1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

138 101 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 10,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều công trình nghiên cứu đi trước đã chỉ ra một số hạn chế tiêu biểu như: sự chồng chéo của hệ thống pháp luật về đầu tư; thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp còn vòng quanh đến

Trang 1

PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số chuyên ngành: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Giảng viên hướng dẫn: TS TRẦN HUỲNH THANH NGHỊ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn

góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam –Thực tiễn tại TP Hồ Chí Minh” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 04 năm 2020

Tác giả

NGUYỄN VIẾT TÚ

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế, ngoài sự

nỗ lực nghiên cứu của bản thân, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của Quý Thầy/cô giảng viên trong suốt quá trình học tập, Quý Thầy/cô làm công tác tại Khoa Đào tạo Sau Đại học, Khoa Luật và Thư viện của Nhà trường; bên cạnh đó là sự ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian vừa qua

Tác giả trân trọng kính gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Trần Huỳnh Thanh

Nghị – Giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, hướng dẫn khoa học

đã luôn động viên, trao đổi thẳng thắn, góp ý chân thành, hỗ trợ, giúp đỡ tận tình để giúp tác giả để hoàn thành luận văn

Một lần nữa, tác giả trân trọng gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy/cô, gia đình, các chuyên gia và bạn bè đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ cho tác giả trong thời gian học tập

và thực hiện đề tài nghiên cứu

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 04 năm 2020

Tác giả

NGUYỄN VIẾT TÚ

Trang 7

TÓM TẮT

Hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển như: tăng cường vốn vào thị trường Việt Nam, đưa Việt Nam tiếp cận với nguồn công nghệ mới, tiên tiến và hiện đại, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đổi mới công nghệ, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đồng thời góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách Nhà nước Do đó, pháp luật góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam là bộ phận cấu thành không thể thiếu của pháp luật kinh doanh để tạo hành lang pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp vào thị trường Việt Nam thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay, Việt Nam quy định khá đầy đủ các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, pháp luật góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam còn một

số hạn chế, bất cập Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam đã ghi nhận lại rằng: văn bản rất nhiều nhưng bất cập, hạn chế vẫn còn tồn tại và chưa được khắc phục Nhiều công trình nghiên cứu đi trước đã chỉ ra một số hạn chế tiêu biểu như: một số quy định không thống nhất giữa các văn bản pháp luật như khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài; tài khoản góp vốn, mua cổ phần Mặt khác, một số thủ tục về góp vốn, mua cổ phần chưa thật sự rõ ràng nên không khả thi trên thực tế

sẽ là một trong những yếu tố làm giảm uy tín và lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư tại Việt Nam

Tình hình góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây vẫn chưa thực sự thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Hoạt động góp vốn, mua cổ phần này đã và đang tiềm ẩn một số rủi ro đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là cần phải nhanh chóng khắc phục những tồn tại kể trên để phát huy hơn nữa vai trò của pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp

Trang 8

Việt Nam, sớm đưa nước ta nhanh chóng hòa nhập sâu rộng hơn nữa vào xu thế

kinh tế chung của toàn thế giới Nghiên cứu đề tài “Pháp luật về góp vốn, mua cổ

phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam –Thực tiễn tại TP Hồ Chí Minh” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

để hoàn thiện pháp luật này phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và môi trường kinh tế quốc tế góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế ở Việt Nam

Trang 9

THESIS SUMARRY

Forms of capital contribution and share purchase by foreign investors in Vietnamese enterprises play an important role in promoting economic and social development such as: increasing capital into Vietnam market, bringing Vietnam approach to new, advanced and modern technologies, support Vietnamese businesses in technological innovation, enhance the competitiveness of Vietnamese businesses and contribute to the job creation, promote the economic growth, increase the State budget revenue Therefore, the law on capital contribution and share purchase by foreign investors in Vietnamese enterprises is an integral part of the business law to create a legal corridor for foreign investors to invest directly and indirectly in Vietnam market through capital contribution, share purchase in Vietnamese enterprises Currently, Vietnam has quite sufficiently provided for the legal documents governing investment relations in the form of capital contribution, share purchase by foreign investors However, besides the positive aspects, the law

of capital contribution and share purchase by foreign investors in Vietnamese enterprises still has some limitations and shortcomings However, the practice of applying regulations on capital contribution and share purchase by foreign investors

in Vietnamese enterprises has noted that: many documents but shortcomings and limitations still exist and have not been overcome Many previous studies have shown some typical limitations such as: Some regulations are not consistent among legal documents such as: the concept of foreign investors; account of capital contribution or share purchase On the other hand, some procedures on capital contribution and share purchase are not really clear, so it is not feasible in reality It will be one of the factors that reduce the reputation and confidence of foreign investors in the investment environment in Vietnam The recent situation of capital contribution and share purchase by foreign investors in Vietnamese enterprises has not really attracted strong investment capital from abroad

This activity of capital contribution and share purchase has potential risks for foreign investors, Vietnamese businesses and competent state agencies Therefore, the urgent need is to quickly overcome the above mentioned problems in order to further promote the role of the law on capital contribution, share purchase and

Trang 10

capital contribution by foreign investors in Vietnamese enterprises and bringing our country to quickly integrate into the general economic trend of the world

Researching on the thesis title “Laws on capital contribution, purchase of

shares and capital contributions of foreign investors in Vietnamese enterprises

- Practices in Ho Chi Minh City” is a theoretical and practical matter to improve

this law in accordance with the requirements of domestic economic development and international economic environment, contributing to perfect the business legal system in Vietnam

Trang 11

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC vii

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ x

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tàI 6

6.1 Ý nghĩa khoa học 6

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

7 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7

8 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 10

1.1 Khái quát chung về hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại việt nam 10

1.1.1 Khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 10

Trang 12

1.1.2 Phân loại nhà đầu tư nước ngoài 14 1.1.3 Hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 16 1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 29 1.2 Quy định pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam 32 1.2.1 Quy định về hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 32 1.2.2 Quyền và nghĩa vụ nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong các doanh nghiệp Việt Nam 34

