Từ chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 được tác giả so sánh đối chiếu chuẩn nghèo đơn chiều các giai đoạn trước ở Việt Nam, đặc biệt là được nhìn nhận dưới góc nhìn đa dạng văn hóa để từ đó khẳng định ý nghĩa tầm quan trọng của việc tiếp cận chuẩn nghèo mới và việc nâng cao vai trò của công tác xã hội vào quá trình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo bền vững ở Việt Nam trong những năm tới.
Trang 1This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
CHUẨN NGHÈO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
-TỪ GÓC NHÌN ĐA DẠNG VĂN HÓA
Nguyễn Thị Mai Hồng
Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt Từ chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 được tác giả so sánh đối
chiếu chuẩn nghèo đơn chiều các giai đoạn trước ở Việt Nam, đặc biệt là được nhìn nhận
dưới góc nhìn đa dạng văn hóa để từ đó khẳng định ý nghĩa tầm quan trọng của việc tiếp
cận chuẩn nghèo mới và việc nâng cao vai trò của công tác xã hội vào quá trình thực hiện
công tác xóa đói giảm nghèo bền vững ở Việt Nam trong những năm tới.
Từ khóa: Phân hóa giàu nghèo (PHGN), Xóa đói giảm nghèo (XĐGN), Công nghiệp hóa
hiện đại hóa (CNH, HĐH).
1 Mở đầu
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội luôn xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình phát triển của bất kì một xã hội nào trên thế giới Mặc dù nghèo đói phát sinh và tồn tại một cách khách quan nhưng nó luôn là một vấn đề cần được Chính phủ quan tâm giải quyết Nếu không giải quyết được thì sẽ không khắc phục được hậu quả tiêu cực của phân hóa giàu nghèo,
mà ở đó luôn là nguy cơ tiềm tàng của phân hóa giai cấp, sắc tộc, bần cùng hóa một nhóm dân cư cũng như kéo theo các tệ nạn xã hội
Chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa vấn
đề XĐGN vào danh mục những công việc bức xúc của Chính phủ Người coi giặc đói, giặc dốt là thứ giặc nguy hiểm Đói thì suy kiệt thể lực, trí tuệ Đói sẽ làm mông muội tinh thần và thấp kém con người Một dân tộc đói, dốt là một dân tộc yếu
Mỗi một quốc gia, mỗi một dân tộc trên thế giới có phương pháp, tiếp cận giải quyết vấn
đề nghèo đói khác nhau, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội của mình Thậm chí trong mỗi một quốc gia, ở mỗi một giai đoạn cũng có các phương pháp thực hiện XĐGN khác nhau Ví dụ ở nước ta trong những năm 80 và đầu những năm 90, các hoạt động XĐGN của Chính phủ chủ yếu là trợ cấp khó khăn thường xuyên hoặc đột xuất cho các hộ nghèo bằng tiền hoặc hiện vật trong những tháng giáp hạt hoặc do ảnh hưởng của thiên tai Từ năm 1993 trở lại đây, cách tiếp cận XĐGN của Chính phủ ngày càng đổi mới với phương châm “Giúp người nghèo cần câu hơn cho người nghèo xâu cá” Cách tiếp cận này đã giúp người nghèo chủ động tự vươn lên XĐGN Chính điều đó đã tạo nên một môi trường XĐGN ngày càng bền vững ở nước ta hiện nay Ngày nhận bài: 5/1/2016 Ngày nhận đăng: 2/5/2016
Liên hệ: Nguyễn Thị Mai Hồng, e-mail: maihongsw@yahoo.com.vn
Trang 2Nguyên nhân gây ra nghèo đói liên quan rất nhiều đến trình độ phát triển kinh tế; điều kiện địa lí - tự nhiên; dân số và trình độ dân trí; bản sắc văn hóa, tín ngưỡng, tập tục; hệ tư tưởng và chế độ chính trị Vì thế tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia, địa phương đều có sự khác nhau về mức độ, số lượng người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của các quốc gia khác và có nước tỉ lệ nghèo đói cao, có nước tỉ lệ nghèo đói thấp
Đặc điểm mang tính đặc thù ở nước ta hiện nay là còn rất nhiều người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo Họ chẳng những nghèo về kinh tế mà còn nghèo cả về văn hóa (thiếu những điều kiện,
cơ hội về nhận thức, giáo dục, y tế, thông tin, ) Trong số đó có không ít những gia đình chính sách, những người có công với đất nước tuy còn nghèo nhưng sống trọng học vấn, trọng danh dự, trọng đạo đức [4]
Chúng ta cũng dễ nhận thấy trong số hộ giàu, có hộ giàu lên nhờ “cơ may” xã hội như có công ăn việc làm trong các ngành, các cơ sở đem lại thu nhập cao; hoặc được đi học tập, công tác
ở nước ngoài có hộ giàu lên bằng chính sức lao động của mình, song cũng có hộ giàu lên không phải bằng trí tuệ, sức lực mà từ những vị trí xã hội thuận lợi hoặc lợi dụng kẽ hở của luật pháp và những hạn chế của công tác quản lí Nhà nước trong thời buổi sơ khai của nền KTTT để làm giàu Những thủ đoạn làm giàu bất chính thường là tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả
