Trên thực tế đã có nhiềuluận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ… Nghiên cứu các đề tài liên quan đến hợp đồng, như đề tài: - Lê Minh Hùng 2010, Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA – THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH THANH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S Đinh Thị Ngọc Hà Nguyễn Thị Bạch Hồng
Bộ môn: Luật căn bản Lớp: K52P3
HÀ NỘI, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA – THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH THANH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S Đinh Thị Ngọc Hà Nguyễn Thị Bạch Hồng
HÀ NỘI, 2020
Trang 3TÓM LƯỢC
Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thanh Bình đã được tồn tại, giữvững và phát triển sau mười bảy năm ra đời Quá trình kí kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa tại Công ty TNHH Thanh Bình đã đạt được những hiệu quả nhấtđịnh Nhưng việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Thanh Bìnhcòn chưa được nhận thức đầy đủ Vì vậy, đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua bánhàng hóa – thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thanh Bình” đã được triển khaivới tư cách là một khóa luận tốt nghiệp của sinh viên
Đề tài thực hiện thông qua việc tìm hiểu về các quy định pháp luật hiện hànhđiều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa và thực trạng thực hiện pháp luật của cơ quannhà nước có thẩm quyền, của các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công
ty TNHH Thanh Bình Khóa luận với kết cấu 3 chương, tập trung vào nghiên cứunhững vấn đề như sau:
Chương 1 nêu ra một số lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa Nội dungchương được hình thành trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định chung về hợpđồng và các quy định riêng về hợp đồng mua bán hàng hóa trong các văn bản quyphạm pháp luật hiện hành điều chỉnh về vấn đề này
Tiếp theo chương 2, khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về hợpđồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Thanh Bình Từ đóđưa ra những đánh giá, nhận xét và chỉ ra những khó khăn về quá trình giao kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Cuối cùng chương 3 em đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hợpđồng nói chung, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, và một số kiếnnghị nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa tại Công ty TNHH Thanh Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn các thầy côgiáo đã giảng dạy, rèn luyện, hướng dẫn em trong thời gian học tập tại trường Đại họcThương Mại và Ban lãnh đạo cùng toàn thể các cán bộ công nhân viên trong Công tyTNHH Thanh Bình trong thời gian em thực tập tại công ty
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kinh tế - Luật Đặc biệt làTh.S Đinh Thị Ngọc Hà, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quátrình làm bài khóa luận tốt nghiệp này
Do có nhiều ý kiến, những cách tiếp cận khác nhau, thời gian thực tập, kinhnghiệm và kiến thức thực tế còn nhiều hạn chế nên trong khóa luận không thể tránhkhỏi những thiết sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp đỡ và ý kiến đóng gópcủa các thầy cô giáo và ban lãnh đạo Công ty TNHH Thanh Bình, để em hoàn thành đềtài nghiên cứu của mình một cách tốt nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Tháng 4 Năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bạch Hồng
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS Bộ luật dân sựLTM Luật Thương MạiTNHH Trách nhiệm hữu hạn
CISG Công ước viên 1980FOB Giao hàng trên tàu
CIF (Tiền hàng, bảo hiểm, cước phí) điều
kiện giao hàng tại cảng dỡ hàngCFR Tiền hàng và cước phí vận chuyển
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các giao dịch kinhdoanh diễn ra ngày càng sôi động, đòi hỏi Nhà nước phải ban hành quy định điềuchỉnh chi tiết cho quá trình thiết lập và thực hiện chúng Các bên trong giao dịch phải
có sự hiểu biết đầy đủ các quy định pháp luật hợp đồng nhằm bảo đảm cho việc thựchiện các giao dịch này Hầu hết các doanh nghiệp thương mại đều phải ký kết các hợpđồng thương mại khác nhau, đó có thể là hợp đồng mua hay hợp đồng bán, được gọichung là hợp đồng mua bán hàng hóa Các hợp đồng này gắn liền với lợi ích của cácbên ký kết, đồng thời ràng buộc trách nhiệm của một bên với bên kia, mang giá trịpháp lý được pháp luật công nhận Như vậy, có thể nói hợp đồng mua bán hàng hóa làmột nội dung không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh Việc nắm vững, hiểu rõ cácquy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp chủ thể kinh doanh ký kết
và thực hiện hợp đồng thuận lợi, an toàn và hiệu quả, trách xảy ra các rủi ro, tranhchấp đáng tiếc Nhưng thực tiễn cho thấy, sự hiểu biết về pháp luật của các doanhnghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế do chưa thể nắm rõ ràng và chắc chắn về hệ thốngpháp luật hiện hành Hiện nay pháp luật về hợp đồng đang được ngày càng hoàn thiệntheo hướng phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và pháp luật hợp đồng của thế giới.Nhưng còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện
Trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Thanh Bình, em nhận thấy công tyhàng năm ký kết rất nhiều hợp đồng, chủ yếu là hợp đồng mua bán hàng hóa Donhận thức được vai trò to lớn của hợp đồng mua bán hàng hóa, nên việc tìm hiểupháp luật hợp đồng là điều cần thiết đối với công ty Hơn nữa, thực tiễn việc ápdụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty còn nhiều hạn chế và cầngiải pháp giúp công ty cải thiện trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng Vìvậy, việc nghiên cứu áp dụng pháp luật hợp đồng trên khía cạnh giao kết, thực hiệnhợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty TNHH Thanh Bình là một vấn đề khôngchỉ có ý nghĩa với riêng công ty mà còn đối với nhiều doanh nghiệp khác
Từ những lý do trên, em xin được lựa chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng muabán hàng hóa – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thanh Bình” làm đề tài Khóaluận tốt nghiệp
Trang 82 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là bộ phận pháp luật có vị trí quantrọng trong pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu thường đi từkhái niệm, đặc điểm đến các tiêu chí của hợp đồng như: nội dung, hiệu lực Ngoài ra,các tác giả còn tiếp cận theo trình tự xác lập hợp đồng, từ thỏa thuận, giao kết đến thựchiện và chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa Tiêu biểu cho các công trình nghiêncứu về hợp đồng mua bán hàng hóa được các trường đại học lớn trên đất nước ta viết
ra các cuốn giáo trình, liên quan đến chuyên ngành đào tạo của trường đạo học như:Giáo trình Luật Thương mại 2 – Đại học Luật Hà Nội ; Giáo trình Luật Thương mại –Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội ; Giáo trình Luật Kinh tế - Đại học Thương mại ;Giáo trình Luật kinh tế - Đại học Kinh tế Quốc dân
Vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được nhiều nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu, dưới những góc độ khác nhau Trên thực tế đã có nhiềuluận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ… Nghiên cứu các đề tài liên quan đến hợp đồng, như
đề tài:
- Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã dành
nhiều trang nghiên cứu một cách toàn diện về hiệu lực của hợp đồng
- Nguyễn Thị Yến (2011), Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động mua bán hàng hóa qua sởgiao dịch hàng hóa ở Việt Nam ; góp phần sửa đổi , bổ sung và hoàn thiện pháp luậtđiều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa trong tương lai
- Trương Thị Bích (2012), Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài - Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam, luận văn Thạc sỹ, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam và Trung Quốc về giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài trong sự tham chiếu với cácquy định của pháp luật, thông lệ quốc tế để nhận thấy những điểm chung, nét tươngđồng, sự khác biệt, nét đặc thù trong pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóavới thương nhân nước ngoài của Trung Quốc
Trang 9Bài đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành như:
- Phạm Văn Bằng (2013), Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, tạp chí dân chủ và pháp luật Số
định kỳ tháng 4 đã tìm ra những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật vàđặt ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, góp phần thể chế hóa các quy địnhcủa Bộ luật Dân sự
- Phan Thông Anh (2013), Quyền tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam – lý luận
và thực tiễn, tạp chí Nghiên cứu pháp luật đã phân tích quyền tự hợp đồng thông qua
pháp luật Việt Nam
- ThS Nguyễn Văn Việt (2015), Bàn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, Tạp chí dân chủ và pháp luật Bài viết bàn về giải quyết tranh chấp hợp
đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, cũng có nhiều bài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp của sinhviên, luận văn thạc sĩ tìm hiểu về hợp đồng mua bán hàng hóa:
- Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thu Ngân” - sinh viên Nguyễn Ngọc Hải - Đại
học Thương Mại
- Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Vinh Thủy” – sinh viên
Phạm Văn Chung – Đại học Thương Mại
- Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại ATP” - sinh viên Nguyễn Thiên
Giang - Đại học Thương Mại
