Bài giảng Quản lý công nghệ - Bài 4: Đổi mới công nghệ phân tích được quan niệm về đổi mới công nghệ, phân biệt giữa đổi mới và cải tiến công nghệ; cơ sở và cơ chế đổi mới công nghệ; phân tích được các mô hình đổi mới công nghệ; hiểu được các phương pháp đánh giá kết quả đổi mới công nghệ...
Trang 1BÀI 4 ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Hướng dẫn học
thảo luận trên diễn đàn
Giáo trình “Quản lý công nghệ”, Bộ môn Quản lý công nghệ, NXB ĐH Kinh tế Quốc
dân, 2013
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Nội dung
Mục tiêu
công nghệ;
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Nơi góp phần tiết kiệm 5,51 tỷ kwh điện
Tạp chí Forbes Việt Nam phiên bản tiếng Việt vừa công bố Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng đông là một trong 50 công ty niêm yết tốt nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Đây là tin vui khẳng định hướng đi đúng đắn của công ty trong đầu tư nghiên cứu công nghệ sản xuất các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, nhằm chung tay cùng cả nước thực hiện chương trình tiết kiệm điện
Đèn LED do Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông sản xuất vượt trội so với đèn huỳnh quang Cụ thể, so sánh đèn LED panel 600600 so với bộ đèn huỳnh quang 600600 18Wx3, thì
sử dụng đèn LED giúp giảm hơn 35% điện năng, quang thông hiệu dụng cao hơn gấp 2 lần, góc
mở rộng hơn 30% và tuổi thọ của đèn cao hơn 3 lần Kết quả so sánh giữa sản phẩm đèn LED do công ty sản xuất với đèn huỳnh quang có cùng kích thước đều cho kết quả vượt trội về hiệu quả Tiết kiệm điện hơn, tuổi thọ dài hơn và đặc biệt không phát sinh ra tia tử ngoại, không sử dụng thủy ngân nên rất thân thiện với môi trường
Ngoài ra, công nghệ chế tạo bóng đèn compact của công ty đã tăng tuổi thọ của đèn đạt tới 10.000 giờ, tăng 66% so với trước Theo tính toán của Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông, các sản phẩm dán tem Ngôi sao năng lượng đó góp phần tiết kiệm được 5,51 tỷ kwh điện trong giai đoạn 2010 – 2012 Việc chế tạo thành công bột huỳnh quang 3 phổ đó giảm 50% chi phí so với nhập khẩu
Ông Đỗ Hải Triều, Phó trưởng Phòng Thị trường, cho biết, sở dĩ đạt được kết quả trên là do công
ty đầu tư chiều sâu vào đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại và tiết kiệm năng lượng
Công ty đã thành lập Trung tâm R&D Rạng Đông từ tháng 3/2011 dưới sự điều hành của tiến sỹ
Đỗ Xuân Thành, nguyên phó Viện trưởng Viện khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam Trung tâm đã trở thành nơi nghiên cứu về nguồn sáng và thiết bị chiếu sáng chuyên nghành và liên ngành đầu tiên của Việt Nam với sự tham gia của hơn 50 nhà nghiên cứu Năm 2012, công ty đã dành tới 20% lợi nhuận sau thuế (khoảng trên 21 tỷ đồng) cho hoạt động của R&D nhằm kiên định chủ trương phát triển bền vững, giảm rủi ro thị trường và xoá bỏ tận gốc kiểu đầu tư theo lối “ăn may”
Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, đại diện công ty cho hay, chỉ tính hết 8 tháng đầu năm
2013, doanh số tiêu thụ của công ty đạt 1.472,4 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2012, lợi nhuận của 6 tháng đầu năm tăng 25,8% so với cùng kỳ Trước đó, năm 2012, do lượng sản phẩm tiêu thụ tốt nên doanh thu của công ty cũng đó đạt 2208 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt gần 100