Từ đó nảy sinh một loại người “giàu xổi” trọc phú, hợm của, “trưởng giả học làm sang” Thậm chí tình trạng quá dư thừa của cải của một nhóm người, với lối sống hưởng thụ vật chất quá đáng, sùng bái đồng tiền, đánh giá người khác bằng giá trị đồng tiền, dẫn đến thói ích kỉ và các tệ nạn xã hội Đúng như Federico Mayor nguyên tổng thư kí UNESCO đã nhận định: đó là nơi người giàu
bị cận thị vì sự giàu có, không nhìn thấy chân trời nào khác ngoài những chân trời mà các quy luật thị trường hé lộ cho thấy
Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải chịu hậu quả kéo dài của nhiều năm chiến tranh, nước ta bắt đầu đi vào CNH, HĐH khi chưa có những chỉ số cao về phát triển con người Nhiều năm qua, tốc độ nâng cao dân trí ở nước ta còn quá chậm, mặt bằng dân trí thấp, số người được đào tạo có trình độ tay nghề cao còn ít Phần đông người lao động chưa được đào tạo
về nghề nghiệp (tỉ lệ lao động có kĩ thuật thấp), ở nước ta mới có 12% lao động qua đào tạo Trong
số lao động qua đào tạo, số có trình độ đại học chiếm 0.3%; đại học và cao đẳng là 20.1%; trung học chuyên nghiệp là 35,8%; công nhân kĩ thuât có bằng là 24,4%; công nhân kĩ thuật không có bằng là 19,4% [7]
Đó là những khó khăn hết sức to lớn cho việc tiếp thu khoa học và công nghệ mới nhằm đạt tới những mục tiêu của CNH, HĐH Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, cuộc đua tranh trên thị trường thế giới và khu vực đang đồi hỏi và phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của nguồn lực con người Hơn nữa, do sự chuyển đổi cấu trúc nền kinh tế, phân công mới về lao động nhằm đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước từ đó diễn ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực nguồn nhân lực hướng vào làm thay đổi nghành nghề, cơ cấu và chất lượng (trình độ, kĩ năng, tay nghề, năng lực quản
lí ) của nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới của thị trường (bao gồm cả thị trường lao động) trong nước và quốc tế thì nhóm người nghèo, nhóm người chịu thiệt thòi không có những điều kiện
để bắt kịp với sự đổi mới
Kinh nghiệm của các nước đạt thành quả cao về kinh tế ở Đông Á cho thấy, các nước đó điểm xuất phát đều là các nước nghèo, đông dân, muốn nâng cao mức sống, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ có một con đường là xây dựng một xã hội học vấn cao Do đó, đã xuất hiện một hiện tượng đua tranh trong chiến lược phát triển giáo dục giữa nước này với nước khác, giữa khu vực này với khu vực khác Nghiên cứu trường hợp Đông Á cho thấy nếu như phân phối thu nhập càng công bằng thì tỉ lệ học sinh đi học cấp tiểu và trung học càng tăng Điều đó chứng tỏ rằng tỉ
Trang 3lệ học sinh đi học (lao động có giáo dục) với sự bất bình đẳng được đo bằng hệ số Gini có quan hệ chặt chẽ với nhau Khi sự bất bình đẳng về thu nhập giảm, một số đông con em các hộ nghèo sinh sống ở nông thôn được tới trường Kiến thức thu được trong trường học đã làm cho năng suất lao động nông nghiệp tăng lên, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chuyển dịch cơ cấu lao động làm tăng tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa Như vậy, bất bình đẳng về thu nhập, về
cơ hội có việc làm sẽ giảm xuống nếu các quốc gia tập trung phát triển hệ thống giáo dục Do
đó phát triển giáo dục và đào tạo là biện pháp không gì thay thế được để thực hiện tăng triển kinh
tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội nói chung, ở nông thôn nói riêng (nơi có nhiều người nghèo sinh sống), là chiếc cầu vững chắc dẫn dắt nhân dân một nước từ nghèo nàn lạc hậu tới giàu
có văn minh
Theo kết quả điều tra xã hội học về thu nhập và mức sống của các hộ cư dân ở nông thôn nước ta cho thấy có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến đói nghèo, nhưng thiếu vốn, thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn chiếm các tỉ lệ cao trong các câu trả lời Thiếu vốn thường được coi
là nguyên nhân hàng đầu của các hộ nghèo ở nông thôn hiện nay Song nếu xét về nguồn gốc sâu
xa, có tác động lâu dài đến nghèo đói, thì thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn mới chính là nguyên nhân cơ bản nhất Tuy không dễ, nhưng tình trạng thiếu vốn có thể từng bước được khắc phục bằng các hệ thống ngân hàng cho người nghèo và bằng nhiều hình thức tín dụng khác ở nông thôn Còn thiếu kiến thức về kinh nghiệm làm ăn thì không thể giải quyết nhanh chóng, mà phải
