1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về hợp tác xã – thực trạng và hướng hoàn thiện

82 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 905,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận văn này, tác xã sẽ nêu lên khái niệm và những đặc điểm của hợp tác xã, đồng thời, phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã; làm rõ vai trò của hợp tác xã đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

NGUYỄN THÀNH LỘC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, Năm 2019

Trang 2

-

NGUYỄN THÀNH LỘC

PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS Đặng Vũ Huân

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số chuyên ngành : 60 38 01 07

TP Hồ Chí Minh, Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Pháp Luật về Hợp tác xã – Thực trạng

và hướng hoàn thiện” là bài nghiên cứu của chính tác giả

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tác giả cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở nơi khác

Không có nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong Luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo nào khác

Tp Hồ Chí Minh, năm 2019

Nguyễn Thành Lộc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, Thư viện Trường cùng toàn thể quý thầy cô, cán bộ Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Đặng Vũ Huân, người Thầy đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện việc nghiên cứu luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh hỗ trợ, giúp đỡ và động viên trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Cuối cùng, xin trân trọng cám ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm Luận văn đã cho tác giả những ý kiến đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Trang 5

TÓM TẮT

Ở Việt Nam, hợp tác xã đã được ra đời và tồn tại trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và đã khẳng định được vị trí, vai trò lịch sử của mình, đóng góp to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong điều kiện và hoàn cảnh mới, nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế, mô hình hợp tác xã đã có nhiều điểm đổi mới để thích ứng với những đặc thù của nền kinh tế thị trường, để đủ sức cạnh tranh với thành phần kinh tế khác Mô hình tổ chức hợp tác xã kiểu mới là tổ chức do các thành viên tự nguyện hợp tác với nhau nhằm tương trợ lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ cho chính mình; hợp thành khu vực thứ 3 của nền kinh tế bên cạnh khu vực công và khu vực tư Pháp luật về hợp tác xã chính là hành lang pháp lý vững chắc nhằm mục tiêu khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã kiểu mới, đồng thời, định hướng phát triển các hợp tác xã hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã, đưa khu vực hợp tác xã nói riêng và thành phần kinh tế tập thể nói chung trở thành lực lượng

to lớn, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Vì thế, tác giả chọn đề tài Pháp Luật về hợp tác xã – Thực trạng và hướng hoàn thiện để làm đề tài nghiên cứu

Trong luận văn này, tác xã sẽ nêu lên khái niệm và những đặc điểm của hợp tác xã, đồng thời, phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã; làm

rõ vai trò của hợp tác xã đối với đời sống xã hội, nhất là gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới; khái quát những quy định của pháp luật về hợp tác xã; khái quát thực trạng quy định pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay và quá trình thực hiện pháp luật về hợp tác xã kể từ khi Luật Hợp tác xã năm 2012 được ban hành Từ đó, tác giã đưa ra những đề xuất hoàn thiện từ những bất cập trong thực tế hoạt động của hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp tác xã, đồng thời, kiến nghị những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu luận văn 6

Chương 1 7

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ 7

1.1 Khái quát lý luận về hợp tác xã 7

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp tác xã 7

1.1.1.1 Khái niệm hợp tác xã 7

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp tác xã 8

1.1.2 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã 11

1.1.3 Vai trò của hợp tác xã đối với đời sống kinh tế - xã hội 14

1.2 Khái quát lý luận pháp luật về hợp tác xã 16

1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp tác xã 16

1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về hợp tác xã 19

Kết luận Chương 1 24

Chương 2 26

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 26

VỀ HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 26

2.1 Thực trạng pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam 26

2.1.1 Bản chất của hợp tác xã theo pháp luật Việt Nam 26

Trang 7

2.1.2 Quy định về thành lập, đăng ký, chia tách, hợp nhất, sáp nhập, giải

thể, phá sản hợp tác xã 28

2.1.3 Quy định về tổ chức quản lý hợp tác xã 37

2.1.4 Quy định về quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã 41

2.1.5 Quy định về tài sản và tài chính trong hợp tác xã 43

2.1.6 Quy định về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 45

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay 49

2.2.1 Những thành tựu đạt được 49

2.2.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 53

Kết luận Chương 2 59

Chương 3 60

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 60

VỀ HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM 60

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam 60

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật để xây dựng và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới đạt hiệu quả, nâng cao hoạt động của các hợp tác xã thông qua tăng cường năng lực tổ chức, điều hành, hoạt động, kinh doanh cho các hợp tác xã 60

3.1.2 Hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hợp tác xã, phù hợp bản chất (tránh bao cấp), nhu cầu, trình độ phát triển của tổ chức hợp tác xã và phù hợp với khả năng nguồn lực của Nhà nước 61

3.1.3 Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, gắn liền với công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong phát triển hợp tác xã 62

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam 63

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp tác xã 63

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp tác xã 67

Kết luận Chương 3 70

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc Hợp tác

xã đã được hình thành cách đây khoảng hơn hai thế kỷ ở Châu Âu và từ đó được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới Ở Việt Nam, kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế tập thể luôn được Đảng và Nhà nước ta khuyến khích phát triển, đồng thời

đã được khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, như: Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Kết luận của Bộ Chính trị số 56-KL/TW ngày 21/2/2013; Luật Hợp tác xã năm 2012 và hệ thống các văn bản, nghị quyết có liên quan

Với mục tiêu nhằm khuyến khích và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, đồng thời, định hướng phát triển các hợp tác xã hiện có hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã, ngày 20/11/2012 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hợp tác xã năm 2012 (thay thế cho Luật Hợp tác xã năm 2003), có hiệu lực thi hành từ 01/7/2013 Luật Hợp tác xã năm 2012 được xây dựng trên cơ sở tiếp tục thể chế hóa sâu sắc chủ trương của Đảng và tham khảo kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời, với bản chất đích thực có tính ưu việt, nhằm khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã kiểu mới Đây là khuôn khổ pháp lý thuận lợi góp phần phát triển hợp tác xã lành mạnh, bền vững góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế hộ thành viên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công bằng xã hội, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 đang là mô hình kinh tế phù hợp, giúp nông dân liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và duy trì sinh

kế bền vững Luật Hợp tác xã năm 2012 đã thể hiện rõ hơn bản chất của hợp tác xã

là được thành lập trên cơ sở tự nguyện, hợp tác, bình đẳng, đồng sở hữu, tương trợ

Trang 9

lẫn nhau giữa các thành viên nhằm mang lại lợi ích cho thành viên thông qua đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về kinh tế, xã hội và văn hóa

Tuy nhiên, mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung, phong trào kinh tế tập thể và hợp tác xã phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật và việc tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập… Một số quy định pháp luật chưa được hướng dẫn cụ thể, như xác định tài sản không chia, xử lý tài sản không chia sau chuyển đổi, giải thể hợp tác xã; hướng dẫn chuyển đổi hợp tác xã sang các loại hình tổ chức khác; hướng dẫn thủ tục thực hiện hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng cho hợp tác xã; công tác kiểm toán hợp tác xã… Công tác chỉ đạo kinh tế hợp tác xã từ Trung ương đến cơ sở chưa quyết liệt nên không hiệu quả Công tác tuyên truyền tuy đã được chú trọng nhưng hiệu quả chưa cao, chưa tạo thành nền nếp, hiện vẫn chưa có bộ tài liệu thống nhất để phục vụ cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các tổ chức thành viên các cấp thực hiện tuyên truyền về những quan điểm mới của Luật Hợp tác xã năm 2012 Bên cạnh đó, nhiều chính sách hỗ trợ hợp tác xã thực hiện chưa thực sự hiệu quả, tính khả thi không cao, nhiều chính sách không đi vào cuộc sống, có chính sách hầu như chưa thực hiện được Các chính sách hỗ trợ cho hợp tác xã chủ yếu được lồng ghép trong các chính sách chung…

Với những lý do được đề cập phân tích ở trên, nên học viên đã mạnh dạn lựa

chọn đề tài: “Pháp luật về hợp tác xã – Thực trạng và hướng hoàn thiện” để

nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật kinh tế với hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Kể từ khi Luật Hợp tác xã năm 1996 được ban hành và sau đó được sửa đổi,

bổ sung bởi Luật Hợp tác xã năm 2003 và Luật Hợp tác xã năm 2012 đến nay, các chế định pháp luật về hợp tác xã được coi là chủ đề hấp dẫn của nhiều nhà nghiên cứu pháp lý cũng như những nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực có liên quan Tuy nhiên, các công trình đã công bố chỉ nghiên cứu trên từng góc độ của vấn đề hoạt

