Bài giảng Quản trị tác nghiệp - Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ giúp sinh viên hiểu rõ về hoạt động dự trữ và lập kế hoạch nguyên vật liệu; nắm rõ và có khả năng ứng dụng các phương pháp và kỹ thuật quản trị hàng dự trữ và lập kế hoạch nguyên vật liệu.
Trang 1Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
TRỊ HÀNG DỰ TRỮ
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
Giáo trình Quản trị tác nghiệp – Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Thực chất, nội dung và vai trò của hàng dự trữ;
Các phương pháp quản trị hàng dự trữ;
Thực chất của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu;
Kỹ thuật lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu
Mục tiêu
Giúp sinh viên hiểu rõ về hoạt động dự trữ và lập kế hoạch nguyên vật liệu;
Nắm rõ và có khả năng ứng dụng các phương pháp và kỹ thuật quản trị hàng dự trữ và lập kế hoạch nguyên vật liệu
Trang 2Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Hàng dự trữ ở Amazon
Khi triển khai hoạt động kinh doanh mang tính cách mạng vào năm 1995, trang web Amazon.com dự định phát triển thành một doanh nghiệp bán lẻ “ảo”- không có hàng tồn kho, không có kho chứa hàng, không có chi phí dự trữ - mà chỉ cần một hệ thống máy tính có nhiệm
vụ nhận các đơn hàng và ủy quyền cho doanh nghiệp khác hoàn thành các đơn hàng đó Tuy nhiên mọi thứ không diễn ra suôn sẻ và đơn giản như vậy Hiện tại, Amazon lưu trữ trong kho hàng triệu mặt hàng (70% các mặt hàng xung quanh nước Mỹ và 30% là ở Châu Âu) cần gấp đôi mặt bằng của tòa nhà Empire State
Vậy tại sao lại tồn tại hàng dự trữ trong doanh nghiệp?
Trang 3Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
dự trữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành liên tục, có hiệu quả
Hàng dự trữ bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở
dang, thành phẩm dự trữ… tuỳ theo các loại hình
doanh nghiệp mà có các dạng hàng dự trữ khác nhau
Chẳng hạn như một ngân hàng sẽ có những phương
pháp tiêu chuẩn riêng để kiểm soát đánh giá mức tồn
quỹ về tiên mặt; một bệnh viện sẽ có những phương
pháp để kiểm sát nguồn máu, thuốc men; một xí
nghiệp may sẽ có phương pháp kiểm tra lượng nguyên
vật liệu dự trữ Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, hàng dự trự chủ yếu là các dụng cụ, phụ tùng và phương tiện vật chất - kỹ thuật dùng vào hoạt động Đối với lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp mua bán kiếm lời, hàng dự trữ của
họ chủ yếu là hàng mua về và hàng chuẩn bị chuyển đến tay người tiêu dùng Đối với lĩnh vực sản xuất, sản phẩm trải qua một quá trình chế biến để biến dầu vào là nguyên vật liệu thành sản phẩm ở đầu ra nên hàng dự trữ bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm trên dây chuyền và thành phẩm cuối cùng Trong lĩnh vực này người ta phân lại hàng dự trữ thành 4 loại:
Tồn kho nguyên vật liệu/bộ phận cấu thành
Tồn kho sản phẩm dở dang
Tồn kho sản phẩm hoàn chỉnh
Tồn kho các mặt hàng linh tinh khác để phục vụ sản xuất
Bản thân vấn đề dự trữ luôn có hai mặt trái ngược nhau, người bán hàng mong muốn
có nhiều hàng dự trữ để khách hàng không phải đợi lâu Nhân viên phụ trách sản xuất mong muốn có mức dự trữ nguyên vật liệu lớn để dễ dàng lập kế hoạch sản xuất Tuy nhiên bộ phận tài chính thì mong muốn mức tồn kho nhất, vì hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của doanh nghiệp, mức tồn kho nhiều khiến chi phí tăng cao, mức rủi ro lớn Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm cách xác định một mức