có chiến lược lâu dài nâng cao dân trí, đào tạo nghề nghiệp, bồi dưỡng kĩ năng lao động cho mọi người dân Điều đó càng khẳng định, cùng với nhiều biện pháp khác thì phát triển giáo dục và đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo có nghĩa là đầu tư cho phát triển Nói cách khác đầu tư vào con người có thể cắt đứt được cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó, tạo dựng vòng phát triển Mối quan hệ biện chứng như vậy thật ra đã xuất phát từ thực tiễn
Thực tiễn của sự phát triển KTTT ở một loạt nước cho thấy bên cạnh sự kì diệu của khoa học và công nghệ, bên cạnh nền văn minh tin học hiện đại, còn tồn tại vô vàn những hiện tượng phản văn hóa Việc đề cao tự do cá nhân quá mức, khuyến khích tiêu dùng tới mức tối đa dẫn tới sự xói mòn, xuống cấp và tan vỡ trong lĩnh vực văn hóa, con người và xã hội, làm suy giảm nghiêm trọng cuộc sống nội tâm đưa con người tới tình trạng “dưới mức phát triển văn hóa” hay là một sự
“phản phát triển” là những nhân tố tiềm tàng gây mất ổn định xã hội, suy thoái về kinh tế
Phương pháp thực hiện XĐGN ở các quốc gia rất khác nhau tùy thuộc vào những nguyên nhân gây ra nghèo đói, quan điểm, tiềm lực kinh tế đầu tư cho XĐGN Tuy nhiên, đối với mọi quốc gia việc XĐGN đều bao gồm các hoạt động để hỗ trợ các điều kiện cơ bản cho cuộc sống của người nghèo Vì vậy có thể khái quát rằng: Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản (như ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, tiếp xúc văn hóa, xã hội ) để người nghèo có thể tồn tại, phát triển và dần đạt tới mức sống trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của chuẩn nghèo đa chiều trong công tác XĐGN
ở nước ta hiện nay
Theo quyết định số 59/2015/GĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 có các nội dung chủ yếu sau:
Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
Trang 41 Các tiêu chí về thu nhập: a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; b) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
2 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản:
a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin;
b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [3]
Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
1 Hộ nghèo:
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản trở lên;
b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản trở lên
2 Hộ cận nghèo: a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
3 Hộ có mức sống trung bình:
a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng;
b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng [3]
Như vậy chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều có ý nghĩa to lớn đối với công tác XĐGN như sau:
1 Mức chuẩn nghèo quy định tại Quyết định này là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh
tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016-2020
2 Nội dung của QĐ này cũng quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan: trên cơ sở mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của cả nước và từng địa phương, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp để tác động trong các chương trình, chính sách đặc thù và thường xuyên, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân, nhất là các vùng có tỉ lệ tiếp cận thấp
3 Nội dung của QĐ góp phần:
a) Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và người dân về mục đích, ý nghĩa
Trang 5việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận nghèo từ đơn chiều sang đa chiều;
b) Chỉ đạo điều tra xác định, phân loại đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo hằng năm;
c) Chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu quản lí đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn;
d) Nghiên cứu, thực hiện giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân trên địa bàn;
đ) Căn cứ điều kiện và khả năng thực tế của địa phương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể bổ sung các chiều/chỉ số thiếu hụt, điều chỉnh ngưỡng đo lường các chỉ số thiếu hụt, áp dụng đầy đủ phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, nâng chuẩn nghèo thu nhập cao hơn chuẩn của quốc gia với điều kiện tự cân đối ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật để hỗ trợ các chính sách cho đối tượng nghèo, cận nghèo trên địa bàn do điều chỉnh, nâng chuẩn
