LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn Hiện tượng nghèo đói và các yếu tố văn hóa ở hai cộng đồng dân tộc thiểu số Chăm và Raglai ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận là công trình nghiên
Trang 1HOÀNG LÊ NGỌC ANH
HIỆN TƯỢNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA
Ở HAI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CHĂM VÀ RAGLAI
TẠI HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 2HOÀNG LÊ NGỌC ANH
HIỆN TƢỢNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA
Ở HAI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CHĂM VÀ RAGLAI
TẠI HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số chuyên ngành: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Hiện tượng nghèo đói và các yếu tố văn hóa ở hai
cộng đồng dân tộc thiểu số Chăm và Raglai ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận là
công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và được sự hướng dẫn của Thầy Nguyễn Xuân Nghĩa Các tài liệu sơ cấp đều do tôi thu thập được Ngoài ra luận văn còn sử dụng các tài liệu thứ cấp đều có trích dẫn nguồn gốc Nếu có vấn đề gì liên quan đến gian lận tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm Tôi đồng ý cho trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng luận văn của tôi để phục vụ cho việc tham khảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, bằng
sự biết ơn và kính trọng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các Phòng, Khoa thuộc trường và Thầy Cô đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn thầy Nguyễn Xuân Nghĩa, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Để thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân, bạn bè và gia đình Luận văn được hình thành cũng dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm của nhiều tác giả các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành Tuy nhiên, trong thực hiện
đề tài, luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Với tinh thần cầu thị, tôi kính mong sự góp ý của quí thầy, cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài Hiện tượng nghèo đói và các yếu tố văn hóa ở hai cộng đồng dân tộc thiểu
số Chăm và Raglai ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đi sâu nghiên cứu, phân tích
hiện tượng nghèo đói dưới góc độ văn hóa Đây là hướng nghiên cứu để tìm hiểu và so sánh các yếu tố văn hóa có tác động như thế nào đến nhận thức về nghèo đói của người dân tộc thiểu số Chăm và Raglai ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về nhận thức giữa hai cộng đồng dân tộc Chăm và Raglai về nghèo đói Cụ thể là có sự tồn tại của văn hóa nhóm nghèo
đã ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người nghèo, sự luẩn quẩn của nghèo đói và rơi vào nghèo đói do chính sự tác động của cấu trúc xã hội và đặc điểm văn hóa của các cộng đồng thiểu số này khiến họ càng trở nên nghèo hơn Người Raglai hiện nay trình độ dân trí còn khá thấp so với mặt bằng chung của huyện Ninh Sơn Chính điều này đã tác động trực tiếp đến tư duy phát triển kinh tế và nhận thức, là rào cản lớn về vấn đề thoát nghèo Bên cạnh đó, người Raglai còn mang nặng luật tục trong tộc họ, hơn nữa, chế độ mẫu hệ và quy ước về quyền thừa kế tài sản của đồng bào dân tộc Raglai được lý giải như một lý do ngại làm giàu của nam giới Raglai Trên
cơ sở pháp lý, người phụ nữ Raglai đứng tên chủ hộ trong sổ hộ khẩu gia đình và có quyền quyết định mọi vấn đề trong gia đình, đặc biệt là quyền thừa kế và kể cả quyền được nuôi dưỡng và chăm sóc con cái Điều này phần nào đã tác động đến nhận thức của người đàn ông nghèo Raglai, làm cho họ thường bằng lòng với cuộc sống hiện
tại, thiếu ý chí vươn lên
Trong khi đó, đối với người Chăm, trong những năm gần đây, theo đà phát triển chung của đất nước, người Chăm rất quan tâm đến việc học tập để nâng cao trình độ, rất am hiểu những kiến thức về phát triển kinh tế - xã hội; đặc biệt, họ rất
am hiểu pháp luật Vai trò của luật tục trong dòng tộc luôn song hành với pháp luật Người Chăm cũng theo chế độ mẫu hệ, tuy nhiên chế độ mẫu hệ nhưng phụ quyền, mọi quyền quyết định vẫn thuộc về người đàn ông Chăm với vai trò chủ hộ trong gia đình Những hủ tục lạc hậu trong văn hóa của người Chăm được gọt giũa, theo
Trang 6hướng tiên tiến hơn nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Chăm Chính vì trình độ nhận thức cao đã giúp người dân tộc Chăm ở thôn Lương Tri, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận thành công trong công cuộc giảm nghèo bền vững
Luận văn đưa ra một cách nhìn mới trong công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người đồng bào thiểu số nói chung và dân tộc Raglai nói riêng; chứng minh có sự tồn tại của văn hóa nhóm nghèo, những nét văn hóa ấy ảnh hưởng đến sự nghèo đói của chính họ, và cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói do chính đặc điểm văn hóa của nhóm nghèo tác động đến tư tưởng và nhận thức của người nghèo, trói buộc họ và
là rào cản trong công cuộc giảm nghèo, càng làm cho họ nghèo hơn, bị cô lập hơn
Trang 7SUMMARY
The topic of the poverty and cultural factors of the Cham and Raglai ethnic minorities in Ninh Son district, Ninh Thuan province studies the poverty phenomenon from a cultural perspective This is a research to understand and compare how cultural factors affect the awareness of poverty of the Cham and Raglai minorities in Ninh Son district, Ninh Thuan province
The results show that there is a different perspective between the Cham and Raglai groups on poverty In particular, the existence of poverty culture had directly affected the poor, the vicious circle of poverty, because of falling into poverty due
to the impact of the social structure and cultural characteristics of these ethnic minorities which make them even poorer Currently, the Raglai ethnic group has low-educational level compared to that of other groups in Ninh Son district This has direct impacts on the economic development thought and on the awareness which are big obstacles to poverty reduction In addition, Raglai ethnic group has a lot of customary laws, not to mention, the matriarchy and property inheritance rights of the Raglai ethnic group are interpreted as a reason to hesitate to get rich in Raglai men Based on customary laws, in the household registration book, the Raglai woman is the head of the household and she has the right to decide all the family issues, especially the right to inherit and even the right to raise and care for children This has partly affected the awareness of poor Raglai men, making them satisfied with the status quo, resulted in lack of ambition
Meanwhile, the Cham ethnic group, in recent years, by following the overall development of the country, is very interested in learning how to improve their skills and well-equipped with knowledge for economic development; in particular, they are very knowledgeable about the law The role of customary laws in the lineage always goes hand in hand with the law The Chams also follow the matrilineal system, yet patriarchal, it means all the decision-making rights still
Trang 8belong to the Cham men as the head of household Backward customs in Cham culture are refined or become more advanced but still imbued with cultural identity
of the ethnic group Because of the high level of awareness, the Cham in Luong Tri village, Ninh Son district, Ninh Thuan province have been successful in sustainable poverty reduction
This dissertation provides a new perspective on the poverty reduction for ethnic minorities in general and Raglai group in particular, proving the existence of poverty culture These cultural traits affect their own poverty, and the vicious cycle
