Đặc điểm các công trình thủy lợi ở Lào Cai là loại nhỏ, yêu cầu kỹ thuật vận hành quản lý tương đối đơn giản, cộng đồng có thể tự quản lý nhưng do đội ngũ cán bộ làm công tác thuỷ lợi ở
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Những thông tin, dữ liệu, số liệu đưa ra trong luận văn được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc Những số liệu thu thập và tổng
hợp của cá nhân đảm bảo tính khách quan và trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác gi ả
Đặng Quốc Hùng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình h ọc tập và làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt là thầy giáo
PGS.TS Nguy ễn Bá Uân, cùng với sự nỗ lực của bản thân Đến nay tác giả
đã hoàn thành luận văn thạc chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường
Các k ết quả đạt được là những đóng góp nhỏ về mặt khoa học trong quá trình nghiên c ứu tìm ra một số mô hình quản lý, nâng cao năng lực quản
lý vận hành khai thác các công trình thủy lợi vùng cao miền núi của cả nước nói chung, và các công trình thủy lợi vùng cao miền núi ở Lào Cai nói riêng Tuy nhiên, trong khuôn kh ổ luận văn, do điều kiện thời gian và trình độ có
h ạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được
nh ững lời chỉ bảo và góp ý của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th ầy giáo PGS.TS Nguyễn Bá Uân đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thu ộc Khoa Kinh tế và quản lý, phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học
t rường Đại học Thủy lợi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành tốt luận văn thạc sỹ của mình
Tác giả chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, Chi cục thủy lợi và PCLB tỉnh Lào Cai … đã tạo điều kiện cung cấp tài liệu liên quan và giúp đỡ tác giả hoàn thành lu ận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016 Tác gi ả
Đặng Quốc Hùng
Trang 3MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
L ỜI CẢM ƠN 2
DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT 6
PH ẦN MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH TH ỦY LỢI 1
1.1 T ổng quan chung 1
1.1.1 Một số khái niệm 1
1.1.2 Vai trò, nhiệm vụ của hệ thống công trình thủy lợi 2
1.1.3 Nội dung của công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi 3
1.1.4 Hệ thống những văn bản pháp quy về quản lý khai thác công trình thủy lợi 6
1.1.5 Thực trạng quản lý khai thác các công trình thủy lợi khu vực miền núi phía Bắc 7
1.2 Các mô hình t ổ chức quản lý khai thác các hệ thống công trình thủy lợi 10
1.2.1 Doanh nghiệp nhà nước 10
1.2.2 Doanh nghiệp tư nhân 12
1.2.3 Tổ chức thủy nông cơ sở 14
1.2.4 Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi 18
1.3 Nh ững nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác công trình th ủy lợi 22
1.3.1 Nhân tố chủ quan 22
1.3.2 Nhân tố khách quan 22
1.4 T ổng quan về quản lý khai thác các công trình thủy lợi ở Việt Nam 24
1.5 Kinh nghi ệm quản lý khai thác các công trình thủy lợi ở một số địa phương 27
1.5.1 Kinh nghiệm ở nước ngoài 27
1.5.2 Kinh nghiệm ở trong nước 29
1.6 T ổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 32
Trang 4K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 TH ỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC CÁC CÔNG TRÌNH TH ỦY LỢI CỦA CÁC TỔ CHỨC THỦY NÔNG CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 35
2.1 Khái quát v ề điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai 35
2.1.1 Vị trí địa lý 35
2.1.2 Đặc điểm địa hình 36
2.1.3 Khí hậu 36
2.1.4 Tài nguyên thiên nhiên và lợi thế phát triển kinh tế 37
2.1.5 Kinh tế - xã hội 39
2.2 H ệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về thủy lợi trên địa bàn tỉnh… 44
2.2.1 Tổ chức quản lý Nhà nước về thủy lợi ở cấp tỉnh……… …….44
2.2.2 Tổ chức quản lý Nhà nước về thủy lợi ở cấp huyện 47
2.3 Hi ện trạng hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Lào Cai 50
2.3.1 Đặc điểm công trình thủy lợi và phân vùng thuỷ lợi 50
2.3.2 Hiện trạng về các hệ thống công trình thủy lợi 53
2.4 Các mô hình t ổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn t ỉnh Lào Cai 55
2.4.1 Các mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi đã được nghiên cứu triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào cai 55
2.4.2 Các tổ chức đang quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh 57
2.5 Th ực trạng năng lực quản lý khai thác hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Lào Cai 61
2.5.1 Hoàn thành mục tiêu thực thi xã hội hóa việc quản lý khai thác công trình thủy lợi 63
2.5.2 Thực trạng về quản lý kinh tế 63
2.5.3 Thực trạng giá kết quả đầu ra 65
2.5.4 Thực trạng đối với việc cung cấp nước tưới 68
2.6 Đánh giá chung về năng lực quản lý khai thác các công trình thủy lợi 72
Trang 52.6.1 Đánh giá về tổ chức, phân cấp và có mô hình tưới hợp lý, bền vững 72
2.6.2 Đánh giá về chính sách và quy định trong quản lý khai thác công trình thủy lợi 76
2.6.3 Đánh giá hệ thống công trình thủy lợi 76
2.6.4 Đánh giá đội ngũ nhân lực quản lý hệ thống thủy lợi 77
2.6.5 Đánh giá việc giải quyết tốt mọi xung đột về lợi ích tưới trên hệ thống 78
2.6.6 Đánh giá quản lý kinh tế 78
2.6.7 Đánh giá kết quả đầu ra 79
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH TH ỦY LỢI CHO CÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ TH ỦY NÔNG CƠ SỞ Ở TỈNH LÀO CAI 81
3.1 Định hướng phát triển thủy lợi trên địa bàn tỉnh Lào Cai 81
3.1.1 Định hướng về đầu tư xây dựng thủy lợi 81
3.1.2 Định hướng về quản lý khai thác 82
3.2 Nh ững cơ hội và thách thức trong quản lý khai thác các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong thời gian tới 85
3.2.1 Những cơ hội 85
3.2.2 Những thách thức 86
3.3 Các gi ải pháp đề xuất 88
3.3.1 Cơ chế chính sách và quy chế hoạt động cho các tổ chức thủy nông cơ sở 88
3.3.2 Lựa chọn mô hình tổ chức quản lý thủy nông cơ sở phù hợp 98
3.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, hỗ trợ kỹ thuật cho các tổ chức thủy nông cơ sở 101
3.3.4 Giải pháp về công tác quản lý tài chính, kỹ thuật của hệ thống 104
3.3.5 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục cộng đồng tham gia quản lý khai thác công trình thủy lợi 108
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
Trang 6Tổ chức Nông – Lương thế giới
Hội đồng nhân dân
Hợp tác xã
Hiện đại hóa Khai thác công trình Khai thác công trình thủy lợi Kinh tế - xã hội
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Sản xuất nông nghiệp
Quản lý khai thác công trình thủy lợi Phòng chống lụt bão
Phát triển nông thôn Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thủy lợi phí Trung ương
Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lào Cai 35Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi tỉnh Lào Cai 44
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Các loại hình doanh nghiệp quản lý 13
Bảng 1.2 Các loại hình tổ chức dùng nước 18
Bảng 2.1 Diện tích, dân số của các huyện, thành phố thuộc tỉnh Lào Cai 39
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu tổng hợp so sánh về phát triển kinh tế tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2014 42
Bảng 2.3 Tổng hợp thiệt hại do thiên tai từ năm 2011 đến 2015, tỉnh Lào Cai 43
Bảng 2.4 Hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý, chất lượng nguồn nhân lực chuyên ngành thủy lợi của tỉnh Lào Cai 49
Bảng 2.4 Hiện trạng hệ thống thủy lợi của tỉnh Lào Cai, tính đến năm 2015 54
Bảng 2.5 Tổng hợp số lượng ban thuỷ lợi xã thuộc UBND xã, phường, thị trấn 58
Bảng 2.6 Tổng hợp các loại hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các huyện, thành phố trong tỉnh Lào Cai 60
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lào Cai là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Bắc Việt Nam, dân số nông thôn chiếm gần 80%, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 64%, trình độ dân trí thấp, tỷ
lệ hộ đói nghèo vẫn còn ở mức cao, tính đến năm 2015 tỷ lệ hộ đói nghèo là 17,61%, cận nghèo 12,65%
Theo số liệu báo cáo của Chi cục thủy lợi tỉnh Lào Cai đến nay toàn Tỉnh có 1.134 hệ thống công trình thuỷ lợi, phục vụ tưới tiêu với diện tích hơn 43.000 ha cây trồng các loại và mặt nước nuôi thuỷ sản Trên địa bàn không có hệ thống công trình thuỷ lợi liên huyện, liên tỉnh Có 18 hệ thống công trình thuỷ lợi liên xã thuộc
5 huyện, Thành phố còn lại là các hệ thống công trình đều nằm gọn trong một xã Tổng chiều dài kênh mương của các hệ thống công trình thủy lợi là 4.332 km; có 1.035 đầu mối là đập dâng lấy nước và 97 hồ chứa nước
Hiện nay, tất cả các công trình thuỷ lợi của tỉnh Lào Cai sau khi xây dựng xong đều được giao cho UBND cấp xã và cộng đồng khu vực xây dựng công trình quản lý vận hành khai thác, không tổ chức loại hình công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi Các loại hình tổ chức thủy nông ở cơ sở trên địa bàn tỉnh được thành lập để trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi bao gồm: Ban thủy lợi xã là các cán bộ thuộc UBND xã làm nhiệm vụ quản lý thủy nông kiêm nhiệm; các hợp tác
