Luận văn “Vai trò của toà án trong thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã” là một công trình nghiên cứu tổng quan, toàn diện từ cơ sở lý luận đến cơ sở thực tiễn thực hiện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã” là công trình khoa học của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong Luận văn, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của Luận văn này chưa từng được công
bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở nơi khác
Không có nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong Luận văn này
mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Tác giả
Nguyễn Phước Đạt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Luật, Khoa Đào tạo sau đại học, Thư viện Trường cùng toàn thể quý thầy cô, cán bộ Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Tâm đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện việc nghiên cứu luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh hỗ trợ, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập
và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng, xin trân trọng cám ơn các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu để tôi hoàn chỉnh luận văn này
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) là hiện tượng không thể tránh khỏi trong nền kinh tế thị trường Dù là kết quả của việc giải quyết quan hệ vay, mượn trong giao lưu dân sự nhưng do những đặc thù về quan hệ hệ xã hội, việc giải quyết phá sản không đơn thuần như một thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự mà phải được quy định theo môt thủ tục đặc biệt hơn Pháp luật Việt Nam những năm qua với tinh thần xem thủ tục phá sản là một trong những thủ tục tố tụng dân sự đặc biệt và toà án nhân dân (sau đây gọi tắt là toà án) với vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng và cũng là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tuyên doanh nghiệp phá sản Trãi qua những giai đoạn phát triễn của nên kinh tế xã hội, pháp luật về phá sản đã có những thay đổi nhất định, vai trò của Toà án trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn
Luận văn “Vai trò của toà án trong thủ tục giải quyết phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã” là một công trình nghiên cứu tổng quan, toàn diện từ cơ sở
lý luận đến cơ sở thực tiễn thực hiện quyền vàn nghĩa vụ của toà án nhân dân trong thủ tục giải quyết phá sản với mục tiêu là góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của toà án nhân dân cũng như nâng cao vai trò của toà án nhân dân trong việc thực hiện thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Thông qua đó, làm cho pháp luật về phá sản phát huy hết tác dụng trong điều chỉnh những mối quan hệ có liên quan, giúp bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, nâng cao uy tín và tạo môi trường pháp lý
minh cạch, thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã tại Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5.1 Đối tượng nghiên cứu 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 7
7.1 Ý nghĩa khoa học 7
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
8 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ 9
1.1 Khái quát về phá sản và thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 9
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 9
1.1.2 Khái quát về thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 13
1.2 Khái quát về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã18 1.2.1 Vị trí, chức năng của toà án 18
1.2.2 Vai trò toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 21
1.3 Pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới 26
1.3.1 Pháp luật Phá sản của Nhật Bản 26
1.3.2 Pháp luật Phá sản của Singapore 29
Trang 7CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP,
HỢP TÁC XÃ 33
2.1 Thực trạng pháp luật về vai trò của toà án trong giai đoạn nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 33
2.2 Thực trạng pháp luật về vai trò của toà án trong giai đoạn mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 42
2.3 Thực trạng pháp luật về vai trò của tòa án trong việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp khi bị yêu cầu tuyên bố phá sản 48
2.4 Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 51
2.4.1 Định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 51
2.4.2 Hoàn thiện vai trò của toà án trong giai đoạn nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã 52
2.4.3 Hoàn thiện vai trò của toà án trong giai đoạn mở/không mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 55
2.4.4 Hoàn thiện vai trò của tòa án trong việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp khi bị yêu cầu tuyên bố phá sản 55
KẾT LUẬN 59
PHỤ LỤC 1 62
PHỤ LỤC 2 65
CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN DẪN CHỨNG 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HNCN : Hội nghị chủ nợ HTX : Hợp tác xã TAND : Tòa án nhân dân THADS : Thi hành án dân sự
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, phá sản là một trong những hiện tượng mang tính tất yếu Với sự đa dạng các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp cùng song song tồn tại nên việc cạnh tranh là điều tất yếu, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp, hợp tác xã nếu muốn thu được lợi nhuận thì phải đối mặt với những trường hợp rủi ro có thể xảy ra Có thể nói, trong nền kinh tế thị trường hiện nay
tỉ lệ rủi ro là rất lớn và hơn thế có những doanh nghiệp, hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) phá sản ngay sau khi mới thành lập Nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp là hết sức đa dạng Có thể do yếu kém về năng lực tổ chức, quản lí hoạt động sản suất, kinh doanh và thiếu khả năng thích ứng với những biến động trên thị trường của các doanh nghiệp, hợp tác xã; sự vi phạm các quy định về quản lý; các bất trắc, biến động
khách quan của nền kinh tế thị trường
Nhằm mục đích giải quyết phá sản cho doanh nghiệp xã ở nước ta trong thời gian qua thì Luật phá sản đã ra đời, trong đó quy định chi tiết trình tự, thủ tục phá sản, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, Qua đó doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc là phục hồi hoạt động kinh doanh, tiếp tục phát triển hoặc là chấm dứt tồn tại trên thị trường Khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán, buộc phải tiến hành phá sản, không chỉ ảnh hưởng đến chính bản thân doanh nghiệp, hợp tác xã mà còn ảnh hưởng đến các chủ nợ và sự phát triển chung của nền kinh tế
Mặt khác, nhằm đảm bảo tiến trình phá sản diễn ra nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ nợ thì cần có sự tham gia của nhiều chủ thể, mỗi chủ thể đóng một vai trò, nhiệm vụ
Trang 10khác nhau nhưng vẫn hướng đến mục đích chung Trong đó, chủ thể giữ vai trò trung tâm và quyết định trong việc tuyên bố hay không tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản đó chính là toà án
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về vai trò của tòa án nhân dân (sau đây gọi tắt là tòa án) trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã cũng như việc tìm giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa vị trí vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng và cần thiết trên nhiều mặt cả về kinh tế, xã hội, pháp lý , cả ngắn hạn lẫn dài hạn Vì
lẽ đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Các công trình nghiên cứu như Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ, cũng như nhiều bài viết đề cập đến vấn đề về vai trò của toà án nói chung và vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã nói riêng tính đến thời điểm này, có thể
kể đến như:
- Đinh Ngọc Thu Hương (2006 ), “Địa vị pháp lý của tòa án trong thủ tục
phá sản theo luật phá sản năm 2004”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh;
- Lê Ngọc Thắng (2013), Luật Phá sản năm 2004- Những quy định mới và tính khả thi trong thực tiễn thi hành, Luận án Tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Đại
học Quốc Gia Hà Nội;
- Dương Kim Thế Nguyên (2015), Thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh;
Trang 11- Lê Tuấn Anh (2013), “Vai trò của Tòa án trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội;
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở thủ tục phá sản và vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản theo quy định của Luật phá sản năm 2004 Nhưng dựa trên nền tảng những lý luận về phá sản và thủ tục phá sản của các đề tài này, tác giả có thể tham khảo cho việc nghiên cứu vai trò của Tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã trong giai đoạn thi hành Luật Phá sản năm 2014 Chính là nghiên cứu tòa án có vai trò như thế nào đối với thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, có ảnh hưởng đến tình trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và quyết định doanh nghiệp, hợp tác xã có phá sản hay không? Có thể thấy việc nghiên cứu của tác giả sẽ góp phần cho việc hoàn thiện pháp luật phá sản hiện hành và đánh giá được thực trạng pháp luật về vai trò của Tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì đề tài tập trung nghiên cứu với các mục tiêu:
Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phá sản, thủ tục phá sản, vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và nghiên cứu những quy định của pháp luật về vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng quy định pháp luật về vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
Trang 12Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm góp phần nâng cao vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ở nước ta hiện nay
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của Luận văn, đạt được mục đích nnghiên cứu, và chứng minh cho các giả thuyết nghiên cứu Một
số cấu hỏi nghiên cứu cơ bản được đặt ra trong quá trình nghiên cứu như:
Câu hỏi nghiên cứu chung:
Pháp luật về phá sản ở Việt Nam có những hạn chế, bất cập gì? ảnh hưởng của nó đến vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã? Pháp luật quy định về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã cần được hoàn thiện như thế nào để nâng cao được vai trò của toà án trong thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã trong giai đoạn hiện nay?