of poverty due to the cultural characteristics of the poor that affects the thought and perception of the poor, binding them and hindering poverty reduction, making them poorer and more isolated
Trang 9MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
SUMMARY vi
MỤC LỤC viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ xiii
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ TRONG PHỤ LỤC xv
BẢN ĐỒ xvii
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Cơ sở hình thành luận văn 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát: 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 4
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu: 4
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu: 4
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu: 5
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu: 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5.1 Phương pháp thu thập thông tin: 6
1.5.2 Phương pháp chọn mẫu: 7
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 10
1.6.1 Ý nghĩa lý luận: 10
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn: 10
1.7 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 12
2.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu về hiện tượng nghèo đói 12
Trang 102.1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu quốc tế về hiện tượng nghèo
đói 12
2.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về hiện tượng nghèo đói ở Việt Nam 15
2.1.3 Tổng quan các nghiên cứu về văn hóa và nghèo đói của dân tộc Chăm và Raglai 19
2.1.3.1 Những nghiên cứu liên quan đến dân tộc thiểu số Raglai: 19
2.1.3.2 Những nghiên cứu liên quan đến dân tộc Chăm: 21
Tiểu kết 22
2.2 Các tiếp cận lý thuyết về nghèo đói 24
2.3 Khái niệm nghèo đói và văn hóa của sự nghèo đói 26
2.3.1 Khái niệm nghèo đói 26
2.3.2 Văn hóa của sự nghèo đói 29
2.3.2.1 Khái niệm Văn hóa 29
2.3.2.2 Lối sống: 29
2.3.2.3 Văn hóa của sự nghèo đói 30
2.4 Mô hình phân tích: 32
CHƯƠNG 3 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA TỘC NGƯỜI RAGLAI VÀ NGƯỜI CHĂM 35
3.1 Người Raglai 35
3.1.1 Về văn hóa: 35
3.1.2 Về quan hệ gia đình: 35
3.1.3 Về tín ngưỡng: 36
3.1.4 Các loại hình hoạt động kinh tế: 36
3.2 Người Chăm 37
3.2.1 Về tôn giáo: 37
3.2.2 Về văn hóa: 37
3.2.3 Quan hệ xã hội: 38
3.2.4 Về hoạt động sản xuất: 38
Trang 113.3 Khái quát chung về mối quan hệ giữa người Raglai và người Chăm ở
Ninh Thuận 39
Tiểu kết chương 3 40
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG VỀ NGHÈO ĐÓI, VĂN HÓA CỦA SỰ NGHÈO ĐÓI TẠI HAI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC RAGLAI VÀ CHĂM Ở HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN 42
4.1 Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên của huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận 42
4.2 Thực trạng nghèo đói và văn hóa của hai cộng đồng Raglai (xã Ma Nới) và cộng đồng Chăm (xã Nhơn Sơn) ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận 43
4.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Raglai xã Ma Mới và Chăm xã Nhơn Sơn 43
4.2.1.1 Cộng đồng Raglai xã Ma Nới 43
4.2.1.2 Cộng đồng Chăm ở Lương Tri, xã Nhơn Sơn 54
4.2.2 Văn hóa của sự nghèo đói ở cộng đồng dân tộc thiểu số Chăm và Raglai ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận 58
4.2.2.1 Trình độ học vấn 58
4.2.2.2 Quy mô gia đình lớn 63
4.2.2.3 Quản lý chi tiêu 66
4.2.2.4 Hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin 700
4.2.2.5 Tham gia phong tục của dòng tộc và các hoạt động xã hội tại cộng đồng: 73
4.2.2.6 Quyết định về các công việc trong gia đình 77
4.3 Đánh giá của cộng đồng dân tộc thiểu số Chăm và Raglai về các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói 79
4.3.1 Kiểm định sự khác biệt của công đồng dân tộc thiểu số Chăm và Raglai khi đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói 79
4.3.2 Kiểm định Independent sample T- Test giữa hộ nghèo Chăm và hộ thoát nghèo Chăm khi đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói 80
4.3.3 Kiểm định Independent sample T- Test giữa hộ nghèo Raglai và hộ thoát nghèo Raglai khi đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói 82
Trang 124.3.4 Kiểm định Independent sample T- Test giữa hộ nghèo Chăm và hộ
nghèo Raglai khi đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói 86
4.3.5 Nhận định chung của các hộ nghèo và thoát nghèo Chăm và Raglai về các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói (qua phân tích nhân tố khám phá - EFA) 87
4.3.6 Kiểm định độ tin cậy của các thang đo từ phân tích nhân tố 90
4.3.7 So sánh trị trung bình các thang đo về các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo của các hộ thoát nghèo và hộ nghèo ở dân tộc Chăm và Raglai 93
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 98
5.1 Nhìn lại các giả thuyết của nghiên cứu 98
5.2 Nhận định đúc kết 99
5.2.1 Đối với cộng đồng người Raglai: 99
5.2.2 Đối với người Chăm: 100
5.3 Khuyến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 112
PHIẾU THU THẬP Ý KIẾN 127
Trang 13DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 14DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ
Trang Bảng 4.1 Trình độ học vấn của chồng và vợ, phân theo hộ thoát nghèo / hộ nghèo ở người Chăm và Raglai 58Bảng 4.2 Mức độ quan tâm việc học hành của con cái, phân theo hộ thoát nghèo/ hộ nghèo ở dân tộc Chăm và Raglai 59Bảng 4.3 Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi phải nghỉ học, phân theo hộ thoát nghèo /
hộ nghèo ở người Chăm và Raglai 60Bảng 4.4 Tập quán con cái lập gia đình nhưng vẫn ở chung với cha mẹ, phân theo hộ thoát nghèo / hộ nghèo ở người Chăm và Raglai (%) 65
Bảng 4.5 Quản lý chi tiêu của người Raglai và người Chăm, phân theo hộ thoát nghèo/hộ nghèo (%) 67Bảng 4.6 Cách thức trả nợ của những hộ mua nợ tạp hóa, phân theo loại hộ thoát nghèo/hô nghèo ở người Chăm và Raglai (%) 68Bảng 4.7 Sở hữu và sử dụng những dụng cụ phục vụ văn hóa, phân theo hộ thoát nghèo/ hộ nghèo ở người Chăm và Raglai (%) 71Bảng 4.8 Đánh giá tầm quan trọng của các phương tiện thông tin đại chúng, phân theo loại hộ thoát nghèo/hộ nghèo ở người Chăm và Raglai (%) 72Bảng 4.9 Tham gia các loại hình hoạt động trong dòng tộc (%) 75Bảng 4.10 Tham gia vào tổ chức Hội đoàn thể, phân theo hộ thoát nghèo/hộ nghèo ở người Chăm và Raglai (%) 77Bảng 4.11 Người đóng vai trò quyết định chính về các công việc trong gia đình phân theo hộ thoát nghèo và hộ nghèo 78Bảng 4.12 Kiểm định Independent sample T – Test với một số nhận định về nghèo đói, phân theo hộ nghèo Chăm và hộ thoát nghèo Chăm 81Bảng 4.13 Kiểm định Independent sample T – Test với một số nhận định về nghèo đói, phân theo hộ nghèo Raglai và hộ thoát nghèo Raglai 83Bảng 4.14 Kiểm định Independent sample T – Test với một số nhận định về nghèo đói, phân theo hộ nghèo Chăm và hộ nghèo Raglai 86Bảng 4.15 Phân tích các nhân tố khám phá EFA lần 3 88Bảng 4.16 Kết quả kiểm định Cronbach‟s Alpha 91Bảng 4.17 So sánh trị trung bình các thang đo về các yếu tố tác động đến đói nghèo của các hộ thoát nghèo Chăm và hộ nghèo Raglai 93Bảng 4.18 So sánh trị trung bình các thang đo về các yếu tố tác động đến đói nghèo của các hộ thoát nghèo Raglai và hộ nghèo Raglai 94
Trang 15Bảng 4.19 Nhận thức về các giải pháp xóa nghèo, phân theo hộ thoát nghèo /
hộ nghèo ở người Chăm và Raglai 96
Trang 16DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ TRONG PHỤ LỤC
Trang
Phụ lục 1 - Danh sách các trường hợp phỏng vấn sâu 112
Phụ lục 1a - Danh sách phỏng vấn chính quyền, Người có uy tín trong tộc họ người Chăm và Raglai 112
Phụ lục 1b - Danh sách phỏng vấn 40 hộ nghèo và cận nghèo người Chăm và Raglai 112
Phụ lục 2 - Quan niệm “Đói có Nhà nước lo, đi học có nhà nước lo, bệnh có nhà nước lo” 115