Tất cả các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, sách chuyên khảo, cácluận án, luận văn nêu trên đều có những thành công nhất định về một số khía cạnhpháp lý của hợp đồng Những công trình trên là những tri thức và tài liệu tham khảoquan trọng giúp em hoàn thành khóa luận của mình Do đó, em xin thể hiện sự trântrọng đến những tác giả với những kết quả nghiên cứu trên
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Trang 10Hoạt động mua bán hàng này càng sôi động và luôn thay đổi theo thời gian do đóxây dựng, ban hành, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là
nhu cầu tất yếu Do đó em đã chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
- thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Thanh Bình” để tìm hiểu và nghiên cứu Đề
tài tập trung nghiên cứu ba vấn đề sau :
- Những vấn đề lý luận chung về một số khía cạnh pháp lý liên quan đến phápluật về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công tyTNHH Thanh Bình
- Từ những nghiên cứu trên để đưa ra kiến nghị và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa,đồng thời là thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật tại công ty TNHH Thanh Bình
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề lý luận,khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng muabán hàng hóa tại doanh nghiệp, để có thể:
- Làm sáng tỏ vấn đề lý luận có liên quan đến pháp luật về hợp đồng mua bánhàng hóa Tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của phápluật về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên
- Đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóatại Công ty TNHH Thanh Bình Từ đó tìm ra các mặt hạn chế của công ty trong việcthực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu lực của pháp luật và tính hiệu quảcủa hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh của Công ty TNHH Thanh Bình
Trang 11- Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài:
• Các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ.Cũng như pháp luật nước ngoài có liên quan
• Thực trạng thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Công ty TNHHThanh Bình trong thị trường Việt Nam cũng như đối tác nước ngoài
- Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài:
• Các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa từ khi xuất hiện chế định
về hợp đồng trong pháp luật Việt Nam Áp dụng theo bộ luật, luật hiện hành
• Thực trạng thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Công ty TNHHThanh Bình trong ba năm (2016-2019)
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề lýluận và pháp lý liên quan đến các quy định về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa.Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp liệt kê: liệt kê các quan điểm pháp lý có liên quan đến hợp đồngmua bán hàng hóa trong phần lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa và phápluật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở chương 1
- Phương pháp tổng hợp: nghiên cứu tài liệu, các văn bản quy phạm pháp luật đểtổng hợp lại thành những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa trong chương 1; tổng hợp các tài liệu thu thập được từ đơn vị thực tập phản
Trang 12ánh được thực tiễn thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty.
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Dựa vào tài liệu đã thu thập được, phân tích
và đưa ra những đánh giá về thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong chương 1 Cũng như thực tiễn thực hiện của công ty về các quy định này trong chương 2, từ đó đưa ra những đánh giá, đề xuất hoàn thiện đề tài trong chương 3
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài ngoài tóm lược, lờicảm ơn, lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung, thì khóa luậngồm có 3 chương:
- Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Chương 2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễnthực hiện tại Công ty TNHH Thanh Bình
- Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1 Khái quát chung về mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái quát chung về mua bán hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua mua bán và trao đổi Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như: sắt, thép, quần
áo, đồ ăn; cũng có thể ở dạng vô hình như: các loại hình dịch vụ, giao thông vận tải Nhưng dù ở hình thức nào đi nữa thì hàng hóa đều phải đảm bảo các thuộc tính đó làphải đảm bảo có giá trị và có giá trị sử dụng
Dưới góc độ Triết học, mua bán hàng hóa là hoạt động đã được diễn ra từ rất
lâu Việc trao đổi các sản phẩm do tự mình tạo ra đã xuất hiện cùng với sự ra đời củasản xuất hàng hoá (nhưng lúc đầu chỉ mang tính giản, thô sơ theo công thức hàng-hàng(H-H) nghĩa là hàng hoá chỉ được thực hiện dưới hình thức trao đổi hiện vật Đến khitiền tệ làm phương tiện lưu thông xuất hiện công thức của trao đổi đó là hàng-tiền-
Trang 13hàng (H-T-H) và đó chính là quá trình lưu thông hàng hoá Vậy lưu thông hàng hoágồm hai giai đoạn là giai đoạn Hàng-Tiền (H-T) và giai đoạn Tiền-Hàng (T-H) tronggiai đoạn hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị, đó chính làviệc bán hàng Thực chất bán hàng là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từhàng sang tiền (H-T) nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị sử dụngnhất định, là khâu cuối cùng có tính chất quyết định của quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh.
Dưới góc độ Kinh tế thương mại, theo Khoản 8 điều 3 LTM 2005: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” Mua bán
hàng hóa là hoạt động cốt lõi để doanh nghiệp có thể duy trì và phát triển Hoạt độngnày không những tạo ra dòng tiền luân chuyển thường xuyên cho doanh nghiệp màcòn là cơ sở để doanh nghiệp có thể đảm bảo bộ máy hoạt động được diễn ra tục nhờnguồn doanh thu mà việc mua bán hàng hóa mang lại, đồng mở ra các cơ hội kinhdoanh mới với các bạn hàng mới Về cơ bản hoạt động mua bán hàng hóa được diễn radưới hai hình thức chủ yếu đó là mua bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóaquốc tế
Trong bài nghiên cứu này em sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu vào hoạt động muabán hàng hóa dưới góc độ kinh tế thương mại, được điều chỉnh bởi hệ thống các vănbản pháp luật Thương mại hiện hành
- Đặc điểm của hoạt động mua bán hàng hóa
Thứ nhất, chủ thể của hành vi mua bán hàng hóa là bất cứ cá nhân, tổ chức, đơn
vị kinh doanh nào có nhu cầu về hàng hóa Mỗi cá nhân, tổ chức đều có quyền thựchiện hành vi mua bán hàng hóa với cá nhân, tổ chức nào khác trong khuôn khổ nănglực pháp lý và năng lực hành vi của họ không phân biệt về địa lý hay thành phần kinh
tế Hoạt động mua bán hàng hóa luôn được hình thành bởi tối thiểu hai bên tham gia làbên mua và bên bán Bên bán là chủ sở hữu ban đầu của hàng hóa, bên mua là bênmong muốn và có nhu cầu sở hữu hàng hóa Trong hoat động mua bán hàng hóa cũng
có thể xuất hiện bên thứ ba là trung gian giữa bên mua và bên bán Trung gian này cóthể là bên cung cấp kho hàng, bên vận chuyển hoặc nhà phân phối của bên bán…Hàng hóa sẽ được chuyển giao từ bên bán sang bên mua sau khi có sự thỏa thuận vàbên mua trao cho bên bán một lượng giá trị tương đương với giá trị của hàng hóa đó
Trang 14Theo quy định của LTM, hoạt động mua bán hàng hóa phải phát sinh giữa haibên là thương nhân với nhau hoặc ít nhất một bên là thương nhân Như vậy chủ thểcủa hoạt động mua bán hàng hóa là thương nhân, cá nhân, tổ chức hoạt động có liênquan đến thương mại hoặc cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thườngxuyên không phải đăng kí kinh doanh Trong quan hệ mua bán hàng hóa ở nước tahiện nay ít nhất một bên phải là thương nhân có nghĩa là các cá nhân, tổ chức phải cóđầy đủ các điều kiện của một thương nhân còn bên kia có thể là thương nhân hoặckhông phải là thương nhân nhưng phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quyđịnh của pháp luật.
Thứ hai, đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa: Đối tượng trong hoạt động
mua bán hàng hóa luôn phải đảm bảo hai điều kiện đó là giá trị và giá trị sử dụng.Theo quy định của LTM hàng hóa được quy định tại khoản 2 điều 3 LTM 2005 baogồm: “ Tất cả các loại động sản, kể cả là hình thành trong tương lai; những vật gắn liềnvới đất đai” Theo quy định của LTM 2005 thì hàng hóa đươc hiểu ở nghĩa khá hẹp,
nó chỉ bao gồm vật chất ở dưới dạng nhất định và được pháp luật quy định cụ thể
Thứ ba, phân loại mua bán hàng hóa
Mua bán hàng hóa trong nước là quá trình mua bán trao đổi hàng hóa không có
sự dịch chuyển qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực hải quan riêng biệt có quy chếriêng như khu chế xuất hoặc khu ngoại quan
Mua bán hàng hóa quốc tế, được thực hiện dưới các hình thức:
- Xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa làviệc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ ViệtNam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vựchải quan riêng theo quy định của pháp luật
- Nhập khẩu: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ ViệtNam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi làkhu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
- Tạm nhập, tái xuất: Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa đựơc đưa từnước ngoài hoặc từ những khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi làkhu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhậpkhẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam
Trang 15- Tạm xuất, tái nhập: Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ranước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi làkhu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏiViệt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hóa đó vào Việt Nam.