1.2.3 Quy định về mức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nams 36

1.2.4 Thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 43 Tiểu kết chương 1 47

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA

CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 52

2.1 Tổng quan về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại thành phố hồ chí minh 52 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam tại tp hồ chí minh 54 2.2.1 Những thành tựu trong hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 54

2.2.2 Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 62 2.2.3 Những vướng mắc, bất cập của pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 67

Trang 13

2.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà

đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại việt nam 73

2.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 73

2.3.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam 77

Tiểu kết chương 2 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 104

Trang 14

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

1 Phụ lục 2.1 Thống kế nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường

chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011- 2018

Trang 15

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NĐTNN : Nhà đầu tư nước ngoài

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, khi xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh

tế diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết thì một quốc gia không thể đóng cửa nền kinh tế, tách biệt với hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài Thực tiễn cho thấy, một đất nước muốn phát triển, cần phải nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế để tranh thủ nguồn lực bên ngoài Vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành nguồn bổ sung quan trọng, nhằm khai thác triệt để mọi nguồn lực trong nước Chính vì vậy, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trở thành

xu thế tất yếu của hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Một thay đổi quan trọng trong tư duy kinh tế của Việt Nam là ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) Đến năm 2005, để tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực thi hành từ 1/7/2006 để thay thế cho Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 sự ra đời của Luật đầu tư năm 2005, sau này là Luật đầu tư năm

2014 đã chứng minh sự đổi mới toàn diện, đột phá về thể chế, mở ra môi trường đầu tư thông thoáng cho nhà đầu tư tại Việt Nam, đánh dấu nỗ lực của Việt Nam trong việc hoàn thiện khung pháp lí cho các hoạt động đầu tư nước ngoài Đây không những là bước đi nhằm đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập WTO – tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nước, mà còn thể hiện bước tiến của Việt Nam trong việc mở cửa và hội nhập mạnh mẽ hơn vào nền kinh tế thế giới.1

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau hơn 30 năm thu hút vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài, từ năm 1988 đến tháng 8/2018, 63 tỉnh, thành phố của cả nước thu hút 26.438 dự án của 129 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực, với

1 Phạm Sỹ Thành (2011),”Về vai trò của vốn FDI - nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam và Trung

Quốc”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 2 (338), tr.15

Trang 17

tổng vốn đăng ký 333,83 tỷ USD Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân

Đầu tư nước ngoài hiện là nguồn vốn bổ sung quan trọng chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư cả nước, đóng góp khoảng 20% GDP Năm 2017, khu vực đóng góp khoảng 8 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng thu ngân sách2

Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam là một phần quan trọng trong các quy định về đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 6 tháng đầu năm 2018, có tới 2.749 lượt góp vốn, mua

cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp gần 4,1 tỷ USD, tăng 82,4% so với cùng kỳ 20173 Điều này cho thấy hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam thông qua hình thức này tiếp tục gia tăng với tốc độ nhanh hơn so với trước đây

Với vai trò đầu tầu kinh tế của cả nước, trong hơn 30 năm qua, dòng vốn FDI đã có những đóng góp, tác động đáng kể vào thành tựu trong phát triển kinh tế-xã hội TP Hồ Chí Minh Theo thống kê của UBND TP Hồ Chí Minh, sau 30 năm thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đến nay trên địa bàn thành phố đã có 7.700 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư

kể cả cấp mới và tăng vốn là 44,87 tỷ USD Với số dự án và vốn đầu tư còn hiệu lực trên, Tp Hồ Chí Minh duy trì vị trí đứng đầu cả nước trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài4 Theo Sở Kế hoạch& Đầu tư TP Hồ Chí Minh,

2 Lan Hương (2018), “Góc nhìn đại biểu: 30 năm Luật Đầu tư nước ngoài đồng hành cùng đất nước”;

Công thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam,

[http://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/ti ntuc/Lists/News&ItemID=38756], (ngày truy cập 22/06/2019)

3 Hàn Ni (2018),” Vốn FDI tăng 82,4% qua góp vốn, mua cổ phần”, Báo Sài Gòn giải phóng;

[http://www.sggp.org.vn/von-fdi-tang-824-qua-gop-von-mua-co-phan-530094.html], (ngày truy cập 22/06/2019)

4 Thông tấn xã Việt Nam (2018),” 30 năm thu hút FDI - Vì sao TP Hồ Chí Minh luôn hút vốn ngoại?”;

[https://bnews.vn/30-nam-thu-hut-fdi-bai-1-vi-sao-tp-ho-chi-minh-luon-hut-von-ngoai-/95667.html], (ngày truy cập 22/06/2019)

Trang 18

tính đến tháng 6/2017 có 915 trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp trong các doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 1,4 tỉ đô la Mỹ Điều này cho thấy nguồn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài

có xu hướng tăng mạnh5 Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam đã ghi nhận lại rằng: văn bản rất nhiều nhưng bất cập, hạn chế vẫn còn tồn tại và chưa được khắc phục Nhiều công trình nghiên cứu đi trước đã chỉ ra một

số hạn chế tiêu biểu như: sự chồng chéo của hệ thống pháp luật về đầu tư; thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp còn vòng quanh đến mức không khả thi; một số quy định về đầu tư không có sự thống nhất với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác … Dễ dàng kết luận được rằng, việc làm quan trọng lúc này

là phải nhanh chóng khắc phục những tồn tại kể trên để phát huy hơn nữa vai trò của pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam, sớm đưa nước ta nhanh chóng hòa nhập sâu rộng hơn nữa vào xu thế kinh tế chung của toàn thế giới Từ nhậṇ thức trên, Tác giả đã

quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp

của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam –Thực tiễn tại

TP Hồ Chí Minh” để làm Luận văn thạc sĩ luật học cho mình

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn nhằm hướng đến giải quyết những vấn

đề sau:

Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn

góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Thứ hai, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về góp vốn, mua cổ phần,

phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh

5 Quốc Hùng (2017), “Khi nước ngoài góp vốn, mua cổ phần”; Thời báo Kinh tế Sài Gòn,

[https://www.thesaigontimes.vn/162662/Khi-nuoc-ngoai-gop-von-mua-co-phan.html], (ngày truy cập 22/06/2019)

Trang 19

Thứ ba, phân tích thành tựu và hạn chế trong hoạt động góp vốn, mua cổ

phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam Đồng thời đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua

cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới

3 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn

góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam –Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh”được tiến hành dựa trên giả thuyết: Pháp luật về

góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt kể từ khi Luật đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành đã tạo ra sự đổi mới và đột phá về thể chế, mở ra môi trường đầu tư thông thoáng Cụ thể, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư giai đoạn từ năm 2015-2018, hoạt động góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp ở Việt Nam đã ngày càng trở nên sôi động hơn.6 Việc cải cách thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp đã giúp nhà đầu tư nước ngoài tiết kiệm

thời gian, chi phí tiếp cận thị trường

Xuất phát từ giả thuyết nghiên cứu nêu trên, Luận văn đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu sau :

(1) Pháp luật Việt Nam có những điều chỉnh gì về hoạt động góp vốn, mua

cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam ?

(2) Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua có những thuận lợi và khó khăn gì cũng như có những vướng mắc, bất cập gì của quy định pháp luật đang ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động trên của nhà đầu tư nước ngoài ?

6 Hùng Lê (2018),”TPHCM: Xu hướng góp vốn, mua cổ phần của nước ngoài sẽ bùng nổ”, Thời báo

Kinh tế Sài Gòn; nuoc-ngoai-se-bung-no.html], (ngày truy cập 22/06/2019)

Trang 20

[https://www.thesaigontimes.vn/267397/TPHCM-Xu-huong-gop-von-mua-co-phan-cua-(3) Để tăng cường hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài thì cần có những giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới ?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam, trọng tâm là Luật đầu tư 2014

và các văn bản hướng dẫn thi hành đạo luật này Ngoài ra, Luận văn cũng nghiên cứu các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu

tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý cơ bản nhất liên quan đến hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam, bao gồm cả Ngân hàng thương mại Việt Nam, công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán, doanh nghiệp nhà nước như quy định về hình thức góp vốn, mua cổ phần,

tỷ lệ sở hữu, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện góp vốn, mua cổ phần, phần góp vốn trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Luận văn không nghiên cứu các hoạt động đầu tư khác của nhà đầu tư nước ngoài cũng như các vấn đề khác liên quan đến doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :

Chương 1, Luận văn sử dụng phương pháp phân tích luật viết để phân tích,

diễn giải các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nhà đầu tư nước

ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; hoặc các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Việt Nam Đồng thời, sử dụng kết hợp

Trang 21

phương pháp phân tích tổng hợp, thống kể để nghiên cứu các quy định của pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm : (i) hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam; (ii)quyền và nghĩa vụ nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong các doanh nghiệp Việt Nam; (iii) mức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam ; (iv) thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt

Chương 2, Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp phương pháp diễn giải, thống kê để nghiên cứu đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh Đồng thời kết hợp sử dụng phương pháp phân tích, logic,

so sánh luật học để đánh giá, bình luận những vướng mắc, bất cập của pháp luật

về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam và đề xuất giải pháp pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam theo các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam Luận văn làm rõ các quan niệm về góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam; sự cần thiết huy động vốn theo hình thức góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của Luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong bối cảnh thế giới và khu vực đang có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực, nhưng cũng chứa đựng rủi ro, thách thức như hiện nay

Trang 22

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kiến nghị lập pháp của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác hoàn thiện pháp luật đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài, công tác

tư vấn cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp và là tài liệu đào tạo cho các văn phòng Luật sư, công ty tư vấn luật

7 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thời gian qua tại Việt Nam, việc nghiên cứu pháp luật về góp vốn, mua cổ

phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam

là lĩnh vực được nhiều tác giả quan tâm Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như :

- Luận văn thạc sĩ luật kinh tế “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của

nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Nguyễn

Thị Lan Anh thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011 Luận văn đã nghiên cứu tổng quan quá trình phát triển của pháp luật quy định về hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam; nghiên cứu, phân tích và bình luận các quy phạm góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam; đánh giá khái quát thành tựu đạt được khi áp dụng pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam; tìm ra những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đó, phân tích một số rủi ro trong hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam Đồng thời, Luận văn đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua

cổ phần đồng thời huy động vốn, công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài, mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam vvv, góp phần tăng tính khả thi của pháp luật;

- Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về mua bán công ty cổ phần ở Việt Nam” của

tác giả Nguyễn Thị Ngọc Giao thực hiện tại thực hiện tại Khoa Luật, Đại học

Trang 23

Quốc gia Hà Nội năm 2013 Theo tác giả, giao dịch mua bán công ty cổ phầnlà

một giao dịch rất phức tạp Vì vậy quá trình xây dựng luật thiếu thống nhất ở Việt Nam hiện nay, dẫn đến hệ quả khái niệm về mua bán công ty cổ phẩn được hiểu không thống nhất, các quy định điều chỉnh giao dịch này nằm ở nhiều văn bản khác nhau và không có sự liên kết Với khung pháp lý hiện nay, các nhà đầu

tư đang gặp nhiều khó khăn khi tiến hành đầu tư theo hình thức này, đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài Trong khi đó, nhà đầu tư trong nước còn rất rụt rè khi tiến hành các giao dịch mua bán công ty do không có kiến thức chuyên môn

và thiếu hiểu biết pháp luật Do đó, Luận văn đã nghiên cứu một cách toàn diện

và hệ thống những vấn đề pháp lý về mua bán công ty cổ phần nhằm đưa ra khái niệm chính xác, phân tích cụ thể các đặc điểm pháp lý về giao dịch này Từ đó, đưa ra những quan điểm, cơ sở khoa học về việc hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động mua bán công ty cổ phần