4 Đối với nhân viên công tác xã hội việc nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách XĐGN nói chung, nắm vững chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 là
có ý nghĩa hết sức thiết thực để đưa chính sách XĐGN của Đảng, Nhà nước Việt Nam vào cuộc sống
2.2 Văn hóa trong công tác xóa đói giảm nghèo từ chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều ở nước ta hiện nay
Từ cách tiếp cận chuẩn nghèo đa chiều Việt Nam hiện nay có thể nêu ra nhiều giải pháp khác nhau nhằm mục đích giải quyết sự PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng, song tựu trung lại giải pháp nào cũng cố gắng thể hiện được một hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa cao, một quan điểm phát triển toàn diện, có hiệu quả và bao trùm lên tất cả là một triết lí nhân văn vì con người, do con người Đó chính là cách tốt nhất để khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo trong phát triển toàn diện kinh tế xã hội đất nước theo hướng CNH, HĐH, mà không hề cắt đứt khỏi những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc như Lê Quý Đôn đã tổng kết: “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”
Thực tiễn giải quyết sự PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng ở nước ta thời gian qua cho thấy để giữ cho khoảng cách giàu-nghèo trong giới hạn “độ” cho phép – tức còn là động lực cho sự phát triển phải có những giải pháp thiết thực về mặt xã hội để hạn chế bớt những nghịch cảnh phản nhân văn Những giải pháp này đương nhiên không thể thoát li trình độ kinh tế nhưng lại phải được thực hiện với nhiều yếu tố phi kinh tế có thể huy động được Có được những giải pháp này lại đòi hỏi phải đặt ở tầm nhìn văn hóa, phải từ sự tiếp cận văn hóa để có những điều chỉnh về mặt xã hội nhằm khắc phục những hậu quả khó tránh khỏi do cơ chế thị trường nói chung,
do hiện tượng PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng nói riêng gây ra
Giải pháp về văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vậy, nhân tố văn hóa trong những năm gần đây được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Morixơ Gôđơliê – nhà nhân học Pháp đưa ra nhận định khái quát: nếu thế kỉ XX là của con người kinh tế, thì thế kỉ XXI sẽ là của con người văn hóa Văn hóa như là cơ sở, là nền tảng của sự phát triển Max Weber – nhà xã hội học Đức cũng nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa Theo ông văn hóa là những tính “quy định nằm sâu trong cấu trúc của mỗi xã hội Nó có khả năng quy định chiều hướng vận động của các cộng đồng Tầng lớp ưu tú của xã hội phải được hình thành trên cơ sở sàng lọc của cuộc sống, trong đó văn hóa là một đảm bảo quan trọng
Trang 6Trước đây chúng ta đã có lúc sai lầm khi xem văn hóa như một thứ phát sinh từ kinh tế, thụ động với kinh tế và chỉ là một phần nhỏ “chiếu cố” đến sau khi họ đã lo liệu những vấn đề kinh tế, nếu còn khả năng, mà không thấy tính tương đối độc lập và sự tác động trở lại của nó
Ngày nay văn hóa không chỉ là kết quả của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mà nó còn
là nhân tố bên trong thậm chí là nhân tố có ý nghĩa quyết định của sự phát triển hài hòa của kinh
tế và xã hội Văn hóa không chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là động lực của sự phát triển kinh tế bền vững và cũng có nghĩa là một điều kiện để khuyến khích làm giàu, XĐGN
Chúng ta nhấn mạnh yếu tố nội sinh trong phát triển thì chính văn hóa là động lực của sự phát triển các yếu tố nội sinh Bởi vậy, nếu nhìn nhận vấn đề PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng chỉ dừng ở sự kiện kinh tế, chỉ đo đến mức thu nhập bình quân đầu người để nhận diện về mức giàu và nghèo thì chỉ có thể dựng lên một bức tranh nhợt nhạt và khô cứng của một mảng
xã hội mà không thể nói lên được sự sôi động của cuộc sống con người Chỉ tìm thấy PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng ở mặt kinh tế mà không thấy được sự PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng trong những chỉ báo về văn hóa như lối sống, học vấn, đầu tư trong học hành của con cái về năng lực về tầm nhìn, cách giải quyết vấn đề sẽ không kiểm nhận được sự phát triển bền vững của các nhóm xã hội, tầng lớp xã hội, cộng đồng người nói riêng và của xã hội nói chung