độ cân bằng giữa lượng hàng dự trữ phục vụ sản xuất, phục vụ tốt yêu cầu của khách hàng nhưng có chi phí dự trữ ở mức tối ưu Trong quản trị dự trữ thường đề cập đến các loại chi phí có liên quan sau đây:
Chi phí mua hàng: Là chi phí được tính từ khối lượng hàng của đơn hàng và giá
mua một đơn vị Chi phí này có thể được hưởng giảm giá nếu mua cùng một lúc với số lượng lớn
Trang 4Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Chi phí đặt hàng: Là toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc thiết lập các đơn
hàng Nó bao gồm các chi phí tìm nguồn hàng, chi phí chuẩn bị, chi phí vận chuyển, chi phí giao nhận hàng, kiểm tra sai sót, nhập kho, các chi phí hành chính khác
Chi phí lưu kho: Là những chi phí phát sinh trong thực hiện hoạt động dự trữ Nó
bao gồm các chi phí:
đích khác được hoặc lãi suất trả ngân hàng khi tồn đọng hàng
hạ tầng kho bãi, bảo hiểm, chi phí bảo quản
cho các món hàng có nhiều rủi ro bị lỗi thời, mà rủi ro càng cao thì chi phí càng lớn Sản phẩm có thể bị hư hỏng, thối do để lâu như lương thực, hoa quả, sản phẩm tươi sống Chi phí mất mát là chi phí có thể do hàng hóa bị lấy cắp, thất thoát hoặc đổ vỡ Tổn thất khi phải bán sản phẩm mua về mà không sử dụng nữa (do chuyển hướng sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm giảm sút)
Chi phí thiếu hàng: là những tổn thất do thiếu hàng gây nên Từ góc độ bán hàng,
nếu thiếu hàng cung cấp, khách hàng sẽ chuyển sang đặt hàng của doanh nghiệp khác Từ góc độ sản xuất, trong quá trình sản xuất, thiếu hàng dẫn đến việc ngừng sản xuất đợi nguyên liệu, ứ đọng bán thành phẩm, kéo dài thời gian giao hàng và
dẫn đến ngưng ca…
Khi nghiên cứu quản trị hàng dự trữ, chúng ta phải giải quyết hai vấn đề cơ bản là:
Lượng đặt hàng bao nhiêu là tối ưu;
Thời điểm đặt hàng vào lúc nào là thích hợp
6.1.1.2 Vai trò của hàng dự trữ
Trong sản xuất kinh doanh, dự trữ hàng hoá, nguyên vật liệu là cần thiết khách quan,
vì duy trì hàng dự trữ có những vai trò sau:
Đảm bảo sự gắn bó, liên kết chặt chẽ giữa các
khâu, các giai đoạn của quá trình sản xuất Khi cung và cầu về một loại hàng dự trữ nào đó không đều đặn giữa các thời kỳ, thì việc duy trì thường xuyên một lượng dự trữ nhằm tích lũy đủ cho thời
kỳ cao điểm là một vấn đề hết sức cần thiết Nhờ duy trì dự trữ, quá trình sản xuất sẽ được tiến hành liên tục, tránh được sự thiếu hụt đứt quãng của quá trình sản xuất
Đảm bảo kịp thời nhu cầu của khách hàng, trong bất kỳ thời điểm nào Đây cũng là cách tốt nhất để duy trì và tăng số lượng khách hàng của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, việc duy trì một khách hàng là rất khó khăn, ngược lại, để mất
đi một khách hàng là rất dễ
Phòng ngừa những yếu tố rủi ro trong sản xuất và cung ứng (những lúc máy hỏng hoặc nguyên liệu cung cấp chưa kịp thời) Sự thay đổi của thời gian sản xuất và vận chuyển trong suốt quá trình hoạt động cũng có thể sẽ dẫn đến sự không chắc chắn về thời gian đáp ứng đơn hàng Dữ trữ có thể làm giảm tác động của sự biến đổi trên và giúp doanh nghiệp hoạt động một cách bình thường
Trang 5Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Khai thác lợi thế do sản xuất và đặt mua với quy mô lớn Doanh nghiệp có thể được hưởng tỷ lệ chiết khấu khi mua hàng với khối lượng lớn hoặc tiết kiệm được chi phí đặt hàng