- Bài viết khoa học “Về phương thức mua bán công ty thông qua việc mua

bán phần vốn góp chi phối của công ty” của tác giả Vũ Phương Đông đăng tải

trên Tạp chí Luật học, Số 9 năm 2010 Theo tác giả, mua bán công ty thông qua

phương thức mua bán phần vốn góp chi phối của công ty là hình thức mua lại quyền chủ sở hữu công ty của các thành viên góp vốn, các cổ đông Việc mua bán coi như hoàn thành khi bên mua tiến hành mua được lượng vốn góp đủ để chi phối hoạt động của công ty

- Bài viết “Thực trạng pháp luật về chuyển nhượng phần vốn góp trong

công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014” của tác giả

Phạm Vũ Phương đăng tải trên Tạp chí Công thương số 05/2019 Theo tác giả, dưới góc độ pháp lý, việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty là một loại giao dịch dân sự, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật chuyên ngành và các quy định chung khác Tuy nhiên, pháp luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành còn chưa quy định rõ bản chất của thế nào là vốn góp, phần vốn góp, hành vi chuyển nhượng vốn góp, cũng như việc quản lý của nhà nước về việc chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty là điều hết sức cần thiết

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích, đánh giá pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp nói chung, chưa

Trang 24

nghiên cứu trên phạm vi hẹp tại Thành phố Hồ Chí Minh Các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào các vấn đề như đánh giá thực trạng về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp, nêu lên những kết quả đã đạt được và các bất cập tồn tại trong thực tiễn thực pháp luật về

về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam tại các tỉnh, thành phố Trên cơ sở phân tích những điểm hạn chế trong quy định và thực tiễn áp dụng thực về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam tại các tỉnh, thành phố; từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành hai Chương :

Chương 1: Lý luận chung về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà

đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam

Chương 2 : Thực tiễn áp dụng pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn

góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp hoàn thiện

Trang 25

1.1.1 Khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài

Dưới góc độ khoa học, theo quan điểm của một số học giả, khái niệm nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài trước khi đầu tư vào Việt Nam cũng như các chi nhánh, văn phòng đại diện (không có tư cách pháp nhân) của họ.7

Dưới góc độ so sánh luật, theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật khuyến khích đầu tư số 02/QH của nước CHDCND Lào ban hành ngày 08/7/2009 thì

“nhà đầu tư nước ngoài” là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài đến kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào Trong khi đó, theo quy định tại Điều 1 Nghị định số

88 ngày 29/12/1997 về việc thi hành Luật đầu tư của Vương quốc Campuchia thì thực thể nước ngoài có nghĩa là bất kỳ một thực thể không phải là thực thể Campuchia và không được thành lập theo pháp luật của Vương quốc Campuchia.8

Theo tác giả, việc dẫn đến nhiều cách hiểu chưa đồng nhất về nhà đầu tư nước ngoài được giải thích bởi khái niệm nhà đầu tư nước ngoài không được giải thích đồng bộ trong Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành Trước đây,

7 Mai Hữu Đạt (2010),” Một số bất cập của pháp luật về đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam và

phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số3(263), tr.32

8 Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Thị Lan Anh (2012), “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam“, NXB Tư pháp, tr.32

Trang 26

Luật đầu tư năm 2005 định nghĩa: “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam9” Mặt khác, Nghị định 69/2007/NĐ-CP quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam đã cụ thể hóa khái niệm nhà đầu tư nước ngoài

cụ thể và rõ ràng hơn Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 69/2007/NĐ-CP thì nhà

đầu tư nước ngoài bao gồm:

- Tổ chức nước ngoài là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động, kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại Việt Nam;

- Cá nhân nước ngoài là người mang quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam

Theo đó, NĐTNN chỉ là những chủ thể tham gia góp vốn để thực hiện hoạt

động đầu tư, trường hợp dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhưng có thành lập pháp nhân mới thì không xem pháp nhân đó là NĐTNN, bởi vì theo quy định tại Khoản 20 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập,

đăng kí kinh doanh

Tuy nhiên, các văn bản khác và thực tiễn đều ghi nhận những doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài vẫn được xác định là NĐTNN Cụ thể, Khoản 1 Điều

2 Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây viết tắt là Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg) định nghĩa : Nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Quy chế này bao gồm tổ chức và cá nhân nước ngoài, cụ thể như sau:

- Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam

- Tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%

9 Khoản 5, Điều 3, Luật đầu tư năm 2005

Trang 27

- Quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%

- Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam

Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài bao gồm :

- Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam, bao gồm cả người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài;

- Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức này, bao gồm cả chi nhánh hoạt động tại Việt Nam

- Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này

- Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và các quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài;

Như vậy, Luật đầu tư năm 2005, và các văn bản dưới luật hướng dẫn trong các lĩnh vực chuyên ngành như tài chính, ngân hàng, chứng khoán…đã có sự quy định (giải thích) không thống nhất về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài dẫn đến

sự khác biệt trong cách hiểu và vận dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài Chẳng hạn, tại thời điểm thực hiện các thủ tục đầu tư theo Luật đầu tư năm 2005, Luật dược năm 2005 quy định phân phối dược là lĩnh vực chưa cam kết, vì vậy có địa phương cho rằng chỉ cần 1% vốn đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó đã bị coi như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bị từ chối mở rộng hoạt động hay chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc10

Trang 28

Khắc phục được sự vướng mắc, và tính thiếu tính thống nhất này, Luật đầu

tư năm 2014 đã quy định cụ thể và rõ ràng khái niệm nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài

Theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư năm 2014 thì nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Đồng thời, tại Khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư năm 2014 quy định “đầu tư kinh doanh “là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập

tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư Như vậy, theo Luật đầu tư năm 2014 thì nhà đầu tư nước ngoài được hiểu bao gồm các cá nhân (thể nhân) nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài (pháp nhân, phi pháp nhân) thực hiện các hoạt động kinh doanh như thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác đầu tư tại Việt Nam