xã nông nghiệp được giao nhiệm vụ dịch vụ quản lý thủy nông và các tổ hợp tác dùng nước ở các thôn bản
Là tỉnh miền núi, kinh tế và cơ sở hạ tầng chưa phát triển, trình độ dân trí còn thấp, có nhiều yếu tố ảnh hưởng gây khó khăn trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi đối với các tổ chức thủy nông ở cơ sở như: Công trình thủy lợi rải rác phân tán, đầu mối thường xa khu dân cư, địa hình dốc, địa chất phức tạp, dễ
bị sạt lở do mưa lũ Hầu hết là công trình thủy lợi là tự chảy, tuyến kênh dài nên khó vận hành kiểm soát dòng chảy, nhiều công trình xây dựng đã lâu và xây dựng trong điều kiện kinh phí đầu tư hạn hẹp nên công trình không đồng bộ, khả năng chống chịu mưa lũ không tốt, thiết kế còn nhiều tồn tại khiếm khuyết, thiếu vốn sửa
Trang 10chữa nâng cấp công trình Hiện tại nhiều hạng mục bị hư hỏng chưa được sửa chữa kịp thời
Đặc điểm các công trình thủy lợi ở Lào Cai là loại nhỏ, yêu cầu kỹ thuật vận hành quản lý tương đối đơn giản, cộng đồng có thể tự quản lý nhưng do đội ngũ cán
bộ làm công tác thuỷ lợi ở cơ sở không có trình độ chuyên môn thủy lợi và hầu hết
là chưa được đào tạo tập huấn về quản lý công trình, về trình tự thủ tục sửa chữa công trình, nên chỉ quản lý vận hành và bảo vệ công trình theo kinh nghiệm, chỉ đảm nhận được các công việc sửa chữa đơn giản; Từ năm 2008, Nhà nước có chủ trương miễn, giảm thủy lợi phí cho người nông dân; Các tổ chức thủy nông cơ sở được tiếp nhận nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí để tổ chức hoạt động quản lý khai thác các công trình thủy lợi; Cơ chế chính sách hỗ trợ kinh phí cấp bù do miễn giảm thủy lợi phí trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện nay cơ bản là phù hợp, thực hiện đúng chủ trương cơ chế chính sách của Nhà nước, tuy nhiên các tổ chức thủy nông
cơ sở vẫn chưa chủ động trong việc điều hành, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí Nhà nước hỗ trợ Tổ chức quản lý thuỷ nông cơ sở ở một số xã còn lúng túng khi tiếp nhận nguồn kinh phí cấp bù miễn thu thủy lợi phí, chậm phân khai kế hoạch tài chính, công tác bảo dưỡng chỉ thực hiện định kỳ theo mùa vụ, công tác bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên chưa kịp thời, trong khi nhu cầu sửa chữa các công trình thuỷ lợi rất lớn
Việc nghiên cứu tìm các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cho các
tổ chức thuỷ nông ở cơ sở để quản lý khai thác (QLKT) có hiệu quả các công trình thuỷ lợi, đưa tiêu chí thủy lợi là một trong những tiêu chí hoàn thành sớm trong chương trình xây dựng nông thôn mới tại Lào Cai là một yêu cầu thực sự cấp thiết
Đó cũng chính là lý do tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn “Giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các tổ chức thuỷ nông cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai” với mong muốn có những đóng góp hữu ích cho địa phương trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước, phát triển kinh tế - xã hội
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý khai
Trang 11thác công trình thủy lợi của các tổ chức thủy nông cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai, phù hợp với trình độ, điều kiện dân sinh kinh tế, tập quán của nông thôn miền núi biên giới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng của tổ chức thuỷ nông cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai, những nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp nâng cao năng lực để quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của các tổ chức này
b.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu đưa ra các giải pháp phù hợp, có hiệu quả
để nâng cao năng lực cho các tổ chức thuỷ nông cơ sở tại Lào Cai trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn miền núi biên giới của tỉnh Lào Cai
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu sẽ thu thập các số liệu, đánh giá thực trạng
về các mô hình quản lý khai thác các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2015 và đưa ra các giải pháp tăng cường năng lực quản lý cho các tổ chức giai đoạn 2016 – 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu, thông tin tài liệu của các tổ chức thủy nông cơ sở, các công trình thủy lợi thực tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai;
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, phân tích so sánh: Nhằm phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng việc áp dụng các mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện đang áp dụng, từ đó rút ra những kết quả cần phát huy
và những tồn tại cần khắc phục;
- Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng trong việc hệ thống hóa những cơ
sở lý luận cho nghiên cứu của đề tài Phương pháp phân tích hệ thống chọn đề xuất
Trang 12các giải pháp nâng cao năng lực cho tổ chức thủy nông cơ sở quản lý khai thác công trình thủy lợi hiệu quả và phù hợp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý ngh ĩa khoa học
Hệ thống hóa những cơ sở lý luận, những kết quả phân tích đánh giá thực trạng và những giải pháp nghiên cứu đề xuất về tổ chức quản lý khai thác hệ thống các công trình thủy lợi của luận văn là những tài liệu tham khảo hữu ích đối công tác nghiên cứu về quản lý vận hành các công trình thủy lợi miền núi sau xây dựng
có hiệu quả
b Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi là những ý kiến gợi mở đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các địa phương ở Lào Cai áp dụng để xây dựng, phát triển các tổ chức thủy nông cơ sở quản lý hiệu quả, bền vững công trình thủy lợi, phù hợp với chủ trương phát triển mô hình tổ chức quản lý thuỷ nông cơ sở gắn với cộng đồng (PIM), có sự chỉ đạo hỗ trợ của Chính quyền, cơ quan Nhà nước
6 Kết quả dự kiến đạt được
- Hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi, năng lực quản lý, khai thác hệ thống công trình của các tổ chức thủy nông cơ sở và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phù hợp, tính hiệu quả và bền vững của các mô hình tổ chức quản lý khai thác này;
- Đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ chức thủy nông cơ sở đang quản
lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Lào Cai, qua đó rút ra những kết quả đạt được cần nghiên cứu áp dụng và những mặt còn tồn tại, vướng mắc cần khắc phục và tháo gỡ
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi cho các tổ chức thuỷ nông cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai
7 Nội dung của luận văn
Luận văn được kết cấu với những nội dung sau: Phần mở đầu, 3 chương nội
Trang 13dung chính, phần kết luận và kiến nghị
Các chương nội dung chính của luận văn được lựa chọn tên gọi như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý khai thác công trình thủy
l ợi;
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý, khai thác các công trình thủy lợi
trên địa bàn tỉnh Lào Cai;
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực QLKT các công trình
thủy lợi của các tổ quản lý thủy nông cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 T ổng quan chung
1.1.1 M ột số khái niệm
1 Khái ni ệm về quản lý
Quản lý là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, trong đó
chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản lý cấp trên còn đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân , nhà quản
lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân người lao động Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ
chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh Thông thường quản lý đồng nhất
với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh nhằm
sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động, bất kỳ một hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần có sự quản lý
dù ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những
chức năng chung
2 Khái ni ệm về quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi là một quá trình vận hành, sử dụng
và quản lý các công trình thuỷ lợi nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng
kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu, đồng
thời theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh để đảm bảo công trình thuỷ lợi an toàn, phát huy
hiệu quả trong suốt thời gian sử dụng
3 Khái ni ệm về hệ thống công trình thuỷ lợi
Hệ thống công trình thuỷ lợi (dù lớn hay nhỏ) phục vụ tưới tiêu, cấp nước cho sản xuất, dân sinh thường bao gồm các hạng mục như: Công trình đầu mối;
Mạng lưới kênh mương; Các công trình trên kênh
Trang 15a Công trình đầu mối bao gồm:
- Hồ chứa nước: Giữ nước mưa và dòng chảy của sông suối trong mùa mưa