Phụ lục 3 – Việc tham gia thực hiện các chính sách giảm nghèo của Nhà nước và sự hỗ trợ từ bên ngoài 115
Phụ lục 4 - Tổng hợp các lý do bỏ học 119
Phụ lục 5 - Quản lý chi tiêu: 120
Phụ lục 6a - Truy cập Internet 122
Phụ lục 6b - Lý do không truy cập Internet 122
Phụ lục 7 - Tham gia các hoạt động xã hội của người Raglai và người Chăm 123
Phụ lục 8 - EFA lần 1 & lần 2 123
Trang 17DANH MỤC CÁC KHUNG THÔNG TIN
Trang
Khung thông tin 4.1 45
Khung thông tin 4.2 47
Khung thông tin 4.3 51
Khung thông tin 4.4 56
Khung thông tin 4.5 61
Khung thông tin 4.6 62
Khung thông tin 4.7 64
Khung thông tin 4.8 70
Khung thông tin 4.9 74
Trang 18BẢN ĐỒ
Bản đồ địa giới hành chính huyện Ninh Sơn
Trang 19Bản đồ địa giới hành chính xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn
Trang 20đã có rất nhiều đề tài, đề án nghiên cứu về vấn đề nghèo đói, nhất là đối với luận văn chuyên ngành kinh tế Các đề tài về nghèo đói chủ yếu xoay quanh vấn đề thực trạng và giải pháp giảm nghèo dưới góc độ kinh tế và đánh giá chính sách giảm nghèo Thực tế cho thấy rằng mặc dù chúng ta có nhiều nỗ lực trong công cuộc giảm nghèo, nhưng vấn đề nghèo đói vẫn còn tồn tại và khoảng cách giàu nghèo đang có khuynh hướng gia tăng, đặc biệt là đối với thành thị và nông thôn, nhất là giữa đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng
Công cuộc đổi mới mặc dù đã làm thay đổi nền kinh tế Việt Nam theo hướng
ổn định và phát triển, nhưng Việt Nam vẫn còn là quốc gia có thu nhập thấp so với các nước trong khu vực và trên Thế giới Tình trạng nghèo đói và cận nghèo đói vẫn đang là vấn đề bức xúc Người nghèo thường có ít cơ hội nhất vì một loạt các lý do
về kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa Vấn đề nghèo đói không chỉ là vấn đề riêng của nhóm nghèo mà còn là vấn đề của toàn bộ xã hội Bởi nghèo đói của một nhóm người trong xã hội là phản ánh tình trạng bất bình đẳng xã hội Do đó, nghèo đói được xem là gánh nặng của các quốc gia không chỉ về khía cạnh kinh tế - xã hội mà còn cả về khía cạnh văn hóa
Ở phạm vi đề tài này, hiện tượng nghèo đói được phân tích và nghiên cứu dưới góc độ văn hóa Như một giả thuyết nghiên cứu, một số tác giả cho rằng Văn hóa của sự nghèo khổ kìm hãm người nghèo trên ba phương diện: tư duy, năng lực
tổ chức đời sống cá nhân và khả năng hòa nhập xã hội Khi chúng ta nói đến văn hóa là thước đo của nghèo đói có nghĩa rằng một mặt nghèo về kinh tế sẽ ảnh hưởng đến văn hóa của cộng đồng, hay nhóm cá nhân, cụ thể hơn là ảnh hưởng đến hưởng thụ văn hóa, tâm lý cộng đồng hay nhóm cá nhân Mặt khác, nghèo về phương diện văn hóa cũng có ảnh hưởng ngược lại, cản trở tới tăng trưởng kinh tế của cộng đồng hay nhóm cá nhân Trong văn hóa của sự nghèo đói, những yếu tố quan hệ xã hội
Trang 21được biểu hiện qua hệ giá trị, chuẩn mực, lòng tin, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, quan hệ cộng đồng…
Giảm nghèo và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện quyết tâm rất lớn trong việc thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Thành tựu của Việt Nam về giảm nghèo trong hai thập kỷ qua rất lớn và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao Bên cạnh đó, vấn đề làm thế nào để thoát nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những chiến lược phát triển của các cấp, các ngành và các tổ chức, trong đó có tỉnh Ninh Thuận, là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống như Chăm, Nùng, Raglai và các dân tộc thiểu số khác Trong đó, dân tộc Chăm chiếm gần 12% dân số và dân tộc Raglai chiếm hơn 10,7% dân số của tỉnh, nhưng cũng là nhóm đồng bào nghèo nhất Cùng thực hiện chủ trương chung với cả nước, chương trình giảm nghèo tại Ninh Thuận là trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh Những năm qua, tuy kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng Ninh Thuận luôn quan tâm và dành nhiều nguồn lực ưu tiên cho công tác giảm nghèo, nhất
là đối với dân tộc thiểu số
Là huyện miền núi nằm ở phía Tây và cách trung tâm Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm khoảng 36 km, huyện Ninh Sơn có tổng diện tích tự nhiên 77.194 ha, chiếm 22,95% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Dân số 85.053 người; có nhiều dân tộc thiểu số sống chiếm gần 20% dân số toàn huyện gồm Raglai, Chăm, K‟ho, Nùng,… Trong đó dân tộc Raglai chiếm khoảng 15% dân số Người dân tộc Raglai sống rãi rác tại 18 thôn của 7 xã trong huyện, và sống tập trung nhiều ở xã Ma Nới (chiếm 97% dân số toàn xã) và dân tộc Chăm tập trung ở thôn Lương Tri xã Nhơn Sơn Những năm qua huyện Ninh Sơn tập trung mọi nguồn lực giúp người dân xóa đói, giảm nghèo; tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ tái nghèo còn khá cao, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số Raglai Theo báo cáo của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện, cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện là 3.315 hộ, chiếm
tỷ lệ 14,97% trong toàn dân số của tỉnh, trong đó hộ nghèo người Kinh có 1.610 hộ chiếm tỷ lệ 48,57%; hộ nghèo là người dân tộc thiểu số có 1.705, chiếm tỷ lệ
Trang 2251,43% (hộ nghèo người Raglai 44,7%, hộ nghèo người Chăm 0,15%, hộ nghèo các dân tộc thiểu số khác 6,58%).Và vấn đề làm như thế nào để tìm ra nguyên nhân kìm hãm công cuộc vươn lên làm kinh tế, thoát nghèo bền vững trong cộng đồng dân tộc thiểu số là vấn đề nan giải đối với các cấp, các ngành trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi Từ thực tiễn và lý luận trên, tác giả quyết định
chọn đề tài “Hiện tượng nghèo đói và các yếu tố văn hóa ở hai cộng đồng dân tộc
thiểu số Raglai và Chăm ở huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận”, với mục đích nghiên
cứu vấn đề nghèo đói tại hai cộng đồng dân tộc Chăm và Raglai tại huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận để tìm hiểu văn hóa có tác động như thế nào đến nghèo đói; nguyên nhân nào tác động đến nhận thức về nghèo đói tại hai cộng đồng này kể cả nhận thức tích cực và tiêu cực Những dữ liệu thu thập sẽ làm cơ sở phân tích nhằm đưa ra những giải pháp khả thi trong việc phát triển và thực hiện các chính sách giảm nghèo được tốt hơn và hiệu quả hơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát: Luận văn này nhằm tìm hiểu các yếu tố văn hóa
tác động đến nhận thức và lối sống liên quan đến nghèo đói của cộng đồng người dân tộc Raglai và dân tộc Chăm tại Ninh Sơn, Ninh Thuận Đồng thời cũng giải thích, so sánh sự khác biệt trong nhận thức và lối sống của người Chăm và người Raglai về hiện tượng nghèo đói
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích các yếu tố văn hóa ẩn chứa trong các mối quan hệ xã hội ở cộng đồng dân tộc thiểu số Raglai và dân tộc Chăm tác động đến nhận thức và lối sống liên quan đến nghèo đói
- Giải thích nguyên nhân nào tác động đến nhận thức, tạo nên một tiểu văn hóa của sự nghèo đói trong cộng đồng người Chăm và Raglai Đồng xem xét cấu trúc kinh tế -xã hội, văn hóa có tác động và và ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức và lối sống liên quan đến nghèo đói
Trang 231.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Có mối tương quan nào giữa những nét văn hóa và hiện tượng nghèo đói trong dân tộc Raglai và Chăm tại huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận? Văn hóa có ảnh hưởng và tác động như thế nào đến nhận thức và lối sống của hai dân tộc này về vấn đề nghèo đói
Câu hỏi nghiên cứu 2: Tại sao có sự khác biệt về nhận thức nghèo đói giữa dân tộc Chăm và Raglai, mặc dù trong lịch sử hai dân tộc này có mối quan hệ rất gần gũi bên nhau? Cấu trúc văn hóa xã hội có tác động như thế nào đến nhận thức
về vấn đề nghèo đói của hai cộng đồng Chăm và Raglai ở Ninh Sơn, Ninh Thuận?
