1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

TÌM HIỂU về vấn đề LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG mại điện tử

41 202 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó có định nghĩa giới thiệu về thương mại điện tử là: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộquy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

= = = =****= = = =

HỌC PHẦN:

CÁC HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

TIỂU LUẬN:

TÌM HIỂU VỀ VẤN ĐỀ LUẬT PHÁP TRONG

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬThành viên: Vũ Hồng Sang

Trần Hữu Quang Nguyễn Đức Quang Giảng viên hướng dẫn: Trần Thu Hà

Năm học : 2019 - 2020

Thái Bình, năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 3

I Khái niệm thương mại điện tử 3

II Đặc trưng của thương mại điện tử 4

III Thực trạng thương mại điện tử trong và ngoài nước 5

1 Thực trạng trong nước 5

2 Thực trạng ngoài nước 6

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại điện tử 7

1 Yếu tố kinh tế 7

2 Yếu tố văn hóa – kinh tế xã hội 7

V Tình hình thực tế thị trường Việt Nam 8

1 Ưu điểm 8

2 Nhược điểm 8

CHƯƠNG II: TÌM HIỂU VỀ LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 10

I Khái niệm pháp luật trong thương mại điện tử 10

II Đặc điểm pháp luật trong thương mại điện tử 11

III Vai trò pháp luật trong thương mại điện tử 11

IV Ảnh hưởng của luật pháp đến thương mại điện tử 13

V Thực trạng luật pháp trong thương mại điện tử 14

1 Thực trạng trong nước 14

1.1 Luật pháp thương mại điện tử cập nhập năm 2014 17

1.2 Một số vướng mắc phát sinh từ hoạt động Thương mại điện tử và kiến nghị 21

2 Thực trạng quốc tế và các nước khác 26

VI Ưu điểm và nhược điểm luật pháp trong thương mại điện tử 27

1 Ưu điểm 27

Trang 3

2 Nhược điểm 28

VII Khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở Việt Nam 29

1 Luật giao dịch điện tử 29

2 Luật thương mại 29

3 Bộ luật dân sự 30

4 Luật Hải quan 30

5 Luật sở hữu trí tuệ 30

VIII Quan điểm hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở việt nam trong thời gian tới 31

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP 34

I Các giải pháp ở cấp độ quốc gia 34

II Các giải pháp ở cấp độ doanh nghiệp 34

1 Nâng cao nhận thức và trau dồi trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ quản trị và các nhân viên trong công ty 34

2 Tin học hoá hệ thống quản lý thông tin doanh nghiệp 35

3 Xây dựng chiến lược kinh doanh trên mạng 36

III Các giải pháp ở cấp độ cá nhân 36

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và đặcbiệt là sự phát triển của công nghệ thông tin, Thương mại điện tử cũng ra đời vàphát triển nhanh chóng Hiện nay Thương mại điện tử đang phát triển nhanhchóng trên toàn thế giới mà trong đó có Việt Nam, và nó được xem như là sựphát triển tất yếu của nền “kinh tế số hoá” và “xã hội thông tin”

Thương mại điện tử bao trùm phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế xãhội, Thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích và đồng thời cũng mang đếnthách thức cho người sử dụng

Thương mại điện tử đang phát triển nhanh chóng trên toàn cầu, nhất là ởcác nước công nghiệp phát triển, những nước có nền kinh tế đang phát triểncũng đã và đang tham gia phát triển Thương mại điện tử

Thương mại điện tử mang lại lợi ích tiềm tàng giúp người tham gia thuđược thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm được chi phí, mở rộngquy mô doanh nghiệp, rút ngắn chu kỳ kinh doanh…

Việt Nam về cơ sở hạ tầng cho Thương mại điện tử đang hình thành vàhoàn thiện, song cùng với xu hướng hội nhập, chúng ta đã là thành viên chínhthức của WTO và với sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp, cửa hàng,siêu thị…thì việc bán hàng qua mạng sẽ đem lại nhiều tiện lợi và thu được kếtquả cao