để sử dụng trong mùa khô Hồ chứa nước thường bao gồm các hạng mục: Đập ngăn nước, đập tràn xả nước thừa, cống lấy nước vào kênh dẫn
- Đập dâng: Ngăn nước của sông, suối để tạo mực nước cần thiết chảy trong kênh mương đến các khu cần tưới Đập dâng cùng với cống lấy nước đầu kênh tạo thành cụm đầu mối công trình đập dâng nước
- Cửa lấy nước không đập: Là hình thức lấy nước trực tiếp từ khe suối vào kênh dẫn đến các khu tưới mà không cần có đập dâng
- Trạm bơm: Trạm bơm nước từ nguồn nước vào kênh hoặc đường ống dẫn
phục vụ sản xuất, dân sinh, (bao gồm bơm điện, bơm dầu, bơm thuỷ luân )
b Mạng lưới kênh mương bao gồm: kênh đất, kênh lát mái, kênh xây gạch,
đá, kênh bê tông, kênh bằng đường ống các loại… (có độ dốc đảm bảo dẫn nước tự
chảy thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước, tiêu nước) Kênh mương tưới là kênh mương làm nhiệm vụ dẫn nước tưới từ đầu mối đến mặt ruộng
hoặc nơi cần cấp nước Mạng lưới kênh mương được chia thành các cấp kênh: kênh chính (kênh cấp I) dẫn nước từ đầu mối cấp vào các kênh nhánh (cấp II); Kênh nhánh cấp II cấp nước vào kênh nhánh cấp III; kênh nhánh cấp III cấp nước vào kênh nội đồng Kênh mương tiêu là kênh mương làm nhiệm vụ tiêu thoát nước
chống sói lở, ngập úng
c Các công trình trên kênh bao gồm: Cống lấy nước đầu kênh; Bể lắng cát
kết hợp tràn xả nước thừa khi có lũ; Tràn qua kênh, kết hợp tràn nước thừa trong kênh; Ống dẫn xi phông; Cầu máng; Công trình chia nước; Cống tiểu câu
1.1.2 Vai trò, nhi ệm vụ của hệ thống công trình thủy lợi
1 Vai trò c ủa hệ thống công trình thủy lợi
Hệ thống công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ sản
xuất và dân sinh, bảo đảm an ninh lương thực, góp phần bảo vệ môi trường và phòng, chống giảm nhẹ thiên tai
2 Nhi ệm vụ của hệ thống công trình thủy lợi
Trang 16Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống công thủy lợi là phục vụ nước tưới cho đất
trồng lúa, rau màu các loại và cây công nghiệp ngắn ngày Công trình thuỷ lợi có nhiệm vụ chống hạn hán vào mùa khô hạn vì hệ thống công trình thuỷ lợi có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới cho nông nghiệp đồng
thời khắc phục được tình trạng khi thiếu nước, khô hạn kéo dài;
Hệ thống công trình thủy lợi còn có nhiệm vụ cấp nước cho diện tích nuôi
trồng thuỷ sản;
Hệ thống công trình thủy lợi còn có nhiệm vụ tiêu thoát nước cho đất nông nghiệp và tiêu thoát nước cho khu dân cư ở thành thị và nông thôn, đặc biệt là
chống ngập úng vào mùa mưa;
Hệ thống công trình thủy lợi còn góp phần ngăn mặn đất nông nghiệp nhất là khi triều cường lên xuống thất thường như hiện nay, cải tạo chua phèn, làm tăng
diện tích canh tác;
Hệ thống thuỷ lợi có nhiệm vụ duy trì cấp nước sinh hoạt cho dân sinh và sản
xuất công nghiệp với khối lượng và chất lượng cần thiết;
Hệ thống công trình thuỷ lợi còn có thể đảm bảo việc giao thông thuỷ; Dẫn
và xử lý nước thải để bảo vệ nguồn nước tránh bị ô nhiễm;
Hệ thống công trình thuỷ lợi còn có nhiệm vụ phòng chống lũ lụt, bảo vệ bờ
biển, tránh những thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và của nhân dân;
Hệ thống công trình thủy lợi còn tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây
trồng, chuyển dịch cơ cấu, nâng hiệu suất sử dụng đất, phân bố lại nguồn nước tự nhiên, cải tạo đất, cải tạo môi trường theo chiều hướng có lợi cho sản xuất và sinh
hoạt Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng phát triển đa dạng, phong phú theo hướng hiệu
quả kinh tế cao
Ngoài ra các hệ thống công trình thủy lợi còn góp phần điều hòa dòng chảy cho các dòng sông, ổn định dòng chảy mùa kiệt, bảo vệ môi trường nước, phát triển
dịch vụ, du lịch
1.1.3 N ội dung của công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi
Nội dung cơ bản của công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi bao gồm:
Trang 17- Quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình tưới tiêu nước, cấp nước theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn công trình (gọi tắt là
Quản lý công trình);
- Thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích tưới tiêu, cấp nước phục vụ
sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trên cơ sở hợp đồng đặt hàng với
cơ quan có thẩm quyền hoặc kế hoạch được giao (gọi tắt là Quản lý nước);
- Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý, sử dụng vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao để hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thủy
lợi theo qui định của pháp luật (gọi tắt là Tổ chức và quản lý kinh tế)
1 N ội dung của quản lý công trình
- Thực hiện việc vận hành công trình thuỷ lợi theo nhiệm vụ thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình thao tác và các quy định pháp luật khác có liên quan; đảm
bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài;
- Tổ chức theo dõi, quản lý bảo vệ hệ thống công trình thuỷ lợi;
- Thường xuyên theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ
thống công trình thuỷ lợi; Sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị và thực
hiện việc duy tu, bảo dưỡng, bảo trì công trình đúng quy định;
- Thực hiện việc quan trắc, kiểm tra công trình theo quy định; Bảo vệ công trình, ngăn chặn, phòng, chống các hành vi xâm hại hoặc phá hoại công trình;
- Thực hiện công tác phòng chống lụt, bão, bảo đảm an toàn công trình;
- Thực hiện nhiệm vụ chủ đầu tư, tổ chức triển khai, giám sát việc khôi phục, đại tu, nâng cấp công trình;
- Lập, lưu trữ hồ sơ kỹ thuật và các hồ sơ tài liệu khác có liên quan;
- Ứng dụng công nghệ tiên tiến, áp dụng sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để kéo dài tuổi thọ và nâng cao hiệu quả khai thác công trình thuỷ lợi
Quản lý công trình là một nội dung đóng vai trò quan trọng trong việc quản
lý khai thác công trình thuỷ lợi Nếu một công trình được quản lý tốt sẽ nâng cao được tuổi thọ của công trình và phát huy được hiệu quả sử dụng theo yêu cầu thiết
kế công trình
Trang 182 N ội dung của quản lý nước
Điều hành việc phân phối cấp nước, tiêu nước hợp lý trong hệ thống công trình thuỷ lợi, ngăn mặn hoặc hạn chế xâm nhập mặn;
- Tổng hợp yêu cầu sử dụng nước; lập kế hoạch, phương án cung cấp nước cho các hộ dùng nước, phương án tiêu thoát nước và kế hoạch, phương án ngăn mặn
hoặc hạn chế xâm nhập mặn; dự báo và đánh giá nguồn nước;
- Quan trắc, đo đạc lượng mưa, mực nước, lưu lượng nước, chất lượng nước theo quy định;
- Bảo vệ, chống ô nhiễm nguồn nước, quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thải nước vào nguồn nước;
- Phát triển và tăng cường năng lực quản lý tưới để khai thác có hiệu quả và
bền vững các hệ thống công trình thuỷ lợi hiện có;
- Thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, úng ngập, xâm nhập mặn,
giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra;
- Đánh giá kết quả tưới, tiêu nước, cung cấp nước và báo cáo về kết quả cung
cấp nước cho các hộ dùng nước phi nông nghiệp;
- Phổ biến, ứng dụng các công nghệ tưới tiết kiệm nước, cải thiện chất lượng nước, nâng cao hiệu quả sử dụng tổng hợp nguồn nước; các quy trình, kỹ thuật tưới tiêu nước tiên tiến để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp;
- Lập, lưu trữ bản đồ kết quả tưới tiêu nước hàng vụ, hồ sơ kỹ thuật và các
hồ sơ tài liệu khác có liên quan;
Việc quản lý nước là một công tác hết sức quan trọng trong quản lý vận hành khai thác công trình thủy lợi Nếu quản lý nước tốt sẽ nâng cao năng suất cho cây
trồng, phát triển kinh tế cho đất nước, giảm thiểu được thiên tai như lũ lụt, hạn hán… và ngược lại nếu quản lý không tốt sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ cho con người và nền kinh tế của đất nước
3 N ội dung của tổ chức và quản lý kinh tế
- Xây dựng mô hình tổ chức phù hợp, áp dụng cơ chế quản lý năng động, tạo động lực thúc đẩy, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi;
Trang 19- Lập kế hoạch chi phí hàng năm, phục vụ quản lý hệ thống, theo quy định;
- Thực hiện các thủ tục, hồ sơ giao kế hoạch, đặt hàng, đấu thầu đối với sản
phẩm, dịch vụ công ích trong quản lý khai thác công trình thủy lợi;
- Ký kết hợp đồng tưới, tiêu nước, hợp đồng cung cấp nước và các dịch vụ khai thác tổng hợp công trình thuỷ lợi; Hợp đồng thực hiện việc bảo trì, bảo vệ công trình; Nghiệm thu, thanh lý các hợp đồng nêu trên;
- Quản lý các khoản thu, các khoản chi theo quy định;
- Lập và áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật phục vụ việc quản lý, vận hành công trình, gồm: Định mức sử dụng nước; định mức sử dụng điện hoặc nhiên
liệu; định mức lao động; định mức sửa chữa thường xuyên và các định mức cần thiết khác;
- Thực hiện việc theo dõi có hệ thống, điều chỉnh hoặc đề nghị điều chỉnh cho phù hợp các chỉ tiêu kinh tế, các định mức kinh tế - kỹ thuật; định kỳ đánh giá