Trang 10

động hoặc thành lập hợp tác xã mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về hợp tác xã Cụ thể:

Hội đồng Trung ương Liên minh các hợp tác xã Việt Nam (1998), “Kinh tế hợp tác xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội, Công trình nghiên cứu;

Nguyễn Văn Kỷ (2002), “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện

nay”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

Vũ Văn Tuấn (2003),“Địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý và kiểm soát

của hợp tác xã”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội;

Trần Thị Thơ (2004), “Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các hợp

tác xã”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội;

Nguyễn Đức Long (2006); “Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản

xuất kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp tập thể”, Luận văn Thạc sĩ luật học,

Đại học Luật Hà Nội;

Nguyễn Thị Ngọc Hà (2007), “Chế độ pháp lý xã viên hợp tác xã - Những

vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ luật học;

Hoàng Thị Vinh (2009),“Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình

chuyển đổi hợp tác xã”, Luận văn Thạc sĩ luật học;

Trần Lệ Thu (2010),“Một số vấn đề pháp lý về hợp tác xã và thực tiễn áp

dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại

học Quốc gia Hà Nội

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của nhóm tác giả thuộc Viện Chính sách

và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn về (2016), “Nghiên cứu đề xuất chính sách và giải pháp phát triển hợp

tác xã trong nông, lâm, ngư nghiệp”, Hà Nội;

Phạm Lượng (2019), “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã

nông nghiệp, qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại

học Luật thuộc Đại học Huế

Mặc dù chưa có công trình nào đề cập nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật hợp tác xã làm cơ sở pháp lý cho bối cảnh phát triển mạnh mẽ các phương thức phát

Trang 11

triển hợp tác xã trong thời gian tới, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây sẽ

là những tư liệu tham khảo quý giá cho học viên trong quá trình hoàn thiện Luận văn Thạc sĩ luật kinh tế của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế hợp tác xã là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nước ta, có vai trò và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu ở trên, nhiệm vụ của luận văn được xác định là:

Nghiên cứu, phân tích làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về hợp tác xã Khái quát, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những kết quả đã đạt được và những hạn chế, tồn tại, làm rõ những nguyên nhân

Xây dựng quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế hợp tác xã là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nước

ta, có vai trò và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các vấn đề lý luận pháp luật về hợp tác xã; hệ thống các quy định pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật

về hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012 được ban hành với mục tiêu khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã kiểu mới, góp phần phát triển hợp tác xã lành mạnh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế hộ thành viên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công bằng xã hội, ổn định kinh

tế, chính trị, xã hội của đất nước

Về không gian và thời gian, Luận văn nghiên cứu pháp luật về hợp tác xã ở

Việt Nam kể từ khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực thi hành

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác

xã là cơ sở lý luận làm xuất phát điểm để nhận thức và nghiên cứu chính sách pháp luật về hợp tác xã

Luận văn cũng được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, mô tả và

so sánh, thống kê xã hội học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm

những vấn đề lý luận pháp luật về hợp tác xã Pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay đã làm thay đổi căn bản nhận thức về bản chất và vai trò và phù hợp với sự phát triển hợp tác xã của thế giới hơn 250 năm qua Khác với mô hình cũ, mô hình hợp tác xã kiểu mới hoạt động nhằm tập trung mục đích mang lại lợi ích cho thành viên thông qua việc cam kết cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm theo nhu cầu của thành viên Nhận thức về bản chất tổ chức hợp tác xã hiện nay trước hết là phân biệt được hợp tác xã với doanh nghiệp, với tổ chức xã hội và với hợp tác

xã kiểu cũ; những ưu thế và vai trò của hợp tác xã đối với phát triển kinh tế hộ

Trang 13

thành viên, kinh tế địa phương nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung dần được khẳng định

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo

quan trọng cho các cơ quan nghiên cứu, xây dựng và thực thi pháp luật về hợp tác xã; các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng kiến thức pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu được chia thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về hợp tác xã

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt

Nam hiện nay

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp tác xã ở

Việt Nam

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ

1.1 Khái quát lý luận về hợp tác xã

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp tác xã

1.1.1.1 Khái niệm hợp tác xã

Trong quá trình phát triển của hợp tác xã ở trong nước cũng như trên thế giới, có rất nhiều quan điểm, khái niệm về hợp tác xã đã được cá nhân hay tổ chức trên thế giới đưa ra Trước tiên, trên thế giới, theo Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) khái niệm hợp tác xã được hiểu như sau: “Hợp tác xã là các doanh nghiệp lấy người dân làm trung tâm, được kiểm soát và điều hành và để các thành viên của họ

Còn theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Hợp tác xã là một hiệp hội tự trị gồm những người tự nguyện đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng kinh tế, xã hội và văn hóa chung của họ thông qua một doanh nghiệp thuộc sở hữu chung và được kiểm soát dân chủ”2

Ở Việt Nam, chúng ta tìm hiểu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan niệm hợp tác xã Sau khi đã giành được chính quyền từ Cách mạng tháng Tám năm

1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thực hiện đưa mô hình hợp tác xã vào thực

kiện này giờ đây trở thành ngày truyền thống hợp tác xã Việt Nam), khi lý giải hợp tác xã là gì, Người viết: “Nói tóm lại, hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức lại với nhau

“anh em ta ai chẳng mong cho nước thịnh, dân cường Vậy chúng ta hãy mau mau chung vốn, góp sức, lập nên hợp tác xã nông nghiệp ở khắp nơi, từ làng mạc đến

1 https://www.ica.coop/en/cooperatives/what-is-a-cooperative

2 https://www.ilo.org/global/topics/cooperatives/lang en/index.htm

3 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1924-1930), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.215

4 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1924-1930), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.215

5 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1924-1930), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.215

Trang 15

tác xã rất cơ bản và rất phù hợp với bản chất của loại hình này trong thời kỳ đầu xây dựng đất nước và tư tưởng đó vẫn còn giá trị cho đến hôm nay

Cũng như các loại hình doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác, hợp tác xã ngày nay đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước Với vai trò và vị trí của kinh tế hợp tác xã như hiện nay, hợp tác xã được khái niệm như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”6

Ở nước ta, trong quá trình xây dựng pháp luật hợp tác xã qua các thời kỳ, các nhà xây dựng pháp luật đưa ra những khái niêm về hợp tác xã có sự thay đổi qua các năm, nhưng nhìn chung, về cơ bản thì hợp tác xã vẫn được hiểu là tổ chức kinh

tế tập thể, tự nguyện, tự chủ, bình đẳng và tương trợ nhau trong hoạt động

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp tác xã

Không giống như các loại hình kinh tế khác, hợp tác xã là một tổ chức kinh

tế tập thể được thành lập nhằm mục đích tương trợ trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh Dựa trên khái niệm, chúng ta có thể nhận thấy hợp tác xã có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế, trong quá trình hoạt động thể

hiện hai đặc tính là vừa hoạt động mang tính kinh doanh, vừa mang tính xã hội

Hoạt động kinh doanh là hoạt động sản xuất, trao đổi, mua bán nhằm mục đích tạo

ra lợi nhuận Còn hoạt động mang tính xã hội là tạo điều kiện cho các thành viên của mình cùng lao động, cùng sản xuất, được quyền đóng góp trên cở sở tự nguyện, quan trọng nhất là được quyền hưởng lợi trên thành quả lao động của mình Việc thành lập, phát triển của hợp tác xã không những tạo việc làm cho các thành viên, giải quyết được nhu cầu việc làm cho xã hội, mà còn tạo điều kiện cho những cá

6 Khoản 1, Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012

Trang 16

nhân nhỏ lẻ, chưa có đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp, bên cạnh đó, hợp tác xã còn thể hiện được hình thái cộng đồng rất cao