Tương tự, Khoản 17 Điều 3 Luật đầu tư năm 2014 định nghĩa: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh có nhà đầu

tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.11 Dưới góc độ so sánh luật, quy định

về tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có những điểm mới so với quy định

về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Khoản 6 Điều 3 Luật đầu tư năm

2005 Cụ thể, Luật đầu tư năm 2014 không giới hạn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Luật đầu tư năm 2005 mà mở rộng bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác… được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam gọi tắt là tổ chức kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài Mặt khác, Luật đầu tư năm 2014 chỉ đưa ra nội hàm ngắn gọn khi xem xét một tổ chức kinh tế được xác định có vốn đầu tư nước ngoài khi tổ chức

đó có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông Cổ đông của công ty

11 Khoản 16, Điều 3, Luật đầu tư năm 2014

Trang 29

được hiểu là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần,12

và thành viên công ty được hiểu là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn

bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh13

1.1.2 Phân loại nhà đầu tư nước ngoài

Như đã phân tích ở Mục 1.1.1, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài, và tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài

Thứ nhất, cá nhân có quốc tịch nước ngoài: Pháp luật của nhiều nước trên

thế giới đều có điểm chung là lấy dấu hiệu quốc tịch để định nghĩa về người nước ngoài Theo đó, người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi mà

họ đang cư trú Như vậy, quốc tịch luôn là căn cứ để xác định một người là công dân nước nào hoặc không thuộc công dân nước nào (người không quốc tịch) Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch Họ có thể mang quốc tịch của một nước khác hoặc không mang quốc tịch của một quốc gia nào cả Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam xác định

cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) thì:" Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam " Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 quy định : Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam và người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài.14

12 Khoản 2, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2014

13 Khoản 23, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2014

14 Thực ra quy định này đã được quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 3 Nghị định 138/2006 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo đó: Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch

Trang 30

Như vậy, người nước ngoài có thể cư trú trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cư trú ngoài lãnh thổ Việt Nam Theo quy định tại Điều 1 Luật cư trú 2006 (sửa đổi bổ sung 2013) thì cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.15 Người nước ngoài có thể thường trú, tạm trú tại Việt Nam hoặc không tạm trú,thường trú tại Việt Nam Thuật ngữ người nước ngoài thường trú tại Việt Nam được hiểu là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.16

Thứ hai, tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài

Theo quy định tại Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 thì tổ chức nước ngoài là

tổ chức thành lập ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài” Ngoài ra, Khoản 21 Điều 2 Nghị định 60/2015/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010 đã định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài; và tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài và thực hiện đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam

Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam xác định “Tổ chức nước ngoài bao

gồm tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam

Trong lĩnh vực thương mại, thương nhân nước ngoài được định nghĩa là thương nhân được thành lập đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận Theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới, việc chứng minh tư cách pháp lý của thương nhân được thể hiện thông qua nhiều loại văn bản với tên gọi khác nhau (giấy chứng nhận đăng ký kinh

15 Quy định này cũng được diễn giải một các tương tự tại Khoản 9, Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014: “Cư trú là việc người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam”

16 Lê Thị Nam Giang (2007), “Giáo trình tư pháp quốc tế”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí

Minh, tr 65

Trang 31

doanh hoặc các loại giấy tờ khác hợp lệ), do đó đa số pháp luật các quốc gia đều quy định thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận.17

1.1.3 Hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam

Hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam được thể hiện dưới các hình thức như : Thành lập tổ chức kinh tế; Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế và đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư Trong đó, hình thức đầu tư góp vốn, mua

cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế diễn ra tương đối phổ biến, mà hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) là điển hình Theo Từ điển Oxford thì hoạt động sáp nhập là sự kết hợp của hai tổ chức, đặc biệt là các công ty, doanh nghiệp thành một tổ chức, trong khi hoạt động mua lại là việc một công ty tiến hành mua một phần doanh nghiệp khác và nhận được tài sản của đối tượng

Góp vốn hay điều khoản về vốn là một điều khoản thiết yếu của điều lệ công

ty, chính vì vậy mà có luật gia cho rằng trong các quy định về thủ tục thành lập

17 Lê Hoàng Oanh (2007), “Bình luận các vấn đề mới của luật thương mại trong điều kiện hội nhập”,

NXB Tư pháp, tr.27

18 Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Thị Thùy Trang (2019), “Những vấn đề pháp lý cần lưu ý trong mua bán

và sáp nhập doanh nghiệp xuyên quốc gia”, Tạp chí Tài chính, Số 714, tr 96 - 100

19 Khoản 1, Điều 5, Luật đầu tư năm 2014

Trang 32

doanh nghiêp thì các quy định về vốn và góp vốn có ý nghĩa quyết định Trong cuốn Laws of Corporations and Other Business Enterprises [Luật về các công ty

và các tổ chức kinh doanh khác] của Harry G Henn và John R Alexander đã chỉ

ra rẳng ở Anh quốc, trừ khi một công ty có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành lập công ty nhất thiết phải chứa đựng một điều khoản về vốn mà trong đó tuyên

bố về khoản vốn được phép và phân chia thành các cổ phần với số lượng giới hạn

mà công ty có thể được phép quyên góp.20 Chẳng hạn, pháp luật về công ty của Malaysia và Singapore có quan niệm trừ khi là một công ty có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành lập công ty nhất thiết phải chứa đựng một điều khoản về vốn mà trong đó có tuyên bố về khoản vốn được phép và phân chia vốn đó thành các cổ phần với số lượng ấn định trở thành giới hạn mà công ty có thể được phép quyên góp.21 Với việc góp vốn vào công ty, các thành viên của công ty đã có một

trái quyền với công ty bằng cách góp vốn vào công ty dựa trên các vật quyền Khi góp vốn vào các công ty, thì phần vốn góp này sẽ trở thành tài sản của công

ty, những người góp vốn này lại trở thành chủ sở hữu của công ty Góp vốn khi bàn dưới góc độ của kinh tế học thì đó chính là việc tạo ra các tài sản cho công ty nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của công ty và đảm bảo việc trả nợ cho các chủ nợ Nhưng nếu xét dưới góc độ luật học thì việc góp vốn này thực chất là hành vi chuyển giao tài sản để đổi lấy quyền với công ty đó là quyền lợi với công ty tương ứng với phần vốn góp của mình, việc này hoàn toàn khác với hành vi mua bán tài sản Hiện nay có nhiều hình thức góp vốn khác nhau phụ thuộc vào pháp luật của từng nước