- Chuyển khẩu: Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng hóa từ một nước, vùnglãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làmthủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
Trong phạm vi bài nghiên cứu này sẽ chỉ đi sâu vào hoạt động mua bán hàng hóatrong nước
1.1.2.Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
a Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng nói chung là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên đểlàm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông
dụng nhất Tại điều 385 BLDS 2015 có nêu khái niệm chung của hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự
thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinhcác nghĩa vụ ràng buộc các bên
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 LTM 2005:
“2 Hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b) Những vật gắn liền với đất đai.”
Cũng tại Khoản 8, Điều 3 Luật này:
“8 Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua
có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.”
Trang 16Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏathuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ muabán Luật Thương mại 2005 không có quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng mua bánhàng hóa, nhưng về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợpđồng mua bán tài sản.
Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, vàcác vật gắn liền với đất Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tàisản Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thểcủa hợp đồng mua bán tài sản
Như vậy, kết hợp định nghĩa chung về hợp đồng mua bán tài sản và khái niệmriêng về mua bán hàng hóa, có thể rút ra kết luận:
Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận.
b Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệvới hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa luật riêng và luậtchung
- Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng muabán tài sản trong dân sự như:
+ Là hợp đồng ưng thuận: Tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bênthỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ
Trang 17thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hànhđộng của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.+ Là hợp đồng có tính đền bù: Bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa chobên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏathuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.
+ Là hợp đồng song vụ: Mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràngbuộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thựchiện nghĩa vụ đối với mình Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chínhmang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giaohàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán
- Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng muabán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành
+ Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa Hàng hóa theo hợp đồng là hàng hóađược phép mua bán theo quy định của pháp luật Theo Luật Thương mại 2005, hànghóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hànghóa sẽ có trong tương lai, hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phéplưu thông thương mại
+ Về hình thức của hợp đồng Theo quy định tại Luật Thương mại 2005, hợpđồng thương mại được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằnghành vi cụ thể Như vậy, hình thức của hợp đồng là rất đa dạng, linh hoạt, tùy trườnghợp cụ thể mà các bên thỏa thuận để chọn hình thức nào cho phù hợp với hợp đồngmua bán hàng hóa được giao kết phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 18+ Nội dung của hợp đồng chứa đựng những nội dung cơ bản của một hợp đồngmua bán hàng hóa là: tên mặt hàng, số lượng, chủng loại, quy cách chất lượng, giá cả,phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng Ngoài ra hợp đồng còn phảithêm những điều kiện để đảm bảo quyền lợi cho các bên nếu có tranh chấp xảy ra nhưnơi giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh chấp
+ Mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa chính là đặc điểm quan trọng nhất giúpphân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa với các loại hợp đồng dân sự khác, bởi lẽ sẽ có ítnhất một trong các bên tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa tham gia hợp đồng vớimục đích sinh lời hay còn gọi là tìm kiếm lợi nhuận từ việc mua bán hàng hóa
c Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa
- Căn cứ vào phạm vi của hợp đồng có thể chia ra hai loại đó là:
• Hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước
• Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước thì đương nhiên sẽ chịu sự điềuchỉnh của pháp luật Việt Nam, cụ thể là luật Thương mại 2005 và các luật chuyênngành khác Còn đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì các bên có thể thoảthuận áp dụng, có thể là luật của Việt Nam hay luật của phía đối tác hay cũng có thể làluật của một nước thứ ba
- Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại:
• Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
• Hợp đồng mua bán hàng hoá không qua sở giao dịch hàng hoá
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta hiện nay
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta hiện nay
Cơ sở về chính trị
Sau khi giành được thắng lợi trong công cuộc kháng chiến, nền chính trị củanước ta đã ổn định hơn, tuy nhiên nền kinh tế lúc vừa hòa bình do chịu hậu quả củachiến tranh còn rất yếu kém Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12/1986 đã ra
Trang 19quyết định đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng xóa bỏ tập trung quan liêu baocấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của
cơ sở kinh tế Cơ chế quản lý kinh tế mới coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần làmột đặc trưng quan trọng, coi trọng việc sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa- tiền
tệ, bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp trong việc tiếp cận nhu cầu thịtrường, khai thác mọi tiềm năng để phát triển sản xuất kinh doanh, nhằm thực hiệnmục tiêu kế hoạch của doanh nghiệp Cơ chế quản lý kinh tế mới đòi hỏi nước ta cầnhoàn thiện hệ thống pháp luật nước mình theo hướng đồng bộ và tương thích với phápluật quốc tế Cùng với đó từ khi mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới Việt Nam luônluôn chủ động để hòa nhập chung vào nền kinh tế thế giới hiện đại Cùng với sự tăngcường quan hệ hợp tác trong nước và nước ngoài đã không ngừng thúc đẩy Việt Namhoạt động giao lưu trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Điều này đã tạođiều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quan hệ xã hội, các quan hệ dân sự vàthương mại Một trong những quan hệ thương mại góp phần lớn vào công cuộc xâydựng và phát triển đất nước, đó là quan hệ mua bán hàng hóa Quan hệ mua bán hànghoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hànghoá Hơn nữa,hoạt động mua bán tại Việt Nam ngày càng phát triển nhất là trong giaiđoạn nước ta đang trong quá trình hội nhập thế giới Trước tình hình đó, để đảm bảoquyền và lợi ích của các chủ thể tham gia đòi hỏi Nhà nước cần ban hành các văn bảnpháp luật điều chỉnh những quan hệ trong hoạt động mua bán hàng hoá, nhất là hợpđồng mua bán hàng hóa
Cơ sở về kinh tế
Nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của từngquốc gia từng dân tộc Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển sang môhình kinh tế thị trường của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn Nhờ mô hình kinh tế đó,chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút vốn và
kỹ thuật nước ngoài, mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều quốc gia trên thế giới Nhànước phải sử dụng hệ thống pháp luật làm công cụ điều tiết hoạt động của các tổ chứckinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm làm cho nền kinh tế phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mặt tích cực và ngăn chặn mặt tiêu cực của cơ chếthị trường, điều tiết các hoạt động kinh tế đối ngoại sao cho nền kinh tế không bị lệthuộc vào nước ngoài Vì vậy, hệ thống pháp luật của Việt Nam luôn luôn thay đổi saocho phù hợp với các quy định chung trên thế giới khi có sự hợp tác với nước ngoài và
sự đa dạng trong hoạt động thương mại, đặc biệt là hoạt động mua bán hàng hóa Việcxây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đối với nước ta là một quá trình lâu dài Vì thịtrường luôn luôn biến động nên hệ thống pháp luật cũng phải được bổ sung hoàn chỉnh
Trang 20kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế Do vậy, Quốc hội đã thông qua BLDS
2005, tiếp đến là BLDS 2015 thống nhất điều chỉnh các mối quan hệ về hợp đồng nóichung và LTM 2005 quy định mang tính chuyên ngành về hợp đồng mua bán hàng hóa
để giải quyết những bất cập nêu trên Đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2006 và mới đây nhất ngày05/10/2015 Việt Nam đã gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương(TPP) Vì vậy, việc điều chỉnh hành lang pháp lý là hết sức cần thiết để đáp ứng nhucầu hội nhập WTO, TPP và phù hợp với sự phát triển của kinh tế nước ta
Cơ sở về xã hội
Trong nhà nước pháp quyền, mọi quan hệ xã hội đều cần được điều chỉnh bởipháp luật Quan hệ mua bán hàng hóa là một phần của quan hệ xã hội Thực chất hoạtđộng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa hai bên nhằm mục đích kinh doanh, saocho hai bên đều được hưởng lợi ích tối đa Việc ban hành các quy định về mua bánhàng hóa thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ đảm bảo quyền, lợi ích của các chủthể tham gia, từ đó tạo điều kiện xây dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốtđẹp giữa cá nhân, tổ chức trong xã hội
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa
Một quốc gia muốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế cần phải xây dựng cho mìnhmột hành lang pháp lý thông thoáng và phù hợp với yêu cầu chính trị - xã hội cũngnhư xét trên tương quan với tình hình thế giới Từ năm 1986 đến nay, sau 30 năm đổimới và vững bước trên con đường xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần, đã khiến xã hội nước ta có nhiều chuyển biến to lớn và tích cực Kinh tế pháttriển kéo theo sự xuất hiện và lớn mạnh của các thành phần kinh tế Từ đó, yêu cầu về
sự đảm bảo trong việc giao kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa không chỉ
là vấn đề của Nhà nước mà còn là yêu cầu chung của toàn xã hội
Bên cạnh đó cơ sở kinh tế thay đổi đối với thành tựu to lớn của sự phát triểnkinh tế của các thành phần kinh tế dẫn đến Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã được banhành từ năm 1989 đến nay lộ rõ nhiều bất cập Trong điều kiện đó việc hoàn thiện, đổimới các quy định của pháp luật về vấn đề hợp đồng là vấn đề được đặt ra hết sức cấpthiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hơn nữa giao lưukinh tế cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Do thực tiễn pháp luật hợpđồng không thống nhất, các quy định còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luậtkhác nhau, chồng chéo, loại trừ nhau, tạo ra lỗ hổng pháp lý khiến cho người áp dụng
và các cơ quan tài phán gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi áp dụng văn bản pháp luật
về hợp đồng Vì thế ngày 14/6/2005 Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội khóa XI thông
Trang 21qua, trong đó có chế định về hợp đồng là nền tảng thống nhất và đồng bộ để điều chỉnhcác quan hệ hợp đồng nói chung, bên cạnh các văn bản pháp luật riêng để điều chỉnhcác quan hệ hợp đồng trong các lĩnh vực cụ thể Các văn bản quy phạm pháp luật thamgia điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2005, LuậtThương mại năm 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan Những quy định của Bộluật Dân sự về hợp đồng dân sự có tính nguyên tắc, là nội dung cơ bản điều chỉnh cácquan hệ hợp đồng nói chung Những văn bản luật chuyên ngành như: Luật Thươngmại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Du lịch, Luật Cạnh tranh…là nguồn luật điềuchỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực cụ thể Nguyên tắc áp dụng luật là ưu tiên
áp dụng các quy định của luật chuyên ngành trước, những vấn đề không được quy địnhtrong luật chuyên ngành thì áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự Kể từ ngày1/1/2006 khi Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thì Pháp lệnhHợp đồng kinh tế năm 1989 hết hiệu lực Và mới đây nhất, Luật Dân sự 2015 ra đời,sửa đổi bổ sung nhiều vấn đề trong Luật Dân sự 2005 nhằm thích nghi với tình hìnhmới ở trong nước và trên thế giới Việc ban hành Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thươngmại 2005, và mới đây là Luật Dân sự 2015 là cần thiết bởi hiện nay xu thế toàn cầuhóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật của nềnkinh tế thế giới nói chung, và là thách thức của tất cả các quốc gia, trong đó có ViệtNam, nói riêng Từ đó đòi hỏi mỗi quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luật của nướcmình theo hướng đồng bộ và có sự tương thích với luật pháp quốc tế
Và một yêu cầu của luật pháp trong giai đoạn hiện nay đó là phải nội luật hóacác điều ước quốc tế làm cho hệ thống pháp luật trong nước cũng tương thích với luậtquốc tế bảo đảm cho hội nhập quốc tế Đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2006 và việc hoàn thiện hệthống pháp luật theo yêu cầu của WTO cũng là một trong các điều kiện để nước ta cóđầy đủ điều kiện để trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại toàn cầunày Mới đây nhất, việc Việt Nam tham gia đàm phán và ký kết hiệp định khung TPP
đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam trong việc thu hút nhà đầu tư, phát huy cácthế mạnh của nền kinh tế đất nước
1.2.3.Nguồn luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta hiện nay
Như vậy , đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, nguồn luật chủ yếu điều chỉnh hiện hành là :
BLDS là nguồn luật chung cho tất cả các quan hệ hợp đồng như quy định nhữngnguên tắc chung, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, các biện phápđảm bảo giao kết và thực hiện hợp đồng…
Trang 22LTM 2005 quy định những vấn đề cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa Khi cónhững vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa mà LTM không quy định thì
áp dụng quy định của BLDS ( Điều 4 BLDS 2015 )
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài trong kinh doanh,thương mại được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật khác nhau như luật quốc gia, cácđiều ước quốc tế và các tập quán quốc tế
Ngoài ra, còn có một số luật chuyên ngành khác liên quan như : Luật Kinh doanhBất động sản, Luật Đất đai, Luật nhà ở… điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong hợpđồng mua bán tài sản có đối tượng đặc biệt như đất đai, nhà ở Cùng với đó là các vănbản dưới luật được ban hành để kịp thời điều chỉnh , làm rõ hơn các quy định về hợpđồng mua bán hàng hóa như Nghị định số 187/2013/NĐ-CP (NĐ 187) của Chính phủquy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế vàcác hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, Thông
tư 40/2008/TT-BNN,…
1.2.4 Các nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta
- Nguyên tắc bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Theo nguyên tắc này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồngphải bảo đảm nội dung của các quan hệ đó, thể hiện được sự tương xứng về quyền vànghĩa vụ trong hợp đồng, bảo đảm lợi ích cho các bên Trong nền kinh tế thị trường,các cá nhân, tổ chức dù thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý khi ký kếthợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Khi hợp đồng đã được xác lập thì phảibảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủ thể, có thực hiện đúng, đầy đủ
nghĩa vụ thì mới được hưởng quyền, nếu vi phạm phải bị xử lý Việc tham gia hợp
đồng hay không là do các bên có toàn quyền định đoạt Không một cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào được áp đặt ý chí của mình cho đơn vị kinh tế khi ký kết hợp đồng Mọi
sự ép buộc ký kết hợp đồng giữa bên này với bên kia đều làm cho hợp đồng vô hiệu,Khoản 3 Điều 406 BLDS 2015 và Điều 10 LTM 2005 quy định mọi thành phần kinh tếđều bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại, quan hệ hợp đồng Theonguyên tắc này, nội dung của hợp đồng phải bảo đảm hài hòa lợi ích cũng như quyền
và nghĩa vụ giữa các bên
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận, không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Theo nguyên tắc này, các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa được tự do giaokết hợp đồng, đồng được quyết định mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng, không có bất
kỳ cá nhân, tổ chức nào kể cả Nhà nước được can thiệp, làm thay đổi ý chí của các bênchủ thể Tuy nhiên sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng không được trái với điềucấm của pháp luật và những chuẩn mực đã được xã hội thừa nhận rộng rãi Nguyên tắc
Trang 23này được thể hiện tại Điều 3 BLDS 2015 và tại Khoản 1 điều 11 LTM 2005
Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các bên còn phải tuân thủ các nguyên tắcnhất định của pháp luật đối với từng hợp đồng mua bán hàng hóa cụ thể, như:
- Nguyên tắc áp dụng thói, quen tập quán trong hoạt động thương mại
Điều 12 LTM 2005 quy định: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái quy định của pháp luật” Điều 13 LTM cũng quy định tương tự đối với nguyên tắc áp dụng tập
quán trong thương mại Theo đó, các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa áp dụng tậpquán đã được thiết lập trước đó trên cơ sở không được trái với các nguyên tắc củaLTM và BLDS 2015 Nguyên tắc áp dụng thói quen, tập quán thương mại trong quan
hệ mua bán hàng hóa ngày càng được áp dụng một cách phổ biến, đặc biệt trong quan
hệ mua bán hàng hóa quốc tế Việc thực hiện tốt nguyên tắc này không chỉ tạo thuậnlợi mà còn còn giúp cải thiện quan hệ giữa các bên chủ thể của hợp đồng mua bánhàng hóa, tiết kiệm chi phí, đảm bảo lợi ích cho các bên
- Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt độngthương mại
- Nguyên tắc thực hiện đúng, thực hiện đầy đủ hợp đồng mua bán hàng hóa:Chấp hành thực hiện đúng hợp đồng là không được tự ý thay đối tượng này bằng mộtđối tượng khác hoặc không được thay thế việc thực hiện nó bằng cách trả một số tiềnnhất định hoặc không thực hiện nó Bên cạnh đó, các bên chủ thể cần thực hiện đúng
và đầy đủ các điều khoản cơ bản đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cụthể là thực hiện đúng đối tượng, đúng chất lượng, đúng thời gian, đúng số lượng, đúngphương thức thanh toán và các thoả thuận khác trong hợp đồng
- Nguyên tắc giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng: Nguyên tắc nàyđòi hỏi các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau, thường xuyên theo dõi và giúp đỡ nhau
để thực hiện đúng và nghiêm chỉnh mọi điều khoản của hợp đồng, giúp nhau khắcphục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3 Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.1 Các quy định về giao kết hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại văn bản có tính chất pháp lý được hìnhthành trên cơ sở thoả thuận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể nhằm xáclập, thực hiện và chấm dứt một quan hệ trao đổi hàng hoá
Phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trang 24Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đề nghị giao kết hợp đồng chính là chàohàng Chào hàng là một quy định được thừa nhận trong các thông lệ quốc tế về mua
bán hàng hóa.Theo điều 386 BLDS 2015: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện
rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).”