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật về phá sản, thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã,
về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã dựa trên cơ
sở lý luận và thực tiễn nào? Để làm rõ câu hỏi này, luận văn cần giải quyết được hai vấn đề sau:
(i) Khái niệm, đặc điểm, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã? Khái niệm, đặc điểm của Thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã?
(ii) Khái niệm, đặc điểm, vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã như thế nào?
(iii) Quy định của pháp luật phá sản về vai trò của toà án có ý nghĩa như thế nào đối với quá trình phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã nói riêng và nền kinh
tế nước ta nói chung hiện nay? Pháp luật phá sản của một số nước điển hình trên thế giới đem lại cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm gì về vai trò của toà
án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã?
Trang 13Thứ hai, thực tiễn quy định thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được quy định như thế nào trong từng giai đoạn, từng bước của quá trình giải quyết phá sản? toà án đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn như thế nào bất cập trong các quy định của pháp luật
về toà án trong từng giai đoạn tố tụng về phá sản?
Thứ ba, kiến nghị cụ thể về mặt pháp lý và giải pháp kỷ thuật nhằm nâng cao vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là những kiến nghị gì?
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây:
- Các quan điểm, các học thuyết pháp lý về phá sản, thủ tục phá sản, về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
- Những quy định của pháp luật Việt Nam về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, thủ tục phá sản doanh nghiệp, hơp tác xã; về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
- Quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã một số nước trên thế giới để đối chiếu, so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
- Nhận diện những bất cập trong các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã hiện nay
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao vai trò của tòa án trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về phá sản, thủ tục phá sản, về vai trò của toà án trong việc giải quyết phá sản của doanh nghiệptheo quy định của Luật phá sản năm 2014 Đồng thời, phân tích và đánh giá thực trạng về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp ở nước ta
từ năm 2014 cho đến nay Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến vai trò của toà án trong thủ tục giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp)
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thực tiễn cụ thể:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nhằm tổng hợp các vấn
đề về những quan điểm của Đảng, của Nhà Nước về cải cách tư pháp, các chủ trương phát triển kinh tế đất nước trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Phương pháp thống kê - so sánh được sử dụng phần nghiên cứu đánh giá vai trò của toà án hiện nay trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Sử dụng phương pháp này sẽ cho phép làm rõ những ưu điểm, thành tựu hay nhược điểm, hạn chế về vai trò của tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp,
Trang 15hợp tác xã và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện vai trò
đó
+ Phương pháp lôgic - lịch sử được sử dụng chủ yếu để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc thực hiện vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã như thế nào
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản, thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó giải quyết được những vấn đề lý luận cốt lõi như: khái niệm, đặc điểm, của phá sản; thủ tục phá sản; khái niệm, đặc điểm về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Nội dung nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta, đặc biệt đối với chuyên ngành luật kinh tế
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thứ nhất, luận văn làm rõ thực trạng các quy định pháp luật, phân tích
những bất cập và chỉ ra những hạn chế trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật về phá sản
Thứ hai, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những nội dung,
thông tin quan trọng, tin cậy, có giá trị về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã,
về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được chia thành 2 chương
Trang 16Chương 1 Khái quát về phá sản và vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Chương 2 Thực trạng pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN
TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ 1.1 Khái quát về phá sản và thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác
xã
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
“Phá sản” là tình trạng xảy ra khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường,
do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan tác động trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Ở góc độ kinh tế, phá sản là tình trạng mất cân đối giữa thu và chi tại một doanh nghiệp hay một công ty mà biểu hiện rõ rệt nhất ở sự mất cân đối ấy là tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Ở Châu Âu, khi nói về khái niệm phá sản, người ta thường dùng thuật ngữ
“Bankruptcy” hoặc “Banqueroute” Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng La Mã
“Banca Rotta”, có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy.”1
Từ xa xưa, các thương nhân La Mã thường họp với nhau để xem xét các khía cạnh kinh doanh của từng cá nhân, trong một diễn đàn gọi là “đại hội thương gia”; người nào không trả được nợ thường bị bắt làm nô lệ, đồng thời mất luôn quyền tham gia đại hội Chiếc ghế của người “vỡ nợ”, theo đó, sẽ bị đem ra khỏi hội trường Vì vậy, người La Mã khi xưa mới dùng thuật ngữ bóng bẩy “chiếc ghế bị gãy” để ám chỉ người “phá sản” và không còn quyền lợi gì, hay người mất vị thế trong các đại hội thương gia Về sau, để quản lý các tình trạng “phá sản” của các thương nhân đồng thời ngăn ngừa những “con nợ” bỏ trốn nhằm tránh hình phạt hay trách nhiệm, các chế định về quản lý và xử lý tài sản của các “con nợ” ra đời rồi dần dần được cải thiện và nâng cấp thành Luật
1 Khuất Thu Huyền, “Phá sản và pháp luật phá sản tại Việt Nam” – Chuyên đề khoa học xét xử, Viện Khoa học Xét xử, Tòa án nhân dân tối cao, 2010.