Có phải cộng đồng nào có trình độ nhận thức cao hơn thì việc thực hiện chính sách giảm nghèo tốt hơn?
Để làm sáng tỏ các câu hỏi trên, trong phần chọn mẫu nghiên cứu mà chúng tôi trình bày sau, sẽ so sánh nhóm hộ thoát nghèo và nhóm hộ nghèo ở cả hai dân tộc Chăm và Raglai tại huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu: Chúng tôi phác thảo ra ba giải thuyết nghiên
cứu như sau:
- Có sự tồn tại của văn hóa nghèo đói đã ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người nghèo, nhóm nghèo và sự luẩn quẩn của nghèo đói do chính sự tác động của cấu trúc văn hóa và đặc điểm văn hóa của cộng đồng nghèo khiến họ càng trở nên nghèo hơn
- Nhóm nghèo trong cộng đồng Raglai do ảnh hưởng của phong tục với những
hủ tục còn lạc hậu mang nặng luật tục, trình độ dân trí thấp, tư duy kinh tế chậm đổi mới, tập quán sản xuất cũ… tác động đến nhận thức và lối sống của cá nhân và cộng đồng người nghèo trói buộc họ và là rào cản trong công cuộc giảm nghèo, càng làm cho họ nghèo hơn, bị cô lập hơn
Trang 24- Nhóm nghèo trong cộng đồng người Chăm có trình độ nhận thức cao hơn,
am hiểu kiến thức kinh tế - xã hội Đặc biệt những hủ tục lạc hậu trong văn hóa của người Chăm được gọt giũa, theo hướng tiến bộ hơn nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Chăm Vai trò của luật tục luôn song hành cùng pháp luật Chính vì trình độ nhận thức cao đã giúp người dân tộc Chăm thành công trong công cuộc giảm nghèo bền vững
Đối với ba giả thuyết nêu trên, chúng tôi chỉ phân tích các dữ liệu thu thập và
so sánh hai cộng đồng dân tộc thiểu số trong phạm vi địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, mà cụ thể là người Chăm thôn Lương Tri, xã Nhơn Sơn và người Raglai ở xã Ma Nới Chúng tôi không hàm ý rằng tất cả các dân tộc thiểu số khác ở địa phương khác đều có mối liên hệ tương tự Sự so sánh nhận thức về hiện tượng nghèo đói chỉ nhằm mục tiêu làm rõ văn hóa có tác động như thế nào đến nhận thức nghèo đói của người Chăm và người Raglai cả về tích cực và tiêu cực, mặc dù hai dân tộc này có lịch sử khá gần gũi bên nhau và chứng minh rằng cộng đồng nào có nhận thức cao hơn thì sẽ thoát nghèo tốt hơn
1.4 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tại hai địa bàn (01 xã có cộng đồng
dân tộc Raglai và 01 xã có cộng đồng dân tộc Chăm sinh sống tập trung) tại huyện
Ninh Sơn, tỉnh Ninh thuận
1.4.2 Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu Hiện tượng nghèo đói ở hai cộng
đồng dân tộc Raglai và Chăm dưới góc nhìn văn hóa So sánh nhận thức trong dân
tộc Chăm và Raglai về vấn đề nghèo đói từ thực tiễn tại địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận
Khách thể nghiên cứu chính yếu: Các hộ nghèo, hộ thoát nghèo là dân tộc
thiểu số Raglai và Chăm ở huyện Ninh Sơn
Trang 251.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp định lượng và định tính, trong đó phương pháp định tính để đào sâu một số vấn đề
1.5.1 Phương pháp thu thập thông tin: nghiên cứu tài liệu; nghiên cứu thực
địa: quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu, bản câu hỏi
- Thu thập những thông tin cơ bản về đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội và văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số Chăm ở thôn Lương Tri xã Nhơn Sơn và 05 thôn của cộng đồng người dân tộc thiểu số Raglai ở xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận
- Nghiên cứu và tham khảo danh sách hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều1 và các hộ thoát nghèo của người Chăm thôn Lương Tri và người Raglai ở xã Ma Nới
- Phiếu khảo sát (bản câu hỏi) dành cho các chủ hộ về các thông tin liên quan đến điều kiện kinh tế xã hội của hộ, các chuẩn mực giá trị và quan hệ xã hội, hưởng thụ văn hóa, về nhận thức nghèo đói của hộ gia đình người dân tộc Raglai và dân tộc Chăm: 100 hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều (50 hộ nghèo Chăm và 50 hộ nghèo Raglai) và 100 hộ thoát nghèo (50 hộ người Chăm và 50 hộ người Raglai)
- Phỏng vấn bán cấu trúc (có khung câu hỏi hướng dẫn cho điều tra viên) đối với chủ hộ là người dân tộc Raglai và người Chăm liên quan đến văn hóa nghèo đói
và cấu trúc kinh tế xã hội: 40 người ở hai xã [20 hộ dân tộc Chăm (10 hộ nghèo +
10 hộ thoát nghèo) và 20 hộ dân tộc Raglai (10 hộ nghèo + 10 hộ thoát nghèo)]
- Phỏng vấn chính quyền địa phương (03 cán bộ huyện, 01 lãnh đạo xã Nhơn Sơn và 01 lãnh đạo xã Ma Nới), Ban Phong tục của cộng đồng Chăm và những người có uy tín trong dòng tộc của dân tộc Raglai (phỏng vấn 02 người để nắm thêm thông tin)
1
Sẽ trình bày rõ hơn, chi tiết ở phần khái niệm “Nghèo đa chiều”
Trang 26Cuộc khảo sát tiền trạm được tiến hành bắt đầu từ tháng 02-2018 đến ngày 3-2019 tại hai cộng đồng Chăm và Raglai tại hai xã được chọn Cuộc điều tra chính thức đợt 1 được tiến hành từ ngày 02-5-2019 đến ngày 15-5-2019 tại 05 thôn đồng bào dân tộc thiểu số Raglai xã Ma Nới và thôn người Chăm Lương Tri, xã Nhơn Sơn (điều tra bằng phiếu khảo sát) Cuộc điều tra điền dã chính thức đợt 2 bắt đầu
27-từ ngày 16-5-2019 đến ngày 10-6-2019 nhằm phỏng vấn bán cấu trúc (phỏng vấn sâu) 40 hộ và phỏng vấn 05 cán bộ chính quyền (02 xã có liên quan và cán bộ huyện Ninh Sơn), 02 người có uy tín trong dòng tộc người Chăm và Raglai
1.5.2 Phương pháp chọn mẫu:
Công trình nghiên cứu này đã chọn 5/6 thôn người dân tộc thiểu số Raglai ở
xã Ma Nới và cộng đồng người Chăm ở thôn Lương Tri xã Nhơn Sơn theo phương pháp chọn ngẫu nhiên trong danh sách hộ nghèo đa chiều và hộ thoát nghèo đã được công bố cuối năm 2018 để điều tra bằng bảng câu hỏi, cụ thể:
Bảng câu hỏi được thực hiện với các chủ hộ của một trăm (100) hộ người Raglai, được chọn ngẫu nhiên trên danh sách hộ nghèo và thoát nghèo của UBND
xã và chọn theo 5 thôn của xã Ma Nới, mỗi thôn 20 hộ (10 hộ nghèo và 10 hộ thoát nghèo) Về người Chăm, vì chỉ có một thôn Chăm trên địa bàn huyện Ninh Sơn, nên
100 hộ Chăm (50 hộ nghèo, 50 hộ thoát nghèo) được chọn ngẫu nhiên từ danh sách
hộ nghèo và thoát nghèo của thôn, thuộc xã Nhơn Sơn Và 200 bản câu hỏi đối với
hộ nghèo và thoát nghèo người Chăm và người Raglai được phỏng vấn với chính chủ hộ (người đứng tên chủ hộ trong sổ hộ khẩu gia đình)
Cách chọn mẫu cho các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc cũng được thực hiện tại
05 thôn người Raglai của xã Ma Nới (mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 02 hộ nghèo và 02
hộ thoát nghèo là chủ hộ) và 10 hộ nghèo + 10 hộ thoát nghèo là chủ hộ người Chăm ở thôn Lương Tri, xã Nhơn Sơn Bên cạnh đó, còn phỏng vấn 03 cán bộ huyện phụ trách văn hóa, nông nghiệp, tôn giáo và 02 lãnh đạo chính quyền địa phương xã Ma Nới và xã Nhơn Sơn để nắm thêm thông tin về kinh tế - xã hội, văn
Trang 27hóa ở địa phương và 02 người có uy tín trong tộc họ người Chăm và Raglai để nắm thêm các phong tục trong dòng tộc và tộc họ
Phương pháp xử lý và phân tích thông tin: Trong nghiên cứu này chúng tôi
sử dụng phương pháp định lượng và định tính, trong đó phương pháp định tính để đào sâu một số vấn đề, dữ liệu được xử lý như sau:
Đối với dữ liệu định lượng: sử dụng phần mềm SPSS để mã hóa và xử lý các
dữ liệu:
Những hệ số sau đây được dùng để kiểm định mức độ tương quan giữa các biến:
- Hệ số Eta: hệ số thống kê dùng để đo lường cường độ liên hệ tương quan quan giữa một biến số định danh (giới tính, tôn giáo ) với một biến định lượng trong một bảng thống kê Hệ số này càng gần 1 thì mức độ tương quan càng chặt chẽ và ngược lại, càng gần 0 thì mức độ tương quan càng yếu ớt (xem Trần Hữu Quang, 2018, tr.67)
- Hệ số Gamma: hệ số thống kê được dùng để đo lường cường độ liên hệ tương quan giữa hai biến số có trị số được sắp xếp theo một trật tự nhất định trong một bảng thống kê Hệ số này càng gần 1 hoặc -1 thì mức độ tương quan giữa hai biến số càng chặt chẽ, và ngược lại, càng gần 0 thì mức độ tương quan càng yếu ớt
Hệ số Gamma dương cho thấy mối quan hệ đồng biến, còn hệ số Gamma âm thì phản ánh mối nghịch biến (xem Trần Hữu Quang, 2018, tr.67)
- Kiểm định Chi bình phương (Chi – square): kiểm định giữa biến định danh – định danh hoặc định danh – thứ bậc với mục đích xem xét sự liên hệ giữa hai biến với nhau không Thông thường, nếu mức ý nghĩa nhỏ hơn hoặc bằng 0,05 thì có mối liên hệ giữa hai biến
- Hệ số Cronbach‟s Alpha là một hệ số kiểm định thống kê về mức độ tin cậy
và tương quan trong giữa các biến quan sát thang đo Nó dùng để đánh giá độ tin cậy của các nhóm nhân tố và từng biến quan sát nhỏ bên trong nhóm nhân tố đó Theo Peterson, 1994 thì hệ số Cronbach‟s Alpha phải nằm trong giới hạn từ 0,7 đến
Trang 281,0 Trong các trường hợp cỡ mẫu nhỏ thì hệ số tin cậy Cronbach‟s Alpha bằng 0,6 vẫn có thể được chấp nhận Đồng thời, các biến quan sát phải có hệ số tương quan giữa các biến và tổng (item-total correlation) phải lớn hơn 0,3 (dẫn theo Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005, tr 257-259)
Ngoài ra luận văn còn sử dụng Phân tích nhân tố khám phá (EFA = Exploratory Factor Analysis) là một loại hình phân tích đa biến, phụ thuộc lẫn nhau EFA nhằm rút gọn một tập hợp biến thành một số nhân tố nhất định có ý nghĩa hơn Phân tích nhân tố được thực hiện với phép trích phân tích thành phần (Principle Component), sử dụng phép xoay Varimax, sử dụng phương pháp kiểm định KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) và Bartlett để đo lường sự tương thích của mẫu khảo sát (xem thêm ở mục 4.3.4)
Dữ liệu định tính được xử lý thủ công và phân tích theo chủ đề: Sau khi thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn sâu các đối tượng, chúng tôi tiến hành ghi chép
và đánh máy tất cả các thông tin đã được thu thập và đọc đi đọc lại nhiều lần và sau
đó tiến hành mã hóa theo các bước: đầu tiên, chúng tôi tiến hành đọc nhiều lần các câu, các đoạn thông tin đã thu thập được và sau đó đó tiến hành mã hóa các thông tin mà chúng tôi cho rằng có ý nghĩa với đề tài nghiên cứu (bước này gọi là open coding); Bước thứ 2: chúng tôi tiến hành đọc lại và nghiên cứu các nội dung đã được mã hóa và kết nối chúng lại theo các chủ đề (bước này gọi là mã hóa theo trục: axial coding), các chủ đề ở đây liên quan đến vấn đề nhận thức và quan niệm về nghèo đói, việc thực hiện và hưởng thụ văn hóa hiện tại và ảnh hưởng của phong tục tập quan đến nhận thức nghèo đói Bước thứ 3, chúng tôi tiến hành tiến hành sắp xếp các thông tin có liên quan đến các chủ đề sao cho có tính hệ thống và logic, chẳng hạn như việc thực hiện văn hóa tại cộng đồng gồm những yếu tối nào, nhận thức về nghèo đói gồm những yếu tố nào Sau khi mã hóa, chúng tôi sắp xếp các nội dung vào khung của luận văn Trong quá trình viết luận văn, chúng tôi đọc đi, đọc lại nhiều lần các nội dung phỏng vấn đã được mã hóa và sắp xếp chúng vào bối cảnh, hoàn cảnh cụ thể cùng với những dữ liệu định lượng để phân tích, đào sâu và làm sáng
Trang 29tỏ các vấn đề cần nghiên cứu (Xin xem bảng Phụ lục 1 - Danh sách những người phỏng vấn)
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu
1.6.1 Ý nghĩa lý luận:
- Luận văn góp phần miêu tả về hiện tượng nghèo đói và văn hóa của cộng đồng dân tộc Raglai và dân tộc Chăm ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận; đồng thời cũng là nguồn tư liệu cho các công trình nghiên cứu liên quan đến dân tộc thiểu
số Raglai và dân tộc Chăm ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần xây dựng cơ sở lý luận trong việc đưa ra các giải pháp và có những chính sách đúng và phù với đặc điểm văn hóa của người dân tộc thiểu số Raglai và dân tộc Chăm ở huyện Ninh Sơn về công cuộc xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận văn đưa ra một cách nhìn mới trong công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Raglai và dân tộc Chăm nói riêng; đưa
ra quan điểm rằng không phải các chính sách đều phù hợp với tất cả các đối tượng
mà tùy vào đặc điểm văn hóa và nhận thức của họ để vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình triển khai thực hiện
- Nghiên cứu hiện tượng nghèo đói và các yếu tố văn hóa ở cộng đồng người Raglai và người Chăm sẽ giúp hiểu rõ hơn và giải thích được vấn đề văn hóa của cộng đồng nghèo có tác động đến tư tưởng và nhận thức của người nghèo, trói buộc
họ và là rào cản trong công cuộc giảm nghèo cho vùng dân tộc thiểu số nói chung
và người Raglai nói riêng Từ đó có những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương, góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại huyện Ninh Sơn nói riêng và tỉnh Ninh Thuận nói chung
Trang 30- Luận văn có thể sử dụng để triển khai áp dụng trong việc xây dựng các kế hoạch giảm nghèo hàng năm và giai đoạn 5 năm cho người dân tộc thiểu số trong toàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận
1.7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn: Luận văn gồm 5 chương, cụ thể gồm:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận
Chương 3: Khái quát về đặc điểm của tộc người Raglai và người Chăm
Chương 4: Thực trạng về nghèo đói, văn hóa của sự nghèo đói và các mối quan
hệ tại hai cộng đồng dân tộc Raglai và Chăm ở huyện Ninh sơn, tỉnh Ninh Thuận Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 31Nghèo đói là vấn đề mà cả thế giới quan tâm, từ các nước Âu, Á, Mỹ La tinh
và nhất là Châu Phi Các nghiên cứu về nghèo đói đã được các tác giả nghiên cứu từ rất lâu và phần lớn là các công trình nghiên cứu định lượng, chủ yếu liên quan đến đánh giá chính sách và phân tích thực trạng về nghèo đói Ở phạm vi đề tài này chỉ chọn lọc và đưa ra một số công trình chủ yếu liên quan đến nghèo đói từ các khía cạnh văn hóa, xã hội và kinh tế, cụ thể như sau:
Khi nghiên cứu nghèo đói dưới góc độ văn hóa, GehlBach, Sally J (1944)
khám phá bản chất của nghèo đói giữa người da đen Mỹ và tác giả cho rằng những người da đen ở tầng lớp thấp hơn chuyển đổi từ bối cảnh nông thôn (trước đây là nô lệ) sang nền kinh tế đô thị hiện đại và những truyền thống cũ của họ đã bị phá vỡ (và những cái mới không phát triển) được thể hiện dưới góc độ tiếp cận về mặt môi trường, đời sống gia đình, mối quan hệ với các thể chế (giáo dục, y tế, xã hội, chính phủ và pháp luật, phong trào người da đen) Tác phẩm dựa trên nghiên cứu và lý thuyết của Oscar Lewis về văn hóa của sự nghèo đói khi nói về đặc điểm của người