Đề nghị hợp đồng mua bán có thể do bên bán hoặc bên mua đưa ra BLDS năm
2015 cũng như LTM năm 2005 không quy định về hình thức của đề nghị hợp đồngmua bán hàng hóa,song có thể dựa vào quy định về hình thức của hợp đòng mua bán
theo Điều 24 LTM 2005 để xác định hình thức của đề nghị hợp đồng theo đó đề nghị
hợp đòng có thể dược thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc kết hợpgiữa các hình thức này
Đề nghị hợp đồng được gửi đến cho một hay nhiều chủ thể đã xác định Đề nghị
đó phải được gửi đích danh và nội dung của đề nghị đó phải rõ ràng, có ý định đặt quan hệmua bán hàng hóa thực sự Đề nghị được coi là rõ ràng nếu trong đó xác định mặt hàngmột cách trực tiếp hoặc gián tiếp, số lượng hàng, giá cả, thủ tụ Bên đề nghị giao kết hợpđồng có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp baogồm: bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thông báo về việc thay đổi hoặc rútlại đề nghị trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị; điều kiện thay đổi hoặc rút lại
đề nghị phát sinh trong trường hợp bên dề nghị có nêu rõ về việc được thay đôi hoặc rútlại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Nếu bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì
đề nghị đó được coi là đề nghị mới (Điều 392 BLDS 2015) Đề nghị giao kết hợp đồngchấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau: bên nhận được đề nghị trả lời không chấpnhận; hết thời hạn trả lời cháp nhận; thông báo về việc rút lại đề nghị có hiệu lực; thôngbáo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được
đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việcchấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồngđược xác định tùy từng trường hợp cụ thể Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lờithì việc trả lời chấp nhận thì chỉ hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó Hoặckhi các bên trực tiếp tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua cácphương tiện khác thì bên đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấpnhận,trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời Bên đề nghị giao kết hợp đồng
có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trướchoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
Trang 25Thời điểm giao kết hợp đồng.
Việc xác định thời điển giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩ quantrọng trong việc khẳng định sự tồn tại của hợp đồng,là cơ sở để xác định phát sinhquyền và nghĩ vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa Về nguyên tắcchung, hợp đồng mua bán được giao kết vào thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận.Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán được quy định tại Điều 400 BLDS2015
Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trườnghợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác (Điều 401 BLDS 2015)
1.3.2 Các quy định về thực hiện hợp đồng, quyền và nghĩa vụ mỗi bên trong hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa sau khi đã được giao kết, các bên cần phải thựchiện nghiêm chỉnh tất cả những cam kết trong hợp đồng, cụ thể là thực hiện theo đúngnội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng LTM quy định những nộidung đặc thù về mua bán hàng hóa với tính chất là một hoạt động thương mại Trongtrường hợp cần có những quy định chuyên biệt trong những hoạt động thương mại cụthể thì luật chuyên ngành sẽ điều chỉnh theo tính chất chuyên biệt trong hoạt độngchuyên ngành theo nguyên tắc áp dụng luật thì sẽ ưu tiên áp dụng các quy định về hợpđồng chuyên ngành đó
Quyền và nghĩa vụ của bên bán.
Thứ nhất là nghĩa vụ của bên bán Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quyđịnh của hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quyđịnh khác trong hợp đồng Điều 35 – LTM 2005 quy định bên bán phải giao hàng vàođúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp bên bán giaohàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàngnếu có thỏa thuận khác (Điều 38 – LTM 2005) Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đếnhàng hóa được quy định tại Điều 42 – LTM 2005 Một trong các nghĩa vụ của bên bán
là phải kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng Bên bán phải chịu những khiếm khuyếtcủa hàng hóa mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếmkhuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện phápthông thường và bên bán biết hoặc không thể không biết về các khiếm khuyết đónhưng không thông báo cho bên mua (Khoản 5 –Điều 44 – LTM 2005) Bên bán còn
có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa Ngoài ra, bên bán không đượcbán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều 46 – LTM 2005) Trường hợp hànghóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo
Trang 26nội dung và thời hạn đã thỏa thuận và phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừtrường hợp có thỏa thuận khác (Điều 49 – LTM 2005).
Thứ hai là quyền của bên bán Bên bán có quyền nhận tiền bán hàng theo thỏathuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa Nếu bên bán chậm nhận được hoặc khôngnhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thì bên bán có quyền áp dụng các biệnpháp do LTM 2005 quy định để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình Điều 306 – LTM
2005 quy định bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãisuất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thờigian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.Ngoài ra bên bán có thể áp dụng các hình thức chế tài theo quy định của LTM 2005
Quyền và nghĩa vụ của bên mua.
Điều 50, Điều 55 – LTM 2005 quy định bên mua có nghĩa vụ: Thanh toán tiềnmua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận; tuân thủ các phương thức thanh toán, thựchiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của phápluật; Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liênquan đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền hàng trong trường hợp hàng hóamất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừtrường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra
Đồng thời, bên mua có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trườnghợp: Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanhtoán; Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyềntạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết; Bên mua có bằngchứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừngthanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù hợp đó
1.3.3 Các quy định về trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng
Khái niệm
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm hợp đồng đã cam kết
Theo Khoản 12 và 13 -Điều 3 - LTM 2005:
Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các hoặc theo quy định của Luật Thương mại
Vi phạm hợp đồng bao gồm vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản Vi phạm
cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm chobên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng
Các hình thức trách nhiệm pháp lý
Trang 27LTM 2005 (Mục 1, Chương VII) đã quy định bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm các thỏa thuận giữa các bên chủ thể Các hình thức chế tài thương mại theo quy định tại Điều 292 là: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phạt
vi phạm; Buộc bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng; Hủy bỏ hợp đồng; Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với pháp luật
Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Khi một bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủnghĩa vụ quy định trong hợp đồng thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền yêu cầubên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc áp dụng biện pháp khác để hợp đồng đượcthực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh (Điều 297 – LTM 2005) Thôngthường, đây là biện pháp được ưu tiên áp dụng trước khi áp dụng các biện pháp khác.Chế tài này áp dụng trong trường hợp:
- Khi bên vi phạm giao thiếu hàng thì phải giao đủ hàng theo đúng thỏa thuậntrong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giao hàng hóa kém chất lượng thì phải loạitrừ khuyết tật của hàng hóa hoặc giao hàng khác thay thế theo đúng hợp đồng Bên viphạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại để thay thế nếu không được sựchấp nhận của bên bị vi phạm
- Khi bên vi phạm không thực hiện theo quy định nêu trên thì bên bị vi phạm cóquyền mua hàng của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa ghi trong hợpđồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; cóquyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tếhợp lý
- Bên bị vi phạm phải nhận hàng và thanh toán tiền hàng nếu bên vi phạm đãthực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quyđịnh của pháp luật
Phạt vi phạm
Điều 300 – LTM 2005 quy định: "Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầubên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏathuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của Luật Thương mại"
Các bên có thể thỏa thuận mức phạt đối với một vi phạm hoặc tổng mức phạtđối với nhiều vi phạm, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị viphạm (Điều 301- LTM 2005)