tỷ đồng, trong đó xuất khẩu chiếm tới 10% lượng sản phẩm, đảm bảo thu nhập ổn định cho 3.400 cán bộ, công nhân viên
Nguồn: Báo Tiền Phong số 02/10/2013
Trang 34.1 Khái niệm về đổi mới công nghệ
Lịch sử tiến bộ của xã hội loài người diễn ra chủ yếu nhờ thay đổi công cụ và phương pháp sản xuất Sự thay đổi đó là sự thay đổi công nghệ Sự thay đổi có tiến bộ công nghệ là đổi mới công nghệ
Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ Có quan điểm cho rằng đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế – xã hội Với quan điểm này một sự thay đổi trong các thành phần công nghệ dù nhỏ cũng được coi là đổi mới công nghệ, thực ra đây chỉ là cải tiến công nghệ Mặt khác hệ thống công nghệ mà con người đang sử dụng có tính phức tạp và đa dạng cao, chỉ một loại sản phẩm đã có thể dùng rất nhiều loại công nghệ khác nhau, do đó nếu xếp tất cả các thay đổi nhỏ về công nghệ thuộc về đổi mới công nghệ thì việc quản lý đổi mới công nghệ là việc làm không có tính khả thi Để có thể quản lý được các hoạt động đổi mới thì cần tập trung vào những hoạt động cơ bản Để phân biệt cải tiến, hợp lý hóa với đổi mới công nghệ
có thể tham khảo các cách phân biệt sau:
Tính chất Dựa trên cái cũ Loại bỏ cái cũ, xây dựng trên nguyên tắc mới Đặc trưng Thích nghi cho tốt hơn Hoạt động mang đặc trưng nghiên
cứu và triển khai
Điều kiện Vốn ít, nhưng đòi hỏi nỗ lực duy trì
thường xuyên liên tục
Vốn lớn, rủi ro cao; nhân lực trình
độ cao
Đánh giá kết quả Tốt hơn, cần khoảng thời gian dài Thay đổi đột ngột; năng suất, chất
lượng thay đổi rõ rệt
Do đó khái niệm đổi mới công nghệ được hiểu như sau:
Đổi mới công nghệ là việc thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn
Đổi mới công nghệ có thể chỉ nhằm giải quyết các bài toán tối ưu các thông số sản xuất như năng suất, chất lượng, hiệu quả… (đổi mới công nghệ quá trình) hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường (đổi mới công nghệ sản phẩm) Đổi mới công nghệ có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới (ví dụ: sáng chế công nghệ mới) chưa có trên thị trường công nghệ hoặc là mới ở nơi
sử dụng nó lần đầu và trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới (ví dụ: đổi mới công nghệ nhờ chuyển giao công nghệ)
4.1.2.1 Đổi mới công nghệ là tất yếu
Mỗi công nghệ có một vòng đời và tạo ra một chu kỳ sản phẩm Đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển
Trang 4Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do các lợi ích khác nhau cho doanh nghiệp đổi mới cũng cho toàn xã hội nói chung Các lợi ích đó là:
(1) Nâng cao chất lượng sản phẩm;
(2) Duy trì và tăng thị phần;
(3) Mở rộng phẩm cấp sản phẩm, tạo thêm chủng loại mới của sản phẩm;
(4) Đáp ứng được các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ;
(5) Giảm tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng;
(6) Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao độ an toàn sản xuất;
(7) Giảm tác động xấu đối với môi trường sống
Xét về mặt quốc gia có những đổi mới công nghệ còn nhằm nâng cao vị thế của quốc