Nhận thức được vai trò và tiện ích của Thương mại điện tử với sự nghiệpcông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, trong điều kiện thực tế ở Việt Nam cónhiều điều kiện thuận lợi cho Thương mại điện tử phát triển, chúng em xinnghiên cứu đề tài : Pháp luật trong Thương mại điện tử ở Việt Nam Nội dungchính của bài tiểu luận được bố cục theo bốn chương như sau:

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

CHƯƠNG II: TÌM HIỂU VỀ LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG MẠI

ĐIỆN TỬ

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN

Trang 5

Để hoàn thiện tốt bài tiểu luận này, chúng em xin trân trọng cảm ơn côTrần Thu Hà, giảng viên phụ trách môn “Các hệ thống thương mại điện tử” đã

hỗ trợ và giúp chúng em trong thời gian học tập vừa qua

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện nội dung bài tiểu luận nhưng do thời gianhọc tập cùng với sự hiểu biết còn hạn chế, nên bài tiểu luận này không tránhkhỏi những sai sót Rất mong cô, và các bạn đóng góp ý kiến để bài tiểu luậnđược hoàn thiện hơn

Trang 6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

I Khái niệm thương mại điện tử

Theo định nghĩa của tổ chức WTO thì “Thương mại điện tử bao gồm việcsản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hoặc giao hàng hóa và dịch vụ bằng phươngtiện điện tử” Còn tại Việt Nam cũng đã có nghị định của Chính Phủ về thươngmại điện tử Trong đó có định nghĩa giới thiệu về thương mại điện tử là:

“Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộquy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối vớimạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”

Hiểu theo một nghĩa rộng thì bất cứ một hoạt động thương mại nào đượctriển khai trên các phương tiện điện tử thì đều được gọi là thương mại điện tử.Tuy nhiên, đối với nhiều người dùng hiện nay thì thương mại điện tử được hiểutheo nghĩa hẹp hơn, đơn giản hơn tức là mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụthông qua các phương tiện điện tử và internet

Thương mại điện tử được thực hiện đối với các hoạt động truyền thống(chăm sóc sức khỏe, giáo dục,…), thương mại dịch vụ (dịch vụ pháp lý, dịch vụtài chính,….) và đặc biệt thương mại hàng hóa (hàng gia dụng, quần áo,….).Tóm lại, thương mại điện tử đang dần trở thành một cuộc cách mạng có thể thayđổi hoàn toàn cách thức mua sắm của con người trong tương lai

Ngay từ năm 1996, khi Việt Nam còn rất ít người biết internet và quá xa

lạ với khái niệm “Thương mại điện tử (TMĐT)” thì Uỷ ban Luật Thương mạiquốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một Luật mẫu về thươngmại điện tử rồi Luật này là cơ sở để sau đó các nước hoàn thiện các quy địnhpháp luật về thương mại điện tử của mình theo các nguyên tắc :

- Tài liệu điện tử có giá trị pháp lý như tài liệu ở dạng văn bản, nếu thoảmãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định

- Tự do thoả thuận hợp đồng

- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện cách thức truyền thông điện tử

Trang 7

- Giá trị pháp lý của hợp đồng và những quy định pháp lý về hình thứchợp đồng; điều kiện của hợp đồng để có giá trị pháp lý và phải được tôn trọngthi hành

- Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước

II Đặc trưng của thương mại điện tử

Để xây dựng khung pháp luật thống nhất cho Thương mại điện tử, chúng

ta cần nghiên cứu và tìm ra các đặc trưng của thương mại điện tử So với cáchoạt thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơbản sau :

- Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúctrực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước

- Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại củakhái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong mộtthị trường không có biên giới Thương mại điện tử trực tiếp tác động đến môitrường cạnh tranh toàn cầu

Trang 8

- Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ítnhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấpdịch vụ mang, các cơ quan chứng thực.

- Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phươngtiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tinchính là thị trường

III Thực trạng thương mại điện tử trong và ngoài nước

1 Thực trạng trong nước

- Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin: Nhờ các mạng nội bộ và mạngquốc gia, công việc quản lý một số ngành đã được tin học hoá Tuy nhiên,tính tin cậy của dịch vụ truyền thông còn thấp và chi phí còn rất cao so vớimức trung bình của người dân, vì vậy tính phổ cập chưa cao

- Cơ sở hạ tầng nhân lực: Đào tạo tin học và thông tin tin học rộngrãi (nhất là từ khi triển khai Chương trình quốc gia về công nghệ thôngtin) đã làm cho tin học phổ thông không còn xa lạ với đông đảo dân chúng

ở thành thị và các tụ điểm buôn bán khác

- Hạ tầng cơ sở kinh tế: Nền kinh tế ổn định, cơ bản thoát khỏi khủnghoảng và đạt được tỷ lệ tăng trưởng nhờ vào cải cách kinh tế vĩ mô Côngnghiệp, những năm gần đây ngành này đã đứng ở vị trí hàng đầu trong tăngtrưởng kinh tế ở Việt nam nhưng đang bắt đầu có dấu hiệu chững lại

- Hạ tầng pháp lý: Hàng loạt vấn đề pháp lý liên quan đến thương mạiđiện tử chưa được phản ánh trong Bộ luật thương mại, Bộ luật bảo vệ quyền sởhữu trí tuệ, Bộ luật hình sự và các Bộ luật khác có liên quan, trong đó có các vấn

đề như luật pháp về giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử, về xác thực vàchứng nhận chữ ký điện tử, về chống xâm nhập trái phép vào các dữ liệu

- Hạ tầng cơ sở chính trị, xã hội: Trong quá trình đổi mới hơn 10 nămqua, đất nước đã chuyển một bước đáng kể sang hướng “mở cửa” Về cáchsống và làm việc, đa số dân chúng vẫn còn quen giao dịch trên văn bản, giấy

tờ, mua hàng nhất thiết phải trải qua công đoạn nhìn, sờ, nếm, thử ; thích

Trang 9

giả rằng: do lịch sử hàng nghìn năm sống trong nền “văn minh làng xã”, đôngđảo dân chúng Việt nam chưa xây dựng được một tác phong “làm việc đồngđội” (teamwork) ở tầm toàn xã hội và tầm quốc tế.

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại điện tử

1 Yếu tố kinh tế

Sự phát triển kinh tế chung của đất nước sẽ quyết định tần suất của cáchoạt động thương mại điện tử Các tổ chức doanh nghiệp sẽ nhắm mục tiêu nền

Trang 10

kinh tế phát triển để giao dịch dựa trên internet nhiều hơn so với một quốc giađang phát triển Toàn cầu hóa đã khuyến khích sự phát triển của một thị trườngquốc tế duy nhất cho các giao dịch thương mại Nó đã làm giảm sự khác biệt xãhội và văn hóa giữa các quốc gia Điều này đã thúc đẩy văn hóa tiêu chuẩn hóagiá cả và giảm thiểu các trung gian.

Sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa đặt ra một vấn đề đặc biệt đối vớicác công ty nhỏ hơn vì họ không có đủ nguồn tài chính để phát triển một thươngmại điện tử cụ thể trong khu vực

2 Yếu tố văn hóa – kinh tế xã hội

Sự phát triển của thương mại điện tử một mặt, là kết quả của xu hướng sốhoá, điện tử hoá; mặt khác, là kết quả của vấn đề tạo môi trường kinh tế - xã hội,cùng các chủ trương chính sách cho kinh tế "số hoá" nói chung và thương mạiđiện tử nói riêng Thương mại điện tử (Electronic Commerce) một yếu tố hợpthành của nền "Kinh tế số hóa", là hình thái hoạt động thương mại bằng cácphương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua cácphương tiện công nghệ điện tử, không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạnnào của quá trình giao dịch (còn gọi là "Thương mại không có giấy tờ")