Buộc bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là việc buộc bên vi phạm trả tiền bồi thường những tổn thất
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổnthất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi
Trang 28trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều
300 và Điều 301 – LTM 2005)
Các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng: Tất cả những hành vi không theo đúng cam kếttrong hợp đồng đều bị coi là vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, không phải tất cả nhữnghành vi ấy đều dẫn đến việc áp dụng hình thức trách nhiệm pháp lý bồi thường thiệthại Chỉ những hành vi nào trực tiếp dẫn đến những thiệt hại vật chất mà bên kia phảigánh chịu mới tạo thành cơ sở của hình thức bồi thường thiệt hại
- Có thiệt hại thực tế: Những thiệt hại này phải là thiệt hại về vật chất và lànhững thiệt hại thực tế, tức là phải có thể tính toán và chứng minh được chứ khôngphải là do suy diễn mà có Thiệt hại về khoản đáng lẽ thu được nhưng bị bỏ lỡ lànhững khoản thu đã được dự liệu khi ký hợp đồng hay ít ra là từ trước khi có hành vi
vi phạm Bên có thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh tổn thất và mức độ tổn thất(Điều 304 – LTM 2005)
- Mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng của một bên và thiệt hạivật chất của bên kia: Hành vi vi phạm hợp đồng của một bên là nguyên nhân trực tiếp
và cơ bản dẫn đến thiệt hại của bên kia và thiệt hại này là kết quả không thể tránh khỏicủa hành vi vi phạm hợp đồng Bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài buộc bồithường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm nếu các bên có thỏa thuận trước đó về phạt viphạm
(2) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực Trong khi đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại
Trang 29thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nữa Bên
đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đốiứng Bên bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định củaLTM
Hủy bỏ hợp đồng
Điều 312 - LTM 2005 quy định, bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền tuyên bốhủy hợp đồng nếu việc vi phạm của bên kia là điều kiện để hủy hợp đồng mà các bên
đã thỏa thuận Đây là một quy định mới so với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989
về các trường hợp áp dụng chế tài hủy hợp đồng Chế tài hủy hợp đồng mua bán hànghóa do các bên thỏa thuận và cần phải ghi vào hợp đồng trong điều khoản: "điều kiệnhủy hợp đồng" Chế tài hủy bỏ hợp đồng còn được áp dụng trong các trường hợp mộtbên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Hủy bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộhợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng
Việc hủy hợp đồng sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý sau:
- Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợpđồng Hợp đồng bị hủy sẽ không còn hiệu lực kể từ thời điểm giao kết
- Mỗi bên có quyền đòi hỏi lại lợi ích cho việc đã thực hiện phần nghĩa vụ củamình theo hợp đồng Nếu do việc hủy hợp đồng mà các bên đều có nghĩa vụ bồi hoànthì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời Nếu không thể hoàn trả được bằngchính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền
- Quyền đòi bồi thường thiệt hại do hủy hợp đồng thuộc về bên bị vi phạm(Điều 314 – LTM 2005)
Đối với vi phạm không cơ bản thì bên bị vi phạm không được áp dụng chế tàitạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng,trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Các trường hợp miễn trách nhiệm
Điều 294 – LTM 2005 quy định trong một số trường hợp bên vi phạm đượcmiễn trách nhiệm Cụ thể bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong cáctrường hợp sau đây:
- Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận;
- Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
- Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
- Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lýNhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợpđồng
Trang 30Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp mình được miễn trách nhiệm.
1.3.4 Các quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh
Giải quyết tranh chấp là việc điều chỉnh các bất đồng, các xung đột dựa trênnhững căn cứ và bằng những phương thức khác nhau do các bên lựa chọn Về mặtpháp lý, các phương thức đó phải được pháp luật thừa nhận Theo Điều 317 LTM 2005thì các hình thức giải quyết tranh chấp trong thương mại bao gồm: thương lượng giữacác bên; hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bênthỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải; giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án
Thương lượng giữa các bên
Trong đại đa số trường hợp khi bắt đầu phát sinh tranh chấp, các bên tự nguyện
và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡ bất đồng vớimục đích chung là gìn giữ mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và lâu dài giữa họ Thươnglượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quá trình tố tụng tại Tòa
án hoặc Trọng tài
Hòa giải giữa các bên
Một số nguyên tắc hòa giải tranh chấp trong kinh doanh, thương mại:
- Hòa giải phải được dựa trên tự do ý chí của các bên tranh chấp về phương pháp,quy trình, lựa chọn hòa giải viên, tự do trong thỏa thuận, đề xuất giải pháp hay thỏa thuậnchấp nhận ý kiến giải quyết do hòa giải viên đưa ra cũng như khi quyết định chấm dứt hòagiải để chuyển sang sử dụng các phương pháp giải quyết tranh chấp khác;
- Hòa giải chủ yếu theo nguyên tắc "khách quan, công bằng, hợp lý";
- Hòa giải sẽ lập tức chấm dứt nếu hai bên không đạt được thỏa thuận hoặc nếumột trong hai bên không muốn tiếp tục hòa giải
Hiệu lực của kết quả hòa giải:
Tính chất tự nguyện của hòa giải dẫn đến những hạn chế về hiệu lực của thỏathuận hòa giải và hiệu lực của thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải Thỏa thuận hòa giảikhông có tính chất bắt buộc như thỏa thuận Trọng tài, do đó, trên thực tế không có Tòa
án nước nào lại ra lệnh đình chỉ vụ kiện vì lý do một bên không thực hiện thỏa thuậnhòa giải Thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải không bắt buộc thi hành như phán quyếtcủa Tòa án hay của Trọng tài Hiệu lực cao nhất của thỏa thuận giải quyết bằng hòagiải chỉ giống như một điều khoản hợp đồng ràng buộc các bên Để phát huy các ưuđiểm hòa giải và tăng cường các cơ hội lựa chọn sử dụng hòa giải đồng thời nâng caohiệu lực của hòa giải thì có thể sử dụng kết hợp hòa giải với các phương pháp giảiquyết tranh chấp khác như: Kết hợp thương lượng và hòa giải với Trọng tài hay hòagiải kết hợp với tố tụng tư pháp
Trang 31Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp theo thủ tục Trọng tài
Trọng tài là phương pháp giải quyết tranh chấp bằng cách giao vấn đề tranhchấp cho người thứ ba là các trọng tài viên để họ xét xử và ra quyết định cuối cùngtrong trường hợp các bên không dàn xếp được với nhau mà lại không muốn đưa vụtranh chấp ra xét xử tại tòa án Văn bản pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp theothủ tục Trọng tài ở Việt Nam là Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Ủy ban thường
vụ Quốc hội thông qua ngày 25/2/2003 và Nghị định số 25/2004 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, sau đó đến năm 2010 thaybằng Luật Trọng tài Thương mại 2010
Các quyết định và phán quyết của Trọng tài có thể được Tòa án công nhận vàcho thi hành thông qua một thủ tục tư pháp Mặc dù các phán quyết của Trọng tài làkết quả của sự thỏa thuận có tính chất riêng tư giữa các bên tranh chấp và do một Hộiđồng Trọng tài hoặc một Trọng tài viên duy nhất ban hành (mà bản thân hợp đồng đóchấm dứt nhiệm vụ và không còn tồn tại sau khi ra phán quyết) nhưng giá trị bắt buộccủa phán quyết của Trọng tài đối với các bên vẫn được pháp luật nước ta công nhận
Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nhà nước ta Theo Luật Tổ chức Tòa ánnhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân xết xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân vàgia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy địnhcủa pháp luật
Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định: Những tranh chấp về kinh doanh,thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổchức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bánhàng hóa; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuêmua; Tư vấn về kỹ thuật; Xây dựng; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đườngsắt, đường thủy, nội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không,đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị; Đầu tư, tài chính,ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổchức với nhau có mục đích lợi nhuận;
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên công tyvới nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia,tách, chuyển đổi hình thức của công ty;
Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
Trang 32Về thẩm quyền của Toà án trong việc xét xử các vụ án về tranh chấp thươngmại (vụ án kinh tế), pháp luật phân biệt thẩm quyền của Toà án theo cấp, thẩm quyềncủa Toà án theo lãnh thổ và thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn.
Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định thẩm quyền của Toà án các cấp như sau:
Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩmnhững tranh chấp về kinh doanh thương mại
Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm nhữngtranh chấp về kinh doanh, thương mại, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giảiquyết của Toà án nhân dân cấp huyện
Về thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ, Toà án có thẩm quyền giải quyết sơthẩm các vụ án kinh tế là Toà nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ ánchỉ liên quan đến bất động sản thì Toà án nơi có bất động sản giải quyết
Pháp luật quy định nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án để giải quyết các vụ
án trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự2015
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH THANH BÌNH 2.1 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
2.1.1 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Thực trạng pháp luật về chủ thể của hoạt động giao kết HĐMBHH
Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tương ứng là bên mua và bên bántrong quan hệ hợp đồng này Theo quy định của LTM 2005, ít nhất một trong các bênchủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa là thương nhân Thương nhân bao gồm tổchức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độclập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh ( Khoản 1, Điều 6 LTM 2005) Các tổchức kinh tế được thành lập hợp pháp có thể bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức kinh
tế khác Thương nhân là cá nhân bao gồm các hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinhdoanh và tiến hành hoạt động một cách thường xuyên độc lập Bên cạnh đó các chủthể của hoạt động mua bán hàng hóa còn là cá nhân, tổ chức khác không phải làthương nhân tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa vì mục đích lợi nhuận
Bên cạnh việc chấp hành nguyên tắc chủ thể giao kết có đủ thẩm quyền Hợpđồng mua bán hàng hóa có thể do bên đại diện giao kết (đại diện theo pháp luật hoặcđại diện theo ủy quyền đáp ứng đủ các năng lực chủ thể và năng lực hành vi theo nhưquy định tại Điều 16, Điều 19 BLDS 2015) Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng bao
gồm cá nhân và tổ chức Đáp ứng các điều kiện“Chủ thể có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”.
Theo đó, cá nhân, tổ chức tham gia giao kết hợp đồng phải có đủ năng lực hành
vi và năng lực pháp luật dân sự phù hợp với từng loại hợp đồng
Đối với cá nhân:
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự (Điều 16 BLDS 2015)
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi củamình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 19 Bộ luật dân sự) Thôngthường, người từ đủ 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sụ đầy đủ, trừ một số
Trang 34trường hợp: Người mất năng lực hành vi dân sự; Người bị hạn chế năng lực hành vidân sự, Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
Với tổ chức, pháp nhân, thương nhân: Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóađược thực hiện bởi người đại diện hợp pháp của thương nhân Đại diện hợp pháp củathương nhân giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm đại diện theo pháp luật vàđại diện theo ủy quyền
Trên Thực tế có rất nhiều doanh nghiệp thiếu hiểu biết về người có thẩm quyền
ký kết hợp đồng và dẫn đến nhứng rủi ro cho các bên chủ thể hợp đồng, do đó đểphòng tránh điều này các chủ thể nên kiểm tra giấy ủy quyền hoặc Điều lệ, quy chếhoạt động của đối tác trước khi giao kết hợp đồng
Giao kết hợp đồng không đúng thẩm quyền sẽ không làm phát sinh quyền vànghĩa vụ của các bên trừ trường hợp người đại diện hợp pháp của bên được đại diệnchấp nhận Do đó trước khi giao kết hợp đồng các bên chủ thể hợp đồng phải kiểm trathông tin về vi phạm thẩm quyền được giao kết của người đại diện theo pháp luật.Như vậy LTM 2005 có quy định chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa nóiriêng và chủ thể của hoạt động thương mại nói chung, các chủ thể được quy định mộtcách cụ thể rỏ ràng đáp ứng những quy định nhất định đêt trở thành chủ thể giao kếthợp đồng
Tuy nhiên hiện nay theo quy định của LTM 2005 thì khái niệm về thương nhâncòn khá phức tạp “ thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá
Trang 35nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinhdoanh” ( k1- Điều 6 LTM 2005)
Thực tế cho thấy khái niệm về thương nhân chỉ cần được quy định trên cơ sở cáctiêu chí mang tính chất của thương nhân là có hoạt động thương mại và trên mục đíchlợi nhuận là đủ
Đặc điểm “độc lập, thường xuyên” được tham khảo từ LTM của Pháp, mang tínhchỉ tính chất nghề nghiệp của những người hoạt động thương mại Vậy cụm từ phảiđăng ký kinh doanh là không cần thiết
Thực trạng pháp luật về hình thức của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Pháp luật thương mại cụ thể là tại điều 24 Luật TM 2005 có quy định về hìnhthức của hợp đồng mua bán hàng hóa: hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằnglời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợpđồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phảituân theo các quy định đó Chủ yếu các hợp đồng trong hoạt động thương mại, hợpđồng mua bán hàng hóa được lập thành văn bản Tại Điều 24- LTM 2005 cũng quyđịnh hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa được lập bằng văn bản hoặc các hình thứckhác có giá trị pháp lý tương đương với văn bản Các hình thức có giả trị tương đươngvăn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theoquy định của pháp luật Như vậy luật pháp vẫn đưa ra 3 hình thức của hợp đồng để cácbên có thể tự do lựa chọn nhằm thuận lợi cho việc giao kết hợp đồng tuy nhiên đâymới là hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa còn hình thức của giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa chưa có quy định, hợp đồng theo đó chiếu sang BLDS 2015 về cácquy định chung của giao dịch dân sự ta thấy tại điều 119- BLDS 2015:
Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụthể
1 Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữliệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng vănbản
2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản cócông chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó
Như vậy về bản chất chung thì giao kết hợp đồng cũng được thể hiện dưới 3 hìnhthức lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể mà chính xác hơn là một đề nghị giao kết hợpđồng mua bán hàng hóa và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ
Trang 36được thể hiện thông qua 3 hình thức này Bản chất của giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa là sự thỏa thuận.Việc giao kết hợp đồng dân sự cũng được xác lập trên cơ sởcủa sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên Quá trình giao kết hợp đồng dân sựdiễn ra với 2 yếu tố: sự bày tỏ ý chí và sự chấp nhận ý chí
Tuy nhiên quy định về hình thức của hợp đồng nói chung và giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa nói riêng của LTM 2005 như vậy là chưa bao quát hết được thựctiễn trong hoạt động thương mại Bởi ngày nay theo thời gian, với sự phát triển bùng
nổ của khoa học- kỹ thuật- công nghệ thì ngày càng nhiều hình thức văn bản cũng nhưcách thể hiện hành vi con người trở nên phong phú, phức tạp hơn
Thực trạng pháp luật về nội dung của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Pháp luật tôn trọng quyền tự do thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa, theo đó các nội dung giao kết do các chủ thể tự xây dựng tuy nhiên khi cácbên chủ thể hợp đồng không thỏa thuận một số nội dung nghĩa vụ thực hiện hợp đồngthì để phòng ngừa rủi ro phát sinh từ hợp đồng trong các trường hợp không có thỏathuận sẽ áp dụng như sau:
Thứ nhất, trường hợp không có thỏa thuận về giá
Điều 52 LTM 2005 quy định: trường hợp không có thỏa thuận về giá cả hànghóa, không có thỏa thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉdẫn nào khác về giá của loại hàng hóa được xác định theo giá của loại hàng hóa đóđược xác định theo giá của loại hàng hóa đó trong các điều kiện tương tự về phươngthức giao hàng, về thời điểm mua bán hàng hóa, thị trường địa lý, phương thức thanhtoán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá
Quy định này tại BLDS được quy định tại k2- Điều 433: “Trường hợp không cóthỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, phương thức thanh toán thì giá đượcxác định theo giá thị trường…” So với BLDS 2015 điều 433, LTM 2005 quy định cáchxác định về giá khi các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng cụ thể, chi tiết hơn vàgiải thích về cụm từ “giá thị trường” là loại giá của hàng hóa cùng loại hàng hóa đótrong điều kiện tương tự
Thứ hai không có thỏa thuận về chất lượng của hàng hóa
Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hóa được coi là khôngphù hợp với hợp đồng đó thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1Điều 39 LTM 2005
Bên mua có quyền từ chối nhận hàng không phù hợp với hợp đồng thuộc cáctrường hợp trên
Như vậy LTM 2005 đưa ra những quy định chung chung để xác định chất lượngcủa hàng hóa, tài sản khi các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng Với những cụm
Trang 37từ như: mục đích sử dụng thông thường, cách thứ thích hợp, cách thức bảo quản thôngthường sẽ gây khó khăn trong việc xác định chất lượng của hàng hóa và giải quyếttranh về chất lượng hàng hóa khi các bên không có thỏa thuận hợp đồng.