Thứ hai, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính tập thể được thành lập

và hoạt động theo nguyên tắc hợp tác, tự nguyện và bình đẳng Tuy nhiên, trong

quá trình xây dựng pháp luật, các nhà làm luật khẳng định hợp tác xã hiện tại và trong tương lai là không phải là một tổ chức kinh tế thông thường, mà là tổ chức kinh tế mang đậm tính tập thể Từ đặc điểm này cho thấy, hợp tác xã được lập thành dưới sự tham gia của nhiều thành viên cùng tự nguyện hợp tác và cùng tương trợ nhằm giải quyết các nhu cầu chung và mục đích chung trong việc sản xuất, kinh doanh Trong thực tế, hợp tác xã được thành lập hoạt động theo nhiều ngành, nghề khác nhau, để huy động được vốn lớn đòi hỏi số lượng thành viên của hợp tác xã đa phần là rất đông vì các thành viên chủ yếu là những người có vốn vừa và nhỏ Từ

đó, có thể nhận thấy tính tập thể ở chỗ không phân biệt vốn góp nhiều hay ít nhưng các thành viên chỉ được quyền biểu quyết như nhau trong đại hội thành viên Đây là

sự bình đẳng trong quá trình hoạt động, có nét riêng biệt so với mô hình doanh nghiệp

Thứ ba, để thành lập hợp tác xã cần có từ bảy thành viên trở lên Đây là đặc

điểm cơ bản trong quá trình thành lập hợp tác xã Đặc điểm này xuất phát từ việc để thành lập hợp tác xã thì ít nhất phải có ít nhất 07 thành viên tự nguyện tham gia thành lập hợp tác xã Thành viên của hợp tác xã có thể là cá nhân, hộ gia đình, và cũng có thể là pháp nhân Trong đó, nếu là cá nhân thì phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; nếu là hộ gia đình thì phải có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật

Thứ tư, hợp tác xã hoạt động trên nguồn vốn góp của các thành viên nhưng

có một loại vốn đặc thù là vốn từ sự trợ cấp, hỗ trợ của Nhà nước hay tổ chức cá nhân, là một tổ chức kinh tế tự chủ có tính dân chủ cao Đặc điểm này cho thấy,

loại hình kinh tế hợp tác xã là được sự ưu đãi rất nhiều của Nhà nước nhằm để khuyến khích cho hợp tác xã hoạt động bềnh vững theo nhu phát triển kinh tế đất nước trong quá trình đổi mới và hội nhập Hợp tác xã được thành lập trên cơ sở góp

Trang 17

vốn của thành viên, những người đồng sở hữu hợp tác xã, vì vậy hợp tác xã là một đơn vị kinh tế tự chủ Tuy nhiên, hợp tác xã khác với các tổ chức kinh tế khác (các doanh nghiệp) ở tính dân chủ cao Lý do cơ bản là thành viên hợp tác xã vừa là người góp vốn vừa là người sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của hợp tác xã, vừa là người quản lý vừa là người làm thuê Là người góp vốn, cộng đồng thành viên sẽ cùng quyết định làm cái gì và làm như thế nào để đáp ứng cao nhất nhu cầu chung

về kinh tế, văn hoá, xã hội của họ Là người sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác

xã, xã viên có khả năng tác động mạnh mẽ đến định hướng sản xuất và hoạt động của hợp tác xã Với tư cách là người quản lý, các xã viên hợp tác xã có quyền tham gia vào các quyết định của hợp tác xã một cách dân chủ Là người làm thuê, các xã viên hợp tác xã được quyền hưởng các lợi ích cơ bản của người lao động là tiền lương và các quyền lợi liên quan khác Vì vậy, hợp tác xã là tổ chức tự chủ của những người lao động được kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ cao Điều này làm cho hợp tác xã khác với các doanh nghiệp có mục tiêu thuần túy về mặt thương mại

Thứ năm, hợp tác xã là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Hợp tác xã là

một tổ chức có tư cách pháp nhân, bởi tổ chức này đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được công nhận là pháp nhân theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015

Cụ thể:

Hợp tác xã là tổ chức được thành lập một cách hợp pháp theo quy định của Luật Hợp tác xã Hợp tác xã được thành lập dưới sự tự nguyện thành lập của các sáng lập viên thông qua hội nghị thành lập hợp tác xã Hợp tác xã có điều lệ, có tên, biểu tượng riêng của hợp tác xã, và có đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi chính thức đi vào hoạt động

Hợp tác xã cũng có cơ cấu tổ chức như cơ cấu tổ chức của một pháp nhân, cũng có cơ quan điều hành, có điều lệ theo quy định của pháp luật Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã, bao gồm đại hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên.Trong đó, đại hội thành viên là cơ quan

có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã Còn hội đồng quản trị hợp tác xã là cơ quan quản lý hợp tác xã do hội nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu Giám

Trang 18

đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động của hợp tác xã Và Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên là cơ quan/người do đại hội thành viên bầu và kiểm soát, giám sát hoạt động của hợp tác xã

Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Tài sản của hợp tác xã không chỉ là tiền (vốn góp, vốn huy động, vốn hình thành trong quá trình hoạt động, các khoản trợ cấp, lợi nhuận), mà còn là các phần vật chất khác như tài sản hiện hữu cố định, quyền sử dụng đất Những tài sản của hợp tác xã được quản lý và sử dụng theo nguyên tắc, quy định trong điều lệ, trong quy chế quản lý tài chính, và hoàn toàn độc lập với tài sản riêng của các thành viên Mọi giao dịch liên quan đến hoạt động của hợp tác xã đều do hợp tác xã chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình

Nhân danh mình độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật

Thứ sáu, hợp tác xã hoạt động và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình

Vốn góp của thành viên hợp tác xã ở nhiều nước có cách gọi khác nhau: dự phần xã hội, vốn góp điều lệ, cổ phần Tài sản chung được hình thành và phát triển không có mục đích tự thân, mà hướng đến việc phục vụ nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa và

xã hội của các thành viên Vì vậy, trong suốt quá trình tham gia hợp tác xã, thành viên chỉ được sở hữu tư nhân phần vốn góp ban đầu của họ; còn tài sản hình thành

từ hoạt động của hợp tác xã là tài sản chung không chia của hợp tác xã; trường hợp hợp tác xã bị giải thể, tài sản này phải được chuyển giao cho chính quyền địa phương; trường hợp thành viên rút ra khỏi hợp tác xã, thì chỉ rút phần vốn đã góp Tài sản chung không chia được xem là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững và liên tục của hợp tác xã Sở hữu tài sản chung không phân chia là đặc điểm mang tính bản chất của hợp tác xã, phản ánh tính cộng đồng cao hợp tác xã, khác hẳn với các công ty, theo đó sở hữu của thành viên góp vốn tương ứng với tỷ lệ góp vốn của mình trong suốt quá trình hình thành và phát triển của công ty

1.1.2 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã

Trong bất kỳ tổ chức nào, muốn hoạt động hiệu quả thì phải xây dựng bộ nguyên tắc cho quá trình tổ chức, hoạt động của mình Đối với hợp tác xã cũng

Trang 19

không ngoại lệ, nhưng nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã phải được xây dựng theo nét riêng mang đặc trưng vốn có của loại hình kinh tế tập thể này Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc; các thành viên hợp tác xã tự nguyện tham gia vào quá trình thành lập; bình đẳng với nhau trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh; hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật… Hợp tác xã tổ chức hoạt động theo bảy nguyên tác sau:

Một là, cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra

khỏi hợp tác xã Thành viên hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp

tác xã Đây là nguyên tác cơ bản nhất của hợp tác xã Nghĩa là các thành viên khi có nhu cầu hợp tác, nhu cầu sử dụng dịch vụ mà không bị ép buộc hay cản trở

Hai là, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác

xã thành viên Không giống như thành viên của loại hình doanh nghiệp, thành viên

hợp tác xã được xem là cốt lõi, là đối tác, là khách hàng, là thị trường của hợp tác

xã hay liên hiệp hợp tác xã Làm tốt công tác phát triển thành viên là làm tăng nguồn lực, sản phẩm, sử dụng dịch vụ, tăng thị trường,… góp phần phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường và trong công cuộc hội nhập quốc tế