Nói cách khác, thương mại điện tử là hình thái hoạt động thương mạibằng các phương pháp điện tử, việc trao đổi thông tin thương mại thông qua cácphương tiện điện tử Thương mại điện tử mang lại những tiện ích sau: đơn giảnhoá truyền thông; các doanh nghiệp có được thông tin nhanh, phong phú về thịtrường; khách hàng dễ dàng hơn trong lựa chọn khi mua hàng; giảm được cácchi phí quản lý; bán hàng và giao dịch nhiều lần; rút ngắn thời gian sản xuất sảnphẩm; đưa nền kinh tế tiếp cận với nền kinh tế số Hạ tầng cơ sở của thương mạiđiện tử là tổng hoà nhiều vấn đề có liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tếquốc dân, trong đó hạ tầng cơ sở kinh tế xã hội có vai trò đặc biệt quan trọngcho sự phát triển của thương mại điện tử Nó được hiểu là toàn bộ các nhân tố,các điều kiện cơ bản về kinh tế - xã hội nhằm tạo ra một môi trường cho sự hìnhthành và phát triển của thương mại điện tử

Trang 11

V Tình hình thực tế thị trường Việt Nam

Lượng người sử dụng điện thoại thông minh để mua sắm cũng tăng khá rõrệt, dự đoán cho đến năm 2021 sẽ tăng thêm 5 triệu người sử dụng, tăng từ 35triệu lên 40 triệu người

2 Nhược điểm

- Thời gian giao hàng quá lâu : Có rất nhiều trường hợp khách đã để sản

phẩm cần mua vào giỏ hàng và chuyển đến trang thanh toán, tuy nhiên, khi thấythời gian giao hàng dự kiến thì lại có hành vi thoát ra và không mua nữa

- Sàn Thương mại Điện tử trong và ngoài nước cạnh tranh với nhau :

Thị trường sẽ tăng trưởng mạnh nhưng sẽ có đến 70 – 80% thị phần bị các sànThương mại Điện tử nước ngoài chiếm lấy, các sàn Thương mại Điện tử cộpmác Việt Nam sẽ chỉ chiếm được khoảng 20% còn lại trong các thị trườngngách Chi phí cho việc đầu tư vào sàn Thương mại Điện tử quá tốn kém, chính

vì thế các doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ “lực” để chiến đấu kéo dài với cácsàn Thương mại Điện tử nước ngoài

- Xu hướng dùng sản phẩm nước ngoài của dân Việt Nam : người tiêu

dùng tại Việt Nam điều có xu hướng hướng ngoại do họ cảm thấy hàng hóa trêncác sàn Thương mại Điện tử nước ngoài đa dạng hơn, nhiều sản phẩm phongphú hơn và đặc biệt là sản phẩm có chất lượng cao hẳn các sản phẩm ở ViệtNam, ít xuất hiện hàng nhái

- An ninh mạng không được đảm bảo : Trong khu vực Đông Nam Á

Việt Nam có số người mua hàng online lên đến 70% trên tổng số người sử dụng

Trang 12

Internet nhưng vẫn còn khá thấp so với mặt bằng chung của các nước ĐôngNam Á Tầm nhìn ở thị trường Thương mại Điện tử Việt Nam chỉ dừng ở mức

độ phát triển và thu lợi nhuận, chưa có tầm nhìn sâu như các nước phát triểnmạnh về Thương mại Điện tử như mỹ, hàn…Vấn đề bảo mật thông tin cá nhâncủa người tiêu dùng và an ninh mạng tại Việt Nam khá yếu kém, Luật pháp củaviệc tiết lộ thông tin người dùng tại Việt Nam chưa thật sự răn đe