da đen nghèo trong xã hội Mỹ Tác giả chỉ ra được điểm khác biệt khi mô tả về văn hóa của sự nghèo đói của người da đen Mỹ khác với mô tả của Oscar Lewis về văn hóa của sự nghèo đói ở Mêxico ở ba lĩnh vực: sự ổn định về cư trú; vị trí giữa nam
và nữ trong gia đình và sự phân biệt chủng tộc trong xã hội Mỹ Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đi sâu vào những vấn đề phải đối mặt của từng gia đình người da đen nghèo; chưa đưa ra được những phân tích, đánh giá cụ thể về văn hóa của người da đen Mỹ ảnh hưởng như thế nào đến nghèo đói (GehlBach, Sally J 1944)
Cũng nghiên cứu về đặc điểm văn hóa của tầng lớp nghèo, Jens Ludwig và Susan Mayer (2006) trong tác phẩm Culture and the Intergenerational Transmission
Trang 32of Poverty: The Prevention Paradox (Văn hóa và sự truyền tải liên thế hệ của nghèo đói: Nghịch lý của sự phòng ngừa) giải thích “nghịch lý phòng chống nghèo đói” đó
là trẻ em sống trong gia đình nghèo lớn lên sẽ trở thành người nghèo; và việc thay đổi “văn hóa” nghèo đói và hành vi của thế hệ cha mẹ như là một phương tiện để chấm dứt nạn đói nghèo liên thế hệ Bài viết dựa trên quan điểm về lý thuyết “văn hóa của sự nghèo đói” của Oscar Lewis để giải thích vấn đề về nghèo đói; tìm ra nguyên nhân của nghèo không chỉ là yếu tố kinh tế; từ đó giúp nhà hoạch định chính sách Mỹ ủng hộ việc thay đổi “văn hóa” của bố mẹ nghèo như là một chiến lược giảm thiểu sự nghèo đói liên thế hệ
Đối với văn hóa của tầng lớp nghèo, nhóm học giả người Trung Quốc như Zhou Yi (2002); Guan Xinping (1999) lại cho rằng văn hóa của sự nghèo đói như là cái gì đó mơ hồ kể cả trong khái niệm lý thuyết, phương pháp, tư liệu nghiên cứu không rõ ràng, các tác giả cho rằng trong văn hóa của sự nghèo đói các học giả quá nhấn mạnh đến yếu tố tự thân, nội tại cá nhân mà quên đi yếu tố kinh tế chính trị xã hội có khả năng nảy sinh văn hóa của sự nghèo đói; do đó văn hóa trong nghiên cứu nghèo đói đang còn là vấn đề bị phê phán và nhiều tranh cãi (Liang Ningxin, 2007)
Khi nghiên cứu đặc trưng xã hội của tầng lớp nghèo, Anthony Reid (1999)
nghiên cứu về vấn đề nghèo đói ở các nước Đông Nam Á, tác giả nhận định về sự nghèo đói của các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam là một tình trạng bi thảm, trong đó căn nguyên của sự nghèo đói là do sự xâm lược của thực dân, đã triệt tiêu căn bản nền sản xuất công nghiệp, thực hiện các chính sách bần cùng hóa, chính sách ngu dân… đối với người dân ở các nước Đông Nam Á… Mặt khác, giới cầm quyền bản xứ cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra sự nghèo đói qua việc triển khai các chính sách bế quan tỏa cảng, ngăn cấm người dân tự do buôn bán, sản xuất phát triển kinh tế làm giàu để dễ bề cai trị Chính vì thế, chính quyền ngày nay
đã và đang chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh dẫn đến tình trạng nghèo đói kéo dài đến tận ngày nay
Trang 33Các công trình nghiên cứu nghèo đói dưới góc độ kinh tế chỉ ra rằng, nghèo đói
thể hiện rõ nét qua cơ cấu làm việc, tình trạng làm việc và đặc điểm thu nhập, chi tiêu
và nợ nần Một số công trình nghiên cứu về nghèo khổ như David Satterthwait (2002), người nghèo thường rơi vào các nhóm không có đất hoặc thiếu để sản xuất, chăn nuôi, cùng với tập quán sản xuất còn tự cung tự cấp, không theo hướng hàng hóa Bên cạnh đó giá cả nông sản không ổn định, khiến người nghèo không có thu nhập ổn định Christian Morrisson (2003) cho rằng nghèo khổ là do thiếu các yếu tố
về nguồn lực đất đai, tài chính, trang thiết bị máy móc, cơ sở hạ tầng và yếu tố vốn
xã hội, các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng nơi họ sinh sống và người nghèo thường có thu nhập thấp và khó tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục
Cũng nghiên cứu nghèo đói dưới góc độ kinh tế, công trình đạt giải Nobel kinh tế 2019, “Poor Economics” của tác giả Abhijit V Banerjee và Esther Duflo (dịch giả Nguyễn Lê Bảo Ngọc, 2015) chỉ ra rằng mặc dù chưa có phương thức thần
kỳ nào để có thể đẩy lùi nghèo đói một cách toàn diện, nhưng nếu chúng ta hiểu được người nghèo, những lựa chọn mà họ phải đối mặt sẽ giúp chúng ta biết cách đấu tranh chống lại nghèo đói trên thế giới Nhóm tác giả cũng đưa ra 05 (năm) vấn
đề mà người nghèo thường mắc phải đó là: người nghèo thiếu thông tin và thường tin vào những điều không có thật; gánh trên vai quá nhiều trách nhiệm như phải đối mặt với các vấn đề nước sạch, dinh dưỡng, việc làm, sức khỏe ; khó tiếp cận thị trường; các chính sách hay cơ cấu chính trị ở các quốc gia nghèo còn nhiều bất cập, chẳng hạn như khi xây dựng chính sách các nhà chính trị ở quốc gia này thường vướng vào 03 (ba) vấn đề: thiếu hiểu biết, tư tưởng cao vời, tính trì trệ; và cuối cùng người nghèo thường bị phán xét thiếu khả năng để thoát nghèo Nhóm tác giả muốn nói rằng biện pháp ngay trong tầm tay chúng ta chứ không phải là những chính sách “thần kỳ” và người nghèo cần được thấu hiểu và giúp đỡ Thành công trong công cuộc giảm nghèo không phải là quá xa xôi như chúng ta thường nghĩ
Trang 342.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về hiện tƣợng nghèo đói ở Việt Nam
Nghiên cứu các báo cáo của Ngân hàng thế giới WB, các báo cáo của các tổ chức phi chính phủ cho thấy, thực trạng của người nghèo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vẫn giữ nguyên bức tranh đặc trưng của người nghèo ở cuối thập niên 90
đó là: học vấn thấp, kỹ năng làm việc thấp, phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp tự túc, cô lập về địa lý… và người nghèo sống tại các vùng nông thôn, sinh kế phụ thuộc vào nông nghiệp và các hoạt động liên quan đến sản xuất nông nghiệp, do đó phụ thuộc và ảnh hưởng bởi thời tiết, thiên tai, bão lũ và rủi ro cao Bên cạnh đó, tình trạng nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số chỉ được quan tâm đúng mức vào cuối thập niên 90, hiện nay, khoảng cách giữa các nhóm dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh tiếp tục giãn rộng; nhiều nhóm nghèo dân tộc thiểu số sống ở mức nghèo
“cùng cực”, có mức sống thấp hơn chuẩn nghèo, và có tới 63,3% người dân tộc thiểu số nghèo vào năm 2010, trong khi tỷ lệ này ở dân tộc Kinh chỉ chiếm 12,9%, đây là điều đáng quan ngại đối với vấn đề nghèo đói ở Việt Nam (Ngân hàng thế giới, 1995)
Trong báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000, nhóm công tác chuyên gia Chính phủ, do tổ chức Phi Chính tài trợ, tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, ngày 14-15/12/1999 đã chỉ ra nguyên nhân của nghèo đói ở nước ta: ngoài yếu tố về kinh tế như thiếu đất canh tác, ít lao động, bị tách biệt về địa lý và xã hội, tình trạng nhập cư vào đô thị… còn do các yếu tố như trình độ học vấn thấp, khả năng tiếp cận thông tin và kỹ thuật chuyên môn hạn chế, tình trạng đông con… cũng
