Thực tế ở nước ta, việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.. Điều này được thể hiện trên thực tế ở những khía cạnh sau:
Trang 1i
L ỜI CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: Võ Đại Khoa
Lớp cao học: 23QLXD13
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Tên đề tài luận văn: “Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An”
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các
kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất
kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Trong quá trình làm học viên có tham
khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài
Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Hà N ội, ngày tháng 11 năm 2016
H ọc viên
Võ Đại Khoa
Trang 2ii
L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng
dẫn tận tình của PGS.TS Đinh Tuấn Hải và những ý kiến quý báu về chuyên môn của các thầy cô giáo trong Khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, các cán bộ tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài luận văn “Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An”, chuyên ngành
Quản lý xây dựng
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các Lãnh đạo và đồng nghiệp trong Chi Cục
Thủy lợi nơi tác giả công tác, phòng Quản lý xây dựng công trình và các phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong việc thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên chia sẻ khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn này
Do trình độ, kinh nghiệm cứu còn hạn chế cũng như thời gian nghiên cứu ngắn nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà N ội, ngày tháng 11 năm 2016
H ọc viên
Võ Đại Khoa
Trang 3iii
M ỤC LỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU……… 1
I Tính c ấp thiết của đề tài……….……… 1
II M ục đích đề tài ……… ………2
III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài…….………2
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài… ………3
V Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu….………….………3
VI K ết quả dự kiến đạt được……… ………4
VII Nội dung của luận văn……….……….4
CHƯƠNG I TH ỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 5
1.1 Th ực trạng về tình hình quản lý dự án 5
1.1.1 Tình hình qu ản lý dự án ở nước ta 5
1.1.2 Tình hình quản lý dự án ở một số nước trên thế giới 6
1.1.3 Tình hình đầu tư theo các nguồn vốn 8
1.1.4 Tình hình v ốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước và vốn đầu tư xây dựng ở một số ngành kinh tế 10
1.1.5 Thực trạng quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng công trình……… 12
1.1.6 Tình hình th ực hiện các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong th ời gian qua 14
1.2 Th ực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình qua các góc nhìn: ch ất lượng sản phẩm, chi phí và tiến độ và nguyên nhân t ồn tại 16
1.2.1 Th ực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nhìn t ừ chất lượng sản phẩm dự án 16
1.2.2 Thực trạng chất lượng quản lý dự án ĐTXD công trình từ quan điểm chất lượng quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 26
Trang 4iv
1.2.3 Th ực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình từ điểm nhìn
qu ản lý chất lượng tiến độ (thời gian) thực hiện dự án 27
1.3 Đánh giá chung về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 30
1.3.1 Những kết quả đạt được 30
1.3.2 Những tồn tại 31
1.3.3 Nguyên nhân ch ủ yếu 32
K ết luận Chương 1: 34
CHƯƠNG II cơ sỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CHẤT LƯỢNG QU ẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 35
2.1 Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng công trình và yếu tố ảnh hưởng kết quả dự án 35
2.1.1 D ự án đầu tư và dự án đầu tư xây dựng công trình 35
2.1.2 Chất lượng quản lý dự án đầu tư 53
2.2 Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng 58
2.2.1 Khái ni ệm về quản lý dự án 58
2.2.2 N ội dung của quản lý dự án 61
2.2.3 Các phương thức quản lý dự án 63
2.2.4 Công cụ quản lý dự án 65
2.2.5 M ục tiêu quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của Ban quản lý d ự án……… 66
2.2.6 Các tác nhân liên quan đến dự án đầu tư xây dựng công trình 67
2.2.7 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của Ban quản lý dự án 68
2.2.8 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng theo quy định pháp lu ật hiện hành 70
2.3 Ch ất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và các yếu tố ảnh hưởng 73