Ba là, thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết

ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời,

chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ Đối với mô hình doanh nghiệp, tỷ

lệ vốn góp có ảnh hưởng khá nhiều đến việc biểu quyết của các thành viên, còn ở loại hình kinh tế hợp tác xã thì khác Bình đẳng được xem là bản chất, nét đặc trung

là giá trị ưu việt của mô hình hợp tác xã, thành viên hợp tác xã bình đẳng trong quyết định mọi việc như: quyết định về tổ chức, quản lý, hoạt động, kế hoạch phát triển và phân phối, chiến lược chung của hợp tác xã mà không phụ thụ vào vốn góp hay vị trí của thành viên hợp tác xã

Trang 20

Bốn là, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt

động của mình trước pháp luật Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc tổ chức hoạt

động sản xuất, kinh doanh trước pháp luật, trước thành viên, trước hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và cộng đồng xã hội Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được xem vừa là quyền vừa là nghĩa vụ

Năm là, thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của Điều lệ Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức

độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm Các hợp đồng dịch vụ không phải là một điều mới trong luật nhưng Luật Hợp tác xã năm

2012 quy định cụ thể là thành viên của hợp tác xã phải cam kết sử dụng sản, phẩm dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác bằng hợp đồng Điểm quy định mới là phân chia lợi nhuận dựa trên mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Có nghĩa là thành viên nào có doanh thu sử dụng dịch vụ nhiều hơn thì được phân phối lợi nhuận nhiều hơn

Sáu là, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi

dưỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Để nâng cao năng lực quản lý, điều hành thì đòi hỏi hợp tác xã, liên

hiệp hợp tác xã phải quan tâm đến việc thông tin phổ biến, giới thiệu những giá trị, lợi ích của thành viên khi tham gia vào hợp tác xã Đồng thời hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tập trung vào đào tạo hay gửi đi đào tạo để nâng cao trình độ nghiệp vụ,

kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ điều hành, nhân viên nghiệp vụ, xem việc đào tạo, bồi dưỡng là việc làm thường xuyên tại hợp tác xã

Bảy là, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng

đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế Chăm lo cho

thành viên, hợp tác xã thành viên là trách nhiệm của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

Trang 21

xã Đây là nguyên tác quan trọng, vì thành viên được tạo điều kiện càng nhiều về nhu cầu, quyền lợi thì thành viên đó sẽ càng gắn bó lâu dài với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

1.1.3 Vai trò của hợp tác xã đối với đời sống kinh tế - xã hội

Kinh tế hợp tác xã với nòng cốt là hợp tác xã bước đầu thể hiện chuyển biến

về chất lượng, hiệu quả, chứng tỏ ngày càng rõ nét hơn vai trò quan trọng và có ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, bước đầu đã có những tín hiệu mới trong công cuộc phát triển phong trào hợp tác xã trên toàn quốc Nó không những tạo ra lợi nhuận và giúp cho tăng trưởng kinh tế của đất nước, mà còn có vai trò, vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội của cả nước nói chung hay của địa phương nói riêng Vai trò của hợp tác xã được thể hiện trong việc giải quyết việc làm cho thành viên, đảm bảo đời sống cho người lao động, tạo sự ổn định chính trị -

xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội

Hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 đang là mô hình kinh tế phù hợp, giúp nông dân liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và duy trì sinh

kế bền vững Luật Hợp tác xã năm 2012 cũng đã thể hiện rõ hơn bản chất của hợp tác xã là được thành lập trên cơ sở tự nguyện, hợp tác, bình đẳng, đồng sở hữu, tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên hợp tác xã, nhằm mang lại lợi ích cho thành viên thông qua đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về kinh tế, xã hội và văn hóa

Trong Hội nghị toàn quốc tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, nhận thức, các quan điểm phát triển kinh tế tập thể của các cấp ủy Đảng, chính quyền đã có sự chuyển biến tích cực; đã có sự thay đổi trong nhận thức của nhân dân về mô hình hợp tác xã kiểu mới, từng bước hiểu rõ bản chất hợp tác xã kiểu mới, gắn với lợi ích của từng thành viên, thấy được vai trò, vị trí, tính tất yếu khách quan của kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Vị trí, vai trò của hợp tác xã đối với phát triển kinh tế hộ thành viên, kinh tế địa phương nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung dần được khẳng định

Trang 22

Cùng với đó, sau 15 năm thực hiện Nghị quyết và hơn 7 năm kể từ khi Luật Hợp tác xã năm 2012 đi vào cuộc sống, khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã đã có bước phát triển và đạt được nhiều kết quả tích cực, số hợp tác xã hoạt động hiệu quả không ngừng tăng lên, chiếm khoảng 57% trong tổng số hợp tác xã nông nghiệp, khoảng 50-80% trong tổng số hợp tác xã phi nông nghiệp

Về hợp tác xã, trong năm 2018, toàn quốc có 22.456 hợp tác xã, tăng 19% so với năm 2013; thu hút gần 7 triệu thành viên tham gia; số lao động làm việc trong hợp tác xã gần 2,5 triệu người Số lượng hợp tác xã thành lập mới tăng nhanh qua các năm, từ 917 hợp tác xã thành lập mới năm 2013 lên 2.390 hợp tác xã thành lập mới năm 2018, tăng gấp 2,6 lần, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực nông nghiệp Mặc dù vậy, đóng góp của khu vực hợp tác xã vào GDP của cả nước còn khiêm tốn và có

xu hướng giảm, trung bình đạt khoảng 4% Tuy nhiên, đóng góp thông qua kênh gián tiếp, tác động tới kinh tế hộ thành viên là khá tích cực, góp phần nâng tỷ trọng

Vai trò của hợp tác xã còn được thể hiện mạnh mẽ trong quá trình xây dựng nông thôn mới Các hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp đã phát huy vai trò trong việc vận động, tập hợp, thay đổi cách nghĩ cách làm của bà con nông dân, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách hiệu quả trong quá trình hoạt động sản xuất Trên một số lĩnh vực, hơp tác xã mở rộng thêm nhiều ngành nghề, đầu tư trang thiết

bị tiên tiến để nâng cao chất lượng sản xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh góp phần không nhỏ trong việc thực hiện giảm nghèo tại địa phương còn nhiều khó khăn Bên cạnh đó, có nhiều hợp tác xã đã thích nghi với cơ chế của nền kinh tế chủ động tạo ra sự liên kến với các hợp tác xã hay với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác mang lại hiệu quả cho hợp tác xã và thành viên, góp phần vào sự thay đổi của

dịch cơ cấu kinh tế và giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp trong nền kinh tế; cung cấp các yếu tố đầu vào như vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, giảm thiểu rủi ro và chia sẻ thông tin, kiến thức; áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ thuật hiện đại;

Trang 23

là nơi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, phổ cập thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin thị trường cho người dân; phát huy hiệu quả kinh tế nhờ quy mô; thực hiện các hoạt động tiếp thị, thương lượng giúp người nông dân có được mức giá bán tốt hơn so với những nông dân hoạt động đơn độc

1.2 Khái quát lý luận pháp luật về hợp tác xã

1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp tác xã

Lý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thể hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra những quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị

và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình

Trong lĩnh vực hợp tác xã, các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động có đặc điểm chung xuyên suốt là đều có hoạt động tạo ra sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho thành viên, tạo nên bản chất riêng có của tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

xã Nếu các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã này không có đặc trưng phục vụ thành viên của mình thì hoặc không thể tồn tại, hoặc sẽ trở thành doanh nghiệp Bởi vậy,

để khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới, đồng thời, định hướng phát triển các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hiện

có hoạt động theo đúng bản chất của nó góp phần cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

xã nói riêng và thành phần kinh tế tập thể nói chung trở thành lực lượng to lớn, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta; để góp phần cải thiện công bằng xã hội, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, và định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta, cho nên, cần thiết phải xây dựng khung pháp luật điều chỉnh phù hợp với bản chất của tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là mang lại lợi ích cho thành viên, thiết lập hành lang pháp lý hoàn chỉnh nhằm tạo

Trang 24

điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động và phát triển một cách tự chủ, vững chắc