gia trên trường chính trị quốc tế, đặc biệt là các đổi mới trong công nghệ quân sự
4.1.2.2 Cơ sở của đổi mới công nghệ
Ngày nay quá trình đổi mới công nghệ gắn liền với sự phát triển của khoa học, thành tựu của khoa học chính là cơ sở của đổi mới công nghệ Sự tăng trưởng theo quy luật hàm số mũ của các phát minh và sáng chế hiện nay đã rút ngắn vòng đời của công nghệ Đổi mới công nghệ dựa trên các phát minh và sáng chế
Phát minh là việc khám phá ra những hiện tượng, quy luật của tự nhiên và xã hội đã
tồn tại hiển nhiên mà trước đây loài người chưa biết đến, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người Phát minh có khi là kết quả của sự ngẫu nhiên (định lý sức nâng của chất lỏng của Ac–si–met) và nghiên cứu cơ bản (cơ chế phản ứng dây
chuyền hạt nhân của Pie Qui–ri) Sáng chế là việc làm ra những cái mới chưa từng có
trong tự nhiên và xã hội (sáng chế là việc áp dụng các phát minh lần đầu) Sáng chế là kết quả của nghiên cứu ứng dụng Định luật vạn vật
hấp dẫn là một trong những phát minh quan trọng của
nhà bác học Isaac – Newton Nhưng trước đó quy luật
đó của tự nhiên vẫn tồn tại và Isaac – Newton là người
đầu tiên phát hiện ra quy luật đó Máy ghi âm lại là ví
dụ về sáng chế của nhà thực nghiệm nổi tiếng Edison
Trước khi Edison làm ra chiếc máy ghi âm đầu tiên thì vật có thể ghi lại âm thanh là chưa hề có trong tự nhiên Edision là người lần đầu tiên làm ra nó Vì sáng chế có khả năng áp dụng nên nó có ý nghĩa thương mại và được cấp bằng sáng chế (patent), có thể mua bán patent hoặc ký các hợp đồng cấp giấy phép sử dụng (licence) cho người
có nhu cầu và được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Sáng chế có ba loại: sáng chế kế tục, sáng chế không kế tục và sáng chế bổ sung Sáng
chế không kế tục là cùng với việc tạo ra sản phẩm mới là việc tạo ra hành vi tiêu dùng
mới (xe hơi) còn sáng chế kế tục (chăn điện) thì ngược lại Sự ra đời của các thế hệ vô
tuyến màu đời mới là các sáng chế kế tục Còn bản thân chiếc vô tuyến đen trắng đầu
tiên lại là sáng chế không kế tục Sáng chế bổ sung là sáng chế làm tăng thông số sử
dụng nào đấy của một sản phẩm đang hiện hành, chẳng hạn, bộ xử lý co–processor trong máy tính cả nhân hoặc mở rộng tính năng sử dụng của sản phẩm như máy thu hình có thể xem nhiều kênh trên một mành hình
Trang 54.1.2.3 Cơ chế đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ xẩy ra theo hai cơ chế: đổi mới bằng thay thế và đổi mới bằng truyền bá
Đổi mới bằng thay thế Khi một công nghệ mới được
nghiên cứu thành công và được phép triển khai áp
dụng thì sản phẩm của nó sẽ dần dần chiếm thị phần
của sản phẩm của các công nghệ cũ Quá trình thay thế
diễn ra được vì công nghệ mới tiên tiến hơn Quá trình
này xẩy ra trong một khoảng thời gian dài vì vậy tại
một thời điểm bất kỳ tồn tại trạng thái đa công nghệ
tức là nhiều công nghệ cùng đáp ứng một nhu cầu song song tồn tại Ví dụ: trên thị trường bóng đèn chiếu sáng của Việt Nam hiện tại bóng huỳnh quang đang dần dần chiếm thị phần của bóng đèn đốt, đồng thời bóng đèn LED cũng đang thay thế cho cả hai loại bóng đèn trên
Đổi mới bằng truyền bá Sau khi một công nghệ được áp dụng lần đầu ở đâu đấy thì sự