là nguyên nhân cản trở công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Tuy nhiên, báo cáo chỉ mới đưa ra những nguyên nhân khách quan dẫn đến nghèo đói mà chưa đề cập đến yếu tố chủ quan là do chính bản thân của người không tự mình muốn vươn lên thoát nghèo
Theo Lương Hồng Quang (2000) – chịu ảnh hưởng của lý thuyết của O.Lewis,
sở dĩ người ta nghèo khổ là vì văn hóa riêng của họ khác với số đông; văn hóa
Trang 35nghèo khổ có thể truyền từ đời này sang đời khác, từ đó làm cho người nghèo và gia đình của họ rơi vào vòng luẩn quẩn Do vậy, người nghèo muốn thoát khỏi nghèo khổ cần phải thoát khỏi sự trói buộc của văn hóa của sự nghèo đói Tuy nhiên, tác giả khi phân tích văn hóa của nhóm nghèo quá nhấn mạnh nhân tố tự thân, tâm lý và văn hóa mà quên đi sự thiếu sót điều kiện vật chất và chính trị xã hội có khả năng dẫn đến nảy sinh văn hóa nghèo khổ
Khi nghiên cứu nghèo khổ ở các đô thị ở Việt Nam, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Xuân Mai (2004) chỉ ra rằng: Quá trình đô thị hóa đã làm phát sinh tình trạng người nghèo ở nông thôn và một tỷ lệ lớn người thất nghiệp ở nông thôn kéo lên các đô thị Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nền kinh tế thị trường trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và ở điểm xuất phát thấp đã vô tình đẩy nhóm người nghèo mới ra ngoài lề của quá trình tăng trưởng kinh tế, làm gia tăng hiện tượng phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc và làm phức tạp thêm các vấn đề nghèo khổ ở các đô thị
Báo cáo Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia tại một số cộng
đồng dân cư nông thôn tại Việt Nam của tổ chức Oxfam và Actionaid năm 2010,
cho thấy việc người nghèo thiếu học hành đã làm cho người nghèo bị cô lập với thế giới bên ngoài, mù chữ khiến cho họ không tiếp cận được với những thông tin trên các lĩnh vực kể cả trong kinh tế, vốn, đất đai, thị trường, xã hội… Trình độ học vấn
là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho người nghèo có kiến thức để tham gia thị trường lao động, hiểu biết xã hội và hấp thụ bản sắc văn hóa của cộng đồng
đó, tránh xa những hủ tục lạc hậu Một nền văn hóa với những hủ tục hay cản trở đến
sự phát triển kinh tế cũng là một nguyên nhân dẫn đến nghèo đói
Báo cáo tóm tắt kết quả chính của dự án Theo dõi nghèo đô thị 2008 – 2012,
do tổ chức Oxfam và Actionaid thực hiện, cho thấy mặc dù cuộc sống của người nghèo đô thị có bước cải thiện hơn, tuy nhiên nhìn nhận ở góc độ đa chiều người nghèo đô thị đang phải đối mặt với các vấn đề như học vấn thấp, trình độ tay nghề thấp, thiếu vốn để chuyển đổi sinh kế, môi trường sống kém tiện nghi và không an
Trang 36toàn, đặc biệt là thiếu vốn xã hội và khó tiếp cận với dịch vụ công và an sinh xã hội (Oxfam &Actionaid, 2012)
Khi nghiên cứu về xã hội nông thôn ở Việt Nam, Philip Taylor (2012) đã đưa
ra lập luận rằng nhiều chính sách phát triển nông thôn được Nhà nước và các tổ chức Phát triển quốc tế triển khai là chưa phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của người dân, khi ông nghiên cứu điền dã nhiều năm tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long Các quan điểm về phát triển kinh tế vùng nông thôn mà Philip Taylor phê phán khi Nhà nước và kể cả các tổ chức thế giới đã và đang triển khai tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long gần như thất bại vì không chú ý đến người dân, điều này có nghĩa rằng kể cả vùng đồng bào dân tộc thiểu số, là vùng mà hiện nay nhà nước và các tổ chức quốc tế triển khai rất nhiều các mô hình đa sinh kế để phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Raglai nói riêng vẫn chưa thực
sự đem lại hiệu quả như mong muốn, bởi lẽ mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa khác nhau và cách ứng xử kinh tế là hoàn toàn khác nhau Điều này lý giải
vì sao Nhà nước tốn rất nhiều chi phí để phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng thực tế tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo trên cả nước còn chiếm tỷ lệ cao và công cuộc giảm nghèo chưa thực sự bền vững
Trong các nghiên cứu về phát triển và dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Gabriel Demombynes (2013) chỉ ra mặc dù Việt Nam đã có bước tăng trưởng nhanh, đời sống người dân cơ bản đã cải thiện, kể cả mức sống của người dân tộc thiểu số cũng
đã được tăng lên, tuy nhiên vẫn có khoảng cách khá xa so với người Kinh Người dân tộc thiểu số ở Việt Nam chiếm 15% so với dân số cả nước, nhưng có tới 70% nằm trong nhóm cực nghèo (được đo lường theo chuẩn cực nghèo quốc gia) Gabriel Demombynes so sánh và đưa ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng nghèo đói của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có những điểm chung với các nhóm dân tộc thiểu số bản địa khác trên thế giới đó đó là trình độ học vấn thấp, bị cách biệt về địa lý, đất đai canh tác hạn chế, thiếu vốn xã hội, ít tiếp cận thị trường, bị cô lập và hạn chế về văn hóa, ngôn ngữ
Trang 37Các cuộc tổng điều tra về mức sống dân cư do Tổng cục Thống kê tiến hành và các báo cáo giảm nghèo của các chương trình dự án đã cung cấp bức tranh chung và khá toàn diện và đầy đủ về đặc điểm kinh tế của người nghèo đó là: hầu hết người nghèo đều thiếu tư liệu sản xuất, tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, thất nghiệp hoặc việc làm không ổn định; làm công việc lao động chân tay, không có tay nghề là chủ yếu, do đó thu nhập của tầng lớp nghèo thường rất thấp; 65 – 75% thu nhập dùng cho chi tiêu ăn uống hàng ngày, phần còn lại của thu nhập rất ít ỏi để chi tiêu cho việc học hành của con cái, y tế và các sinh hoạt thiết yếu khác Do điều kiện thu nhập và chi tiêu như vậy, nên người nghèo thường lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, và thu nhập của họ lại gánh thêm phần trả nợ, do đó họ càng bị xoáy sâu vào cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói (Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, 2015)
Ngoài những nghiên cứu nghèo đói vùng đồng bào dân tộc thiểu số; một số nghiên cứu về nghèo đô thị của các tác giả Fabienne Perucca và Fanny Quertamp trong công trình “Nghiên cứu nghèo đô thị - Các chính sách công về giảm nghèo từ nghiên cứu trường hợp ở Quận 8 Thành Phố Hồ Chí Minh” cho thấy Việt Nam cơ bản hoàn thành phần lớn các mục tiêu thiên niên kỷ, trong vòng 20 năm Việt Nam
đã giảm đáng kể số người nghèo, đồng nghĩa với việc 28 triệu người thoát nghèo Tuy nhiên sự phát triển kinh tế đã kéo theo sự phát triển về xã hội, đặc điểm người nghèo thay đổi và trở nên phức tạp hơn, tỷ lệ người nghèo xuất thân từ người dân tộc thiểu số tăng lên đáng kể, là đặc điểm nổi bật trong bức tranh chung về nghèo khó ở Việt Nam Mặt khác, tốc độ giảm nghèo ở nông thôn nhiều hơn đô thị; như vậy nghèo đô thị là một dạng thức mới trong nghèo đô thị ở Việt Nam