Pháp luật về hợp tác xã được ban hành là nhằm mục đích thúc đẩy việc thành lập các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, đơn giản hoá và minh bạch hoá thủ tục thành lập và đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Bên cạnh đó, còn tạo điều kiện cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được hình thành dựa trên sở hữu của thành viên và sở hữu tập thể, thúc đẩy thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cùng góp vốn, góp sức, cùng có lợi; khẳng định nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; phân định rõ hơn chức năng quản lý của ban quản trị và chức năng điều hành của chủ nhiệm hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; khẳng định sự bình đẳng của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác Pháp luật về hợp tác xã cũng quy định cụ thể về các chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã như hỗ trợ sáng lập viên chuẩn bị thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hỗ trợ ứng dụng đổi mới công nghệ, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và ưu đãi đầu tư

Trong quá trình phát triển của Luật Hợp tác xã qua các giai đoạn, nhà làm luật luôn mong muốn cho ra đời một dự luật thật sự phù hợp với nhu cầu phát triển của loại hình kinh tế hợp tác xã hiện tại và trong tương lai Cơ chế kinh tế và pháp luật về hợp tác xã được coi là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của hợp tác xã và các xu hướng phát triển của hợp tác xã Sau năm 1986, cùng với việc chuyển đổi cơ chế kinh tế, sự ra đời của Luật Hợp tác xã năm 1996 đã góp phần làm cho các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng, minh bạch đi vào cuộc sống hợp tác xã ngày càng thực chất hơn, tuy nhiên, nó cũng góp phần tạo ra sự suy thoái của các hợp tác xã có tính hình thức được lập trước năm 1986

Theo Luật Hợp tác xã năm 2003, ngoài các cá nhân và hộ gia đình, các pháp nhân cũng được quyền tham gia hợp tác xã Sự tham gia của các cá nhân vào hợp tác xã một mặt đã thúc đẩy sự phát triển của hợp tác xã, mặt khác điều này cũng góp phần tạo ra xu thế doanh nghiệp hóa ở nhiều hợp tác xã Các chính sách của

Trang 25

Nhà nước về hợp tác xã chỉ tác động tương đối khiêm tốn đến sự phát triển của hợp tác xã do nhận thức về bản chất của hợp tác xã chưa thực sự nhất quán với thực tiễn hợp tác xã ở các cơ quan liên quan

Sự ra đời của Luật Hợp tác xã năm 2012 đánh dấu một bước phát triển mới trong việc xây dựng, định hướng và phát triển của hợp tác xã kiểu mới nhằm đáp ứng được kỳ vọng của Đảng, Nhà nước trong quá trình đưa loại hình kinh tế hợp tác trở thành một trong loại hình kinh tế quan trọng gắn với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Luật Hợp tác xã năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam khóa XIII, kỳ hợp thứ 4 thông qua ngày 20/11/ 2012 (gồm có 9 Chương,

64 Điều) có hiệu lực ngày 01/7/2013, cơ quan có thẩm quyền đã nghiên cứu, tổng

hợp các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi từ hợp tác xã kiểu cũ sang loại hình hợp tác xã kiểu mới để từ đó xây dựng và ban hành văn bản điều chỉnh cho phù hợp Cụ thể, sau khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực thì Chính phủ ban hành Nghị định số 193/2013/NĐ-CP, ngày 21/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã và Nghị định số 107/2017/NĐ-

CP, ngày 15/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã, góp phần thống nhất cách hiểu cũng như cách vận dụng Luật Hợp tác xã 2012 được xây dựng trên cơ sở tiếp tục thể chế hóa sâu sắc chủ trương của Đảng, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế có tính tới điều kiện thực tiễn của nước ta Đồng thời, căn cứ vào xu hướng mới phát triển hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã ở nước ta cần phải chuyển hướng mạnh sang cung ứng dịch

vụ phục vụ thành viên Mô hình tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới được xây dựng trong Luật Hợp tác xã 2012 là tổ chức do các thành viên tự nguyện hợp tác với nhau nhằm tương trợ lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ cho chính mình

Như vậy, có thể khẳng định, pháp luật về hợp tác xã chính là khung pháp lý đảm bảo cho việc các hợp tác xã được thành lập, tổ chức và hoạt động một cách

Trang 26

bình đẳng và có hiệu quả trong điều kiện nền kinh tế thị trường với đa dạng các chủ thể kinh doanh Pháp luật về hợp tác xã quy định làm rõ sự khác biệt cơ bản giữa hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã so với các loại hình doanh nghiệp; thể hiện đầy đủ các nguyên tắc hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mang tính phổ biến trên thế giới, đồng thời có tính đến điều kiện cụ thể ở nước ta; quy định các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc biệt riêng của Nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phù hợp với điều kiện thực tế theo lĩnh vực, vùng, miền, điều kiện phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, đặc biệt bổ sung chính sách ưu đãi đặc biệt đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với

tư cách là một pháp nhân và là tổ chức kinh tế hoạt động tự chủ

Từ các phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật về hợp tác xã là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm quy định về những đặc trưng cơ bản của hợp tác xã, quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã, quy định về quy chế thành viên, về thành lập, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản hợp tác xã, quy định quy chế tài sản và tài chính của hợp tác xã, quy định các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc biệt riêng của Nhà nước đối với hợp tác xã cũng như công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác xã.”

1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về hợp tác xã

Pháp luật về hợp tác xã bao gồm các nhóm quy định cơ bản sau đây:

Một là, nhóm quy định về nhận diện mô hình hợp tác xã và chính sách của

Nhà nước đối với hợp tác xã

Cùng với các loại hình doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác, hợp tác xã ngày nay đang đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Hợp tác xã còn được biết đến như một đại diện của hình thức kinh tế tập thể, phù hợp với pháp luật quốc tế và một số nước trên thế giới, cũng như các điều kiện đặc thù của Việt Nam Mô hình hợp tác xã được nhận diện và quy định là tổ chức do các thành viên tự nguyện hợp tác với nhau nhằm tương trợ lẫn nhau, đáp

Trang 27

ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ cho chính mình; hợp thành khu vực thứ 3 của nền kinh tế bên cạnh khu vực công và khu vực tư Hợp tác xã là một tổ chức đối nhân và sự khác biệt giữa hợp tác xã với doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, tư cách pháp lý, mục đích thành lập, cơ chế quản lý và phương thức phân phối thu nhập…

Về chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước đối với quá trình hình thành và phát triển của hợp tác xã Trong phần này, Nhà nước cụ thể hóa chính sách của nhà nước thông qua việc hướng dẫn cho các cơ quan chức năng xây dựng và ban hành những quy định có liên quan đến loại hình hợp tác xã Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước được xem là một phần quan trọng giúp cho hợp tác xã hoạt động có hiệu quả hơn Ngày nay, chính sách của Nhà nước được hoàn thiện theo từng lĩnh vực, đáp ứng được nhu cầu cơ bản trong quá trình phát triển hợp tác xã Có thể nhận thấy một vài chính sách sau đây: Chính sách đầu tư xây dựng phát triển kế cấu hạ tầng; chính sách ưu đãi về tín dụng; chính sách ưu đãi về vốn; chính sách giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động hợp tác xã;… Tất cả những quy định về chính sách về cơ ban đáp ứng được kỳ vọng của đa số hợp tác xã nông, lâm, ngư và diêm nghiệp Góp phần vào chủ trương chung là tăng cường quản lý giúp hợp tác xã thoát khỏi tình trạng kém phát triển

Hai là, nhóm quy định về quy chế thành viên hợp tác xã

Đây là nhóm các quy định về điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành viên; quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành viên; chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành viên; góp vốn điều lệ và giấy chứng nhận vốn góp; trả lại vốn góp cho thành

viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành viên và thừa kế vốn góp Khi đã trở

thành thành viên, hợp tác xã thành viên thì được hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo hợp đồng dịch vụ; đồng thời cũng phải có nghĩa

vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã theo hợp đồng dịch vụ và sẽ bị chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành viên nếu không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 03 năm Đối với

Trang 28

hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tạo việc làm, thành viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 02 năm

Ba là, nhóm quy định về thành lập, đăng ký, chia tách, hợp nhất, sáp nhập,

giải thể, phá sản hợp tác xã

Nhóm quy định về điều kiện thành lập, đăng ký, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã Trong nhóm quy định này, nhà xây dựng pháp luật đã sắp xếp, bố trí các điều khoản khoa học và chi tiết Những quy định nói trên điều chỉnh đối với quá trình thành lập, phát triển và kết thúc một hợp tác xã (giải thể, phá sản,…) và được hướng dẫn bởi Nghị định giúp cho người tham gia hiểu và vận dụng linh hoạt vào cuộc sống