hiệu quả dịch vụ tưới tiêu nước và hiệu quả đầu tư, khai thác công trình thuỷ lợi
1.1.4 H ệ thống những văn bản pháp quy về quản lý khai thác công trình thủy lợi
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi số UBTVQH10 ngày 04/4/2001; Nghị định số 143/2003/NĐ-CP, của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy
31/2001/PL-lợi; Nghị định Số 67/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP;
- Nghị quyết số 26- NQ/TW "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" do Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa X;
- Quyết định số 1590/QĐ- TTg ngày 9/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng chiến lược phát triển Thủy lợi Việt Nam;
- Quyết định số 899/QĐ- TTg ngày 16/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tới cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và
Trang 20phát triển bền vững; Quyết định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2005
của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích;
- Thông tư số 178/2014/TT-BTC ngày 26/11/2014 của Bộ Tài chính về việc Hướng dẫn một số nội dung về tài chính khi thực hiện đấu thầu, đặt hàng, giao kế
hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ;
- Các thông tư của Bộ Nông nghiệp và PTNT: Thông tư số 45/2009/TT-BNN ngày 24/7/2009 về hướng dẫn lập và phê duyệt phương án bảo vệ công trình thuỷ
lợi; Thông tư số 65/2009/TT-BNN về việc hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân
cấp, quản lý khai thác công trình thủy lợi; Thông tư số 56/2010/TT-BNN ngày 01/10/2010 quy định một số nội dung trong hoạt động của các tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi; Thông tư số 40/2011/TT-BNN ngày 27/5/2011 về quy định
năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi;
1.1.5 Th ực trạng quản lý khai thác các công trình thủy lợi khu vực miền núi phía B ắc
Hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nằm ở thượng nguồn các sông, suối Do điều kiện địa hình đất đai bị chia cắt manh mún và có độ dốc lớn, dân cư ở phân tán, cho nên việc phát triển thủy lợi phục vụ sản xuất, khai hoang mở rộng diện tích canh tác và nước sinh hoạt cho nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp Trong
những năm qua Ðảng, Nhà nước và nhân dân các tỉnh miền núi phía Bắc đã tập trung đầu tư nhiều công sức, tiền của để xây dựng các hệ thống công trình thủy lợi
phục vụ sản xuất và đời sống, giải quyết yêu cầu về lương thực trên địa bàn Rất nhiều công trình thủy lợi vừa và nhỏ được xây dựng bằng nhiều hình thức kiên cố, bán kiên cố nhằm đáp ứng yêu cầu nước tưới cho cây trồng, phòng chống thiên tai,
bảo vệ môi trường sinh thái và cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư vùng núi cao
Việc tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi ở miền núi phía Bắc cũng giống như của cả nước bao gồm hai loại hình chính là tổ chức của Nhà nước (Công ty khai thác CTTL, Trung tâm, Ban quản lý thủy nông) và các tổ
chức thủy nông cơ sở hay còn gọi là các tổ chức dùng nước
Trang 21Theo báo cáo đánh giá thực trạng Các tổ chức thủy nông cơ sở quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của PGS.TS Trần Chí Trung (Trung tâm PIM-Viện Khoa
học thủy lợi Việt Nam):
Trước thực trạng những năm gần đây, Nhà nước và nhân dân các tỉnh miền núi chỉ chú trọng đầu tư ngân sách và công sức cho việc nâng cấp, kiên cố hệ thống kênh mương và xây dựng mới một số công trình phục vụ chuyển dịch cơ cấu cây
trồng với nguồn vốn còn quá nhỏ so với yêu cầu của sản xuất Nhưng do quá trình
sử dụng nhiều năm, lũ lụt tàn phá, thiếu kinh phí đầu tư cho việc bảo dưỡng, sửa
chữa hằng năm, cho nên nhiều công trình đang xuống cấp nghiêm trọng Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích to lớn như đã đề cập ở trên, công tác quản lý, khai thác CTTL hiện vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập
Th ứ nhất là cơ chế chính sách đầu tư còn chưa hợp lý, chú trọng đầu tư xây
dựng mới, đầu tư công trình đầu mối mà chưa quan tâm nhiều đến đầu tư nâng cấp,
hiện đại hóa, hoàn chỉnh hệ thống nên thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác Nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi lớn được xây dựng xong công trình đầu mối, kênh chính nhưng còn thiếu công trình điều tiết nước, kênh mương nội đồng nên chưa khai thác hết năng lực theo thiết kế
Th ứ hai là hiệu quả hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trình
thuỷ lợi vẫn còn thấp Đối với bộ máy quản lý Nhà nước về thuỷ lợi, phân giao nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành còn nhiều bất cập,
chồng chéo dẫn đến khó khăn trong điều hành chỉ đạo Một số địa phương vẫn còn
có sự trùng lẫn giữa chức năng quản lý Nhà nước và quản lý sản xuất, chức năng
quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ công ích của nhà nước Quản lý
vẫn mang nặng tính quan liêu, mệnh lệnh, không phù hợp với cơ chế quản lý của
nền kinh tế thị trường Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chưa bám sát thực tiễn
và chưa được coi trọng, các thủ tục hành chính còn rườm rà
Th ứ ba là bộ máy quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, mặc dù số lượng đơn
vị lớn nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao Hầu hết các đơn vị quản lý khai thác CTTL đều là doanh nghiệp nhà nước vận hành theo cơ chế bao cấp đã hạn chế tính
Trang 22năng động và thiếu động lực phát triển Chất lượng nguồn nhân lực, kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý ở nhiều tổ chức, đơn vị chưa đáp ứng được yêu cầu Tổ chức quản
trị sản xuất thiếu khoa học nên chi phí sản xuất cao, năng suất lao động thấp, bộ máy cồng kềnh, chi tiền lương chiếm phần lớn nguồn thu của doanh nghiệp
Th ứ tư là thể chế chính sách và phương thức quản lý, khai thác CTTL chậm
đổi mới theo cơ chế thị trường Cơ chế quản lý mang tính “nửa thị trường, nửa bao
cấp”, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, trong khi quản lý sản xuất
của doanh nghiệp theo cơ chế bao cấp không tạo ra động lực để thúc đẩy phát triển
Quản lý sản xuất bằng phương thức giao kế hoạch, theo cơ chế bao cấp dẫn đến tư tưởng dựa dẫm, trông chờ vào nhà nước Quản lý tài chính theo hình thức cấp phát - thanh toán, chưa ràng buộc chặt chẽ với cơ chế kiểm tra giám sát, đánh giá và tính công khai minh bạch đã làm sai lệch bản chất hoạt động sản xuất trong nền kinh tế
thị trường Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất chưa dựa vào kết quả đầu ra, thanh quyết toán chủ yếu dựa vào chứng từ, nặng về thủ tục hành chính
Cơ chế ràng buộc quyền lợi, trách nhiệm của người đứng đầu với hiệu quả sử
dụng tiền vốn, tài sản vật tư, lao động của nhà nước chưa rõ ràng và thiếu chặt chẽ gây ra lãng phí nguồn lực Phân phối thu nhập cho người lao động vẫn mang tính cào bằng dẫn đến năng suất lao động thấp, chí phí sản xuất cao Chính sách trợ cấp qua giá đã ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ kinh tế, khó kiểm soát và kém hiệu quả, gây ra việc sử dụng nước lãng phí Chính sách miễn giảm thủy lợi phí cho nông dân theo hình thức gián tiếp không gắn kết được trách nhiệm doanh nghiệp với nông dân với vai trò là người hưởng lợi
Phân cấp quản lý chưa phù hợp, nên hầu hết các công trình thuỷ lợi đều do doanh nghiệp nhà nước quản lý đã không tạo được sân chơi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia nên chưa huy động được sức mạnh của các tổ chức cá nhân ở khu vực ngoài nhà nước và của nhân dân, đặc biệt là người hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi
Những năm gần đây, các Tổ chức dùng nước được thành lập ở nhiều địa phương chủ yếu là được sự hỗ trợ kỹ thuật của các dự án quốc tế Tuy nhiên, hầu
Trang 23hết các địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng phát triển các tổ
chức dùng nước Nguyên nhân chủ yếu là các tỉnh còn thiếu các chính sách quy định phát triển mô hình quản lý khai thác CTTL có sự tham gia của người dùng nước, lúng túng trong việc tìm ra các mô hình tổ chức dùng nước phù hợp
1.2 Các mô hình t ổ chức quản lý khai thác các hệ thống công trình thủy lợi
Các mô hình tổ chức quản lý khai thác các hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta bao gồm hai loại hình chính là: Tổ chức của nhà nước (Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi, Trung tâm, Ban quản lý thủy nông) và các Tổ chức thủy nông cơ sở hay còn gọi là các tổ chức dùng nước (Hợp tác xã quản lý công trình
thủy lợi, Tổ chức hợp tác sử dụng nước, Tổ thuỷ lợi, Đội thủy nông, Ban thuỷ lợi
xã, Ban quản lý thuỷ nông xã, cá nhân quản lý công trình thủy lợi) Các tổ chức của nhà nước (chủ yếu là loại hình công ty khai thác công trình thủy lợi) quản lý, khai thác các công trình đầu mối, kênh chính của hệ thống thủy lợi có quy mô vừa và
lớn, vận hành phức tạp Các công trình còn lại do các tổ chức thủy nông cơ sở quản