Cũng liên quan đến nghèo đói được phân tích dưới góc độ giới cho thấy: “bình đẳng giới có mối quan hệ mật thiết với nạn đói nghèo và không chỉ riêng vấn đề đói nghèo của phụ nữ Bất bình đẳng vừa là nguyên nhân của tình trạng đói nghèo, lạc hậu, vừa là rào cản chính đối với phát triển bền vững, và cuối cùng gây tác động tiêu cực tới mọi thành viên trong xã hội và các thiệt hại khác Xã hội có mức bình đẳng giới càng cao thì thành quả tăng trưởng kinh tế càng phục vụ tốt cho công tác giảm nghèo” (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2010)
Trang 382.1.3 Tổng quan các nghiên cứu về văn hóa và nghèo đói của dân tộc Chăm và Raglai
2.1.3.1 Những nghiên cứu liên quan đến dân tộc thiểu số Raglai:
Các công trình nghiên cứu về văn hóa Raglai và cuộc sống người Raglai chưa được nhiều Việc nghiên cứu văn hóa tộc người Raglai chưa được các nhà khoa học quan tâm đầu tư; một số tạp chí, luận án, luận văn hay các đề tài khoa học cũng ít nhiều nói đến văn hóa Raglai nhưng chưa đầy đủ, có thể nói tới một số công trình
như: Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam)
(1984), giới thiệu khảo lược về địa bàn phân bố, hoạt động kinh tế, tổ chức gia đình, cấu trúc xã hội, nghi lễ và phong tục tập quán của người Raglai; công trình cho chúng ta hiểu thêm về văn hóa và đời sống của người Raglai vào giai đoạn 1984 trở
về trước với những phong tục tập quán còn lạc hậu; ngày nay do ảnh hưởng và tiếp thu văn hóa mới của người Kinh, một số phong tục đã được thay đổi theo hướng tiến bộ hơn Công trình “Người Raglai ở Việt Nam” của Nguyễn Tuấn Triết (1991) nên lên những đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của người Raglai và phân tích những biến đổi của văn hóa truyền thống và xã hội của người Raglai từ sau năm
1945 đến những năm đầu những năm 1990 Cho thấy được sự biến đổi xã hội cũng như mối quan hệ của người Raglai trong giai đoạn mới với các dân tộc thiểu số khác Phan Quốc Anh trong cuốn sách “Văn hóa Raglai những gì còn lại”, (2007) nói về tục bỏ mã của dân tộc Raglai và việc bảo tồn văn hóa Raglai
Trong một số nghiên cứu về mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam do WB và Oxfam phối hợp thực hiện (2012) cho thấy, 34% người dân tộc thiểu số không thuộc diện nghèo, đồng thời cũng đặt ra câu hỏi “Tại sao có khoảng một phần người dân tộc thiểu số đã thoát nghèo” và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng con đường thoát nghèo của các cộng đồng dân tộc thiểu số là chuyển đổi kinh tế, từ tập quán sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất nông nghiệp, thâm canh và đa dạng hóa Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của tổ chức WB hầu như chỉ tập trung vào các mô hình kinh tế, phân tích nguyên nhân nghèo và động lực giảm nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, nhưng chưa có các
Trang 39nghiên cứu nào tìm hiểu về nghèo đói dưới góc độ văn hóa của dân tộc Chăm và Raglai ở Ninh Sơn, Ninh Thuận
Nhóm nghiên cứu Lê Quốc Sơn và các cộng sự (2015) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói của đồng bào dân tộc Raglai ở Ninh Thuận chỉ ra rằng người nghèo Raglai đa số đều có mức thu nhập và trình độ dân trí rất thấp, thói quen sản xuất phụ thuộc thiên nhiên, ít chịu áp dụng các kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi nên hiệu quả không cao Bên cạnh đó các mối quan hệ trong cộng đồng thường khép kín, ít hòa nhập, số người sống phụ thuộc nhiều là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo cao Đối với nghiên cứu này, nhóm tác giả cũng đã nhìn nhận và đánh giá về nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số Raglai, nhưng chưa thực sự đi sâu tìm hiểu rõ nguyên nhân ẩn chứa bên trong tạo nên nhận thức và lối sống trong đồng bào dân tộc thiểu số
Khi nghiên cứu về vấn đề giảm nghèo của dân tộc thiểu số Raglai, đề tài luận văn thạc sĩ về công tác xã hội của Trần Văn Minh (2016) tìm hiểu về Phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận cũng chỉ ra rằng nhiều chương trình, chính sách giảm nghèo triển khai cho người dân tộc thiểu số Raglai vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn, nguyên nhân là do đội ngũ cộng tác viên cộng đồng còn thiếu, hạn chế về kiến thức kỹ năng thực hành công tác xã hội và phương pháp thực hiện công tác xã hội xóa đói giảm nghèo chưa phù hợp Bên cạnh đó, người dân tộc thiểu số Raglai vẫn còn sống phụ thuộc vào các chính sách hỗ trợ của nhà nước, chưa có tinh thần thi đua trong phát triển kinh tế Tuy nhiên việc đánh giá và nhận định của tác giả nói trên chỉ nghiên cứu và phân tích dưới góc độ thực hiện công tác xã hội ở vùng dân tộc thiểu
số và đưa ra nhận xét tương đối định kiến một chiều đối với người Raglai tại Ninh Thuận bởi tác giả chưa tìm ra được nguyên nhân tại sao họ lại chưa có thể vượt lên chính mình và chưa có tinh thần thi đua trong cuộc sống
Tác giả Bùi Loan Thùy (2016) nghiên cứu về nâng cao nhận thức và năng lực thoát nghèo bền vững đối với dân tộc Raglay huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận
Trang 40đánh giá việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội; các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng nghèo đói ở địa phương; nhận thức của đồng bào dân tộc Raglai hiện nay về vấn đề nghèo đói; nêu lên một số giải pháp khắc phục những hạn chế của việc triển khai các chính sách giảm nghèo trên địa bàn trong đó tập trung vào một
số giải pháp nhằm kích thích ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo của đồng bào dân tộc Raglai Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra ý kiến tương đối chủ quan cá nhân
để nói về nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số Raglai ở Ninh Thuận mà chưa tìm ra được nguyên nhân nào tạo nên nhận thức trong đồng bào dân tộc Raglai qua nhiều thế hệ
2.1.3.2 Những nghiên cứu liên quan đến dân tộc Chăm:
Tổng quan các công trình nghiên cứu về dân tộc Chăm phải kể đến công trình
“Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam)” (1984) của Viện Dân tộc học, “Người Chăm ở Thuận Hải” (1989) của Sở Văn hóa thông tin tỉnh Thuận Hải
(cũ); “Văn hóa Chăm” (Nxb Khoa học xã hội, 1991) Nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hóa và những biến đổi tộc người trong khoảng thời gian gần đây, khẳng định người Chăm có vị trí rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam và có những đóng góp lớn lao trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam về mọi mặt
Các công trình khoa học xã hội về người Chăm của các tác giả như: Phan Văn
Dốp (1993) “Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam”, Phú Văn Hẳn (2005) “Đời
sống văn hóa và xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh” cho chúng ta hiểu rõ hơn về nét văn hóa độc đáo cũng như yếu tố tôn giáo của người Chăm góp phần tạo nên nét đặc sắc trong văn hóa tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời cùng gợi ý và đề xuất các chính sách phát triển hài hòa vùng đồng bào dân tộc Chăm Tác giả Jaya Bahasa (2011) khi nghiên cứu người Chăm ở Ninh Thuận về các mặt văn hóa và giáo dục cũng cho thấy những bản sắc văn hóa người Chăm chịu ảnh hưởng khá nhiều từ tôn giáo Ấn Độ và Islam giáo; chịu ảnh hưởng