áp dụng dần dần lan truyền sang những nơi khác tức là công nghệ được truyền bá từ nơi này sang nơi khác Tốc độ truyền bá bị chi phối bởi yếu tố “láng giềng” và yếu tố “bậc thang” Tính láng giềng thể hiện khi một người áp dụng tiềm tàng càng ở gần nguồn công nghệ (cơ quan nghiên cứu và triển khai hoặc người đã áp dụng) càng dễ có khả năng áp dụng Công nghệ được truyền bá theo bậc thang tức là những người có khả năng áp dụng cao hơn sẽ áp dụng trước so với người có khả năng áp dụng thấp hơn Khả năng áp dụng công nghệ của người áp dụng tiềm tàng có thể được đánh giá theo một số chỉ tiêu phụ thuộc vào công nghệ và bối cảnh xung quanh Khi chênh lệch giữa
độ cao của các bậc thang không lớn thì công nghệ sẽ được truyền bá nhanh hơn Sự truyền bá công nghệ thực chất là truyền bá thông tin về công nghệ vì vậy công nghệ càng có sẵn thông tin và thông tin càng dễ được truyền bá thì càng dễ được truyền bá
4.1.2.4 Thời điểm đổi mới công nghệ
Các doanh nghiệp muốn đổi mới thành công thì cần phải có hệ thống thông tin làm việc
có hiệu quả, phải cập nhật được thành tựu khoa học công nghệ nói chung và đặc biệt là những thành tựu khoa học trong lĩnh vực mà mình hoạt động Không những thế họ cần
có một phương pháp và kỹ thuật dự báo tốt để giúp họ có những kế hoạch đổi mới công nghệ phù hợp với tiến trình phát triển và của những diễn biến trên thị trường công nghệ Lựa chọn thời điểm đổi mới có thể tạo điều kiện duy trì và nâng cao vị thế, tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nếu có sự lựa chọn đúng, nhưng nó cũng có thể đưa doanh nghiệp tới tình trạng khó khăn thậm chí phá sản nếu chọn sai thời điểm đổi mới Thời điểm đổi mới tuỳ thuộc vào khả năng của doanh nghiệp Các doanh nghiệp của các nước đang phát triển nếu tiến hành đổi mới ở giai đoạn đầu của vòng đổi mới thì
họ sẽ gặp một số khó khăn có khi là bản thân họ không tự vượt qua được, chẳng hạn như khả năng làm chủ công nghệ, khả năng khắc phục rủi ro, hoặc bị hạn chế trong quá trình khai thác của công nghệ mới Do đó việc đổi mới công nghệ có thể sẽ không hiệu quả Nhưng nếu doanh nghiệp không chủ động lựa chọn thời điểm đổi mới mà chỉ đổi mới khi không còn phương án lựa chọn nào khác thì rõ ràng cơ hội để phát triển của họ
đã bị thu hẹp rất nhiều Chắc chắn họ không có một vị thế cao trên thị trường và sự tồn
Trang 6tại của họ thường xuyên bị đe doạ Thời điểm đổi mới (trên vòng đời công nghệ) còn phụ thuộc vào quan điểm của nhà cung cấp, nếu truyền bá công nghệ mang lại cho họ lợi nhuận nhiều hơn nhờ sự cam kết (tự nguyện hoặc không tự nguyện) của khách hàng với công nghệ thì họ sẽ đẩy nhanh việc truyền bá công nghệ đó
Đối với doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp chủ động đổi mới bằng sáng chế công nghệ, thì thời điểm đổi mới phụ thuộc vào năng lực của họ, đặc biệt là năng lực công nghệ Trong nhiều trường hợp nếu đổi mới công nghệ của họ nhờ chuyển giao công nghệ thì thời điểm đổi mới công nghệ còn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của công nghệ đang sử dụng Tính cạnh tranh của công nghệ giảm dần theo thời gian do đó họ cần lựa chọn thời điểm và kế hoạch đổi mới sao cho phù hợp với khả năng và nhu cầu của mình Tuy nhiên sẽ có một thời điểm mà họ bắt buộc phải đổi mới công nghệ nếu họ không muốn diệt vong đó là thời điểm mà tính cạnh tranh của công nghệ họ đang sử dụng không còn nữa như được chỉ ra trên hình 4.1