lý bao gồm các hệ thống công trình có quy mô nhỏ hoặc hệ thống thủy lợi nội đồng thuộc các hệ thống lớn do các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý
1.2.1 Doanh nghi ệp nhà nước
1 Khái ni ệm doanh nghiệp Nhà nước: Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế
do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập khi thấy cần thiết Việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh
vực then chốt, xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm dó và chủ trương của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó
2 Doanh nghi ệp Nhà nước khai thác công trình thủy lợi
Doanh nghiệp Nhà nước khai thác công trình thủy lợi ở nước ta trước đây là các Công ty Khai thác công trình thủy lợi, trực thuộc các tỉnh, thành phố hoặc trực thuộc trung ương và là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích; Nay hầu hết các Công ty khai thác công trình thủy lợi chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên khai thác thủy lợi và Công ty cổ phần có một phần vốn thuộc sở hữu nhà nước; Các công ty này hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Về mô hình tổ
Trang 24chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của các công ty này thì các công trình đầu
mối, kênh trục chính quy mô lớn, liên huyện trở lên, do các doanh nghiệp nhà nước (chủ yếu là các Công ty TNHHMTV 100% vốn nhà nước) đảm nhận, được quy định tại Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg ngày 04/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về ban 5 hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước
Theo số liệu từ Tổng Cục thuỷ lợi tổng hợp báo cáo từ các địa phương trên toàn quốc, tính đến năm 2013 cả nước ta có 133 tổ chức nhà nước tham gia quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; Các Doanh nghiệp nhà nước quản lý, khai thác thuỷ
lợi phục vụ gần 70% diện tích tưới và hầu hết diện tích tiêu khu vực nông nghiệp
Có 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn được giao
quản lý, khai thác 3 hệ thống thủy lợi liên tỉnh là Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải, Dầu
Tiếng - Phước Hòa Các doanh nghiệp còn lại trực thuộc UBND các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi trong phạm vi
tỉnh hoặc liên tỉnh theo sự phân cấp của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Loại hình tổ chức Doanh nghiệp nhà nước này có quy mô vừa và lớn, tương đối đa
dạng bao gồm: có 92 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chiếm 69,1%; có
4 đơn vị là Công ty cổ phần chiếm 3,01%; Các doanh nghiệp này hiện nay hầu hết
đã được chuyển đổi từ loại hình Công ty khai thác công trình thuỷ lợi (Công ty nhà nước trước đây) sang Công ty TNHH MTV khai thác công trình thuỷ lợi 100% vốn thuộc sở hữu nhà nước và mô hình Công ty cổ phần có phần vốn thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Các tổ chức khác của Nhà nước gồm 37 đơn vị chiếm 28% (trong đó có 7 Trung tâm quản lý, khai thác thuỷ
lợi của cấp tỉnh và cấp huyện; có 8 Ban quản lý khai thác thuỷ lợi của cấp tỉnh và
cấp huyện; có 17 Trạm quản lý khai thác thuỷ lợi cấp huyện và có 5 Chi cục của các
tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau tham gia trực tiếp
quản lý khai thác công trình thuỷ lợi)
Sự phân bố các loại hình doanh nghiệp giữa các vùng miền là không đồng
nhất Số lượng doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi giữa các vùng miền không đồng đều, phụ thuộc vào số lượng hệ thống công trình của từng nơi
Trang 25Doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi được thành lập để quản lý công trình đầu mối và hệ thống kênh chính, kênh cấp hai các hệ thống quy mô vừa và
lớn, vận hành phức tạp Tổng hợp từ báo cáo của các địa phương trên toàn quốc,
hiện có khoảng 80% doanh nghiệp có công trình quy mô từ liên huyện trở lên còn
lại 20% doanh nghiệp có quy mô liên xã Các doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thuỷ lợi thực hiện việc cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân thông qua hợp đồng với các Tổ chức Hợp tác dùng nước việc sản xuất và cung ứng các
sản phẩm, dịch vụ công ích “Quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi có quy
mô lớn, bao gồm CTTL liên tỉnh, liên huyện; công trình thuỷ nông kè đá lấn biển”
thực hiện theo phương thức đặt hàng hoặc giao kế hoạch Việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích “Quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi có quy mô vừa và nhỏ”, thực hiện theo phương thức đấu thầu hoặc đặt hàng Hoạt động tài chính thu chi của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi tuân thủ theo quy định về quy chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp 100% vốn thuộc sở
hữu Nhà nước, quy định tại Thông tư số 11/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính
1.2.2 Doanh nghi ệp tư nhân
1 Khái ni ệm doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Cá nhân chủ sở hữu đó chỉ được làm chủ sở hữu một doanh nghiệp tư nhân; không được đồng thời làm chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân khác hoặc chủ sở hữu hộ kinh doanh và thành viên hợp danh của công ty hợp danh; cá nhân chủ sở hữu tự quyết định cơ cấu tổ chức và đích thân trực tiếp quản lý, thực hiện các hoạt động kinh doanh và là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
2 Doanh nghi ệp tư nhân khai thác công trình thủy lợi
Các công trình thuỷ lợi nhỏ, hệ thống kênh mương mặt ruộng, có thể giao cho Doanh nghiệp tư nhân trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi Theo phương thức hoạt động của các doanh nghiệp quản lý khai thác CTTL được quy định tại Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 về sản xuất và cung ứng sản
Trang 26phẩm dịch vụ công ích, có thể áp dụng hình thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao kế
hoạch trong quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi Tuy nhiên, hình thức Doanh nghiệp tư nhân trực tiếp quản lý khai thác CTTL chưa được áp dụng nhiều
Theo báo cáo tổng hợp của Viện khoa học thuỷ lợi Miền Nam (2013) Ở đồng bằng sông Cửu long là một trong những vùng tiên phong trong việc huy động Doanh nghiệp tư nhân đầu tư cung cấp dịch vụ công và trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi Điển hình cho hình thức này là mô hình ở tỉnh An Giang Ở đó,
một bộ phận người dân lập ra, đóng góp cổ phần để mua máy móc, thiết bị, vật tư
và cung cấp dịch vụ tưới tiêu cho nông dân theo hợp đồng kinh tế được thỏa thuận
và ký kết trước mỗi vụ tưới Bên cạnh đó, UBND tỉnh An Giang cũng ban hành
những chính sách ưu đãi rất cụ thể nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế trong
xã hội đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh như Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 21/5/2008 và sau đó được thay thế bằng Quyết định số 12/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư xây dựng hệ thống trạm bơm điện trên địa bàn tỉnh An Giang
với những ưu đãi cụ thể như hỗ trợ lãi suất (50% lãi suất tín dụng đầu tư của nhà nước), xác lập quyền khai thác (từ 7-12 năm), hỗ trợ về thuế, tiền thuê đất, v.v đã
mở ra cơ hội, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, nhờ vậy hiện nay có những tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đã mạnh dạn đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng các trạm bơm có quy mô phục vụ lên tới khoảng 1.800 ha
B ảng 1.1 Các loại hình doanh nghiệp quản lý
Trang 271.2.3 T ổ chức thủy nông cơ sở
Đến đầu những năm 1990, chương trình quản lý tưới có sự tham gia của người dân (PIM) ở nhiều nước đã chứng minh rằng người dùng nước đóng vai trò quan trọng để vận hành và quản lý hệ thống thuỷ lợi hiệu quả Mô hình quản lý tưới
có sự tham gia của người dùng nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công trong công tác quản lý công trình thủy lợi Tuy nhiên, sự tham gia của người dùng nước cần được thể hiện thông qua các tổ chức phù hợp
Ở nước ta hiện nay, đối với các công trình thuỷ lợi nhỏ, hệ thống kênh
mương mặt ruộng, hầu hết được giao cho các tổ chức quản lý thủy nông ở địa phương quản lý, khai thác Các tổ chức quản lý thủy nông ở địa phương đã tạo nên
một hệ thống tổ chức quản lý tưới theo hướng có sự tham gia của người dùng nước
rất đa dạng Đó là tổ chức thủy nông cơ sở hay còn gọi là các tổ chức dùng nước, bao gồm (Hợp tác xã nông nghiệp quản lý công trình thủy lợi, Tổ chức hợp tác sử
dụng nước, Tổ thuỷ lợi, Tổ đường nước, Đội thủy nông, Ban thuỷ lợi xã, Ban quản
lý thuỷ nông, cá nhân quản lý công trình thủy lợi… được cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc đồng ý cho thành lập, hoặc có giấy phép đăng ký kinh doanh, hoặc được đại hội xã viên thông qua quy chế, điều lệ hoạt động) Cơ quan thành lập, hoặc đồng ý cho thành lập là Uỷ ban nhân dân cấp huyện Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thể ủy quyền cho UBND cấp xã nơi đơn vị đóng trụ sở chính quyết định thành lập hoặc đồng ý thành lập