Bốn là, nhóm quy định về mô hình tổ chức hợp tác xã

Đối với mô hình tổ chức hợp tác xã, pháp luật quy định điều chỉnh về: Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Đại hội thành viên, triệu tập đại hội thành viên, quyền hạn và nhiệm vụ của đại hội thành viên, chuẩn bị đại hội thành viên, biểu quyết trong đại hội thành viên; Hội đồng quản trị hợp tác xã, quyền hạn

và nhiệm vụ của hội đồng quản trị; Quyền hạn và nhiệm vụ của chủ tịch hội đồng quản trị; giám đốc (tổng giám đốc) hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Ban kiểm soát, kiểm soát viên; Điều kiện trở thành thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, giám đốc (tổng giám đốc) hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức, chấm dứt hợp đồng các chức danh quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã… Qua những quy định của pháp luật về hợp tác xã, có thể nhận thấy cơ cấu tổ chức của hợp tác xã bao gổm: Đại hội thành viên; Hội đồng quản trị; Giám đốc (Tổng giám đốc) và Ban kiểm soát hay kiểm soát viên Với cơ cấu tổ chức này đảm bảo hợp tác xã được tổ chức một các chặt chẽ với tư các là một

tổ chức tự chủ, tự chịu trách nhiệm được thể hiện qua việc phân rõ hơn quyền hạn, nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân trong cơ cấu tổ chức của mình, đặc biệt tách bạch rõ chức năng quản lý với chức năng điều hành hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã,

Trang 29

nhưng cũng chính vì tách quản lý với điều hành mà ảnh hưởng đến những hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã có ít thành viên; bảo đảm quyền làm chủ của thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đối với mọi vấn đề của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với quyền biểu quyết như nhau không phụ thuộc mức vốn góp, đây là điểm nổi bật của hợp tác xã khác với mô hình doanh nghiệp tỷ lệ phiếu biểu quyết phụ thuộc vào vốn góp

Năm là, nhóm quy định về quan hệ tài chính của hợp tác xã

Trong nhóm này quy định những vấn đề như: Xác định giá trị vốn góp; Tăng, giảm vốn điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Huy động vốn và các khoản trợ cấp, hỗ trợ; Vốn hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Phân phối thu nhập; Quản lý, sử dụng các quỹ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xử lý tài sản và vốn của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khi giải thể; xử lý các khoản lỗ, khoản nợ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; trình

tự trả lại vốn góp

Pháp luật khuyến khích huy động vốn hoạt động cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trước hết từ thành viên theo như tinh thần hợp tác, tương trợ nhau, nhằm mang lại lợi ích trước hết cho thành viên, hợp tác xã thành viên Việc phân phối thu nhập sau thuế cho thành viên, hợp tác xã thành viên chủ yếu theo “mức độ sử dụng dịch vụ hoặc công sức lao động đóng góp của thành viên vào hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, phần còn lại mới chia theo vốn góp” Quy định về tài sản không chia, việc trả lại vốn góp như là chất keo dính giữa các thành viên, hợp tác xã thành viên với nhau bảo đảm giúp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển bền trên cơ sở lợi ích của thành viên, hợp tác xã thành viên Việc trả lại vốn góp cho thành viên, hợp tác xã thành viên chỉ được thực hiện sau khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã quyết toán thuế của năm tài chính và bảo đảm khả năng thanh toán các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Thành viên, hợp tác xã thành viên chỉ được trả lại vốn góp sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính của mình đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Cá nhân hoặc tập thể quyết định việc

Trang 30

trả lại vốn góp cho thành viên, hợp tác xã thành viên không đúng quy định tại khoản này phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Sáu là, nhóm quy định về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Trong nhóm quy phạm này quy định về nội dung quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Theo nguyên tắc chung, Chính phủ quản lý nhà nước về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; pháp luật quy định về hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhằm tăng cường việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhằm góp phần lành mạnh hóa, thúc đẩy khu vực hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển Việc kiểm toán hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã do Chính phủ quy định

Trang 31

Kết luận Chương 1

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc Hợp tác

xã đã được hình thành cách đây gần hai thế kỷ ở Châu Âu và từ đó được phát triển

ở hầu khắp các nước trên thế giới Ở Việt Nam, hợp tác xã đã được ra đời và tồn tại trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và đã khẳng định được vị trí, vai trò lịch sử của mình, đóng góp to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong điều kiện và hoàn cảnh mới, nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế, mô hình hợp tác xã đã có nhiều điểm đổi mới để thích ứng với những đặc thù của nền kinh tế thị trường, để đủ sức cạnh tranh với thành phần kinh

tế khác

Mô hình tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới là tổ chức do các thành viên tự nguyện hợp tác với nhau nhằm tương trợ lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ cho chính mình; hợp thành khu vực thứ 3 của nền kinh

tế bên cạnh khu vực công và khu vực tư Pháp luật về hợp tác xã chính là hành lang pháp lý vững chắc nhằm mục tiêu khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã kiểu mới, đồng thời, định hướng phát triển các hợp tác xã hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đưa khu vực hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nói riêng và thành phần kinh tế tập thể nói chung trở thành lực lượng to lớn, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta; bảo đảm quyền và lợi ích của hàng chục triệu hộ nông dân, hàng chục triệu người tiêu dùng,

hộ kinh doanh cá thể…

Trong chương này, tác giả nêu lên khái niệm và những đặc điểm của hợp tác

xã, đồng thời, phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã; làm rõ vai trò của hợp tác xã đối với đời sống xã hội nhất là gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới; khái quát những quy định của pháp luật về hợp tác xã theo các chế định (nhóm quy phạm) để nhận diện bản chất của hợp tác xã kiểu mới, quy chế thành viên, quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động cũng như công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác xã Đây là những tiền đề về mặt lý luận để tác giả đánh giá

Trang 32

thực trạng pháp luật và thực thiễn thực hiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam trong Chương 2

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam

2.1.1 Bản chất của hợp tác xã theo pháp luật Việt Nam

Luật Hợp tác xã năm 2012 đã nêu lên khái niệm hợp tác xã khác so với khái

hiện bản chất của hợp tác xã theo mô hình hợp tác xã kiểu mới Với khái niệm này

về cơ bản không chỉ khắc phục được những hạn chế, thiết sót của Luật Hợp tác xã năm 2003 mà còn làm rõ sự khác biệt giữa hợp tác xã với doanh nghiệp; giữa hợp tác xã với tổ chức xã hội từ thiện, không coi hợp tác xã như là một loại hình doanh nghiệp

Khái niệm về hợp tác xã được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã

năm 2012 như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách

pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” Từ khái niêm đã nêu, có thể thấy được những điểm khác

biệt như sau: Sự khác biệt đầu tiên đó là quy định đã khẳng định về số lượng thành viên tối thiểu của hợp tác xã là bảy, trong khi đó ở Luật Hợp tác xã năm 2003 không quy định về số lượng thành viên tối thiểu vào trong khái niệm (mà số thành viên tối thiểu là bốn theo Nghị định hướng dẫn của Chính phủ) Đồng thời thay đổi

tên gọi những người tham gia vào hợp tác xã từ “xã viên” chuyển thành tên gọi là

“thành viên” nhằm thống nhất cách gọi chung, phù hợp với thực tiễn và quy định

pháp luật khác có liên quan

Luật Hợp tác xã năm 2012 đã bổ sung thêm cụm “từ tạo việc làm” để mở rộng thêm mô hình hợp tác xã tạo việc làm Bổ sung thêm các cụm từ như: “bình

Trang 34

đẳng”, “dân chủ” vào trong khái niệm mà trước đây Luật Hợp tác xã năm 2003 chỉ

Hợp tác xã năm 2012 đã bỏ đi nội dung “… Hợp tác xã hoạt động như một loại

hình doanh nghiệp…” nhằm tránh sự nhầm lẫn về mục tiêu hoạt động của hợp tác

xã, không làm rõ được địa vị pháp lý của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường, gây hiểu nhầm xem hợp tác xã như doanh nghiệp