Hình 4.1 Minh hoạ thời điểm đổi mới công nghệ
Đồ thị trên hình 4.1 biểu thị sự thay đổi của giá sản phẩm của công nghệ đang hiện
sản phẩm của công nghệ mới xuất hiện Thời điểm t* chính là thời điểm đánh dấu sự diệt vong cho tính cạnh tranh của công nghệ đang sử dụng Có thể thấy rằng doanh nghiệp nào mà tiến hành đổi mới ở lân cận t* thì doanh nghiệp đó không phải là doanh nghiệp có mức độ phát triển cao Họ mới chỉ duy trì được sự tồn tại mà thôi
4.1.2.5 Hàm mục tiêu của đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ theo hướng nào, đạt được những mục tiêu gì, hay nói một cách khác việc xác định hàm mục tiêu cho đổi mới công nghệ là một việc làm đầu tiên, quan trọng của quá trình đổi mới Nó quyết định tới sự thích hợp và hiệu quả của đổi mới Hàm mục tiêu phải được xây dựng một cách thận trọng bằng phương pháp khoa học trên cơ
sở phân tích đánh giá một cách chính xác điều kiện hoàn cảnh thực tế và phải phù hợp với kế hoạch và chính sách phát triển khác Với một số các quốc gia ở Châu Phi, các công nghệ tương đối gây ô nhiễm và cần nhiều nguyên, nhiên vật liệu vẫn có thể được lựa chọn bởi vì tài nguyên thiên nhiên của họ tương đối dồi dào, các công nghệ này không đắt và quan điểm của họ cho rằng cái đói thì gần những vấn đề về môi trường thì
xa, mặt khác họ cho rằng đối tượng phải chịu trách nhiệm về sự suy giảm chất lượng
P1b
P1sp
P2sp
P
P2b
Trang 7môi trường toàn cầu là các nước phát triển… Nhưng chắc chắn các công nghệ đó không được lựa chọn để đổi mới ở các quốc gia phát triển vì hiệu quả thấp, sự hạn chế về tài nguyên thiên nhiên ở các nước này… và đặc biệt là áp lực của xã hội Tuy nhiên, công nghệ có tính hai mặt, do đó hàm mục tiêu thực tế phải là một tổ hợp tối ưu về những tác động tích cực và tiêu cực khả dĩ mà đổi mới công nghệ có thể mang lại
4.1.2.6 Sự thay thế trong đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ thực chất là một quá trình thay thế, tuân theo quy luật phủ định Các công nghệ mới hơn do ưu việt hơn sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh ngày càng mạnh và sẽ tiến tới thay thế hoàn toàn công nghệ cũ như được chỉ ra trên hình 4.1 Trong quá trình thay thế, do tốc độ đổi mới công nghệ ngày càng nhanh, sự phủ định
có thể diễn ra theo nhiều cấp đồng thời, quá trình đó thường diễn ra theo một quy luật gọi là phủ định có trật tự Tức là công nghệ nghệ cũ nhất luôn thu hẹp thị phần của mình, các công nghệ mới nhất luôn mở rộng thị phần của mình, còn các công nghệ trung gian một mặt vừa chiếm lấy thị phần của các công nghệ lạc hậu hơn nó đồng thời lại nhượng lại thị phần của mình cho các công nghệ hiện đại hơn
4.1.2.7 Vai trò của xã hội trong đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ thành công thực sự có ý nghĩa khi
và chỉ khi nó được thương mại hoá tức là được thị
trường, xã hội chấp nhận Xã hội chính là nơi tiếp nhận
thành tựu của đổi mới công nghệ nhưng đồng thời cũng
chính là nguồn cung cấp nguồn lực cho đổi mới công
nghệ thành công Mọi đổi mới công nghệ đều bắt nguồn