Dự tính trước sự tăng giá trong tương lai Việc mua hàng trước liên quan đến mua thêm một khối lượng sản phẩm ở mức giá thấp hiện tại hơn là mua ở mức giá cao trong tương lai Mua hàng với số lượng lớn hơn cần thiết sẽ dẫn đến mức dữ trữ nhiều hơn và tăng chi phí dự trữ Tuy nhiên, nếu như dự đoán trong tương lai giá cả
sẽ tăng, các chi phí của việc mua hàng trước sẽ có thể được bù đắp được khoản này
Đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng Nhu cầu không phải lúc nào cũng dự báo chính xác được, nó có thể thay đổi do yếu tố mùa vụ, tính chu kỳ hoặc những biến động bất thường có thể xảy ra ngoài dự báo
6.1.2 Các phương pháp quản trị hàng dự trữ
6.1.2.1 Kỹ thuật phân tích ABC
Kỹ thuật phân tích ABC được đề xuất dựa vào nguyên
tắc Pareto (Pareto là một nhà kinh tế người Ý vào thế kỷ
thứ 19) Ông ta quan sát và phát hiện ra rằng có một số ít
người trong xã hội lại có thu nhập cao còn lại đa số là thu
nhập thấp hoặc trung bình.Ta cũng có thể thấy là trong
một cửa hàng bách hóa với nhiều chủng loại sản phẩm
thì phần lớn doanh thu hoặc lợi nhuận phụ thuộc vào một
vài mặt hàng; trong một doanh nghiệp hoặc một tổ chức
trong số hàng trăm nhân viên thì chỉ có một số người có
khả năng sáng tạo thực sự Quy luật số ít quan trọng có
thể áp dụng vào quản trị hàng dự trữ
Kỹ thuật phân tích ABC là nguyên tắc phân tích hàng hoá dự trữ thành 3 nhóm căn cứ
và mối quan hệ giữa số lượng và giá trị của chúng Nguyên tắc này là sự cải biến của quy luật 80:20 của Pareto Khi áp dụng nguyên tắc Pareto cho việc quản lý hàng dự trữ kho, người ta thường chia hàng dự trữ thành 3 nhóm như sau:
Nhóm A: Bao gồm những loại hàng dự trữ có giá tri hàng năm cao nhất, với giá trị từ
70 – 80% so với tổng giá tri hàng dự trữ, nhưng về mặt số lượng chúng chỉ chiếm 15% tổng số hàng dự trữ
Nhóm B: Bao gồm những loại hàng dự trữ có giá tri hàng năm ở mức trung bình, với giá trị từ 15% - 25% so với tổng giá tri hàng dự trữ, nhưng về sản lượng chúng chiếm khoảng 30% tổng số hàng dự trữ
Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, khoảng 5% tổng giá tri các loại hàng dự trữ, tuy nhiên số lượng chúng chiếm khoảng 55~ so với tổng số loại hàng dự trữ
Kỹ thuật phân tích ABC trong công tác quản trị hàng dự trữ có những tác dụng sau:
Thường xuyên kiểm tra và kiểm soát từng món hàng và đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ những mặt hàng thuộc nhóm A Việc thiết lập các báo cáo chính xác về nhóm A phải được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo khả năng an toàn trong sản xuất
Trang 6Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Các nguồn vốn dùng mua hàng nhóm A cần phải nhiều hơn so với nhóm C, do đó cần có sự ưu tiên đầu tư thích đáng vào quản trị nhóm A
Nhờ có kỹ thuật phân tích ABC trình độ của nhân viên giữ kho tăng lên không ngừng,
do họ thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm tra, kiểm soát từng nhóm hàng
Cách tiến hành phương pháp ABC như sau:
Xác định khối lượng, chủng loại và giá trị các loại hàng dự trữ;
Xác định tỷ lệ % về giá trị của các loại mặt hàng dự trữ;
Sắp xếp theo thứ tự giảm dần về tỷ lệ % của giá trị hàng dự trữ;
Đánh số thứ tự từ trên xuống theo danh sách các mặt hàng dự trữ;
Xác định tỷ lệ % luỹ kế theo giá trị;
Xác định tỷ lệ tích luỹ mặt hàng;