Trang 18phá sản của nhà nước La Mã cổ đại2 Cũng ở thời kì này, thuật ngữ “phá sản” được sử dụng phổ biến, rất nhiều chuyên gia cho rằng nó bắt nguồn từ tiếng
“ruin” trong tiếng La Tinh, có nghĩa là “sự khánh tận”3
Theo từ điển tiếng Việt, “phá sản là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn
gì và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ trả nợ4” Theo từ điển Black Law của nhà xuất bản West Group, thì phá sản (bankruptcy) là “một thủ tục pháp lý, bắt nguồn từ tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ, qua đó con nợ được giải phóng khỏi các khoản nợ và phải trải qua một quá trình tổ chức lại có giám sát tư pháp hoặc thanh lý [tài sản hoặc doanh nghiệp] vì lợi ích của các chủ nợ.”5
Tại Điều 4, Luật Phá sản năm 2014 đã định nghĩa: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án Nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản Doanh nghiệp, hợp tác xã được coi là mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng khi đến hạn thnh toán
Như vậy, với khái niệm “phá sản” theo pháp luật Việt Nam thì phá sản là kết quả của một quá trình giải quyết thủ tục phá sản và hội đủ ba điều kiện sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán
Thứ hai, có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Thứ ba, bị Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản
Cần lưu ý phân biệt giữa 2 khái niệm “mất khả năng thanh toán” và “phá sản” Doanh nghiệp được cho là mất khả năng thanh toán khi “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh
Trang 19toán” Còn phá sản là “tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và
bị tòa án Nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” Như vậy, chỉ khi tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp mất khả năng thanh toán mới được coi là phá sản Thêm vào đó, việc quy định khoảng thời gian 3 tháng nợ quá hạn cũng cho phép doanh nghiệp có thêm thời gian thu xếp thanh toán các khoản nợ, đồng thời hạn chế tình trạng chủ nợ lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gây áp lực với doanh nghiệp đang gặp khó khăn Cơ sở để tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản là tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp và đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn theo quy định của pháp luật (Điều 5, Luật Phá sản) Tuy nhiên, tình trạng mất khả năng thanh toán không nhất thiết sẽ dẫn tới việc mở thủ tục phá sản Trong khoảng thời gian kể từ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho tới khi tòa án chính thức ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, nếu doanh nghiệp có thể khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán (có được nguồn thu, được cấp một khoản tín dụng mới ) thì doanh nghiệp vẫn có
cơ hội thỏa thuận với chủ nợ về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều
37, Luật Phá sản) Nếu trong khoảng thời gian tính từ khi tòa án ra quyết định
mở thủ tục phá sản đến trước ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản, nếu doanh nghiệp không còn trong tình trạng mất khả năng thanh toán thì thủ tục phá sản sẽ được chấm dứt (Điều 86, Luật Phá sản)”6
Có thể thấy so với các khái niệm về phá sản theo các quy định trước đây thì khái niệm phá sản theo pháp luật hiện hành khá rõ ràng và hợp lý Khái niệm không chỉ xác định rõ sự đặc thù về mặt pháp lý của thủ tục phá sản mà thông qua đó còn thể hiện được tầm quan trọng của việc xây dựng pháp luật điều chỉnh
6
http://www.pvn.vn/DataStore/Documents/2018/TapChiDauKhi/4/phasan.pdf Phan Thị Mỹ Hạnh, Tạp chí dầu khí, số 04/2018, tr.60-63
Trang 20
về thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã một cách rõ ràng, minh bạch
và khả thi trên thực tế
Tác giả đồng tình với quan điểm của pháp luật hiện hành về việc xây dựng khái niệm này về phá sản, tuy nhiên, cũng trong nội hàm của khái niệm phá sản theo Luật Phá sản 2014 vẫn còn hàm chứa những nội dung chưa rõ ràng cần phải được phân tích và giải quyết cụ thể hơn nhằm giúp cho quá trình tiến hành thủ tục phá sản diễn ra thuận lợi hơn.7
Đặc điểm của phá sản
Thứ nhất, phá sản là kết quả của một quá trình tố tụng Về bản chất, phá sản xuất phát từ tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của con nợ có liên quan Do đó, nó tạo nên nghĩa vụ của con nợ và quyền (truy đòi nợ) của các chủ nợ Để giải quyết tình trạng này, giữa chủ nợ và con nợ
đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau hoặc là tự giải quyết thông qua thương lượng, đàm phán, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó, đôi khi là chính quyền địa phương nơi con nợ cư trú hay nơi con nợ tiến hành các hoạt động kinh doanh Quá trình giải quyết “phá sản”, đảm bảo nghĩa vụ của chủ nợ và “giải thoát” trách nhiệm cho con nợ yêu cầu phải có sự can thiệp của pháp luật để hài hòa lợi ích của cả hai
Thứ hai, kết thúc thủ tục phá sản thường là sự chấm dứt tồn tại của một
chủ thể kinh doanh Phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt, theo đó các chủ nợ
và người có quyền, nghĩa vụ liên quan tiến hành thủ tục tố tụng tư pháp để yêu cầu tòa án can thiệp nhằm thu hồi các khoản nợ của mình Có những trường hợp doanh nghiệp phục hồi các hoạt động kinh doanh một cách thành công nhưng nhìn chung hậu quả pháp lý của phá sản là các doanh nghiệp liên quan bị chấm dứt tồn tại, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đó bị thanh lý để trả cho các chủ
nợ Trong trường hợp này, phá sản có ý nghĩa khá tiêu cực
7
Bất cập sẽ được phân tích tại mục 2.1 chương 2 của Luận văn
Trang 21Do vậy, từ các phân tích trên, về mặt pháp lý khái niệm “phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã” có thể được hiểu như sau:
Thứ nhất, phá sản là tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản Hậu quả của quyết định này là sự chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp.8
Thứ hai, phá sản là việc một doanh nghiệp hợp tác xã khi mất khả năng
thanh toán Thủ tục pháp lý này đuợc quy định bởi Luật Phá sản và pháp luật có
liên quan, được tiến hành từ khi có dấu hiệu tổ chức kinh doanh đó lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán (insolvency) và quá trình giải quyết tình trạng
mất khả năng thanh toán được thực hiện có thể đưa đến những hệ quả khác nhau
là phục hồi tổ chức kinh doanh (reorganization) hoặc thanh lý tài sản và chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh doanh (liquidation hoặc windingup).9