từ những nhu cầu của xã hội hoặc phục vụ nhu cầu nào
đó của xã hội Đổi mới công nghệ là một quá trình sáng tạo mà quá trình đó thường xuất phát từ các cá nhân không hài lòng với thực tại Họ muốn chứng tỏ giá trị của mình trên
cơ sở thừa nhận giá trị của tính độc lập suy nghĩ, có tư duy mạch lạc, khả năng đánh giá thông tin, kiên trì trong việc theo đuổi mục đích của mình và đặc biệt là quan tâm tới các vấn đề trí tuệ và nhận thức Nhưng để các cá nhân đó có thể sáng tạo thành công thì cần phải có một môi trường sáng tạo với những đặc trưng sau: cho phép người lao động làm việc trong lĩnh vực mà họ yêu thích; khuyến khích, tạo điều kiện cho các mối quan
hệ, tiếp xúc giữa các đồng nghiệp; có thể giảm nhẹ sự rủi ro; khoan dung với thất bại và không tuân theo các tập tục; có chế độ đãi ngộ thích đáng; về giáo dục cần có một nền giáo dục mang tính khoa học – không tuyệt đối hoá mà luôn luôn đặt ra các câu hỏi như tại sao, bản chất của sự kiện ở đâu và đặc biệt cần cảnh giác với sự chắc chắn bề ngoài
4.2.1.1 Xu thế hợp tác quốc tế
Xu thế này nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự hợp tác trong khoa học và công nghệ giữa các quốc gia – một xu thế tất yếu của sự phát triển Sự hợp tác có thể rất đa dạng, như thông qua các ấn phẩm xuất bản (sách, báo, tạp chí…) trên phạm vi toàn thế giới
Trang 8Dạng khác của xu thế hợp tác quốc tế chỉ mới xuất hiện gần đây một cách đều đặn đó
là các hoạt động liên ngành, đặc biệt mối quan hệ hữu cơ giữa các trường đại học và khu vực công nghiệp ngày càng trở nên quan trọng
Mặt khác, các doanh nghiệp không hoạt động độc lập, họ hợp tác, buôn bán với nhau trong một số lĩnh vực và cạnh tranh trong một số lĩnh vực khác Vì vậy, vai trò của các doanh nghiệp là khá quan trọng trong đổi mới Trước đây việc huy động các nguồn lực cần thiết để triển khai và thương mại hoá một sản phẩm dễ dàng hơn về nhiều mặt, chủ yếu là do các nguồn lực cần có là quá ít so với ngày nay, đồng thời quá trình chuyên môn hoá chuyên sâu (một xu thế tất yếu của cả thế giới) đã hạn chế nghiên cứu dàn trải trên diện rộng, các doanh nghiệp đều mong muốn có được các lợi thế cạnh tranh bằng việc đi sâu vào một số lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn Vào đầu thế kỷ 20 hãng ICI được coi là đứng đầu thế giới trong ngành hoá chất nhưng ngày nay trong nhiều lĩnh vực họ đã bị nhiều đối thủ của họ vượt qua Ở các trường đại học, các khoa cũng chỉ tập trung nguồn lực của mình vào một vài lĩnh vực khoa học nhất định Họ không thể nghiên cứu và giảng dạy trong mọi lĩnh vực bởi sự hạn chế của nguồn lực Mà chúng ta đều biết việc nảy sinh, phát triển, triển khai và đạt được thành công về mặt thương mại cho đổi mới đòi hỏi nguồn nhân lực, vật lực rất lớn Chính vì vậy cho nên đổi mới công nghệ phải là sự kết hợp của một tập hợp các đối tượng, ví dụ như các cá nhân, doanh nghiệp và rõ ràng là đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng là một trò chơi tập thể
4.2.1.2 Xu thế liên quan đến bản chất của sản phẩm và quy trình
Ngày nay thị trường toàn cầu ngày nay đòi hỏi các công nghệ phức tạp Theo Dohald