Trang 13

CHƯƠNG II: TÌM HIỂU VỀ LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG

MẠI ĐIỆN TỬ

I Khái niệm pháp luật trong thương mại điện tử

Luật pháp về thương mại điện tử là tổng thể các qui phạm pháp luật có

mối liên hệ nội tại mật thiết với nhau, được thể hiện trong các văn bản qui phạmpháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử hoặc có liênquan đến lĩnh vực thương mại điện tử

Pháp luật thương mại điện tử là luật do các cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vựcthương mại điện tử hoặc có liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử

Cho đến nay, khi đề cập đến hoạt động thương mại điện tử thì được hiểu

là giao dịch thương mại sử dụng công nghệ web (web-commerce) và công nghệmobile (mobile-commerce) bởi đặc tính kĩ thuật của những loại hình công nghệnày có thể hỗ trợ một giao dịch thương mại điện tử hoàn chỉnh, từ việc trưng bàygiới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho đến khâu thanh toán trực tuyến và hậu mãi,chăm sóc khách hàng trực tuyến

Trang 14

II Đặc điểm pháp luật trong thương mại điện tử

Luật pháp về thương mại điện tử còn có những đặc điểm sau :

- Một là, luật pháp về thương mại điện tử có sự kết hợp các qui phạmtruyền thống với qui phạm hiện đại Bản chất hoạt động thương mại điện tử là sựkết hợp giữa hoạt động thương mại truyền thống và việc ứng dụng công nghệthông tin

- Hai là, luật pháp về thương mại điện tử có sự giao thoa của các qui phạmpháp luật ở nhiều ngành luật

- Ba là, luật pháp về thương mại điện tử có độ trễ nhất định nhưng nhanhchóng lạc hậu Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tốc độ đổi mới thiết bị, thayđổi công nghệ cũng như đào thảo công nghệ cũ, lạc hậu diễn ra nhanh chóng

- Bốn là, luật pháp về thương mại điện tử có đối tượng điều chỉnh baogồm vật thể và phi vật thể

- Năm là, luật pháp về thương mại điện tử được thực thi chủ yếu trên môitrường mạng Để điều chỉnh hoạt động thương mại diễn ra trên môi trườngmạng, các qui định của pháp luật về thương mại điện tử được thiết kế, xây dựngphù hợp với đặc điểm này

III Vai trò pháp luật trong thương mại điện tử

Thứ nhất, pháp luật về thương mại điện tử nhằm thể chế hóa các quan

điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển hạ tầng thương mại nóichung và phát triển thương mại điện tử nói riêng Bằng việc đề ra đường lối, chủtrương của mình, Đảng thực hiện lãnh đạo Nhà nước và xã hội Để thực hiện chủtrương của Đảng, Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật để cụ thể hóa đườnglối, chủ trương đó

Thứ hai, pháp luật về thương mại điện tử là cơ sở pháp lý để thực hiện

quản lý nhà nước về hoạt động thương mại điện tử, để các chủ thể tham gia hoạtđộng thương mại điện tử hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình;đồng thời là căn cứ để xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại điệntử

Trang 15

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Trên cơ sở quy định quyền,nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử,quy định về hàng hóa, dịch vụ được phép kinh doanh trên môi trường mạng, quyđịnh về mô hình hoạt động TMĐT,… pháp luật về thương mại điện tử xác địnhcác hành vi vi phạm pháp luật thương mại điện tử và chế tài xử lý hành vi viphạm (bao gồm xử lý hành chính và xử lý hình sự); xác định công tác quản lýnhà nước phải thực hiện như: Quản lý, giám sát các hoạt động thương mại điệntử; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về thương mại điện tử; tổ chứcthực hiện hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong thươngmại điện tử; tổ chức thực hiện các hoạt động tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp triểnkhai, ứng dụng thương mại điện tử; tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồidưỡng nhân lực cho thương mại điện tử; thống kê về thương mại điện tử; hợptác quốc tế trong lĩnh vực thương mại điện tử.