Từ những việc phân tích những đặc điểm, bản chất của những quan hệ xã hội phát sinh của hiện tượng phá sản, khẳng định, phá sản phải là một kết quả của một quá trình tiến hành các bước (thủ tục) nhất định và tất nhiên, thủ tục này cần phải được quy định rõ ràng, thống nhất để tạo sự công bằng và nhằm đến nhiều mục đích bảo vệ, dung hoà lợi ích của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản, lợi ích của nhà nước và của xã hội
1.1.2 Khái quát về thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
1.1.2.1.Khái niệm thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Nói đến thủ tục là nói đến quy trình và cách thức giải quyết công việc nào
đó Thực tế, để thực hiện có hiệu quả một công việc nhất định cần tiến hành một loạt các hoạt động theo thứ tự trước sau và cách thức thực hiện từng bước theo
Trang 22những quy định chặt chẽ, thống nhất Theo nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đặt được kết quả mong muốn
Tuỳ vào nội dung pháp luật về phá sản của mỗi quốc gia, thẩm quyền tuyên bố phá sản và chủ thể tiến hành phá sản được quy định khác nhau Tuy nhiên cần phải xác định rõ thẩm quyền tuyên bố phá sản và thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản là khác nhau
Theo tác giả, thủ tục phá sản là một trong những thủ tục tố tụng dân sự một quy trình chặt chẽ gồm những bước, những giai đoạn khác nhau dưới sự tham gia của các chủ thể tiến hành và chủ thể tham gia thủ tục phá sản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con nợ (doanh nghiệp, hợp tác xã) và các chủ nợ trên tinh thần đảm bảo có dung hoà lợi ích giữa chủ nợ, con nợ, nhà nước và xã hội
Từ khái niệm trên, ta có thể thấy thủ tục giải quyết phá sản có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, là thủ tục tố tụng dân sự được tiến hành tại toà án nhân dân có
sự tham gia của nhiều chủ thể
Theo quy định của pháp luật về phá sản, thủ tục giải quyết phá sản là thủ tục tố tụng đặc biệt, không phải là một thủ tục hành chính đơn thuần, vì thủ tục này do tòa án nhân dân với tư cách là là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp tiến hành
Trang 23Khi các khoản nợ đến hạn phải thanh toán, các chủ nợ yêu cầu hoàn trả, nhưng con nợ không thực hiện nghĩa vụ của mình thậm chí thực hiện các thủ đoạn nhằm tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình đối với các chủ nợ,
do đó, giữa chủ nợ và con nợ sẽ xuất hiện mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi Các mâu thuẫn, xung đột này chủ yếu tập trung vào các nghĩa vụ về tài sản được phát sinh từ các giao dịch dân sự, thương mại hoặc các sự kiện pháp lý khác có liên quan
Việc con nợ không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của mình sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, các chủ nợ có thể lựa chọn thủ tục khởi kiện bằng vụ án dân sự hoặc khởi kiện bằng phương thức nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với các con nợ Ở đây tác giả chỉ phân tích thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã mà không bàn sâu về thủ tục khởi kiện bằng một thủ tục tố tụng dân sự Do vậy, khi chủ nợ muốn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản đối với con
nợ là các doanh nghiệp, hợp tác xã với mục đích thu hồi nợ Khi có yêu cầu mở thủ tục phá sản từ các chủ nợ, tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật về phá sản, các quy định khác có liên quan để tiến hành xem xác các yêu cầu đó có phù hợp với quy định của pháp luật hay không Nếu tòa án xét thấy có đầy đủ cơ sở
sẽ thụ lý yêu cầu mở thủ tục phá sản, mở thủ tục phá sản, tiến hành hội nghị chủ
nợ, phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, bên cạnh đó tòa án còn thực hiện các thủ tục khác có liên quan đến quá trình tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản như tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thực hiện nghĩa vụ về tài sản; chỉ định, thay đổi quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh
lý tài sản, tuyên bố giao dịch vô hiệu; Tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực…
Trang 24Như vậy, thủ tục phá sản là một trong những nội dung của thủ tục tố tụng
dân sự, đặc điểm này quyết định nguồn luật áp dụng trong thủ tục phá sản
Thứ nhất, thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp và khá phức tạp Điều này thể hiện ở việc tòa án phải tham gia vào hầu hết các thủ
tục giải quyết phá sản, từ ra quyết định mở thủ tục phá sản đến giám sát hoạt động của các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, rà soát, xem xét phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, xử lý tài sản của doanh nghiệp có tranh chấp…Do tính chất đặc biệt phức tạp của mình, tố tụng phá sản đòi hỏi phải có luật riêng và luôn là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt.10
Tuỳ vào pháp luật của mỗi quốc gia, thủ tục giải quyết phá sản được tích hợp trong cùng một đạo luật khi điều chỉnh thủ tục tố tụng dân sự chung Tuy nhiên, quan điểm của tác giả cho rằng mặc dù là một quan hệ giải quyết nợ giữa các chủ thể mang tính dân sự nhưng do đặc thù riêng, thủ tục phá sản cần được quy định không chỉ khác hơn mà còn phải quy định trong một văn bản riêng Mối quan hệ của hai văn bản là luật chung và luật chuyên ngành Cũng có nghĩa
là khi luật phá sản không điều chỉnh thì các quy định về Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng Trong giai đoạn thi hành án, luật thi hành án dân sự cũng được áp dụng với tư cách là luật chung khi thi hành các quyết định tuyên bố phá sản khi luật phá sản không quy định
Thứ hai, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ tập thể, tại
đó tất cả các chủ nợ liên kết với nhau để giải quyết vấn đề công nợ của những con nợ, vốn là các chủ thể rơi vào trạng thái phá sản, thất bại trong việc hoàn lại các khoản vay Các chủ thể này có thể vẫn còn tài sản để thanh lý bù đắp cho các khoản vay nhưng cá biệt có những chủ thể không còn tài sản gì để bù đắp
Sở dĩ nói phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể vì: (i) các chủ nợ của doanh
10
Đặc san tuyên truyền pháp luật số 09/2014, Pháp luật phá sản tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, tr.5
Trang 25nghiệp mất khả năng thanh toán, trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, không tự xé lẻ ra để đòi nợ riêng Họ cùng tham gia vào một thiết chế chung để tiến hành đòi nợ hay đảm bảo quyền lợi của mình, gọi là hội nghị chủ nợ (“HNCN”); (ii) dưới góc độ pháp lý, việc chủ nợ phát sinh quyền đòi nợ chỉ khi thời hạn thanh toán đã đến tuy nhiên, đối với thủ tục phá sản, khí toàn án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản thì các chủ nợ phát sinh quyền đòi nợ mà không cần đến hạn thanh toán, tất nhiên, pháp luật quy định cụ thể về thời hạn gửi giấy đòi nợ và giải quyết hậu quả