Dưới góc độ luật thực định, góp vốn được định nghĩa là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập.22

20 Ngô Huy Cương (2013), “Giáo trình Luật thương mại - Phần chung và thương nhân”, NXB Đại học

quốc gia Hà Nội, tr.177

21 CCH Asia Limited (1995), “Guide to company law in Malaysia & Singapore”, Publisher by CCH Asia

Ltd in Singapore p.155-156

22 Khoản 13, Điều 4, Luật doanh nghiệp năm 2014

Trang 33

Dưới góc độ đầu tư kinh doanh thì góp vốn là hình thức xác lập tư cách thành viên cơ bản nhất Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức không rơi trường hợp cấm đều có quyền góp vốn và trở thành thành viên của công ty Như vậy, có hai khả năng xảy ra :

(1) Góp vốn và thành lập công ty Trong trường hợp này người góp vốn cũng

là người đồng sáng lập công ty (thành viên sáng lập, cổ đông sáng lập) Người này phải làm các công việc xác định vốn điều lệ, định giá tài sản góp vốn, ký vào các hợp đồng trước khi thành lập công ty, soạn thảo điều lệ, đăng ký kinh doanh…

(2) Góp vốn trong trường hợp công ty huy động vốn Trong quá trình kinh doanh, sẽ có lúc công ty có nhu cầu huy động vốn Luật doanh nghiệp 2014 cho phép công ty đối vốn được huy động vốn góp từ những người khác không phải thành viên công ty23

Thông qua hoạt động góp vốn nhà đầu tư trở thành người sở hữu công ty (cổ đông, thành viên công ty), và có các quyền của cổ đông công ty cổ phần; thành viên công ty hợp danh, hoặc hữu hạn…mà những người khác (chủ nợ, người làm công…) của công ty không có Chẳng hạn, thành viên công ty TNHH 02 thành viên trở lên có các quyền như Tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên; Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp; Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; Được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ; Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty24

Khoản 1, Điều 25 Luật đầu tư 2014 quy định nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào trong các doanh nghiệp Việt Nam theo các hình thức sau :

Trang 34

Thứ nhất, mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của

công ty cổ phần Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 thì cổ phần được quyền chào bán của CTCP là tổng số cổ phần các loại mà Đại hội cổ đông (ĐHCĐ) quyết định sẽ chào bán để huy động vốn Như vậy cổ phần được quyền chào bán trong CTCP gồm cổ phần phát hành lần đầu và cổ phần phát hành thêm của CTCP25 Trong tổng số cổ phần được quyền chào bán lần đầu, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp26 Nếu không tham gia với tư cách cổ đông sáng lập, các tổ chức cá nhân có thể đăng ký mua cổ phần phát hành lần đầu của các CTCP

Luật doanh nghiệp năm 2014 yêu cầu các cổ đông sáng lập phải đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cố phần phổ thông được quyền chào bán Như vậy, có thể còn 80% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán sẽ được chào bán

ra bên ngoài Do vậy, tổ chức cá nhân mua cổ phần phổ thông trong số 80% cổ phần trên sẽ trở thành cổ đông của CTCP thông qua việc mua cổ phần phát hành lần đầu của công ty Thời hạn để đăng ký mua cổ phần phát hành lần đầu của CTCP tối thiểu 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy CNĐKDN27 Đợt phát hành này người ta gọi là đợt phát hành lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá bán

cổ phần.28 Nếu sau thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp GCNĐKDN có cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua, Hội đồng quản trị được quyền bán Số cổ phần chưa thanh toán (cổ phần chưa bán) Đồng thời, Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ

Trang 35

phần đã đăng ký mua.29 Nói cách khác, vốn điều lệ của CTCP có thể được điều chỉnh giảm xuống phù hợp với thực tế phát hành Trong quá trình hoạt động, CTCP có thể phát hành thêm nhiều đợt cổ phiếu mới hoặc chào bán cổ phiếu mới

ưu tiên cho cổ đông hiện hữu hoặc chào bán rộng rãi cho công chúng Khi công

ty chào bán cổ phần thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, hoặc chào bán cho số lương nhà đầu tư không xác định, việc chào bán đó được xem là chào bán chứng khoán ra công chúng Nếu CTCP chỉ phát hành thêm cổ phần cho 07 thành viên hiện hữu, việc phát hành đó được xem là phát hành riêng lẻ, có tính chất nội bộ, không thuộc phạm

vi điều chỉnh bởi Luật chứng khoán 2006 (bổ sung, sửa đổi 2010) Ngược lại, nếu CTCP thông báo phát hành cổ phần mới và chào bán rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc phát hành đó là phát hành ra công chúng và thuộc phạm vi điều chỉnh Luật chứng khoán30 Để được phép chào bán cổ phần ra công chúng, công ty phát hành phải thỏa mãn các điều kiện sau: (1) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; (2) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; (3) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua; (4) Công ty đại chúng đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua31

Tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước kèm theo Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu

ra công chúng.32

29 Khoản 3, Điều 112, Luật doanh nghiệp 2014

30 Phạm Duy Nghĩa (2013),“Giáo trình luật kinh tế”, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, tr.237

31 Khoản 1, Điều 12, Luật chứng khoán 2006 (bổ sung, sửa đổi 2010)

32 Khoản 1, Điều 14 LCK 2006 (bổ sung, sửa đổi 2010) quy định hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có: (i) Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng; (ii) Bản cáo bạch; (iii) Điều lệ của tổ chức phát hành; (iv) Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành, phương