Thứ ba, pháp luật về thương mại điện tử góp phần thúc đẩy hoàn thiện các

quy định khác của pháp luật có liên quan

Với đặc điểm là hoạt động trên môi trường mạng, không chỉ giới hạn ởcác hoạt động kinh doanh điện tử hay hoạt động nhằm mục đích sinh lợi từ môitrường mạng, mà ngay cả các hoạt động của cơ quan nhà nước hiện nay cũngđược ưu tiên thực hiện trên môi trường mạng như: cấp phép điện tử; tiếp nhận

hồ sơ điện tử; khai thuế và nộp thuế điện tử; khai báo hải quan điện tử;… và cácdịch vụ công trực tuyến khác Qua đó, hệ thống pháp luật điều chỉnh những hành

vi giao dịch điện tử, sự tương tác trực tuyến, những mối quan hệ trên môi trườngmạng cũng dần được hình thành Từ sau thời điểm Quốc hội ban hành Luật Giaodịch điện tử, tiếp đến là việc liên tục ban hành các luật, pháp lệnh, chế định phápluật, quy định pháp luật điều chỉnh các hoạt động trên môi trường mạng như :quy định về thương mại điện tử, quảng cáo điện tử, hóa đơn điện tử, thuế điện

tử, thanh toán điện tử, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường mạng,

xử lý vi phạm trên môi trường mạng,… có thể thấy, hệ thống pháp luật về điềuchỉnh hành vi tương tác trên môi trường mạng ngày càng được hoàn thiện

Trang 16

Thứ tư, pháp luật về thương mại điện tử góp phần nâng cao nhận thức của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế

Quá trình xây dựng pháp luật, ban hành và thực hiện pháp luật về thươngmại điện tử, tất yếu phải lấy ý kiến nhân dân rộng rãi, lắng nghe ý kiến phản hồi

để chỉnh sửa, hoàn thiện pháp luật Để pháp luật đi vào cuộc sống, công táctuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao ý thức về pháp luật thương mại điện

tử luôn được Nhà nước tiến hành thường xuyên, liên tục Nhờ đó mà các tổchức, cá nhân hiểu rõ hơn quy định của pháp luật về thương mại điện tử, chủđộng ứng dụng thương mại điện tử để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch

vụ, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần tăng trưởng kinh tế quốcgia

Thứ năm, pháp luật về thương mại điện tử góp phần thúc đẩy hội nhập

kinh tế quốc tế Trong thương mại quốc tế, thương mại đa biên, thương mại đaquốc gia thì Luật mẫu về thương mại điện tử nói chung và pháp luật về thươngmại điện tử của từng quốc gia sẽ giúp các quốc gia thêm nhiều cơ hội giao lưu,hợp tác kinh tế, trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuyên biên giới,đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ

IV Ảnh hưởng của luật pháp đến thương mại điện tử

Trong thương mại điện tu các vấn để pháp lý liên quan đến nhiều chế địnhpháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau Trong thương mai truyền thông, các bênthường gặp nhau trực tiếp để tiền hành giao dịch hay la những người đa quenbiết nhau từ trước Còn trong thrơng mại điện từ, các bên không tiếp xúc trựctiếp với nhau và không đòi hoi phải biết nhau từ trước Các giao dịch thươngmại truyền thống được phần đình rõ ràng về ranh giới quốc gia, trong khi đóthương mại điện tử lại được thực hiện trong môi trường hay thị trường phi biêngiới Tuy nhiên thương mại diên tur không the thực hiện dược nếu không cóngười thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng Nếu như trong thương mạitruyền thống, mạng lưới là phương tiện để trao đổi thông tin thì trong thươngmại điện từ mạng Internet chinh là một thị trường Do vậy các vàn dể pháp lýnay snh trong thị trường ảo là hoàn toàn khác với thị trưởng truyền thống Sựcần thiết xây dựng luật thrơng mại điện tư

Trang 17

Sự phát triển của thương mại diện tir trên the giới đã làm thay đổi cáchthức kinh doanh, giao dịch truyền thông và dem lại những lợi ich to lon cho xãhội Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tôn tại những rui ro gặp phải trong quá trìnhgiao dịch, kinh doanh trên mạng và việc này đòi hỏi phải có các giải pháp khôngchi về mặt kỹ thuật màa còn cần phai hinh thành được một cơ sở pháp lý đây đủ.