BLDS 2015 đã khắc phục những nhược điểm về kỹ thuật lập pháp trong LTM khiquy định về việc xác định chất lượng hàng hóa trong trường hợp các bên không cóthỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản Theo đó chất lượng của tài sản mua bánđược xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề hoặc được xác địnhtheo tiêu chuẩn thông thường hoặc tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợpđồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ ba, trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng
Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm được xácđịnh theo Điều 35 LTM 2005
Như vậy pháp luật đã quy định về địa điểm giao hàng một cách cụ thể, chi tiết đểtạo một khung pháp lý chung cho các bên khi thực hiện hợp đồng và tránh được rủi rokhi quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa về nội dung các bên vô tình bỏ sótquy định này
Tuy nhiên có một vấn đề mà tại điều 62 của LTM 2005 có quy định về nội dungcủa hợp đồng mua bán hàng hóa mà các bên chủ thể giao kết không đưa ra tuy nhiênluật có quy định cụ thể là về thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa: “Thời điểmchuyển quyền sở hữu hàng hóa Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cácbên thỏa thuận khác, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua kể
từ thời điểm hòng hóa được chuyển giao”
Hiện nay đại bộ phận hợp đồng mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp ViệtNam với các đối tác nước ngoài không bao giờ quy định thời điểm nào thì quyền sởhữu hàng hóa được chuyển giao, trong khi đại bộ phận hàng Việt Nam xuất khẩu theođiều kiện FOB còn nhập khẩu thì theo điều kiện CIF hoặc CFR Như vậy theo tinhthần và quy định nói trên của Điều 62 thì sau khi giao hàng xuống tàu ở cảng ViệtNam gần như mặc nhiên quyền sở hữu hàng đã nằm trong tay người mua của nướcngoài trong khi đó việc thu hồi tiền bán hàng ở Việt Nam sẽ gặp khá nhiều rủi ro
Thực trạng pháp luật về quy trình giao kết hợp đồng
*Về đề nghị giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa không được quy định tại LTM
2005 do đó ta sẽ dẫn chiếu đến một số quy định chung về đề nghị giao kết hợp đồngtại BLDS 2015
Trang 38Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 quy định “đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể
hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng”
Đề nghị giao kết hợp đồng bản chất là ý chí của một bên chủ thể mong muốn xáclập hợp đồng với chủ thể khác theo những điều kiện xác định, đề nghị giao kết hợpđồng là sự thể hiện ý định giao kết và chịu sự ràng buộc về đề nghị đối với bên được
đề nghị đã được xác định trước hoặc tới công chúng BLDS 2015 và cả LTM 2005 đềukhông quy định hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng nhưng về nguyên tắc, hìnhthức của đề nghị giao kết phải phù hợp với hình thức của hợp đồng theo đó đề nghịgiao kết hợp đồng được thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc kếthợp giữa các hình thức này
Ý chí của một bên chủ thể chỉ được coi là đề nghị giao kết hợp đồng khi thỏamãn các yếu tố sau:
Thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện ý chí muốn giao kết của bêngửi đề nghị tới bên được đề nghị
Thứ hai, đề nghị giao kết phải được gửi đến chủ thể xác định hoặc gửi đến côngchúng
Thứ ba, bên đề nghị phải chịu trách nhiệm với lời đề nghị của mình
Đề nghị giao kết có thể được thay đổi, rút lại trong các trường hợp nếu bên được
đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại trước hoặc cùng thời điểmnhận được đề nghị Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợpbên đề nghị có nêu rõ về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Ngay cả trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng chưa chấm dứt hiệu lực, bên
đề nghị giao kết cũng không bị ràng buộc trách nhiệm với lời đề nghị giao kết nếu thayđổi hoặc rút lại đề hoặc hủy bỏ đề nghị
Ngoài ra vì một số lý do nhất định, bên đề nghị có thể hủy bỏ đề nghị điều nàyđược pháp luật quy định như sau:
Điều 394 BLDS 2015 quy định chấm dứt đề nghị giao kết trong các trường hợpsau:
- Bên nhận được đề nghị giao kết trả lời không chấp nhận;
- Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
- Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
- Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực;
- Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờbên được đề nghị trả lời
Trang 39Tuy nhiên việc hủy bỏ đề nghị bên đề nghị phải nêu rõ quyền này trong đề nghị
và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người nàygửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Như vậy pháp luật có quy định rõ ràng về đề nghị giao kết hợp đồng từ kháiniệm, hiệu lực cũng như thay đổi rút lại đề nghị hủy bỏ đề nghị
Tuy nhiên có thể thấy một số vấn đề trong khái niệm về đề nghị giao kết hợpđồng còn chưa cụ thể, rõ ràng, dẫn đến gây nhiều khó khăn cho quá trình áp dụng.Thực tế, quy định về đề nghị giao kết theo BLDS 2005 có thể hiểu theo nhiều cách
khác nhau Một là, lời đề nghị phải được gửi đến bên được đề nghị cụ thể, chứ không phải chung chung Hai là, đề nghị không gửi đến “đích danh” một chủ thể nào nhưng
lời đề nghị có nêu rõ nội dung và chủ thể được đề nghị
Khác so với BLDS 2005, khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 quy định “đề nghị giao
kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng” Quy
định mới này đã lược bỏ cụm từ “cụ thể” của quy định cũ đồng thời mở rộng thêm chủ thể là “công chúng” Như vậy, với quy định mới, khái niệm “đề nghị giao kết hợp
đồng” mang tính bao quát và phù hợp hơn cho thực tiễn áp dụng BLDS 2015 thay đổimang lại sự hợp lý hơn cho hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng nói chung và giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng
*Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Sau khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, bên được đềnghị có thể: Chấp nhận; Từ chối; Sửa đổi hợp đồng
Xét riêng về chấp nhận đề nghị được quy định tại BLDS 2015
Tại điều 396 BLDS 2015 có quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là
sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”.
Theo quy định này ta có thể thấy:
Thứ nhất, bên đề nghị phải chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị
Thứ hai, bên được đề nghị phải trả lời trong thời gian do bên đề nghị ấn địnhhoặc hai bên thỏa thuận hoặc theo thói quen giao kết hợp chung giữa hai bên
Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghịđối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng Khi bên được đề nghịchấp nhận thì lúc này đề nghị giao kết hợp đồng được coi như là một thỏa thuận có sựràng buộc giữa hai bên Trong trường hợp mà bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thìviệc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu bên đềnghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết hạn trả lời thì chấp nhận này được
Trang 40coi như đề nghị mới của bên chậm trả lời Trong trường hợp thông báo chấp nhận giaokết đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do kháchquan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn còn hiệu lực trừ trường hợpbên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị
Ngoài ra bên được đề nghị có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng,nếu thông báo về việc rút lại này được đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đè nghịnhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
Trên thực tế, trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể dưới nhiều hìnhthức như gặp trực tiếp, gửi thông báo; sự im lặng của bên đề nghị sau khi nhận được
đề nghị giao kết thường không được coi là chấp nhận trừ trường hợp giữa các bên đã
có thỏa thuận hoặc thói quen kinh doanh được xác lập giữa các bên Tuy nhiên vấn đềnày trước đây còn gặp nhiều ý kiến trái chiều bởi sau khi đề nghị được chuyển đếnngười nhận, người này có thể trả lời chấp nhận, từ chối hoặc sửa đổi đề nghị Tuynhiên, cũng có trường hợp trong quá trình giao kết, đôi khi một bên không nói rõ quanđiểm của mình Nói cách khác, họ đã im lặng trong thời điểm này Như vậy, im lặng cóđược xem là giao kết hợp đồng hay không? Vấn đề này đã tồn tại trong BLDS 2005,tuy nhiên đến BLDS 2015 đã được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp hơn Theo đó, Điều
393 BLDS 2015 có bổ sung thêm quy định mới mà trước đó chưa tồn tại trong BLDS
2005: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.
Về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, khi bên được đề nghị nhận được
đề nghị giao kết hợp đồng, nếu đề nghị giao kết hợp đồng có ấn định thời hạn trả lờithì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó Vậytrong trường hợp nếu bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời thì sẽ như thế nào?Vấn đề này chưa được nêu trong BLDS 2005 BLDS 2015 (khoản 1 Điều 394) đã bổsung thêm quy định này, theo đó khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việctrả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý Quyđịnh mới này đã lấp được “khoảng trống” cho trường hợp khi đề nghị giao kết khôngnêu thời hạn
Như vậy về cơ bản BLDS 2015 ra đời với các quy tắc chung trong chấp nhận đềnghị giao kết hợp đồng đã khắc phục được một số điểm bất cập của hoạt động này
*Thời điểm giao kết hợp đồng.
Thời điểm giao kết hợp đồng được quy định khác nhau phụ thuộc vào cáchthức giao kết và hình thức của hợp đồng Theo Điều 400 BLDS 2015 có quy định vềthời điểm giao kết hợp đồng dân sự