Về hoạt động của Tổ chức thuỷ nông cơ sở, được hướng dẫn theo quy định
của Luật Hợp tác xã (nếu các tổ chức này là các Hợp tác xã) hoặc quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về hoạt động của tổ hợp tác Liên quan đến hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp
và PTNT đã ban hành các văn bản, như: Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12/10/2009 hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; Thông tư số 56/2010/TT-BNNPTNT ngày 1/10/2010 quy định một số nội dung trong hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi; Thông
tư số 40/2011/TT-BNNPTNT ngày 27/5/2011 quy định năng lực tổ chức, cá nhân
Trang 28tham gia quản lý khai thác công trình thủy lợi; Quyết định số 2891/QĐ-BNN-TL ngày 12/10/2009 hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật trong công tác
quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
Theo số liệu báo cáo của Tổng cục thủy lợi (2013), cả nước có 16.238 Tổ
chức dùng nước bao gồm 3 loại hình chủ yếu là: Hợp tác xã quản lý công trình thủy
lợi; Tổ chức hợp tác gồm Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông; và Ban
quản lý thủy nông Trong đó, Hợp tác xã và Tổ chức hợp tác là hai loại hình chính chiếm tới 90% tổng số Tổ chức dùng nước Loại hình Hợp tác xã (HTX) có 6.270 đơn vị chiếm 39% tổng số tổ chức dùng nước, trong đó, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là loại hình phổ biến chiếm 95% số hợp tác xã, Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông chỉ chiếm khoảng 5% Loại hình Hợp tác xã làm dịch vụ thủy lợi phân bố hầu
hết ở 7 vùng miền trong cả nước, chủ yếu tập trung (82%) ở vùng Đồng bằng sông
Hồng (47%), Bắc Trung bộ (22%) và Miền núi phía Bắc (12%) Đối với Tổ chức
hợp tác, hiện có 8.341 đơn vị, chiếm 51% Loại hình này xuất hiện phổ biến ở các
tỉnh thuộc vùng Miền núi phía Bắc (40%) và Đồng bằng sông Cửu Long (39%) Ban quản lý thủy nông có 1.627 đơn vị, chiếm 10% tổng số Tổ chức dùng nước
Loại hình này tập trung phần lớn ở vùng Miền núi phía Bắc (54%) và Bắc Trung Bộ (17%) Một số đặc điểm về thực trạng tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ
chức dùng nước được phân tích như dưới đây:
- Lo ại hình Hợp tác xã quản lý công trình thủy lợi: Các HTX quản lý công
trình thủy lợi hoạt động theo luật Hợp tác xã nên có con dấu, tài khoản, giấy phép đăng ký kinh doanh, có điều lệ và quy chế hoạt động, có trụ sở làm việc Hoạt động
của HTX làm dịch vụ thủy lợi bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp
dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp, phổ biến là 5 đến 10 dịch vụ, trong đó dịch vụ
thủy lợi là chủ yếu Phần lớn các HTX dịch vụ nông nghiệp đang hoạt động bình thường đảm bảo tưới tiêu sản xuất nông nghiệp Nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí
đã tạo điều kiện cho các hoạt động thủy lợi nói chung cũng như việc quản lý khai thác công trình cho các HTX quản lý công trình thủy lợi nhỏ độc lập ngày một thuận lợi, công tác tưới, tiêu ngày càng chủ động, phục vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất
Trang 29Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, nhất là ở Miền Trung, bộ máy quản lý của các HTX khá cồng kềnh vì các HTX quy mô thôn và liên thôn là chủ yếu Ví dụ theo số liệu điều tra tại hệ thống Nam Thạch Hãn (Quảng Trị) thì có tới 90% số HTX là quy mô thôn Đối với các Hợp tác xã thực hiện thu thủy lợi phí nội đồng,
trừ vùng Đồng bằng sông Hồng đạt mức 100%, các địa phương khác phần lớn chỉ thu đạt khoảng 85%, có địa phương chỉ đạt từ 60% Việc thu thủy lợi phí nội đồng chưa được thực hiện tốt ở nhiều địa phương một phần do các tỉnh chưa có quy định
mức trần về thủy lợi phí nội đồng Một số HTX chuyên khâu thủy nông hoạt động kém hiệu quả có nguy cơ bị tan rã do mức cấp bù thủy lợi phí thấp không đảm bảo tài chính cho công tác quản lý, vận hành công trình (như các HTXDVTL ở hệ thống
Dầu Tiếng, Tây Ninh) hay không thu được phí thủy lợi nội đồng (như HTXDN ở hệ
thống Phú Ninh, Quảng Nam)
- Lo ại hình Tổ chức hợp tác: Loại hình tổ chức hợp tác được thành lập chủ
yếu tập trung ở địa phương không tổ chức được Hợp tác xã, được thành lập theo Nghị định số 151 của Chính phủ về tổ hợp tác Một số tổ hợp tác dùng nước hoạt động theo quy định của Luật dân sự, trong khi một số tổ hợp tác vận dụng quy định
của luật Hợp tác xã, được sự chấp thuận của UBND huyện hoặc xã trên địa bàn Các mô hình này không có tư cách pháp nhân đầy đủ, không có con dấu, tài khoản
và trụ sở làm việc Tổ hợp tác dùng nước sử dụng con dấu của xã để thực hiện các giao dịch về dịch vụ thủy lợi Loại hình này quản lý các công trình thủy lợi có quy
mô nhỏ, phục vụ diện tích tưới tiêu không lớn Mặc dù xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng
mô hình tổ hợp tác dùng nước chủ yếu tập trung ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng
xa như các tỉnh Miền núi phía Bắc, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trong đó riêng ở Miền núi phía Bắc chiếm tới 40% tổng số tổ hợp tác của
cả nước Một số Tổ hợp tác quản lý công trình độc lập cũng được cấp bù kinh phí
miễn thủy lợi phí tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý công trình hiệu quả hơn
Một số tổ hợp tác dùng nước có khả năng đảm bảo về kinh phí cho công tác quản lý
vận hành (Tổ hợp tác hồ Bàu Zôn, Từ Tâm 1 ở Ninh Thuận) Tuy nhiên, mô hình tổ
hợp tác chưa phải là mô hình tổ chức dùng nước hoàn chỉnh do không có tư cách
Trang 30pháp lý đầy đủ, không có con dấu, tài khoản riêng nên thiếu tính tự chủ Các tổ hợp tác không có trụ sở giao dịch Một số tổ hợp tác có nguồn thu chỉ đáp ứng được khoảng 70% chi phí, chủ yếu là chi cho công tác quản lý vận hành, thiếu kinh phí cho công tác duy tu bảo dưỡng công trình Nhìn chung các tổ hợp tác ở các địa phương hoạt động hiệu quả thấp, một số tổ chức tồn tại mang tính hình thức ít hoạt động được Ở Miền núi phía Bắc, các tổ hợp tác dùng nước đang gặp khó khăn trong việc triển khai thực hiện nguồn cấp bù thủy lợi phí do thiếu nguồn tài chính
do không có tư cách pháp lý đầy đủ, không có con dấu, tài khoản riêng để hoạt động
- Lo ại hình Ban quản lý thủy nông: Ban quản lý thủy nông xã là mô hình có
con dấu, tài khoản, bộ máy tinh gọn, có chuyên môn, gắn được vai trò, trách nhiệm
của chính quyền trong công tác quản lý thủy nông ở cơ sở, thuận lợi trong việc quản
lý và thanh quyết toán tài chính ở địa phương Ban quản lý thủy nông xã làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, dưới các Ban quản lý thủy nông xã là các tổ quản lý thủy nông quy mô thôn, bản Ban quản lý thủy nông được UBND cấp huyện quyết định thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản Một số địa phương, Ban quản lý thủy nông được UBND xã quyết định thành lập Ban sử dụng con dấu và trụ sở của Uỷ ban nhân dân xã Nguồn thu của các Ban quản lý thủy nông xã chủ yếu từ nguồn cấp bù thủy lợi phí đối với các công trình thủy lợi nhỏ độc lập và từ đóng góp của cộng đồng cho quản lý hệ thống kênh nội đồng, trong đó kinh phí cấp bù thủy lợi phí là nguồn thu chủ yếu Mô hình Ban quản lý thủy nông
đã phát huy được sự tham gia của người dùng nước qua các tổ quản lý thủy nông thôn, bản Tuy nhiên, mô hình Ban quản lý thủy nông xã chưa phải là mô hình tổ
chức dùng nước hoàn chỉnh, chưa hoàn toàn phù hợp các tiêu chí phát huy sự tham gia của người dùng nước (PIM) vì hoạt động còn dựa vào chính quyền, nhiều trường hợp ban chỉ là cấp trung gian để giúp UBND xã quản lý các tổ quản lý thủy nông trong xã làm dịch vụ tưới Ban quản lý chưa thực sự là do dân bầu để phát huy
hiệu lực điều hành, quản lý công trình thủy lợi
Trang 311.627 (10%)
(Ngu ồn: Số liệu tổng hợp theo Báo cáo của Tổng cục thủy lợi, năm 2013)
1 2.4 Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi
Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi là các yêu
cầu mục tiêu cần đạt được để quản lý, khai thác công trình thủy lợi hiệu quả, bền
vững Theo kết quả khảo sát đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi của Tổng cục Thủy lợi và Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi (2012), các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi gồm:
1 Tiêu chí đánh giá về tổ chức, phân cấp và có mô hình tưới hợp lý, bền vững
- Các tổ chức, cá nhân được trao quyền quản lý khai thác công trình thủy lợi
và tính tự chủ (là chủ đích thực của các công trình thuỷ lợi, có tài khoản, con dấu riêng, trụ sở…)
- Các tổ chức, cá nhân được phân cấp quản lý, khai thác công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi phải đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm theo Thông tư
Trang 32Số 65/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định
về tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
- Thực hiện hiệu quả phân phối nước: Chỉ tiêu này đánh giá năng lực quản lý khai thác trong việc lập và thực hiện kế hoạch, điều hoà phân phối nước trong hệ
thống, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác Tiêu chí này cũng phản ánh gián tiếp
mức độ chấp hành kế hoạch phân phối nước của các tổ chức quản lý, khai thác CTTL (Xây dựng kế hoạch phân phối nước; Thực hiện phân phối nước theo kế hoạch)
2 Tiêu chí đánh giá về chính sách và quy định trong quản lý khai thác CTTL
Hoàn thiện các cơ chế chính sách để các tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường; minh bạch hóa các quan hệ hệ kinh tế, khắc phục tình trạng công - tư chồng chéo và quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu Phân phối thu nhập phải dựa vào kết quả đầu ra, quyền lợi gắn liền với trách nhiệm Như vậy mới tạo được động lực cho phát triển, phát huy tính năng động sáng tạo của người lao động, phát huy vai trò chủ thể của người hưởng lợi, đẩy mạnh xã hội hoạt động thủy lợi phù hợp với cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước Đề xuất chính sách để thúc đẩy xây dựng hệ thống thủy
lợi nội đồng, gắn với xây dựng nông thôn mới
3 Tiêu chí đánh giá hệ thống CTTL hoàn chỉnh, đồng bộ và luôn được nâng cấp
- Đảm bảo thực hiện kế hoạch sửa chữa nâng cấp công trình thuỷ lợi; Thực
hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá hiện trạng hư hỏng các công trình thủy lợi trước, trong và sau mùa mưa lũ; Kiểm tra việc quản lý, vận hành và bảo trì CTTL;
- Thực hiện duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp CTTL thường xuyên, đảm
bảo công trình hoạt động an toàn, phát huy năng lực công trình phục vụ sản xuất
- Hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ chuyển đổi, ưu tiên đối với việc nâng
cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng thủy lợi nội đồng gắn với xây dựng nông thôn mới để áp
dụng các biện pháp canh tác tiên tiến và công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn chủ lực đang có thị trường, tưới cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao, cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ, v.v
Trang 334 Đội ngũ nhân lực quản lý hệ thống có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu
- Đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ quản lý khai thác công trình thủy lợi từ Trung ương đến địa phương có đủ năng lực, kinh nghiệm phù hợp với quy mô, tính
chất, yêu cầu kỹ thuật của các công trình thủy lợi được giao quản lý, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn (từ Trung ương đến địa phương)
và pháp luật về kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi trong phạm vi được giao
- Các nhân viên vận hành trạm bơm điện, hồ chứa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Thông tư số 40/2011/TT-BNNPTNT của Bộ NN
và PTNT ngày 27/05/2011 về quy định năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia quản
lý khai thác công trình thủy lợi Các thủy nông viên được đào tạo, bồi dưỡng, tập
huấn, có kinh nghiệm về vận hành, bảo dưỡng công trình thủy lợi nội đồng và hỗ
trợ khác để phát triển (nguồn nhân lực được đào tạo, tham gia hội thảo, hỗ trợ kỹ thuật, bồi dưỡng, tập huấn về vận hành, quản lý khai thác CTTL…)
5 Tiêu chí luôn gi ải quyết tốt mọi xung đột về lợi ích tưới trên hệ thống
Đối với việc cung cấp nước tưới, các tiêu chí đánh giá chất lượng cung cấp nước, không xảy ra tranh chấp về nước bao gồm mức độ công bằng, độ tin cậy và
sự linh hoạt
- Mức độ công bằng là tiêu chí cho thấy các khu tưới hay các hộ dùng nước khác nhau trong cùng hệ thống có nhận được lượng nước theo đúng yêu cầu hay không
- Độ tin cậy là tiêu chí đánh giá mức độ đảm bảo cấp nước đầy đủ đầy đủ, đúng thời điểm và thời gian theo yêu cầu của người dùng nước
- Tính linh hoạt của một hệ thống thể hiện qua 3 yếu tố: 1) số lần tưới trong
lịch tưới có thể điều chỉnh linh hoạt; 2) Hệ thống có thể cung cấp lưu lượng một cách linh hoạt theo yêu cầu tưới cho các khu tưới; và 3) Thời lượng: là linh hoạt trong các thời đoạn cấp nước Sự linh hoạt sẽ tránh cho cây trồng bị thiếu nước hoặc
thừa nước gây lãng phí và gây xói mòn đất, đồng thời tránh gây ảnh hưởng đến các
hoạt động khác
Trang 346 Tiêu chí đánh giá quản lý kinh tế
+ Khả năng đảm bảo tài chính:
Khả năng đảm bảo tài chính = Kinh phí thực tế cho O&M
Kinh phí yêu cầu cho O&M (1.1) + Về thu thủy lợi phí nội đồng:
Tỷ lệ thu TLP nội đồng = TLP nội đồng thực thu
TLP nội đồng yêu cầu (1.2) + Về chi phí quản lý vận hành (O&M)
Tỷ lệ chi phí O&M = Kinh phí thực tế O&M
Tổng doanh thu thực tế của tổ chức (1.3)
7 Tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng công trình:
Hiệu quả sử dụng CT =
Số CT hoạt động bình thường
Tổng số các công trình (1.4) + Nâng cao năng suất nông nghiệp vùng được tưới (nhờ công trình thuỷ lợi):
Hệ số quay vòng ruộng đất = Diện tích gieo trồng trong năm (ha)
Diện tích canh tác (ha) (1.5) + Phát huy hiệu quả công trình:
Duy trì diện tích tưới = Diện tích tưới thực tế (ha)
Diện tích tưới thiết kế (ha)
(1.6)
1.2.5 N ội dung quản lý khai thác công trình thủy lợi
Công tác quản lý, khai thác và bảo vệ CTTL gồm ba nội dung chính sau:
1 Quản lý nước: Điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý trong
hệ thống công trình thuỷ lợi đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác
2 Quản lý công trình: Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ thống công trình thuỷ lợi; đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo
Trang 35đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn hiệu quả
1 Y ếu tố về con người quản lý, tổ chức quản lý và sử dụng: Là sự kết hợp
giữa quản lý của chính quyền địa phương với cộng đồng người hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi tức là sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụng công trình; Trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi; Trình độ, nhận
thức của người nông dân cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác công trình
thủy lợi và hiệu quả của công trình
2 Y ếu tố về môi trường xã hội: Bao gồm các đặc điểm và các yếu tố xã hội
liên quan đến người sử dụng như tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân Đặc biệt những người dễ bị tổn thương có ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả quản lý và sử dụng công trình thủy lợi
3 Y ếu tố kỹ thuật: Bao gồm công nghệ được áp dụng vào công trình thủy lợi,
các loại hình công trình thuỷ lợi như: Tưới tiêu tự chảy hay Tưới tiêu bằng bơm nước, tưới ngầm, tưới ẩm, tưới phun hay tưới tràn
1.3.2 Nhân t ố khách quan
1 Điều kiện tự nhiên
Bất cứ loại công trình xây dựng nào do con người tạo nên cũng không thể
tồn tại mãi mãi mà bị hư hỏng xuống cấp theo thời gian Điều kiện tự nhiên như địa hình, địa chất, khí tượng thủy văn có ảnh hưởng sâu rộng đến quy mô, hình thức
kết cấu, điều kiện làm việc lâu dài của công trình thủy lợi
Trang 36Điều kiện tự nhiên ở mỗi nơi, mỗi vùng, miền khác nhau cho nên mỗi công trình thủy lợi nào cũng có những đặc điểm riêng Thực tế xây dựng công trình thủy
lợi nếu tài liệu thủy văn đánh giá không đầy đủ, không chính xác thì công trình thủy
lợi được xây dựng nhưng khả năng tháo lũ không đủ, gây nguy hiểm cho công trình khi gặp lũ lớn
2 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là những cơ sở pháp lý mà các tổ chức, cá nhân phải căn
cứ vào đó để thực hiện công việc quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức, cá nhân phù hợp với những qui định của pháp
luật Môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới công tác thủy lợi Các văn bản pháp luật liên quan liên quan trực tiếp đến công tác thuỷ
lợi như Luật Đê điều số 79/2006/QH11 được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 29/11/2006 ; Luật Tài nguyên nước năm 1998 quy định các hoạt động quản lý, bảo
vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại
do nước gây ra và Luật Tài nguyên nước sửa đổi năm 2012; Luật phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 quy định về hoạt động phòng chống thiên tai, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phòng chống thiên tai, quản lý nhà nước và nguồn lực bảo đảm việc thực hiện phòng chống thiên tai; Tuy nhiên văn bản Luật là văn bản pháp luật quan trọng nhất về thủy lợi thì chưa được ban hành Văn bản pháp lý hiện nay để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi là Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi, được Ủy ban Thường vụ Quốc
hội khóa IX thông qua ngày 31/8/1994 Qua quá trình thực hiện, từ thực tiễn của nhiệm vụ khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Pháp lệnh đã được bổ sung, điều
chỉnh và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X đã thông qua tại văn bản số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 4/4/2001