Thương mại điện từ phát triển thì vai trò của Nhà nước phải được thể hiện

rõ nét trên hai linh vực : cung ứng dịch vụ điện tử và xây dựng một hệ thốngpháp luật đầy đủ thông nhất và cụ thể để điều chỉnh các quan hệ thương mạiđiện tử Nếu như chúng ta thiếu đi một cơ sở pháp lý vững chắc cho thương mạiđiện tử hoạt động thì các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ rất lúng túng trongviệc giải quyết các vấn đề có liên quan và về phía các cơ quan Nhà nước cũng sẽrất khó có cơ sở để kiểm soát được các hoạt động kinh doanh thương mại điện

tử Hơn thế nữa, thương mại điện từ là một lĩnh vực mới mẻ cho nên tạo đượcniềm tin cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ thương mại điện tử là mộtviệc làm có tính cấp thiết , mà một trong những hạt nhân là phải tạo ra được mộtsân chơi chung với những quy tắc được thống nhất một cách chặt chẽ

V Thực trạng luật pháp trong thương mại điện tử

1 Thực trạng trong nước

Năm 2005, Quốc hội thông qua ba luật có tính chất đặt nền tảng pháp lýcho TMĐT, đó là Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự và Luật Giao dịch điện tử.Bên cạnh đó, hoạt động TMĐT và việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vựcTMĐT còn chịu sự điều chỉnh của một số luật như; Luật Công nghệ thông tinnăm 2006; Luật Viễn thông năm 2009; Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổsung năm 2009); Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010; Luật Quảng cáo năm2012; Luật Đầu tư 2014; Luật Doanh nghiệp năm 2014 Ngoài ra, để hướng dẫn,quản lý hoạt động giao dịch và các hoạt động liên quan đến TMĐT, Chính phủ

đã ban hành: Nghị định 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 về Thương mại điện tử;Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về Thương mại điện tử (thay thếNghị định 57/2006/NĐ-CP); Nghị định 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007quyđịnh chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứngthực chữ ký số; Nghị định số 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011sửa đổi, bổsung Nghị định số 26/2007/NĐ-CP về Chữ ký và Dịch vụ chứng thực chữ ký;Nghị định số 170/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hànhLuật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số và Nghịđịnh số 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007; Nghị định 27/2007/NĐ-CP

Trang 18

ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động Ngânhàng; Nghị định số 90/2008/NĐ-CP ngày 13/8/2008 về chống thư rác; Nghịđịnh 77/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 sửa đổi bổ sung Nghị định số90/2008/NĐ-CP về Chống thư rác; Nghị định 25/2011/NĐ-CP ngày 06/04/2011quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông; Nghịđịnh 43/2011/NĐ-CP ngày 13/06/2011 quy định về việc cung cấp thông tin vàdịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tửcủa cơ quan nhà nước; Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 vềThanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trênmạng; Nghị định số 154/2013/NĐ-CP ngày 08/11/2013 quy định về khu côngnghệ thông tin tập trung; Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo.