Khi giải quyết vấn đề phá sản của doanh nghiệp thì toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đó được bán thanh lý, đưa vào quỹ chung và trả cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định mà luật phá sản quy định Do vậy, trong bất cứ trường hợp nào, phá sản cũng là một thủ tục mang tính tập thể cao
Thứ ba, thủ tục giải quyết phá sản không chỉ nhắm đến mục đích đòi nợ mà còn chú trọng đến việc giúp đỡ để con nợ có thể phục hồi hoạt động kinh doanh
Xu hướng chung của pháp luật phá sản trên thế giới là chú trọng giải quyết hai vấn
và từng bước thoát khỏi thảm cảnh phá sản Thực tế thì bất kỳ nhà nước nào cũng quan tâm đến việc phục hồi hoạt động doanh nghiệp bởi suy cho cùng doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản thì quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ mới không bị đe dọa, môi trường đầu tư, kinh doanh của nhà nước vì thế
mà cũng được cải thiện
Trang 26Thứ tư, các chủ thể tiến hành và tham gia quá trình tố tụng có những quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật
Khác với những quan hệ tố tụng khác, quan hệ tố tụng về phá sản thường
có nhiều chủ thể tham gia Thường thì được chia làm hai nhóm: chủ thể tiến hành và những chủ thể tham gia
Chủ thể tiến hành thường là những chủ thể có quyền hoặc được trao quyền để kết luận, quyết định vấn đề phát sinh trong suốt quá trình giải quyết phá sản
Các chủ thể tham gia là những người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp liên quan đến con nợ những chủ thể này sẽ tham gia vào những giai đoạn
tố tụng phá sản khác nhau theo sự triệu tập của những chủ thể tiến hành tố tụng phá sản
Thứ năm, một số bước trong thủ tục không bắt buộc phải có và có thể có những thủ tục tuyên bố phá sản rút gọn trong một số trường hợp đặc biệt
Như đã phân tích ở trên, thủ tục phá sản là nói đến các bước, tuy nhiên phải hiểu một cách linh hoạt là có những bước sẽ tiến hành song song với nhau nhưng cũng có những bước phải tiến hành sau một bước khác, một số bước có thể không cần thâm chí, trong một số trường hợp, cơ quan có thẩm quyền có thể tuyên phá sản rút gọn do nhiềun guyên nhân nhưng chủ yếu là do doanh nghiệp không còn tài sản nào sau khi thống kê Quy định này nhằm hạn chế tối đa thất thoát và tốn kém cho con nợ và cho các chủ nợ, không làm mất nhiều thời gian của các chủ thể khác tromng quá trình tố tụng
1.2 Khái quát về vai trò của toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
1.2.1 Vị trí, chức năng của toà án
Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân năm 2014, Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã ghi nhận vị trí và vai trò của tòa án trong việc
Trang 27thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của tòa án Theo đó, tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiền quyền tư pháp Chức năng xét xử của tòa án được xem là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, nó bao trùm và xuyên suốt trong các hoạt động của tòa án Tòa
án gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân.11 Bằng hoạt động của mình, tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét
xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án; quyết định một người
có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.12
Tòa án có một vị trí, vai trò đặt biệt quan trọng, là cơ quan trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp, được thể hiện qua các chức năng và nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất, tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có tòa án mới có thẩm quyền tuyên bố một người có tội hoặc vô tội và áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Trang 28Thứ hai, tòa án được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử, tòa án xét
xử theo chế độ hai cấp, xét sử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm được bảo đảm Các Bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm của tòa án có hiệu lực pháp luật.13 Bên cạnh đó, khi bản
án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì tòa án còn thực hiện chức năng xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để đảm bảo hoạt động xét xử của tòa án phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai và thiệt hại xảy ra.14
Thứ ba, tòa án xét xử theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số Khi xét
xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào cũng không được can thiệp, tác động, gây áp lực làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử độc lập của tòa án Bản án, quyết định của tòa án khi phán quyết nhân danh Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được đảm bảo thi hành bằng quyền lực nhà nước
Thứ tư, khi nói đến quyền tư pháp là phải nói đến tòa án, tòa án là nơi biểu hiện một cách mạnh mẽ nhất, tập trung và rõ ràng nhất quyền lực tư pháp thông qua hoạt động xét xử
Thứ năm, trong các vụ việc dân sự, lao động, kinh tế, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức được tòa án đảm bảo Tòa án là nơi không chỉ xét
xử mà còn là nơi hòa giải, hàn gắng, luôn cố gắng xây dựng mối đoàn kết trong
Trang 29nhân dân, giữ vững truyền thống văn hóa tốt đẹp trong nhân dân là đoàn kết, thân ái và nghĩa tình
Qua đó, chúng ta thấy rằng tòa án có một vai trò, vị trí quan trọng trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tòa án là nơi công lý, và công bằng xã hội được thực thi Trong phạm vi quyền hạn của mình tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân, bảo
vệ tài sản nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của nhân dân
Tòa án là nơi biểu hiện quyền lực nhà mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất, mọi phán quyết của tòa án được đảm bảo thi hành bằng quyền lực nhà nước Tất cả các bản án, quyết định của tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi cá nhân phải tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.15
Bên cạnh đó, tòa án còn là nơi thực hiện chức năng phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật bằng việc đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng các phiên tòa xét xử, tổ chức xét xử lưu động ngoài trụ sở tòa án nhằm giáo dục, răng đe, tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến pháp luật đến với quần chúng nhân dân, để họ hiểu biết về pháp luật, hướng đến một xã hội luôn “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” Chính các hoạt động nghề nghiệp, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, tòa án đã góp phần giáo dục công dân có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc, đạo đức xã hội, nâng cao ý thức phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