Phân loại hàng dự trữ thành 3 nhóm A, B, C
Bằng đồ thị, chúng ta có thể biểu thị tiêu chuẩn của các nhóm hàng dự trữ theo kỹ thuật phân tích ABC như sau:
Để minh họa cho vấn đề nêu trên, chúng ta xét ví dụ sau:
Ví dụ 1: Công ty A có 10 loại nguyên vật liệu dự trữ; số lượng nhu cầu một năm, giá
mua của mỗi chi tiết được thể hiện trong bảng sau:
Ký hiệu
Nhu cầu năm 3.000 4.000 1.500 6.000 1.000 500 300 600 1.750 2.500 Giá NVL
(USD) 50 12 45 10 20 500 1500 20 10 5
% về giá trị hàng dự trữ
Trang 7Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Từ các loại các số liệu về nhu cầu hàng năm, giá một đơn vị hàng, giá trị hàng năm, tỷ
lệ % của mỗi loại nguyên vật liệu này người ta có ứng dụng nguyên tắc phân tích A,
B, C để chia nhóm và sắp xếp thành thứ tự ưu tiên như trong bảng dưới đây:
Mặt hàng
Nhu cầu hàng năm
Giá mua một đơn vị
Giá trị các loại mặt hàng
% về giá trị so với tổng giá trị năm Sắp xếp thứ
6.1.2.2 Mô hình đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ)
Mô hình EOQ - The Basic Economic Order Quantity Model
Mô hình EOQ là một trong những kỹ thuật kiểm soát dự trữ phổ biến và lâu đời nhất, nó được nghiên cứu và đê xuất từ năm 1915 do ông Ford W Ham, đến ngày nay nó vẫn được nhiều các doanh nghiệp sử dụng Kỹ thuật kiểm soát dự trữ theo
mô hình này rất dễ áp dụng, tuy nhiên phải có những giả định cho trước, đó là:
o Nhu cầu gần như cố định và được xác định trước
o Thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận là không đổi và được xác định trước
o Không cho phép có hiện tượng thiếu hàng
Trang 8Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
o Chi phí đặt hàng là cố định, không liên quan đến số lượng hàng đặt và không
có chính sách triết khấu (giá mua giảm theo lượng bán tăng)
o Hạng mục sản phẩm chỉ là chủng loại đơn nhất, không xét đến tình huống nhiều mặt hàng
Với giả định như trên sơ đồ biểu diễn sử dụng dự trữ theo thời gian có dạng như sau:
Với giả thiết nhu cầu là cố định và được cho bằng D, thì D sẽ giảm dần khi sử dụng và được thể hiện bằng độ dốc là D Mức tồn kho tối đa là Q* và sẽ được sử dụng hết đến khi mức tồn kho bằng 0 Tồn kho trung bình sẽ là Q*/2
Nếu ta đặt mỗi lần số lượng nhiều thì số lần đặt hàng sẽ giảm và chi phí đặt hàng
sẽ thấp, ngược lại nếu đặt hàng mỗi lần với số lượng nhiều thì chi phí dự trữ sẽ tăng Ta cần tìm một lượng đặt hàng Q* sao cho tổng chi phí về dự trữ là nhỏ nhất Nếu ta gọi
D = Lượng nhu cầu về nguyên vật liệu trong năm
Q = Lượng đặt hàng mỗi lần
S = Chi đặt hàng một lần
H = Chi phí dự trữ nguyên vật liệu trong năm Thì chi chí lưu trữ kho hàng trong năm là chi phí dự trữ bình quân nhân với số lượng hàng dự trữ và bằng
Khối lượng hàng Q*
Q
0 A B C Thời gian
Độ dốc D
Trang 9Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Khoảng cách trung bình giữa 2 lần đặt hàng là:
Ví dụ 2 Công ty An Thịnh có nhu cầu về sản phẩm A là 3000 sản phẩm/năm với
chi phí đặt hàng mỗi lần là 100$ và chi phí dự trữ là 10$/sản phẩm/năm Cho biết trong năm doanh nghiệp sẽ sản xuất 300 ngày Vậy ta có thể tính toán được các chỉ tiêu về dự trữ như sau:
Lượng đặt hàng tối ưu =
mà phải đặt một thời gian trước đó để hàng về đúng lúc trước khi dự trữ hết ở thời điểm T Vì vậy người ta phải xác định một điểm đặt hàng lại để tránh hiện tượng thiếu hụt