2.3.1 Chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 73
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình………… 75
Trang 5v
2.3.3 Các tiêu chí và phương pháp đánh giá quản lý dự án đầu tư xây
d ựng………… 77
2.4 Căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn quy định chất lượng quản lý dự án xây d ựng công trình 78
2.4.1 Những quy định pháp luật, tiêu chuẩn Nhà nước hiện hành 78
2.4.2 Văn bản quy định của tỉnh Nghệ An 79
2.4.3 Các quy định Pháp luật, tiêu chuẩn có liên quan khác 79
K ết luận Chương 2: 80
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ D Ự ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TẠI BAN QUẢN LÝ D Ự ÁN ĐÊ ĐIỀU 81
3.1 Gi ới thiệu khái quát về Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An 81
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 81
3.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 82
3.1.3 K ết quả quản lý dự án của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An qua m ột số năm: 83
3.2 Th ực trạng trong công tác quản lý dự án xây dựng công trình tại Ban qu ản lý dự án Đê điều Nghệ An và các nguyên nhân tồn tại 84
3.2.1 Nh ững tồn tại trong công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây d ựng công trình 84
3.2.2 Qu ản lý chi phí 86
3.2.3 Quản lý tiến độ thực hiện dự án 87
3.3 Định hướng phát triển của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An trong giai đoạn 2016-2020 89
3.3.1 Định hướng phát triển chung 89
3.3.2 Định hướng trong quản lý dự án và chiến lược phát triển trong tương lai……… 89
3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây d ựng công trình tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An 90
Trang 6vi
3.4.1 L ập kế hoạch quản lý thực hiện dự án làm cơ sở quản lý tiến độ thời gian th ực hiện dự án: 90 3.4.2 Đề xuất phương pháp đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 103 3.4.3 Nâng cao năng lực sử dụng các công cụ quản lý dự án trong việc theo dõi, giám sát quá trình th ực hiện dự án 110 3.4.4 Thi ết lập bộ máy điều hành thực hiện dự án: 116 3.4.5 Phương pháp xác định trình tự ưu tiên áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 118
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 125
Trang 7vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 : Vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2011-2015 9 Bảng 1 2: Tỷ lệ các nguồn vốn trong vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2006-2010 10
B ảng 1 3: Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 10 Bảng 1 4: Vốn đầu tư XDCB từ NSNN giai đoạn 2011-2015 11 Bảng 1 5: Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước cho một số ngành chủ yếu giai đoạn 2011-2015 11
B ảng 1.6: Số lượng các công trình xây dựng có sự cố theo nhóm dự án qua các năm
2011-2015 18 Bảng 1.7: Số lượng các công trình xây dựng có sự cố theo chuyên ngành giai đoạn 2011-2015 18
B ảng 1.8: Số lượng các công trình xây dựng có sự cố theo theo giai đoạn đầu tư từ
2011-2015 19 Bảng 2.9: Sự khác nhau cơ bản giữa quản lý sản xuất kinh doanh và QLDA 60 Bảng 3.10: Các thông số lập sơ đồ mạng quản lý dự án đầu tư xây dựng 99 Bảng 3.11: Thời gian các tiến trình của dự án đầu tư xây dựng nhà ở 99
B ảng 3.12: Tổng hợp kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư xây dựng nhà ở 5 tầng 102 Bảng 3.13: Bảng điểm và trọng số dùng để đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình X 108
B ảng 3.14: Kết quả đánh giá chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình X 109
B ảng 3.15: Bảng xác định “Danh mục ưu tiên” 119 Bảng 3.16: Bảng kết quả sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các giải pháp 121
Trang 8viii
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Tình hình đầu tư theo nguồn vốn trong các năm 2011-2015 9
Hình 1.2 : Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình còn y ếu kém 26
Hình 1.3 : Nguyên nhân ch ủ yếu dẫn đến tồn tại trong quản lý chi phí dự án ĐTXD công trình 27
Hình 1.4: Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến dự án ĐTXD công trình chậm tiến độ thời gian qua 30
Hình 2.5: D ự án đầu tư xây dựng theo quan điểm động 39
Hình 2.6: Các đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình 49
Hình 2.7 : Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dự án đầu tư xây dựng công trình 53
Hình 2.8: Các lĩnh vực quản lý dự án 63
Hình 2 9: Hình th ức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 71
Hình 2.10: Hình thức chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án 72