1.2.2 Vai trò toà án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Vai trò của toà án trong thủ tục phá sản có thể hiểu là kết quả của việc thực các quyền và nghĩa vụ của toà án trong hoạt động giải quyết thủ tục phá sản
15
Điều 106 Hiến pháp năm 2013;
Trang 30đối với doanh nghiệp, hợp tác xã Suy cho cùng khi đánh giá về vai trò của toà
án trong thủ tục giải quyết phá sản là sự đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của toà án trong thủ tục phá sản, chỉ ra những
ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó, đặc biêt tập trung sự ảnh hưởng đến từ các quy định của pháp luật nhằm tìm ra giải pháp pháp lý cho việc nâng cao vai trò của toà án đối với thủ tục phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã
Pháp luật các nước trên thế giới đều quy định tòa án là cơ quan duy nhất
có thẩm quyền giải quyết vụ phá sản Tuy nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội, truyền thống lập pháp cũng như nguyên tắc xây dựng bộ máy nhà nước của mỗi nước
có sự khác nhau nên việc phá sản có thể được phân công giải quyết tại các tòa án khác nhau Ở hầu hết các nước Châu âu lục địa, tòa án đó có tên là tòa thương mại, với nhiệm vụ giải quyết nhiều công việc liên quan đến thương nhân như tranh chấp thương mại và giải quyết phá sản, trong khi đó, ở một số nước như
Mỹ, Thụy Điển, Nam Tư…lại hình thành tòa án phá sản chuyên trách một công việc duy nhất là giải quyết các vụ phá sản Ở Cộng hòa liên bang Nga, thẩm quyền giải quyết phá sản thuộc về một Tòa án có tên gọi rất độc đáo là Tòa Trọng tài 16
Khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ, tòa án chỉ định thẩm phán thay mặt nhà nước giải các vấn đề liên quan đến vụ phá sản Thẩm phán là người đứng bên ngoài quan hệ chủ nợ- con nợ, đại diện cho nhà nước giải quyết mối xung đột về lợi ích tài sản (kinh tế) phát sinh giữa họ với nhau nhằm bảo đảm một môi trường kinh doanh lành mạnh và ổn định Trong quá trình giải quyết vụ phá sản, thẩm phán giữ vai trò trung tâm, là chủ thể có vai trò quyết định trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý cơ bản Các quyết định của
16
Phá luật phá sản Việt Nam, PGS.TS Dương Đăng Huệ, Nhà xuất bản Tư pháp, 2005
Trang 31thẩm phán về các vấn đề này đều có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể có liên quan
Tuy nhiên, trong việc giải quyết các vân đề có tính chất kinh tế, nhất là các vấn đề liên quan đến việc tổ chức lại doanh nghiệp thì theo pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới như: Đức, Pháp, Nhật, Anh, Cộng hòa liên bang Nga… vai trò của Thẩm phán lại rất hạn chế Thẩm phán không có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, lại càng không có trách nhiệm chủ trì việc tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp Một chủ thể pháp lý đặc biệt được gọi là “Quản tài viên”(người quản lý tài sản), được tòa án bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của chủ doanh nghiệp hoặc chủ nợ, có trách nhiệm thay chủ doanh nghiệp tiến hành việc tổ chức lại doanh nghiệp Trong trường hợp này, tòa án chỉ đóng vai trò là chủ thể thực hiện việc giám sát quá trình giải quyết phá sản nhằm đảm bảo cho các bên phải tuân thủ đúng pháp luật Nói cách khác, tòa án chủ yếu có chức năng điều khiển thủ tục phán sản mà không can thiệp vào việc giải quyết nội dung vụ việc Theo quy định của pháp luật phá sản ở đa số các quốc gia trên thế giới thì tòa án không chủ động đưa ra phương án cơ cấu lại doanh nghiệp mà giao việc này lại cho con nợ, chủ nợ, người quản lý tài sản hoặc người thứ ba thực hiện Tòa án cũng không nêu ra quan điểm của mình về tính hợp lý hay không hợp lý, tính hiệu quả hay không hiệu quả của phương án cơ cấu lại doanh nghiệp vì đây không phải là việc của tòa án mà là việc của con nợ và chủ nợ Tòa án chỉ là người phê chuẩn kế hoạch phục hồi đã được con nợ và các chủ nợ thỏa thuận thông qua
Cũng như quy định của một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Pháp luật Việt Nam quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia giải quyết phá sản cho thấy, tòa án có vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định trong mọi giai đoạn của tố tụng phá sản ở
Trang 32Việt Nam Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp, hợp tác xã được xem là phá sản
về mặt pháp lý khi và chỉ khi có quyết định tuyên bố phá sản của tòa án có thẩm quyền Tòa án được giao giữ một vai trò to lớn và quan trọng như vậy là một nét đặc thù cơ bản của Luật Phá sản của nước ta so với pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới Điều này được thể hiện qua các quy định liên quan đến đặc điểm của nền kinh tế và xã hội nước ta Hiện tượng phá sản ở nước ta diễn ra gay gắt, trong khi đó, thủ tục giải quyết phá sản lại là một quá trình hết sức phức tạp kéo dài, mất nhiều thời gian cho doanh nghiệp, hợp tác xã Pháp luật về phá sản có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, các doanh nghiệp, hợp tác xã bị mắc nợ, cho người lao động, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
và góp phần có hiệu quả vào việc cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân
Chính vì vậy, việc trao nhiều quyền hạn cho tòa án trong việc giải quyết phá sản kể từ khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã cho đến khi giải quyết xong mối quan hệ tài sản giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác phá sản là phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa pháp lý của nước ta
Theo quan điểm của tác giả, trong Luận văn này, tác giả sẽ đánh giá vai trò của tòa án thông qua các giai đoạn, thủ tục tiến hành tố tụng phá sản cơ bản sau:
Thứ nhất, vai trò của toà án trong giai đoạn nộp đơn, xử lý thụ lý đơn Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xem xét và thụ lý đơn yêu cầu và quyết định việc mở hay không mở thủ tục phá sản Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tòa án có quyền yêu cầu người nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác
xã bổ sung thêm các giấy tờ, tài liệu làm cơ sở cho việc thụ lý cũng như quyết định mở thủ tục phá sản Trong quá trình xem xét thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tòa án tạo điều kiện để chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