Về xử lý vi phạm trong lĩnh vực TMĐT có các Nghị định sau: Nghị định

số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực văn hóa, thể thao du lịch và quảng cáo; Nghị định số174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện;Nghị định số 25/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 quy định về Phòng, chống tộiphạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao Nghị định số185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính tronghoạt động thương mại, sản xuất, buốn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng; Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015, sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buốnbán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Về Thông tư hướng dẫn thi hành, có các văn bản sau: Thông tư số78/2008/TT-BTC ngày 15/9/2008, của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một sốnội dung của Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt độngtài chính; Thông tư số 12/2008/TT-BTTTT ngày 30/12/2008, của Bộ Thông tin

và Truyền thông hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số90/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chống thư rác; Thông tư 03/2009/TT-BTCngày 2/03/2009, của Bộ Tài chính quy định về mã số quản lý đối với nhà cungcấp dịch vụ quảng cáo bằng thư điện tử, tin nhắn, nhà cung cấp dịch vụ tin nhắnqua mạng Internet, hướng dẫn thi hành Nghị định số 90/2008/NĐ-CP; Thông tư

số 50/2009/TT-BTC ngày 16/03/2009, của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn giao

Trang 19

31/07/2009, của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về cung cấp thông tin

và bảo đảm khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơquan nhà nước; Thông tư số 37/2009/TT-BTTTT ngày 22/7/2010, của Bộ Thôngtin và Truyền thông quy định về hồ sơ và thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng

ký, công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số; Thông tư số17/2010/TT-BKH ngày 22/07/2010, của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chitiết thí điểm đấu thầu qua mạng; Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày28/9/2010, của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CPngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ; Thông tư số 23/2010/TT-NHNN ngày 9/11/2010, của Thống đốc Ngânhàng nhà nước quy định về việc quản lý, vận hành và sử dụng Hệ thống thanhtoán điện tử liên ngân hàng; Thông tư số 180/2010/TT-BTC ngày9/11/2010 ,của Bộ Tài chính hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế;Thông tư số 25/2010/TT-BTTTT ngày 15/11/2010, của Bộ Thông tin và Truyềnthông quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thôngtin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quannhà nước; Thông tư số 209/2010/TT-BTC ngày 20/12/2010, của Bộ Tài chínhquy định giao dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ kho bạc nhà nước; Thông

tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011, của Bộ Tài chính hướng dẫn về khởitạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012, của Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tư pháp -

Bộ Thông tin và Truyền thông - Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhândân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạmtrong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông; Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014, của Bộ Công thương quy định về quản lý website thươngmại điện tử; Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014, của Thống đốcNgân hàng nhà nước về dịch vụ trung gian thanh toán

Trang 20

1.1 Luật pháp thương mại điện tử cập nhập năm 2014

- Luật Đầu tư năm 2014 có nhiều nội dung mới bảo đảm hành lang pháp

lý mở rộng thu hút đầu tư, xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, đảm bảoquyền lợi của các chủ thể trong hoạt động đầu tư, đem lại lợi ích tốt nhất cho sựphát triển kinh tế - xã hội Điểm mới nổi bật trong Luật Đầu tư năm 2014 là cácvấn đề liên quan đến nguyên tắc về quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dântrong các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và Danh mục ngành, nghề đầu tưkinh doanh có điều kiện theo pháp luật loại trừ, theo đó các nhà đầu tư chỉ đượcquyền thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong những ngành, nghề mà phápluật cho phép sang nguyên tắc được tự do đầu tư, kinh doanh tất cả các ngành,nghề mà Luật không cấm hoặc quy định phải có điều kiện

- Luật Doanh nghiệp năm 2014 có nhiều điểm mới so với Luật Doanhnghiệp năm 2005, thể hiện theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự dokinh doanh của công dân, của doanh nghiệp Mà theo đó, những gì luật phápkhông cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh LuậtDoanh nghiệp năm 2014 đã tách riêng thủ tục thành lập doanh nghiệp với cácthủ tục về đầu tư dự án, chứng nhận đầu tư, tạo cơ hội về khả năng gia nhập thịtrường cho doanh nghiệp; bãi bỏ quy định đề nghị doanh nghiệp cung cấp mãnghành khi thực hiện đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp được tự chủ kinhdoanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành,

Ngày đăng: 13/12/2020, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w