Các văn bản dưới luật được ban hành nhìn chung bảo đảm tính khả thi và đáp ứng kịp thời yêu cầu thuỷ lợi phục vụ sản xuất và dân sinh Tuy nhiên, nhiều địa phương ban hành các văn bản chi tiết để thực thi các nội dung về quản lý, khai thác
Trang 37công trình thuỷ lợi còn chậm Một số nội dung của Pháp lệnh có nội dung phức tạp cũng được ban hành, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, tuy nhiên kết quả còn
hạn chế, như việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, khai thác và
bảo vệ công trình thuỷ lợi Đối với công tác quy hoạch, kế hoạch, đầu tư xây dựng thuỷ lợi, hiện nay đang được các địa phương vận dụng vào thực hiện theo các quy định của Luật Xây dựng, không có Luật nào điều chỉnh về công tác quy hoạch, kế
hoạch và đầu tư xây dựng thuỷ lợi với đặc thù riêng của công tác thuỷ lợi
3 Tác động trực tiếp của nước đến công trình thủy lợi
- Tác động cơ học của nước tới công trình thủy lợi là áp lực nước ở dạng tĩnh
hoặc động Trong đó, áp lực thủy tĩnh thường là lớn nhất và thường đóng vai trò quyết định đến điều kiện làm việc và ổn định của công trình
- Tác động lý, hóa học của nước thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như dòng
nước có thể bào mòn công trình, đặc biệt khi dòng nước có lưu tốc lớn và nhiều bùn cát Ở nơi có lưu tốc lớn và do kết cấu công trình thủy lợi có thể sinh ra lưu vực chân không, gây hiện tượng xâm thực bề mặt công trình Các bộ phận làm bằng kim
loại có thể bị rỉ, phần bê tông có thể bị nước thấm xâm thực Dưới tác động của dòng nước làm cho nền công trình có thể bị sói mòn cơ học, hóa học lôi cuốn đất làm rỗng nền, hoặc hòa tan các chất trong nền có thạch cao, muối và các chất hòa tan khác
- Tác động sinh học của nước: Các sinh vật sống có thể bám vào các công
trình thủy lợi làm mục nát gỗ, bê tông, đá, mối làm rỗng thân đê, thân đập, làm sập
nền công trình
1.4 T ổng quan về quản lý khai thác các công trình thủy lợi ở Việt Nam
Trong phát triển nông nghiệp, thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu, nhờ có công trình thủy lợi, đã tạo điều kiện đưa khoa học kỹ thuật vào thực tế, nhất là giống, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ
Theo thống kê năm 2012, ở nước ta đã xây dựng được hàng ngàn hệ thống công trình thủy lợi, gồm: 6.648 hồ chứa các loại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.960 km đê các loại Trong
Trang 38đó, có 904 hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên Nhiều hệ thống công trình thủy lợi lớn đã được đầu tư xây dựng để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tổ chức Nông – Lương thế giới (FAO) đã nghiên cứu về mô hình quản lý
thủy lợi ở nhiều nước Các nghiên cứu, tổng kết của các tổ chức và FAO đều rút ra
ba mô hình phổ biến là: Mô hình nhân dân quản lý hệ thống thủy lợi; Mô hình Nhà nước quản lý toàn bộ hệ thống thủy lợi; Mô hình Nhà nước và nhân dân cùng quản
lý hệ thống thủy lợi
Đặc trưng của các mô hình này như sau:
- Mô hình nhân dân quản lý hệ thống thủy lợi: Đây là hình thức quản lý mà người dân (hay người dùng nước) tự đảm nhận Người dùng nước tự lập ra hội dùng nước (HDN) để quản lý hệ thống thủy lợi Người dùng nước là tổ chức tập thể của
những người hưởng lợi Hội dùng nước thực hiện quản lý vận hành toàn bộ hệ
thống thủy lợi theo tập quán từ lâu đời Các quốc gia áp dụng mô hình quản lý như
thế này gồm có Mỹ, Tây Ban Nha, Indonexia, Apganistan, Chi lê…
Chính quyền Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của HDN, Nhà nước chỉ khuyến khích và tạo mọi điều kiện về pháp lý và điều kiện thuận lợi cho HDN hoạt động đạt kết quả Tất cả các chi phí cho vận hành hệ thống thủy lợi là do
hội nghị HDN bàn bạc công khai quyết định theo tình hình thực tế Các hội viên và người hưởng lợi đều phải đóng góp để bảo đảm các chi phí này
Hội người dùng nước có điều lệ, trong đó quy định về cơ cấu tổ chức Cơ cấu
của hội gồm có ban quản trị, có tổ hoặc ban hòa giải, có các phòng ban giúp việc
hội, có các tổ đội vận hành, tu sửa công trình, dẫn nước vào nơi tiêu thụ Tất cả các nhân viên này đều do hội nghị hội viên của hội bàn bạc và bầu ra
- Mô hình Nhà nước quản lý toàn bộ hệ thống thủy lợi: Loại hình tổ chức này
là tổ chức doanh nghiệp Nhà nước quản lý toàn bộ hệ thống thủy lợi Tổ chức này được thực hiện nhiều ở Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Bolivia, Austraylia, Kenia, Việt Nam, Trung Quốc, Liên xô cũ và các quốc gia Đông Âu
Trang 39Nguồn thu của doanh nghiệp Nhà nước bao gồm phần đóng góp của nông dân và các khoản trợ cấp của Nhà nước Số tiền này ít khi được sử dụng đúng mục đích Nhà nước cũng không thể kiểm soát được việc sử dụng tài chính và các hiện tượng quan liêu đối với ban quản lý và doanh nghiệp loại này
Nhiệm vụ của doanh nghiệp Nhà nước do cơ quan Trung ương, Bộ Nông nghiệp, Bộ Thủy lợi hay Ban giao thông công chính phê duyệt
- Mô hình Nhà nước và nhân dân cùng quản lý hệ thống thủy lợi: Hình thức
quản lý này được phân chia như sau: Nhà nước quản lý công trình đầu mối và trục kênh chính lớn, HDN của nông dân quản lý phần kênh nhánh còn lại Hình thức
quản lý này tương đối phổ biên ở các quốc gia Viễn Đông và Châu Á
Nhưng trong thực tế, nhiều năm nay nguồn vốn đầu tư của trung ương và địa phương cho thủy lợi miền núi đều ở mức rất thấp Nhiều công trình làm mới, do đầu
tư dàn trải, nhỏ giọt, kéo dài thời gian xây dựng, vừa giảm hiệu quả vốn đầu tư, vừa lãng phí và gây rất nhiều khó khăn cho chủ đầu tư cũng như các đơn vị thi công
Vấn đề này cần được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương và Nhà nước quan tâm, cân đối đầu tư cho hợp lý giữa xây dựng mới và nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có Khoản kinh phí này cần được huy động từ nhiều nguồn Tùy theo quy mô và yêu cầu kỹ thuật của từng công trình mà phân bổ
cơ cấu đầu tư của trung ương, tỉnh, huyện và dân đóng góp cho phù hợp việc nâng
cấp đồng bộ Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách và cơ chế thu thủy lợi phí phù
hợp thực tế để có nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên cho công trình phục vụ được ổn định, lâu dài Mặt khác, cần đổi mới và kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các địa phương, cơ sở, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý, vận hành công trình
Ðể làm tốt vấn đề này, mỗi phòng nông nghiệp huyện đều phải có ít nhất một cán bộ kỹ thuật thủy lợi (nhiều huyện hiện nay không có cán bộ kỹ thuật thủy lợi để hướng dẫn quy trình vận hành và xử lý khi công trình gặp sự cố)
Ðầu tư kinh phí nâng cấp công trình, đổi mới và kiện toàn bộ máy quản lý, khai thác công trình thủy lợi từ tỉnh xuống đến huyện, xã và xây dựng cơ chế chính
Trang 40sách thủy lợi phí là ba biện pháp cần thực hiện đồng bộ là yêu cầu đặt ra với công tác thủy lợi ở các tỉnh miền núi thời kỳ CNH, HÐH đất nước trong những năm tới
1.5 Kinh nghi ệm quản lý khai thác các công trình thủy lợi ở một số địa phương
1.5.1 Kinh nghi ệm ở nước ngoài
Từ những năm đầu thập niên 90 của Thế kỷ trước, nhiều nước trên Thế giới
đã bắt đầu chuyển giao cho nông dân quản lý hệ thống tưới tiêu Tại hội thảo về chuyển giao quản lý thủy lợi tại Châu Á do tổ chức Nông lương thế giới (FAO) và
Viện Quản lý nước Quốc tế (IWMI) tổ chức tại Thái Lan năm 1995, các đại biểu đã
thảo luận và tổng kết 4 lý do dẫn đến việc nhiều nước thực hiện chính sách chuyển giao quản lý thủy lợi trong những năm qua, đó là: 1)Kinh phí của Nhà nước cấp không đủ đáp ứng các nhu cầu của công tác quản lý, vận hành, duy tu bảo dướng và
sửa chữa các hệ thống thủy lợi 2)Việc thu thủy lợi phí của các doanh nghiệp nhà nước rất khó khăn 3)Các hệ thống tưới do các doanh nghiệp nhà nước quản lý có
hiệu quả thấp 4) Trình độ của người nông dân ngày càng được nâng lên và nếu được tổ chức lại thì họ sẽ có khả năng tiếp thu việc quản lý công trình
Vậy cần phải chuyển giao quản lý thuỷ lợi từ hệ thống do Cơ quan Nhà nước
quản lý sang cho Tổ chức dùng nước quản lý Hiện nay chuyển giao quản lý thủy
lợi đang diễn ra ở nhiều nước trên Thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển tại Châu Á và Châu Phi nhằm nâng cao hiệu quả và tăng tính bền vững của các hệ
thống thủy lợi
Ở một số quốc gia, các doanh nghiệp Nhà nước quản lý công trình thủy lợi
tồn tại lâu dài Nhưng có một số quốc gia, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ quản lý
vận hành công trình một số năm đầu, khi công trình mới hoàn thành Sau đó hệ
thống thủy lợi được chuyển giao cho Tổ chức dùng nước của nông dân quản lý
1 Inđônêxia
Từ năm 1987 Chính phủ đã công bố một danh sách theo đó công trình có
diện tích từ 500 ha trở xuống lần lượt được chuyển giao cho các hộ dùng nước Các bước trình tự chuyển giao đã được thảo luận và làm thử trên một số công trình Một