Trang 33năng thanh toán có thể thương lượng để rút đơn trong thời hạn do luật quy định Khi không còn tài sản để thanh toán chi phí phá sản, trong trường hợp này, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán sẽ được tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn Khi thấy cần thiết, trước khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, thẩm phán có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan
để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
Thứ hai, vai trò của toà án trong việc tự mình hoặc chỉ định chủ thể làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Thứ ba, vai trò của toà án trong thống kê tài sản, thống kê chủ nợ và giám sát hoạt động của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản Theo tác giả, toà án quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo toàn tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như: Tuyên bố vô hiệu các giao dịch quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp theo các đề nghị của tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản; Giải quyết các vụ án bị đình chỉ liên quan đến doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản;
Thứ tư, vai trò của toà án trong triệu tập và chủ trì hội nghị chủ nợ và quyết định liên quan đến cơ hội phục hồi đối với doanh nghiệp
Tòa án là cơ quan có thẩm quyền triệu tập và chủ trì hội nghị chủ nợ để quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền Toà án là cơ quan có thẩm quyền triệu tập hội nghị chủ nợ sau khi thống kê tài sản và lập xong danh sách chủ nợ hoặc kể từ ngày kiểm kê xong tài sản của doanh nghiệp (nếu việc kiểm kê tài sản kết thúc sau ngày lập xong danh sách chủ nợ) Các hội nghị chủ nợ tiếp
Trang 34theo có thể được thẩm phán triệu tập vào bất kỳ ngày làm việc nào trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản
Thứ năm, vai trò của toà án trong việc quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Theo tác giả, toà án sẽ dựa trên kết quả của hội nghị chủ nợ và khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh (nếu có theo nghị quyết HNCN để quyết định tuyên bố phá sản, đồng thời quyết định phương án phân chia tài sản cho các chủ nợ và giải quyết tài sản còn lại trong quyết định tuyên bố phá sản
Thứ sáu, vai trò của toà án trong thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản
Theo quan điểm của tác giả, bởi quyết định tuyên bố phá sản suy cho cùng cũng là một trong những quyết định của toà án trong thủ tục tố tụng dân
sự nên việc thi hành phải giao về cho cơ quan có chức năng thi hành án là hợp
lý Tất nhiên, toà án vẫn có quyền giám sát và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình đảm bảo thi hành nghiêm minh quyết định tuyên bố phá sản
1.3 Pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới
1.3.1 Pháp luật Phá sản của Nhật Bản
Có sáu cách để một doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản ở Nhật Bản, bao gồm hai loại thủ tục ngoài tòa án và bốn loại thủ tục thực hiện phá sản tại tòa án17 Các thủ tục phá sản tại tòa án ở Nhật Bản được phân loại thành thủ tục thanh lý và thủ tục tái cấu trúc và được điều chỉnh bởi các đạo luật khác nhau Thủ tục thanh lý bao gồm thủ tục phá sản (được điều chỉnh trong Đạo luật Phá sản - Bankruptcy Act18) và thủ tục thanh lý đặc biệt được điều chỉnh
17
http://www.japantimes.co.jp/news/2009/04/28/reference/corporate-bankruptcy-the-japanese way/#.XKWKINIZIU, truy cập ngày 25/9/2019
18
http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2304&vm=04&re=01, truy cập ngày 25/9/2019
Trang 35trong một phần của Đạo luật Công ty - Companies Act19) Thủ tục tổ chức lại (tái cấu trúc) bao gồm thủ tục phục hồi dân sự (được điều chỉnh bởi Đạo luật Phục hồi Dân sự - Civil Rehabilitation Act20) và và thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp (được điều chỉnh bởi Đạo luật Tổ chức lại Công ty - Corporate Reorganization Act21).22
Đạo luật Phá sản Nhật Bản (Bankruptcy Act) có hiệu lực từ ngày 1 tháng
1 năm 2005 Các thủ tục phá sản trong luật này được quy định tương tự như các thủ tục trong Chương 7 của Luật phá sản Hoa Kỳ (US Bankruptcy Code)
và theo thủ tục này, một người nhận ủy thác được tòa án chỉ định appointed trustee) để thanh lý các tài sản của con nợ.23 Quy trình thanh lý áp dụng cho cả tài sản bảo đảm và không có bảo đảm.24
Người nhận ủy thác thực hiện phân chia số tiền thu được cho các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên theo quy định của pháp luật trong giai đoạn cuối của quá trình tố tụng và sự phân phối này không cần được các chủ nợ chấp thuận.25
Luật về thanh lý đặc biệt là một phần phụ của Đạo luật Công ty, bắt đầu
có hiệu lực vào ngày 1 tháng 5 năm 2006 Nhìn chung, luật này quy định thủ tục thanh lý đơn giản để có thể được sử dụng trong các tình huống đồng thuận
và được sử dụng bởi các công ty mẹ để xử lý các công ty con Luật này cho phép các công ty, sau khi bỏ phiếu cho cổ đông, chọn ra kế hoạch thanh lý phù hợp từ người thanh lý và kế hoạch thanh lý này phải có sự chấp thuận của các
19
http://www.japantimes.co.jp/news/2009/04/28/reference/corporate-bankruptcy-the-japanese way/#.XKWKINIZIU, truy cập ngày 25/9/2019
20
http://www.japantimes.co.jp/news/2009/04/28/reference/corporate-bankruptcy-the-japanese way/#.XKWKINIZIU, truy cập ngày 25/9/2019
21
http://www.japantimes.co.jp/news/2009/04/28/reference/corporate-bankruptcy-the-japanese way/#.XKWKINIZIU, truy cập ngày 25/9/2019
22
Nishumura & Asahi An introduction to court procedures for insolvency in Japan 2011 p 4
(http://www.jurists.co.jp/en/articles/article 10073.html), truy cập ngày 25/9/2019.
23
http://www.japantimes.co.jp/news/2009/04/28/reference/corporate-bankruptcy-the-japanese way/#.XKWKINIZIU, truy cập ngày 25/9/2019
Trang 36chủ nợ Thủ tục này chỉ áp dụng cho các yêu cầu không có bảo đảm chung và không thể được sử dụng để thay đổi quyền chủ nợ được bảo đảm và/hoặc các yêu cầu ưu tiên theo các luật khác Đạo luật phá sản thường được sử dụng trong việc thanh lý tài sản hơn so với luật về thanh lý đặc biệt26
Đối với thủ tục tái cấu trúc, cả thủ tục phục hồi dân sự và tổ chức lại doanh nghiệp đều tương tự như các thủ tục được quy định trong Chương 11 của Đạo luật Phá sản Hoa Kỳ Theo nguyên tắc chung của thủ tục phục hồi dân
sự, con nợ tiếp tục có quyền quản -lý hoạt động kinh doanh của mình và xử lý tài sản của mình ngay cả sau khi lệnh bắt đầu hủ tục phục hồi đã có hiệu lực.27
Ngược lại, theo nguyên tắc chung của thủ tục tái tổ chức doanh nghiệp, công việc kinh doanh của con nợ được quản lý bởi một người nhận ủy thác do tòa án chỉ định Đây là một thủ tục để làm giảm số tiền muốn đòi của các chủ nợ không có bảo đảm và cả các chủ nợ có bảo đảm.28