Khái niệm hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012 còn ghi nhận mục đích thành lập của hợp tác xã là vì nhu cầu và nguyện vọng chung của các thành viên Khái niệm này đã làm rõ ràng bản chất của hợp tác xã là tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể, được thành lập trên tinh thần tự nguyện, trên cơ sở cùng nguyện vọng chung, thể hiện tính đối nhân sâu sắc

Từ những phân tích trên, có thể thấy bản chất của hợp tác xã thể hiện qua hai nội dung sau:

Mục đích hoạt động của hợp tác xã là mang lại lợi ích cho chính các thành viên, phân phối của hợp tác xã chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên; theo công sức lao động, phần còn lại chia theo vốn góp

Quan hệ sở hữu: thành viên hợp tác xã vừa là đồng sở hữu, vừa là khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, đối tượng phục vụ chính của hợp tác xã là thành viên

Qua những phân tích trên, có thể nhận biết bản chất của hợp tác xã là phục

vụ lợi ích của các thành viên, theo đó, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, các thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm theo ngành, nghề đã đăng ký nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, hợp tác xã thành viên; được phép cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ,

Trang 35

việc làm cho thành viên, hợp tác xã thành viên và ra thị trường nhưng phải bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với thành viên, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành viên

Về quy chế thành viên, Luật Hợp tác xã hiện hành của Việt Nam quy định điều kiện để trở thành thành viên, hợp tác xã thành viên là phải có nhu cầu hợp tác

và có sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Khi đã trở thành thành viên của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thì được hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo hợp đồng dịch vụ; đồng thời cũng phải

có nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo hợp đồng dịch vụ và sẽ bị chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên nếu không

sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 03 năm Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tạo việc làm, thành viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá

02 năm Để bảo đảm tính dân chủ trong quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khả thi trong cuộc sống và phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật Hợp tác xã hiện hành của Việt Nam đã hạ mức vốn góp tối đa của thành viên trong vốn điều lệ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã xuống mức không quá 20% vốn điều lệ

2.1.2 Quy định về thành lập, đăng ký, chia tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản hợp tác xã

Thứ nhất, quy định về thành lập, đăng ký hợp tác xã

Luật Hợp tác xã năm 2012 về thành lập và đăng ký hợp tác xã được quy định trong Chương III, cụ thể từ Điều 19 đến Điều 28 Trong chương này có thể nhận thấy nhà xây dựng pháp luật bố trí và chia thành hai phần: Phần thứ nhất, là nhóm điều Luật quy định về quá trình thành lập hợp tác xã; phần thứ hai là nhóm điều Luật quy định về quá trình đăng ký Để tìm hiểu nhóm quy định về thành lập, đăng

ký hợp tác xã tác giả lấy quy trình thành lập, đăng ký hợp tác xã hiện nay được hướng dẫn của Liên minh hợp tác xã Việt Nam để đánh giá về vấn đề thực trạng pháp luật về thành lập, đăng ký hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012

* Quá trình thành lập hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2012:

Trang 36

Để thành lập một hợp tác xã từ lúc chuẩn bị đến khi đăng ký phải trải qua bốn bước cụ thể như sau:

Bước 1: Xác định nhu cầu cần hợp tác sản xuất, kinh doanh và tính toán các

yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh tại địa phương (như: lợi thế về ngành, nghề; thế mạnh của vùng, miền; chính sách ưu đãi của địa phương

về ngành nghề sản xuất, kinh doanh; …), bước này thì luật không quy định vì đây mới là ý tưởng Tuy nhiên, xác định vấn đề là thành lập hợp tác xã ngành, nghề gì,

đó bước đi vô cùng quan trọng Vì nếu căn cứ vào những yếu tố ảnh đến ngành, nghề thì có thể tận dụng cơ hội thành lập một hợp tác xã có tỷ lệ thành công cao hơn Trong thực tế ngày nay, việc này tuy dễ nhưng hầu hết các hợp tác xã điều vướng phải

Bước 2: Công tác vận động, tuyên truyền để thành lập hợp tác xã Để thực

hiện bước này nhiệm vụ đầu tiên là phải có “Sáng lập viên” Sáng lập viên là cá nhân, hộ gia đình hoặc pháp nhân có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình

đưa ra ý tưởng việc “hợp tác”, là người có hiểu biết về Luật; có kiến thức về tổ chức

và hoạt động của hợp tác xã; nhiệt tình, uy tín, hiểu biết về những vấn đề mà hợp tác xã dự định sản xuất kinh, doanh; có khả năng đề xuất các chương trình và lập kế hoạch hoạt động cho hợp tác xã

Sau khi xác định được sáng lập viên, thì nhiệm vụ thứ hai là công tác vận động và chuẩn bị Sáng lập viên báo cáo bằng văn bản với UBND cấp xã nơi dự định đặt trụ sở chính của hợp tác xã về việc thành lập, địa điểm đóng trụ sở, phương hướng sản xuất, kinh doanh và kế hoạch hoạt động của hợp tác xã Sáng lập viên tiến hành tuyên truyền, vận động các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân khác có nhu

Nghị định 193/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã; Nghị định số 107/2017/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật

Trang 37

Hợp tác xã; Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn

về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của hợp tác xã; Thông

tư 07/2019/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Kế hoạch

và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của hợp tác xã và các quy định, hướng dẫn có liên quan đến ngành, nghề hoạt động sản xuất kinh doanh)

Nhiệm vụ thứ ba, là sáng lập viên xây dựng Điều lệ hợp tác xã theo quy định tại Điều 21 Luật Hợp tác xã năm 2012; xây dựng dự thảo phương hướng sản xuất, kinh doanh dịch vụ của hợp tác xã; xác lập danh sách những người có nhu cầu tham gia hợp tác xã; họp bàn về cơ cấu tổ chức của hợp tác xã

Bước 3: Tổ chức Hội nghị thành lập hợp tác xã Hội nghị thành lập hợp tác

Điều 21 Luật Hợp tác xã năm 2012); (ii) Thông qua phương án sản xuất kinh doanh (theo mẫu Phụ lục I-2 của Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT); (iii) Danh sách thành

viên (theo mẫu Phụ lục I-3 của Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT); (iv) Bầu cử hội

đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, trưởng

ban kiểm soát (theo mẫu Phụ lục I-4 của Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT); (v) Thông

qua nghị quyết hội nghị thành lập hợp tác xã

Từ những quy định của pháp luật về hợp tác xã đối với quá trình thành lập hợp tác xã thì cơ quan nhà nước ban hành hướng dẫn rất chi tiết và cụ thể Tạo điều kiện cho thành viên hoàn thành công tác thành lập hợp tác xã một cách thuận lợi Trong khâu này, nhiệm vụ chính là xây dựng Điều lệ và bầu tổ chức bộ máy quản

lý, điều hành, đây là hai khâu được tác giả cho là quan trọng nhất Bởi vì, làm tốt khâu là hợp tác xã xây dựng cho mình Điều lệ hoạt động có chiều sâu, có tính định hướng và chọn ra những người đủ năng lực thực sự vào bộ máy quản lý, điều hành góp phần cho hợp tác xã hoạt động có hiệu quả

Trang 38

* Quá trình đăng ký hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2012:

Sau khi Hội nghị thành lập thông qua những vấn đề qua trọng của hợp tác xã, người đại diện của hợp tác xã tiến hành đến cơ quan quản lý nhà nước có thầm quyền tiến hành nộp hồ sơ đăng ký hợp tác xã

Thành phần hồ sơ đăng ký bao gồm: (i) Giấy đề nghị đăng ký thành lập hợp

tác xã theo mẫu (quy định tại Phụ lục I-1 kèm theo Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT);

(ii) Điều lệ của hợp tác xã được xây dựng theo Điều 21 Luật Hợp tác xã năm 2012; (iii) Phương án sản xuất kinh doanh theo mẫu quy định tại Phụ lục I-2 (kèm theo Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT); (iv) Danh sách thành viên theo mẫu quy định tại Phụ lục I-3 (kèm theo Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT); (v) Danh sách hội đồng quản trị, giám đốc, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên theo mẫu quy định tại Phụ lục I-4 (kèm theo Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT); (vi) Nghị quyết của hội nghị thành lập về những nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 20 Luật Hợp tác xã năm