Để có được những năng lực này, nhằm đáp ứng những yêu cầu trên, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục và đạo tạo, vì nó là phương tiện hữu hiệu để phát triển trí tuệ và trang bị chuyên môn Bởi vậy, văn hóa với ý nghĩa sâu sắc là giáo dục – đào tạo, nhằm khơi dậy những năng lực sáng tạo của con người trong tư duy, trong hành động, vừa tạo ra những tiền đề, những điều kiện để con người đạt được trình độ xã hội hóa cao, có tính đúng đắn, vừa đặt ra cho mỗi người cần chủ động nắm bắt, tiếp nhận những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng của nhân loại, để hoàn chỉnh, hoàn thiện nhân cách của bản thân Văn hóa là để nhằm nâng cao khả năng tự khẳng định, tự điều chỉnh, tự phát triển, tự hoàn thiện của con người Với ý nghĩa đó, yếu tố văn hóa góp phần khơi dậy những năng lực của con người để vươn lên làm giàu một cách chính đáng cho bản thân và xã hội theo mục tiêu xã hội đặt ra
Văn hóa chẳng những có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhân cách, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống mà còn tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển kinh tế xã hội và để con người sống tự do hạnh phúc có điều kiện thuận lợi nhất hoạt động sáng tạo phát huy được mọi tiềm năng ở mức tối đa Đúng như đồng chí Nguyễn Khánh đã viết: “Một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít lao động, vốn
kĩ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở khả năng phát huy tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người Tiềm năng sáng tạo này nằm trong yếu tố cấu thành văn hóa, tức trong sự hiểu biết, trong tâm hồn, trong đạo lí, lối sống, thị hiếu, trình độ thẩm mĩ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng
Một chính sách phát triển đúng là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực hành động sáng tạo con người: văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế Văn hóa được phát triển mạnh và đúng hướng có khả năng phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế, xã hội được phát triển hài hòa bền vững”
Quả thật, môi trường văn hóa có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người nói chung, có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện, tạo môi trường thông qua chính sách, pháp luật, để khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng đồng thời tạo lập dư
Trang 7luận thúc ép người nghèo vươn lên tham gia vào quá trình đổi mới nói riêng.
Ngày nay, những kiến thức văn hóa không chỉ dành riêng cho những người làm văn hóa, mà còn phải trở thành sức mạnh của người làm kinh tế và của mọi người Văn hóa ngày nay thực sự đã mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai, tính ưu trội trong sự phát triển xã hội sẽ thuộc về văn hóa Những người hội tụ được đủ các yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa sẽ trở thành tầng lớp
ưu tú của xã hội Điều đó càng thấy hết ý nghĩa của việc phải làm trong môi trường sống và hoạt động của con người trở thành môi trường văn hóa
Môi trường văn hóa và con người văn hóa là hai nhân tố tác động biện chứng lẫn nhau Suy cho cùng môi trường văn hóa sáng tạo ra con người trong chừng mực mà con người mà sáng tạo ra môi trường văn hóa Vì vậy phải làm cho văn hóa thâm nhập vào con người Con người phải thấm nhuần văn hóa, bắt rễ trong văn hóa Cần làm cho các nhân tố văn hóa kết hợp chặt chẽ với mọi hoạt động của con người để biến con người thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của công cuộc CNH, HĐH đất nước Nói một cách khác, để phát huy nguồn lực con người nhằm thực hiện CNH, HĐH đất nước phải xây dựng cho được một nền văn hóa tương xứng; để phát huy tính tích cực xã hội của người dân (trong đó có người nghèo), phải cải tạo và hoàn thiện môi trường xã hội nơi họ sinh sống, đặc biệt chú ý tới khu vực nông nghiệp nông thôn Đó chính là phương thức văn hóa để phát huy tiềm năng sáng tạo của người dân nói chung, nhóm người nghèo nói riêng tham gia tích cực vào quá trình giải quyết PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng
Môi trường văn hóa có liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tới quá trình dân chủ hóa xã hội, tới việc tạo lập sự công bằng, khắc phục các tệ nạn xã hội, tạo những điều kiện để giải phóng con người