Hai điểm khác biệt lớn nhất giữa hai luật này đó là việc tòa án có chỉ định quản trị viên để tiếp tục hoạt động kinh doanh và việc chủ nợ có thể thực hiện yêu cầu của mkhi một công ty thất bại hay không.29
Theo Đạo luật Tổ chức lại Công ty, khi điều đó các công ty thất bại sẽ ảnh hưởng lớn đến xã hội, ban quản lý công ty đó phải từ cá một ban quản lý mới sẽ được đưa vào theo
kế hoạch tái tổ chức do một quản trị viên được tòa án chỉ định (court-appointed administrator) đưa ra30 Mặc dù thủ tục này cho phép công ty cắt đứt quan hệ với ban quản lý cũ được coi là nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ, việc phục hồi thường mất nhiều thời gian theo quy trình này hơn thông qua Đạo luật Phục
30
http://www.japantimes.co.jp/news/2009/04/28/reference/corporate-bankruptcy-the-japanese way/#.XKWKINIZIU
Trang 37hồi Dân sự Do đó, Đạo luật Phục hồi Dân sự thường được sử dụng nhiều hơn
vì nó cho phép công ty tự xây dựng lại công ty với đội ngũ quản lý của mình
và do đó đẩy nhanh quá trình tái thiết lập công ty,31
điều này cũng được chứng minh thông qua số lượng công ty sử dụng Đạo luật Phục hồi Dân sự trên thực
tế nhiều hơn các công ty sử dụng Đạo luật Tổ chức lại Công ty.32
1.3.2 Pháp luật Phá sản của Singapore
Trong khi Đạo luật Phá sản Singapore (Singapore Bankruptcy Act) asAct) điều chỉnh việc phá sản của cá nhân, các quy định về phá sản của công
ty lại nằm trong Đạo luật Công ty sửa đổi năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 25 tháng 5 năm 2017 (Singapore Companies 2017 Amendment Act)33, được ban hành đầu tiên vào năm 1967 và mô phỏng theo Đạo luật Công ty năm 1961 của
Úc nhưng lại dựa trên các nguyên tắc pháp luật của Anh34.Thủ tục phá sản công ty bao gồm thủ tục thanh lý (winding up procedure) và thủ tục phục hồi (rehabilitation procedure) (bao gồm quản lý tư pháp - judicial management và thỏa thuận hòa giải - scheme of arrangement)35 Các quy định về phá sản được quy định trong Đạo luật Công ty bao gồm: Phần VII - Arrangements, Reconstructions and Amalgamations, Phần VIII - Receivers and Managers, Phần IX - Investigations và Phần X - Winding up
Các quy định pháp luật về mất khả năng thanh toán của Singapore đã
Trang 38được phát triển qua nhiều năm, tạo ra một nền tảng để quản lý các lợi ích đối lập của những doanh nghiệp vay mượn gặp khó khăn về tài chính và những người cho vay tìm cách thu hồi nợ một cách hiệu quả và tiết kiệm Các đạo luật
về mất khả năng thanh toán ở Singapore nghiêng về phía bảo vệ các chủ nợ nhiều hơn, tuy nhiên điều này đã được thay đổi trong thời gian gần đây và tập trung hơn vào việc giải cứu các doanh nghiệp.36
Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng thủ tục phá sản của Singapore của thể tóm tắt như sau:
Phá sản bắt buộc bởi Tòa án diễn ra theo các giai đoạn chính sau đây:37
Đơn xin thanh lý công ty được nộp lên Tòa án tối cao cùng với đề xuất về người quản lý tài sản (official receiver) hoặc người thanh lý (liquidator) để được Tòa án chỉ định làm thanh lý viên; Sau khi Tòa án ra lệnh bắt đầu thủ tục, bản tổng kết tài sản (statement of affairs) sẽ được gửi cho thanh lý viên, thanh
lý viên sẽ gửi bản tóm tắt tài sản cho các chủ nợ và các cổ đông cũng như thành viên công ty Sau khi phân phối các tài sản cho chủ nợ, số tiền còn lại sẽ được chia cho các cổ đông công ty Cuối cùng, các thành viên công ty và các chủ nợ sẽ được thông báo về việc chấm dứt công ty
36
http://www.japantimes.co.jp/news/2009/04/28/reference/corporate-bankruptcy-the-japanese way/#.XKWKINIZIU, truy cập ngày 25/9/2019
37
(http://www.mlaw.gov.sg/content/dam/minlaw/io/Corporate%20Insolvecy/Main%20Stages%20of% 20Liquidation%20(general%20revised).png), truy cập ngày 26/9/2019
Trang 39Kết luận chương 1
Nội dung chương 1, tác giả đã làm sáng tỏ ba nội dung lớn là: (i) Lý luận
về phá sản và thủ tục phá sản, theo đó tác giả đã đã khái quát được thế nào là phá sản Cụ thể phá sản chính là tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản Chỉ ra những đặc điểm của tình trạng phá sản: là kết quả của một quá trình tiến hành các thủ tục theo luật định khi có các điều kiện cơ bản: doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, bị nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản bằng một quyết định Dựa trên những đặc điểm đó, tác giả cũng đưa ra quan điểm của mình về khái niệm mất khả năng thanh toán, đồng tình với khái niệm mất khả năng năng thanh toán theo pháp luật hiện hành nhưng vẫn nhìn thấy được khả năng gây khó khăn trong việc xác định mất khả năng thanh toán, gây khó khăn cho các chủ nợ khi thực hiện quyền nộp đơn38 Từ việc phân tích các đặc điểm của phá sản, tác giả làm
rõ các vấn đề lý luận về thủ tục phá sản theo đó thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là một quy trình gồm các bước, các giai đoạn và có những đặc điểm sau: là thủ tục đòi nợ và trả nợ tập thể; là thủ tục do luật quy định có dung hoà lợi ích của các bên con nợ, chủ nợ, nhà nước và xã hội; Thủ tục giải quyết phá sản với sự tham gia của nhiều chủ thể với những quyền và nghĩa vụ nhất định
là nội dung cốt lõi, quan trọng nhất (hay là xương sống) của Luật phá sản, mục đích của thủ tục này là không chỉ để đào thải các doanh nghiệp yếu kém mà còn nhằm mục đích khôi phục lại sự cân bằng về cán cân thanh toán thị trường
(ii) Lý luận về vai trò của toà án nhân dân trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Ở mục này, tác giả đã làm rõ khái niệm vai trò của toà án đối với thủ tục
38
Sẽ được phân tích tại Chương 2 thực trạng vai trò của Toà án trong thủ tục phá sản
Trang 40phá sản khẳng định việc nghiên cứu, đánh giá vai trò của toà án nhân dân đối với phá sản là kết quả của việc đánh giá việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của toà án trong quá trình giải quyết phá sản, từ đó chỉ ra những hạn chế về mặt pháp lý và kỹ thuật tổ chức thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp pháp lý và giải pháp kỹ thuật thực hiện nhằm nâng cao, phát huy hơn nữa vai trò của toà
án nhân dân trong giải quyết phá sản Khẳng định pháp luật về phá sản là công
cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ; bảo vệ lợi ích của con nợ; góp phần vào bảo vệ lợi ích của người lao động; bảo
vệ trật tự kỉ cương trong xã hội; góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, tái tạo tổ chức lại doanh nghiệp
Những nội dung lý luận trên sẽ là cơ sở cho việc đánh giá thực trạng về vai trò của toà án trong giải quyết phá sản ở chương 2 của Luận văn
(iii) Nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia từ đó rút kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phá sản