Trang 36

Thứ hai, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và tổ

chức kinh tế khác Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn trong các doanh nghiệp Việt Nam bằng các loại tài sản như Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết

kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam Khoản 1, Điều 35, Luật doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa: “Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam” Theo pháp luật đầu tư thì vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh33 Cụ thể, tại Khoản 15 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư 2014 quy định: “vốn đầu tư của dự án là vốn góp của nhà đầu tư và vốn do nhà đầu tư huy động để thực hiện dự án đầu tư được ghi tại văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư” Như vậy, Luật đầu tư 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định tương đối ngắn gọn về vốn chủ sở hữu chỉ bao gồm tiền

và các tài sản khác, trong khi luật doanh nghiệp quy định theo hướng liệt kê các loại tài sản có thể dùng để góp vốn bao gồm tiền Việt Nam và các tài sản khác có thể định giá bằng tiền Việt Nam Ngoài các loại tài sản trên, pháp luật một số quốc gia cho phép nhà đầu tư sử dụng các loại sản nghiệp thương mại, tri thức, công việc để góp vốn vào các doanh nghiệp (công ty) Chẳng hạn, Luật thương mại 1972 Việt Nam Cộng Hòa cho phép nhà đầu tư sử dụng sản nghiệp thương mại để góp vốn vào các công ty Sản nghiệp thương mại là tài sản có (tích sản) thuộc sản nghiệp của thương nhân Bởi vì, sản nghiệp thương mại là một tập hợp tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình dùng để khai thác một doanh thương Yếu tố khách hàng hay hệ thống cung cấp hàng hóa, dịch vụ là

Trang 37

không thể thiếu trong sản nghiệp thương mại 34 Bộ luật thương mại 1972 quy định việc góp vốn bằng sản nghiệp thương mại giống như việc bán sản nghiệp thương mại và phải được các bên thỏa thuận bằng văn bản Việc mua bán hay hứa mua bán một cửa hàng thương mại, cũng như việc hùn của hàng thương mại vào công ty đều phải lập thành văn bản mà trong đó phải chỉ định rõ các yếu tố đem bán, nhưng nếu các yếu tố đem bán mà thiếu yếu tố khách hàng thì không được xem là bán cửa hàng thương mại Điều đó có nghĩa là việc bán sản nghiệp thương mại là việc chuyển nhượng tổng thể các yếu tố của sản nghiệp thương mại cho người khác mà trong đó nhất thiết phải có yếu tố khách hàng bởi vì khác hàng là thành tố chính của sản nghiệp thương mại35 Tuy nhiên, tác giả chỉ đi sâu

phân tích một số loại tài sản góp vốn, mua cổ phần điển hình hoặc pháp luật Việt Nam có quy định rõ hơn như tiền Việt Nam, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ

- Góp vốn bằng tiền Việt Nam, hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi Nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn hình thức này để góp vốn vào trong doanh nghiệp Việt Nam Ở mỗi quốc gia, nhà nước phát hành một loại tiền nhất định và được coi là đại diện cho chủ quyền quốc gia Chẳng hạn như ở Việt Nam, Ngân hàng nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành tiền, với đơn vị tiền tệ là đồng, ký hiệu quốc

gia là “đ” Ngoài tiền đồng do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành, nhà

nước Việt Nam còn cho phép sử dụng ngoại hối để nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào doanh nghiệp Ngoại hối là tiền nước ngoài (hay còn gọi là ngoại tệ) bao gồm đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các loại giấy tờ có giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài (gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện

34 Trịnh Tuấn Anh (2017), “Một vài đánh giá về tác động Luật Doanh nghiệp năm 2014 đến môi trường

kinh doanh của doanh nghiệp và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Tập 20, số 05 năm 2017, tr.26

35 Ngô Huy Cương (2013), “tlđd”, tr.184

Trang 38

thanh toán khác)36 Khi nhà đầu tư nước ngoài góp vốn bằng tiền Việt Nam, hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi vào trong các doanh nghiệp Việt Nam đã “thực hiện quyền định đoạt (chuyển giao quyền quyền sở hữu tiền cho doanh nghiệp Việt Nam) chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng”37

- Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Như chúng ta đã biết, việc sử

dụng đất trên thực tế của các chủ thể thông qua việc nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, và nhận chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp BLDS khẳng định quyền dân sự của chủ thể sử dụng đất- đó là quyền sử dụng đất của các chủ thể được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, và nhận chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp (gọi chung là người sử dụng đất) Khi Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, thì quyền sử dụng đất lại được coi là một loại tài sản, cụ thể là một loại quyền tài sản Như vậy, dưới góc độ này, quyền sử dụng đất được coi là một loại quyền tài sản Loại tài sản này đặc biệt ở chỗ, nó là tài sản được xác lập trên một tài sản, và tài sản này luôn luôn gắn với một tài sản khác đó là đất đai Chính vì coi quyền sử dụng đất là một loại tài sản nên Luật Đất đai ghi nhận chủ sử dụng đất được thực hiện các giao dịch đối với tài sản này Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

“Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định”38

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm được quyền góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê.39 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước Việt Nam giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án được quyền

36Hoàng Thế Liên (2010), “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập 1”, NXB Chính trị Quốc

Trang 39

góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất

để hợp tác sản xuất, kinh doanh trong thời hạn sử dụng đất.40

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện các quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau : (i) Có Giấy chứng nhận; (ii) Đất không có tranh chấp; (iii) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (iv) Còn trong thời hạn sử dụng đất41

- Góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ Góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn, tuy nhiên chưa được thực hiện nhiều tại Việt Nam Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn42 Bộ Tài chính hướng dẫn việc định giá góp vốn bằng sở hữu trí tuệ

