định nghĩa này vẫn chưa làm rõ tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng có được giải quyết bằng trọng tài thương mại hay không Vấn đề này liên quan đến việc xác định thẩm quyền và phán quyết của trọng tài thương mại Bởi vì quan hệ thương mại rất
đa dạng và phong phú, có quan hệ được viết bằng hợp đồng cụ thể giữa các bên nhưng cũng phát sinh nhiều vấn đề ngoài ý muốn nhất là bồi tường thiệt hại ngoài hợp đồng
2 Quy định về hình thức thoả thuận của trọng tài
Điều 16 Luật Trọng tài Thương mại 2010 đã quy định:
“1 Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.
2 Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
Trang 10c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.”
Thỏa thuận trọng tài có thể được các bên thỏa thuận và ghi nhận trong một văn bản riêng biệt Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính Văn bản thỏa thuận trọng tài riêng biệt
có thể được các bên xác lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trong trường hợp được xác lập sau khi tranh chấp xảy ra nên có thỏa thuận trọng tài riêng biệt có điều kiện để quy định chi tiết, cụ thể về nhiều nội dung liên quan đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, phù hợp với tính chất của tranh chấp
và yêu cầu của các bên.Thỏa thuận trọng tài dù là một điều khoản của hợp đồng hay một văn bản riêng biệt đều giống nhau về bản chất và đều có giá trị pháp lý như nhau
Luật Trọng tài Thương mại 2010 đã khắc phục được sự không rõ ràng về các dạng tồn tại của thoả thuận trọng tài được quy định trong Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức của thỏa thuận trọng tài được lập thành văn bản và không phụ thuộc vào yếu
tố nó là một điều khoản hay là một văn bản riêng biệt Việc quy định như vậy nhằm hạn chế những tranh chấp xảy ra sau này
Trang 11về thỏa thuận trọng tài cũng như để làm căn cứ khởi kiện ra trọng tài thương mại hay tòa án có thẩm quyền
3 Quy định về quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng
Điều 17 Luật Trọng Thương mại 2010 đã quy định: “Đối với
các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.”
Với quy định trên thì lần đầu tiên pháp luật về trọng tài có quy định tranh chấp liên quan đến một bên là người tiêu dùng, hướng đến quan tâm và bảo vệ người tiêu dùng
Quy định này xuất phát từ thực tế là thông thường người tiêu dùng luôn bị đặt ở một vị thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều khoản in ấn sẵn của nhà cung cấp dịch vụ nên cần phải có những quy định trên Tuy nhiên trong trường hợp người tiêu dùng khởi kiện, họ không cần sự chấp thuận từ nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ
4 Quy định về thoả thuận trọng tài vô hiệu
Điều 18 Luật Trọng tài Thương mại 2010 đã quy định:
“1 Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.
2 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Trang 123 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
4 Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.
5 Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
6 Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.”
Thỏa thuận trọng tài không thực hiện được lại không được quy định rõ ràng trong Luật trọng tài thương mại 2010 Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng, thỏa thuận trọng tài không thực hiện được khi một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, mà không có người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó
và các bên không có thoả thuận khác Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể và không có tổ chức tiếp nhận quyền
và nghĩa vụ của tổ chức đó và các bên khồn có thoả thuận khác
Luật Trọng tài Thương mại 2010 nêu trên, nếu một người nước ngoài là một bên chủ thể trong tranh chấp thì năng lực hành vi dân sự của họ được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự
2005 của Việt Nam Tuy nhiên, quy định như vậy sẽ làm hạn chế thẩm quyền của trọng tài trong việc đánh giá năng lực hành vi dân sự của các bên bởi vì năng lực hành vi dân sự của một người thường được xác định theo luật của nước mà người
đó mang quốc tịch Việc quy định năng lực chủ thể của người xác lập thỏa thuận trọng tài được xác định theo quy định của