Điểm đặt hàng lại là lượng hàng đặt trước khi lượng sử dụng = 0 căn cứ vào thời gian vận chuyển đơn hàng để đảm bảo không gián đoạn trong quá trình sản xuất Điểm đặt hàng lại (ROP) được xác định như sau:
ROP = d L Trong đó: d là nhu cầu tiêu dùng hàng ngày về hàng dự trữ
Nhu cầu về sản phẩm trong năm (D)
d =
Số ngày sản xuất trong năm (N)
L là thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận được hàng (thời gian chờ đợi hàng)
T = Số ngày làm việc trong năm
Số lượng đơn hàng mong muốn
Trang 10Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Điểm đặt hàng lại (ROP) được biểu diễn bằng hình vẽ sau đây:
Ví dụ 3 Công ty Anh Thịnh có nhu cầu về sản phẩm A là 3000 sản phẩm/năm với
chi phí đặt hàng mỗi lần là 100$ và chi phí dự trữ là 10$/sản phẩm/năm, giá mỗi sản phẩm là 50$ Cho biết trong năm doanh nghiệp sẽ sản xuất 300 ngày, thời gian
từ khi đặt hàng đến khi hàng đến là 10 ngày, vậy điểm đặt hàng lại sẽ là:
N
D
× L =100 sản phẩm
6.1.2.3 Mô hình sản lượng đặt hàng theo sản xuất POQ
(Production Order Quantity Model)
Là mô hình dự trữ được ứng dụng khi lượng hàng được đưa đến liên tục hoặc khi sản phẩm vừa được tiến hành sản xuất vừa tiến hành sử dụng hoặc bán ra
Trong mô hình EOQ chúng ta đã giả định toàn bộ lượng hàng củamột đơn hàng được nhận ngay trong một chuyến hàng Tuy nhiên có những trường hợp doanh nghiệp sẽ nhận hàng dần dần trong một thời gian nhất định Trong trường hợp này người ta phải tìm kiếm một mô hình đặt hàng khác với EOQ
Mô hình POQ thích hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của người đặt hàng nên
nó được gọi là mô hình sản lượng đặt hàng theo sản xuất Mô hình này sẽ được áp dụng trong trường hợp lượng hàng được đưa đến một cách liên tục, hàng được tích lũy dần cho đến khi lượng đặt hàng được tập kết hết Mô hình này cũng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp vừa sản xuất vừa bán hoặc doanh nghiệp tự sản xuất lấy vật tư để dùng Trong những trường hợp như thế này, chúng ta phải quan tâm đến mức sản xuất hàng ngày của nhà sản xuất hoặc mức cung ứng của nhà cung ứng
Trong mô hình này về cơ bản các giả thuyết khác giống như mô hình EOQ, điểm khác biệt đó là hàng được đưa đến làm nhiều lần và nhu cầu sử dụng hàng ngày phải nhỏ hơn mức cung ứng để tránh hiện tượng thiếu hụt Bằng phương pháp giống như EOQ
ta xác định đựoc sản lượng tối ưu Q*
Gọi: p là mức sản xuất (mức cung ứng) hàng ngày
d là nhu cầu sử dụng hàng ngày (d < p)
t là thời gian sản xuất để có đủ số lượng cho 1 đơn hàng (hoặc thời gian cung ứng)
Q là sản lượng của đơn hàng
Lượng hàng Q*
0 A L B Thời gian ROP
Trang 11Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Mô hình POQ có dạng như sau:
Tổng chi phí về dự trữ của mô hình POQ là TC=
2
p
d H
Ví du 4 Công ty A có khả năng sản xuất với tốc độ 500 chiếc một ngày và khả năng
sử dụng 30.000 chiếc một năm Cho biết một năm công ty làm việc 300 ngày, chi phí
dự trữ là 2$/sản phẩm, chi phí mỗi lần đặt hàng là 30$ Vậy lượng đặt hàng tối ưu và tổng chi phí về dự trữ sẽ được xác định như sau:
Trước hết xác định d = D/N, sau đó xác định Q* ta có
Q* =
)1(
2
p
d H
6.1.2.4 Mô hình khấu trừ theo số lượng (DQM)
Mô hình khấu trừ theo số lượng là mô hình dự trữ có tính đến sự thay đổi của giá cả phụ thuộc vào khối lượng hàng trong mỗi lần đật hàng Việc khấu trừ theo số lượng thực chất là giảm giá hàng hóa khi khách hàng mua loại hàng nào đó với một số lượng lớn
Nhu cầu Sản xuất trừ
nhu cầu Q*
Thời gian