Trong bối cảnh nước ta hiện nay giải pháp về văn hóa nhằm giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo nói chung, công tác xóa đói giảm nghèo nói riêng cần chú ý tới những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất: Những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục – đào tạo nhằm phát triển nguồn lực con
người nói chung, khơi dậy năng lực của người nghèo nói riêng trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước
ta hiện nay
* Giáo dục phải lấy nâng cao mặt bằng dân trí tối thiểu làm cơ sở.Ở nước ta, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, trước hết phải xóa mù và tái mù, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học
ở nông thôn, nhằm đưa lại cho mọi người dân, trong đó có những người nghèo, quyền “sở hữu trí tuệ”, bên cạnh quyền sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài và một số vốn ban đầu, tức là đưa lại sự bình đẳng cơ hội đẻ họ có thể tự lo liệu cuộc sống cho bản thân và gia đình; đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
*Bên cạnh việc đầu tư một bộ phận giáo dục – đào tạocó chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm đào tạo nhân tài, tạo ra ưu thế vượt trội, tạo động lực thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội; phải chú ý tăng cường đầu tư phát triển giáo dục – dạy nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Bởi lẽ, có được tay nghề và trình độ chuyên môn cao điều dễ dàng nhận thấy những giá trị này tỉ lệ thuận với thu nhập cao và dễ chiếm lĩnh được thị trường lao động, tạo cơ hội làm giàu chính đáng cho bản thân và xã hội
* Xây dựng các định hướng giá trị xã hộicủa con người Việt Nam trong thời kì phát triển mới của đất nước Có thể nêu lên một số yêu cầu về hình thành trong nhân cách những giá trị như: Niềm tin và quyết tâm hoàn thành sứ mệnh CNH, HĐH, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về trình dộ phát triển kinh tế, khoa học – công nghệ, dựa trên lòng tự hào của dân tộc và tinh thần trách nhiệm cao trong mọi nhiệm vụ, mọi hoạt động, rửa nỗi nhục nghèo khó đè nặng dân tộc nhiều thập kỉ nay Định hướng giá trị hiện nay là “dân giàu thì nước mới mạnh”, tạo dư luận xã hội tích cực
Trang 8trong việc “tôn sư trọng đạo”, trọng trí thức và văn hóa, trọng người hiền tài Sự thăng tiến xã hội dựa trên chuẩn mực tài năng là một biểu hiện lành mạnh của định hướng phát triển của đất nước
đi lên một xã hội hiện đại Mặt khác, phải tạo lập đủ dư luận xã hội mới biến khí phách “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” trong giải phóng dân tốc thành ý chí “phục hưng dân tộc” trong tấn công vào “nghèo nàn, lạc hậu” Phải thấy nỗi đau của cái nhục mất nước cũng giống như nỗi đau của sự nghèo nàn, quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, ra sức phấn đấu để theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới Một mặt chống lại các yếu tố phản giá trị của văn hóa truyền thống, các triết lí
“an bần lạc đạo”, “khôn độc không bằng ngốc ngàn”, mặt khác chống kiểu “làm giàu vô tội vạ” trên lưng đại đa số nhân dân lao động tạo lập dư luận xã hội tích cực khuyến khích làm giàu một cách chính đáng đồng thời thúc ép người nghèo vươn lên cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước
* Tăng cường giáo dục văn hóa pháp luật và văn hóa dân chủ Trong đời sống hiện đại nói chung, trong bước khởi đầu của nền KTTT Việt Nam nói riêng – khi mà lối kinh doanh làm giàu chính đáng còn tồn tại bên cạnh kiểu làm giàu bất chính thì pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vậy, việc giáo dục tinh thần công dân, ý thức về quyền và nghĩa vụ, giáo dục văn hóa pháp luật và văn hóa dân chủ, tạo thói quen và nguyên tắc sống làm việc trong một xã hội công dân có
kỉ cương, pháp luật nghiêm minh là một nội dung cực kì quan trọng Mục tiêu của nó là xây dựng con người vừa có cá tính vừa phải tuân thủ các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật đồng thời tạo
ra một văn hóa thị trường mang đặc thù Việt Nam – định hướng cho việc kinh doanh làm giàu có
“văn hóa” Ngoài ra, còn cần tăng cường giáo dục về đạo đức, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, nhằm hình thành nhân cách, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Thứ hai: Một số biện pháp nhằm xây dựng môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh ở nông
thôn nước ta, góp phần XĐGN
*Xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa tự quản.