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.43 Nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn bằng giá trị quyền tác giả với điều kiện họ có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên Để thực hiện góp vốn bằng giá trị quyền tác giả, nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam phải ký kết hợp đồng chuyển giao quyền tác giả Đối với trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì việc chuyển nhượng quyền tác giả phải được sự đồng ý bằng văn bản của các đồng tác giả Còn đối với trường hợp, quyền tác giả thuộc sở chung thì việc chuyển nhượng quyền tác giả phải được sự đồng ý bằng văn bản của các đồng

40 Khoản 3, Điều 183, Luật đất đai 2013

41 Khoản 1, Điều 188, Luật đất đai 2013

42 Khoản 2, Điều 35, Luật doanh nghiệp 2014

43 Khoản 2, Điều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005

Trang 40

chủ sở hữu44 Còn quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.45 Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu quyền liên quan thì được góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.46 Tổ chức, cá nhân nước ngoài có

quyền góp vốn bằng giá trị quyền SHCN phải đáp ứng đủ các điều kiện là chủ sở hữu đối tượng SHCN tương ứng đang được bảo hộ tại Việt Nam Cụ thể, chủ bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích/kiểu dáng công nghiệp, chủ giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đang trong thời hạn hiệu lực bảo hộ tại Việt Nam; chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký quốc tế được chấp nhận bảo hộ và đang trong thời hạn hiệu lực bảo hộ tại Việt Nam; chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại đáp ứng các điều kiện được bảo hộ tại Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn bằng giá trị quyền SHCN và doanh nghiệp Việt Nam nhận góp vốn phải ký kết hợp đồng chuyển giao quyền SHCN tương ứng và phải được đăng ký tại Cục

Sở hữu trí tuệ47

“Giống cây” dùng để chỉ một nhóm cây thuộc duy nhất một cấp phân loại thực vật thấp nhất, bất kể có đáp ứng đầy đủ hay không các điều kiện để công nhận quyền của nhà tạo giống, nhóm cây có thể: (i) được xác định bằng sự thể hiện các tính trạng thu được từ các kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen

đã biết; (ii) được phân biệt với các nhóm cây bất kỳ khác bằng sự thể hiện của ít nhất một trong các tính trạng nói trên; (iii) được coi là một đơn vị khi xét đến sự

44 Nguyễn Thị Lan Anh (2011), “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.11

45 Khoản 3, Điều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005

46 Khoản 4, Điều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005

47 Nguyễn Thị Lan Anh (2011), “tlđd”, tr.12

Ngày đăng: 13/12/2020, 18:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật đầu tư năm 2014 (Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư số 67/"2014
16. Trần Huỳnh Thanh Nghị (2014), “Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Trần Huỳnh Thanh Nghị
Năm: 2014
17. Trần Quốc Tuấn (2015), “Tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: Thông lệ và giải pháp”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Chi nhánh TTNCKH&ĐTCK Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: Thông lệ và giải pháp
Tác giả: Trần Quốc Tuấn
Năm: 2015
18. Nguyễn Đức (2002), “Thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
Tác giả: Nguyễn Đức
Năm: 2002
19. Phạm Sỹ Thành (2011),”Về vai trò của vốn FDI - nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam và Trung Quốc”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 2 (338) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội
Tác giả: Phạm Sỹ Thành
Năm: 2011
20. Nguyễn Thị Kim Chung (2018), “Cơ chế cải thiện khả năng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, 5/2018, Số 680 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế cải thiện khả năng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam”, "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chung
Năm: 2018
21. Mai Hữu Đạt (2010),” Một số bất cập của pháp luật về đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số3(263) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Mai Hữu Đạt
Năm: 2010
22. Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Thị Lan Anh (2012), “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam “, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Thị Lan Anh
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2012
23. Phạm Duy Nghĩa (2006), “Luật Doanh nghiệp: Tình huống, Phân tích, Bình luận”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp: Tình huống, Phân tích, Bình luận
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
25. Nguyễn Thị Thùy Giang (2012), “ Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh”, Luận vănThạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Giang
Năm: 2012
26. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2008), “Công ty –vốn, quản lý và tranh chấp”, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công ty –vốn, quản lý và tranh chấp”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
27. Lê Thị Nam Giang (2007), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư pháp quốc tế
Tác giả: Lê Thị Nam Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2007
28. Lê Hoàng Oanh (2007), “Bình luận các vấn đề mới của luật thương mại trong điều kiện hội nhập”, NXB. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận các vấn đề mới của luật thương mại trong điều kiện hội nhập
Tác giả: Lê Hoàng Oanh
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2007
29. Ngô Huy Cương (2013), “Giáo trình Luật thương mại - Phần chung và thương nhân”, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại - Phần chung và thương nhân”
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
30. Ngô Huy Cương (2003), “Một số nội dung của hợp đồng thành lập công ty”, Tạp chí Khoa học kinh tế- luật, ĐHQGHN, Số 4/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung của hợp đồng thành lập công ty”
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2003
31. Phạm Hoài Huấn (2015), “Luật doanh nghiệp Việt Nam : Tình huống - dẫn giải - bình luận”, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật doanh nghiệp Việt Nam : Tình huống - dẫn giải - bình luận
Tác giả: Phạm Hoài Huấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
32. Đào Thị Thu Hằng (2016), “Pháp luật về chủ thể kinh doanh”, NXB. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về chủ thể kinh doanh”
Tác giả: Đào Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2016
33. Trịnh Tuấn Anh (2017), “Một vài đánh giá về tác động Luật Doanh nghiệp năm 2014 đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Tập 20, số 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đánh giá về tác động Luật Doanh nghiệp năm 2014 đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và kiến nghị hoàn thiện”, "Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Trịnh Tuấn Anh
Năm: 2017
34. Hoàng Thế Liên (2010), “ Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập 1”, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập 1
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
35. Bùi Đăng Hiếu (2005), “Tiền - một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự”, Tạp chí Luật học, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền - một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Đăng Hiếu
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w