Sản xuất
t
T
Trang 12Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
Ví dụ: nếu mua dưới 10 sản phẩm giá sẽ là 5$/sản phẩm, nếu mua từ mua từ 11-49 sản phẩm sẽ là 4,5$/sản phẩm và mua từ 50 sản phẩm trở lên sẽ được giảm giá chỉ còn 4$/sản phẩm
Để tăng doanh số bán hàng, nhiều công ty thường đưa ra chính sách giảm giá khi số lượng mua cao lên Chính sách bán hàng như vậy được gọi là bán hàng khấu trừ theo lượng mua Nếu chúng ta mua với số lượng lớn sẽ được hưởng giá thấp Nhưng lượng
dự trữ sẽ tăng lên và do đó, chi phí lưu kho sẽ tăng Xét về mức chi phí đặt hàng thì lượng đặt hàng tăng lên, sẽ dẫn đến chi phí đặt hàng giảm đi Mục tiêu đặt ra là chọn mức đặt hàng sao cho tổng chi phí về hàng dự trữ hàng năm là bé nhất Trường hợp này ta áp dụng mô hình khấu trừ theo số lượng QDM Tổng chi phí về hàng dự trữ được tính như sau:
Tổng chi phí của hàng dự trữ = Chi phí mua hàng + Chi phí đặt hàng + Chi phí dự trữ
Để xác định được lượng hàng tối ưu trong 1 đơn hàng, ta tiến hành các bước sau đây:
Bước 1 Xác định mức sản lượng tối ưu ở từng mức khấu trừ
Q* = 2DS
I Pr
Trong đó: Pr là giá mua của một đơn vị hàng hoá
I là tỷ lệ % chi phí dự trữ tính theo giá mua 1 đơn vị hàng hoá
Bước 2: Điều chỉnh sản lượng những đơn hàng không đủ điều kiện lên mức sản
lượng phù hợp Ở mỗi mức khấu trừ, nếu lượng hàng đã tính ở bước một thấp không đủ điều kiện để hưởng mức giá khấu trừ, chúng ta điều chỉnh lượng hàng lên đến mức tối thiểu để được hưởng giá khấu trừ Ngược lại, nếu lượng hàng cao hơn thì điều chỉnh xuống bằng mức tối đa
Bước 3 Tính tổng chi phí theo mức sản lượng đã điều chỉnh
Sử dụng công thức tính tổng chi phí nêu trên để tính toán tổng chi phí cho các mức sản lượng đã được xác định ở bước 1 và bước 2
Bước 4 Chọn Q* có tổng chi phí của hàng dự trữ thấp nhất đã xác định ở bước 3
Ví dụ 5: Nhu cầu về máy khoan điện của một cửa hàng kinh doanh là 1.000 cái/năm Chi phí đặt hàng là 100$/đơn hàng và chi phí lưu kho bằng 40% giá mua Nếu đặt hàng ít hơn 120 cái thì giá của một cái khoan điện là 78$; nếu đặt hàng từ 120 cái trở lên, giá sẽ giảm xuống chỉ còn 50$/cái Cửa hàng có nên áp dụng mô hình chiết khấu theo số lượng hay không?
Trang 13Bài 6: Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quản trị hàng dự trữ
điện tại mức giá 50$/cái; chính sách chiết khấu không áp dụng đối với đơn hàng dưới
Ví dụ 6 Một bệnh viện lớn sử dụng 500 chiếc bình ôxy một năm Chi phí mỗi lần đặt
hàng bình quân là 15$/đơn hàng Chi phí dự trữ chiếm 20% giá mua Gần đây công ty được hưởng chế độ mua hàng của nhà sản xuất theo phương pháp khấu trừ theo số lượng, cụ thể như sau:
Giá thông thường là 48$/chiếc
Với lượng mua từ 50 - 99, giá là 47$/chiếc
Với lượng mua từ 100 chiếc trở lên, giá là 45$/chiếc
Vậy lượng đặt hàng tối ưu là bao nhiêu?
*
1
Q =
(15)(0,2)
(48)(2000)
(47)(2000)
(45)(2000)
Q = 79 chiếc, nằm trong vùng áp dụng giá 47$/chiếc từ 50 - 99 chiếc, nên phải
điều chỉnh lượng mua xuống mức tối đa của trường hợp mua với khối lượng thông thường là 49 chiếc với mức giá là 48$/chiếc hoặc yêu cầu nhà cung cấp bán với mức giá 47$ và khối lượng mua sẽ là 79 chiếc.Giả sử trường hợp bệnh viện sẽ vẫn mua với khối lượng *
1
Q = 79 chiếc/1 đơn hàng
Với *
2
Q = 80 chiếc, nằm trong vùng áp dụng giá 47$/chiếc từ 50 - 99 chiếc nên không
cần điều chỉnh Lượng đặt hàng trường hợp này sẽ là *
2
Q = 80 chiếc/1 đơn hàng