và Robert thì phần lớn những công nghệ thương mại thành công đã thay đổi theo một con đường cơ bản trong 1/4 thế kỷ qua đó là chúng trở nên phức tạp hơn Họ đã phân tích 30 loại sản phẩm xuất khẩu có giá trị nhất trên thị trường thế giới trong những năm 1970 và 1990 và có được số liệu cho trong bảng 4.1 (đơn vị trong ngoặc tính bằng tỷ đô la)
Bảng 4.1 Giá trị và cơ cấu xuất khẩu của một số công nghệ điển hình
Quy trình đơn giản/sản phẩm đơn giản
1970: 58% (USD 87)
1994: 8% (USD 347)
Quy trình đơn giản/ sản phẩm phức tạp 1970: 0%
1974: 0%
Quy trình phức tạp/sản phẩm đơn giản
1970: 12% (USD 35)
1994: 25% (USD 435)
Quy trình phức tạp/sản phẩm phức tạp 1970: 31% (USD 46)
1994: 59% (USD 1128)
Bảng 4.1 cho thấy 1/4 thế kỷ trước đây gần 60% sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của thế giới là những sản phẩm đơn giản được sản xuất bởi các quy trình đơn giản Ngày nay một tỷ lệ tương tự là những sản phẩm phức tạp được sản xuất bởi những quy trình phức tạp Điều đó có thể được giải thích do sự phát triển với tốc độ khá cao của hệ thống kinh tế – xã hội của loài người nói chung và của hệ thống khoa học công nghệ nói riêng trong thời gian qua Rash và Rycroft cho rằng thành công kinh tế sẽ đến với những người thành công trong việc đổi mới các công nghệ phức tạp Tức là tương lai
sẽ thuộc về những người nhận thức được tính phức tạp, có thể thống nhất được các kiến thức đa dạng khác nhau trong nhiều tổ chức khác nhau để tạo ra những gì chưa có
Trang 9trước đây Đa dạng hoá đó là quy luật, đa dạng trong cách nhìn, cách tiếp cận và trong nền tảng cơ sở Không thế thì chúng ta không thể vượt lên trên những giới hạn tầm nhìn của mỗi cá nhân, tổ chức Để đạt được điều đó các doanh nghiệp phải không ngừng củng cố, mở rộng các kênh thông tin của mình, nâng cao chất lượng hoạt động cho hệ thống thông tin của mình
4.2.1.3 Xu thế liên quan tới sự xuất hiện của công nghệ thông tin
Tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người ngày nay đang chịu tác động rất lớn của công nghệ thông tin Sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin
mà đặc biệt quan trọng là công nghệ máy tính, Internet và công nghệ mạng đang làm thay đổi tất cả các loại hình công nghệ của loài người, tạo ra các con đường phát triển hoàn toàn mới cho tất cả các công nghệ Sẽ là điều ngạc nhiên nếu như hiện nay và trong tương lai tồn tại một thành công trong kinh tế và khoa học công nghệ mà lại không ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin
Đổi mới không phải là một hoạt động độc lập mà là một quá trình tổng hợp bao gồm nhiều quá trình nhỏ có liên quan mật thiết với nhau Nó không chỉ là sự ấp ủ, phát triển một ý tưởng mới hoặc phát sinh một thiết bị mới, phát triển một thị trường mới
mà nó bao gồm tất cả các công việc trên và thống nhất với nhau
Thực chất quá trình đổi mới công nghệ là một hệ thống các hoạt động phức tạp nhằm chuyển đổi các ý tưởng và kiến thức khoa học thành thực tế vật chất và các ứng dụng trong thế giới hiện thực Đó là một quá trình biến đổi tri thức thành các sản phẩm và dịch vụ hữu ích có tác động tới sự phát triển kinh tế – xã hội
4.2.2.1 Quá trình hình thành và ứng dụng các công nghệ mới
Có 8 giai đoạn trong quá trình đổi mới công nghệ, một số các hoạt động trong mỗi giai đoạn có thể trùm sang giai đoạn khác
Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm tăng thêm hiểu biết chung về các
quy luật của tự nhiên Đây là quá trình tạo ra tri thức qua một thời gian dài Nó có thể mang đến một ứng dụng cụ thể hoặc cũng có thể không
Nghiên cứu ứng dụng: loại nghiên cứu hướng trực
tiếp vào việc giải quyết một hoặc những vấn đề xã hội đặt ra Ví dụ: nghiên cứu phát triển một loại thuốc điều trị một căn bệnh nào đó Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng thúc đẩy tiến bộ khoa học bằng cách xây dựng tri thức một cách hệ thống trên cơ sở kiến thức hiện tại Sự thành công của nghiên cứu ứng dụng dẫn đến sự ra đời của công nghệ mới
Triển khai công nghệ: những hoạt động của con người nhằm biến đổi tri thức và
các ý thưởng thành phần cứng, phần mềm hoặc dịch vụ Nó có thể bao gồm việc chứng minh tính khả thi của ý tưởng, xác định thiết kế hoặc tạo dựng, thử nghiệm một nguyên mẫu
Trang 10 Thực thi công nghệ: một loạt các hoạt động gắn với việc đưa một sản phẩm ra thị
trường Thực thi công nghệ có quan hệ với việc ứng dụng lần đầu tiên một ý tưởng hoặc một sản phẩm Nó liên kết các hoạt động nhằm đảm bảo đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường một cách thành công về giá cả, tính an toàn và thoả mãn các khía cạnh về môi trường
Sản xuất: đây là một loạt các hoạt động gắn với việc mở rộng loại sản phẩm hoặc
dịch vụ cụ thể Sản xuất bao gồm việc chế tạo, quản lý, cung cấp và phân phối
Marketing: đây là một loạt các hoạt động đảm bảo cho người tiêu dùng tiếp nhận
công nghệ Nó bao gồm việc đánh giá thị trường, chiến lược phân phối, thúc đẩy bán hàng và xác định thói quen, tập quán khách hàng
Truyền bá: đây là chiến lược và các hoạt động đảm bảo sự lan truyền và vị thế của
công nghệ trên thị trường Việc truyền bá phụ thuộc vào phương pháp khai thác công nghệ và phương pháp Marketing công nghệ trong thực tế
Mở rộng công nghệ: đây là giai đoạn mà mục tiêu là duy trì ưu thế cạnh tranh của
công nghệ Nó bao gồm việc cải tiến công nghệ, phát triển thế hệ mới hoặc ứng dụng mới của công nghệ, cải tiến chất lượng, hạ giá thành sản phẩm cũng như đáp ứng được những yêu cầu đặc biệt của khách hàng Mở rộng công nghệ kéo dài vòng đời công nghệ
4.2.2.2 Quá trình đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp
Với một doanh nghiệp, sơ đồ khối điển hình của quá trình đổi mới công nghệ được thể hiện ở hình 4.2
Nảy sinh ý tưởng: ghi nhận nhu cầu; tìm cách đáp ứng nhu cầu đó; phân tích các
giải pháp; chọn giải pháp tốt nhất và tiêu chuẩn lựa chọn; đề đạt thực thi;
Củng cố ý tưởng: xác định khái niệm sản phẩm hay dịch vụ, định mục tiêu kỹ
thuật và các ưu tiên, dự kiến kết quả thực hiện;
Phân tích thị trường: xác định thị trường, phân tích nhu cầu hiện tại và tương lai,
tìm hiểu khách hàng, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh, xác định cơ hội;
Phân tích kỹ thuật: các nguồn lực cần thiết, nguồn lực sẵn có, lịch trình triển khai;
Hình 4.2 Các bước điển hình đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp
Củng cố ý tưởng
Phân tích thị trường
Kế hoạch kinh doanh
Phân tích
kỹ thuật
Kiểm định thông qua thị trường
Sản xuất và thương mại hóa
Nảy sinh ý tưởng
Loại
bỏ
Phê chuẩn
Triển khai