2012 đã được hội nghị biểu quyết thông qua

Người đại diện của hợp tác xã nộp hồ sơ đăng ký thành lập đến cơ quan đăng

ký có thẩm quyền theo 2 hình thức: nộp trực tiếp tại cơ quan hay thông qua mạng điện tử hợp lệ (quy định tại Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT) Theo quy định tại

khoản 1 Điều 6 Nghị định 193/2013/NĐ-CP thì: “Khi thành lập, hợp tác xã, liên

hiệp hợp tác xã phải tiến hành đăng ký tại cơ quan đăng ký hợp tác xã nơi hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã dự định thành lập đặt trụ sở chính: Liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân đăng ký tại phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở kế hoạch và đầu tư; Hợp tác xã đăng ký tại phòng tài chính - kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện”

Nếu hồ sơ nộp đảm bảo đầy đủ điều kiện theo quy định tại Điều 24 Luật Hợp tác xã năm 2012 thì cơ quan đăng ký hợp tác xã cấp đăng ký hợp tác xã trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ (quy định tại khoản 6 Điều

1 Thông tư 07/2019/TT-BKHĐT) Nhìn chung, về quy định về đăng ký, thành lập hợp tác xã được cơ quan quản lý nhà nước tạo điều kiện tối đa về mặt thời gian và cách thức nộp đăng ký thành lập Thực tế, những quy định trên đã phần nào giảm

Trang 39

bớt những khó khăn trong quá trình thành lập giúp cho quá trình đăng ký thành lập trở nên thông suốt hơn

Thứ hai, quy định về chia tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản hợp

tác xã

* Những quy định về chia, tách của Luật Hợp tác xã năm 2012

Trong quá trình hoạt động của hợp tác xã, việc chia, tách là cần thiết nhằm mục đích phân chia lại ngành nghề phù hợp với từng lĩnh vực mà hợp tác xã đang

có Chia, tách hợp tác xã có hai chiều hướng: một là để giúp cho hợp tác xã phát triển về lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nào đó phù hợp hơn; hai là, để nâng cao hiệu qua cho việc hoạt động của hợp tác xã thì việc chia, tách nhằm giúp cho hợp tác xã duy trì và phát triển trong tương lai Với chiều hướng nào thì việc chia, tách cũng cần được quy định và hướng dẫn cụ thể Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định như sau:

Theo khoản 1 Điều 52 Luật Hợp tác xã năm 2012, quy định: “Hội đồng quản

trị của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã dự định chia, tách xây dựng phương án chia, tách trình đại hội thành viên quyết định” Khi xác định cần chia, tách hợp tác xã

việc đầu tiên thì Hội đồng quản trị phải xây dựng được một phương án cụ thể và có tính thực tế cho mục đích chia, tách để trình ra đại hội thành viên quyết định Sau khi thông qua đại hội thành viên quyết định phương án chia, tách thì nhiệm vụ kế tiếp của Hội đồng quản trị là phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho các chủ nợ, các tổ chức và cá nhân có quan hệ kinh tế với hợp tác xã về quyết định chia, tách và giải quyết các vấn đề có liên quan trước khi tiến hành thủ tục thành lập hợp tác xã mới Với quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Hợp tác xã năm 2012 nhằm tránh tình trạng hợp tác xã không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ các nghĩa

vụ đối với các chủ nợ, tổ chức và cá nhân trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình

Sau khi thông báo đến các chủ nợ, các tổ chức và cá nhân có liên quan biết

kế hoạch chia, tách thì hợp tác xã tiến hành thực hiện phương án chia, tách theo khoản 3 Điều 52 Luật hợp tác xã năm 2012: “Các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Trang 40

được chia, tách thực hiện phương án chia, tách đã được quyết định và tiến hành thủ tục thành lập theo quy định tại Điều 23 của Luật này Hồ sơ đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chia, tách phải kèm theo nghị quyết của đại hội thành viên về việc chia, tách hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã”

Quy định nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm tài sản sau khi hợp tác xã chia, tách được quy định trong khoản 4 Điều 52 Luật Hợp tác xã năm 2012 cụ thể là:

“Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các hợp tác xã mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký Các hợp tác xã mới phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ khác của hợp tác xã bị chia Hợp tác xã bị tách và được tách phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ khác của hợp tác xã tách”

Tài sản không chia của hợp tác xã bị chia, tách được chuyển thành tài sản không chia của các hợp tác xã sau khi chia, tách theo phương án do đại hội thành viên quyết định

* Những quy định về hợp nhất, sáp nhập của Luật Hợp tác xã năm 2012

Trong thực tế có nhiều trường hợp vì những điều kiện khác nhau mà hai hay nhiều hợp tác xã có thể tự nguyện hợp nhất thành một hợp tác xã mới nhằm mục đích nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh

Quá trình hợp nhất được luật quy định rất chi tiết tại khoản 1 Điều 53 Luật Hợp tác xã năm 2012 như sau: “Hai hay nhiều hợp tác xã có thể tự nguyện hợp nhất thành một hợp tác xã mới; hai hay nhiều liên hiệp hợp tác xã có thể tự nguyện hợp nhất thành một liên hiệp hợp tác xã mới; Hội đồng quản trị của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã dự định hợp nhất xây dựng phương án hợp nhất trình đại hội thành viên của mình quyết định và có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho các chủ

nợ, các tổ chức và cá nhân có quan hệ kinh tế với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã của mình về quyết định hợp nhất, phương án hợp nhất bao gồm các nội dung chủ yếu sau: phương án xử lý tài sản, vốn, các khoản nợ; phương án xử lý lao động và những vấn đề khác có liên quan; Hội đồng quản trị của các hợp tác xã, liên hiệp hợp

Ngày đăng: 13/12/2020, 18:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hội đồng Trung ương Liên minh các hợp tác xã Việt Nam (1998), “Kinh tế hợp tác xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội, Công trình nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế hợp tác xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
Tác giả: Hội đồng Trung ương Liên minh các hợp tác xã Việt Nam
Năm: 1998
2. Nguyễn Thị Ngọc Hà (2007), Chế độ pháp lý xã viên hợp tác xã - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ pháp lý xã viên hợp tác xã - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Hà
Năm: 2007
3. Nguyễn Văn Kỷ (2002), “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Văn Kỷ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
4. Nguyễn Đức Long (2006);“Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp tập thể”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp tập thể”
5. Phạm Lượng (2019), “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp, qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật thuộc Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp, qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế”
Tác giả: Phạm Lượng
Năm: 2019
6. Trần Thị Thơ (2004), “Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã”
Tác giả: Trần Thị Thơ
Năm: 2004
7. Trần Lệ Thu (2010),“Một số vấn đề pháp lý về hợp tác xã và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề pháp lý về hợp tác xã và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Tác giả: Trần Lệ Thu
Năm: 2010
8. Vũ Văn Tuấn (2003),“Địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý và kiểm soát của hợp tác xã”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý và kiểm soát của hợp tác xã”
Tác giả: Vũ Văn Tuấn
Năm: 2003
9. Hoàng Thị Vinh (2009),“Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình chuyển đổi hợp tác xã”, Luận văn Thạc sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình chuyển đổi hợp tác xã”
Tác giả: Hoàng Thị Vinh
Năm: 2009
2. Cao Thanh Huyền, “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai Luật Hợp tác xã năm 2012 trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam”, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=350, truy cập ngày 26/11/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai Luật Hợp tác xã năm 2012 trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam
1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Khác
2. Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 18/3/2002 Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Khác
3. Kết luận của Bộ Chính trị số 56-KL/TW, ngày 21/2/2013 của Bộ Chính trị Khác
4. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Khác
5. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; II. Văn bản quy phạm pháp luật Khác
5. Nghị định số: 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật hợp tác xã Khác
6. Quyết định số: 2261/QĐ-TTg, ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015 – 2020 Khác
7. Chỉ thị số: 19/CT-TTg, ngày 24/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai thi hành Luật hợp tác xã Khác
8. Nghị định số: 107/2017/NĐ-CP ngày 15/9/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 quy định chi tiết một số điều của Luật hợp tác xã Khác
9. Chỉ thị số: 12/CT-TTg ngày 22/5/2018 của Thủ tướng chính phủ về việc tiếp tục tăng cường công tác triển khai thi hành luật hợp tác xã năm 2012.III. Công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, tạp chí Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w