* Thu hẹp khoảng cách đời sống văn hóa giữa thành thị và nông thôn.Do tình trạng đời sống vật chất còn khó khăn, thiếu thốn, không có điều kiện học tập, đời sống văn hóa tinh thần lại kém đã làm cho một bộ phận không nhỏ người dân nông thôn chán nản, bế tắc và muốn rời làng quê đi ra thành thị sinh sống Vì vậy hơn lúc nào hết, một trong những vấn đề cần được quan tâm là phải phát triển đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn Đó là những phương thức có sức thuyết phục và hấp dẫn nhất để hình thành những nét đẹp phong cách văn hóa trong nông thôn, cũng như khơi dậy và phát huy được tiềm năng sáng tạo của người dân ở nông thôn nước ta
* Ngoài việc xây dựng đời sống văn hóa từ gia đình, các đơn vị cơ sở, cần gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe cho người dân, tích cực vận động kế hoạch hóa dân số, mở rộng giao lưu văn hóa
đồng thời phải có những biện pháp kiên quyết và đồng bộ để làm trong lành môi trường văn hóa
(môi trường văn hóa phải được phát triển hài hòa giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.) Bởi lẽ, đói nghèo thường là bạn đồng hành của ô nhiễm môi trường, và bất cứ người nào quan tâm đến bảo vệ môi trường đều không thể bàng quan với công tác XĐGN
3 Kết luận
Để giải pháp văn hóa – xã hội giải quyết sự PHGN nói chung, công tác XĐGN nói riêng mang tính khả thi cần phải kết hợp thực hiện một cách đồng bộ với các giải pháp khác, ngoài ra cần có sự quan tâm đúng mức của Nhà nước về chính sách phát triển văn hóa, cơ chế hoạt động văn hóa, chính sách đầu tư văn hóa Có như vậy, giải pháp văn hóa – xã hội mới trở thành giải pháp
có vai trò quan trọng phát huy nhân tố con người nói chung, phát huy nội lực của người nghèo nói riêng, tham gia tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế của đất nước
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Richard Bergeron, 1995 Phản phát triển cái giá của chủ nghĩa tự do Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội
[2] Nguyễn Thị Mai Hồng, 2000 Luận án tiến sĩ Học viện Chính trị Quốc gia.
[3] Thủ tướng Chính Phủ, 59/2015/QĐ-TTg Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai
đoạn 2016-2020 ngày 19/11/2015, Hà Nội
[4] Nguyễn Thị Mai Hồng 1998 Mấy nhận thức về vấn đề phân hóa giàu nghèo và phát triển.
Tạp chí Nghiên cứu lí luận, số 2,
[5] Nguyễn Thị Mai Hồng, 1999 Định hướng xã hội chủ nghĩa và khả năng điều tiết khoảng cách
giàu nghèoThông báo khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 2,
[6] Nguyễn Thị Mai Hồng, 1999 Mấy suy nghĩ xung quanh khái niệm “sự phân hóa giàu nghèo”.
Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 4
[7] Nguyễn Thị Mai Hồng, 1999 Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
với việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay Thông báo khoa học Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, số 11
[8] Nguyễn Thị Mai Hồng, 2000 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ qua phân hóa giàu nghèo
ở nước ta những năm qua.Thông báo khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 2
[9] Nguyễn Thị Mai Hồng, 2003 Một số vấn đề ổn định chính trị - xã hội trong giáo dục – đào
tạo hiện nay Tạp chí khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 3
[10] Nguyễn Thị Thuận Phương pháp lồng ghép giới trong xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Trường Đại học Lao động – Xã hội
ABSTRACT Multiway exposed poverty standard in Vietnam today in the perspective of cultural diversity
Since the ”multiway exposed poverty standard” in the period of 2016-2020 is compared to the
”single exposed poverty standard” by the author, especially in light of current attitudes about cultural diversity, the importance of the latest poverty standard exposure and the social worker’s role is thought to be a step towards sustainable poverty reduction in Vietnam
Keywords: The gap between the rich and the poor, poverty alleviation, industrialization –
modernization