Hình 2.11: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 77
Hình 3.12 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban QLDA 82
Hình 3.13: Mô hình cấu trúc phân việc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 96
Hình 3.14: Kế hoạch quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở 101
Hình 3.15: Bi ểu đồ đường chéo theo dõi tiến độ thực hiện dự án 112
Hình 3.16 : Đồ thị đánh giá trạng thái dự án đầu tư xây dựng công trình bằng phương pháp giá trị thu được 114
Hình 3.17: Bộ máy quản lý thực hiện dự án tổ chức theo 3 cấp độ 116
Trang 9ix
CĐT : Ch ủ đầu tư
CTXD : Công trình xây d ựng
DADT : Dự án đầu tư
ĐTXD : Đầu tư xây dựng
PERT : Kỹ thuật ước lượng và kiểm tra dự án
Trang 111
I Tính c ấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện chủ trương của Đảng là đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, vì vậy trong những năm vừa qua, vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm một tỷ trọng rất lớn trong GDP, bình quân từ 25-30% Với số vốn đầu tư rất lớn như vậy thì hàng năm có hàng nghìn dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai
Thực tế ở nước ta, việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, công trình văn hoá được xây dựng mới, cải tạo, mở rộng thời gian qua trên phạm vi cả nước là những minh chứng cụ thể cho những thành tựu ấy
Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra rằng bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, đặc biệt là vấn đề chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình chưa cao Điều này được thể hiện trên thực
tế ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc đầu tư dàn trải vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, chất lượng công trình xây
dựng của không ít dự án còn thấp dẫn đến nhiều công trình mới xây dựng xong, chưa
sử dụng đã xuống cấp hoặc không sử dụng được
Thứ hai, chi phí đầu tư xây dựng công trình thường vượt tổng mức đầu tư, nhiều chi
phí phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng Đặc biệt là tình trạng lãng phí, thất thoát vốn đầu tư nhà nước xảy ra ở nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, gây ra nhiều hậu quả không tốt về mặt kinh tế và xã hội
Thứ ba, tình trạng nhiều dự án, nhiều công trình kéo dài thời gian do thiếu vốn, do
không giải phóng được mặt bằng,… vẫn diễn ra ở nhiều nơi Nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước chưa được quản lý tốt từ khi nghiên cứu tiền
Trang 122
khả thi, nghiên cứu khả thi đến khi đưa công trình vào khai thác, sử dụng mà các phương tiện thông tin đại chúng đã chỉ ra thời gian qua là những minh chứng cụ thể phản ánh chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình còn nhiều vấn đề tồn tại cần phải được nghiên cứu khắc phục
Trong các dự án đầu tư xây dựng công trình hiện nay, tác giả luận văn cho rằng cần đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình phục
vụ lợi ích công cộng thuộc chi phí công, nếu không quản lý chặt chẽ thường dễ đưa đến lãng phí, thất thoát, sử dụng không có hiệu quả, làm tăng nợ công luỹ tiến đưa đến mức vượt ngưỡng kiểm soát sẽ làm mất ổn định nền kinh tế và không đảm bảo an sinh
do tác giả lựa chọn mang tính thời sự và cấp thiết
II M ục đích của đề tài
1 Đánh giá thực trạng của công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
2 Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, có cơ sở lý luận và thực
tiễn nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1 Ý nghĩa khoa học:
Với những kết quả đạt được theo định hướng nghiên cứu lựa chọn đề tài sẽ góp phần
hệ thống hóa, cập nhật và dần hoàn thiện cơ sở lý luận về chất lượng quản lý dự án trong các dự án đầu tư xây dựng công trình, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án trong các Ban quản lý dự án xây dựng Những kết quả nghiên cứu của luận văn đạt được sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Trang 133
2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị gợi mở trong việc tăng cường hơn nữa hiệu quả chất lượng quản
lý trong các dự án đầu tư xây dựng không chỉ cho Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
mà còn cho các Ban quản lý dự án hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng quản lý trong các dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
2 Ph ạm vi nghiên cứu của đề tài
Chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là một phạm trù rộng cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn mà trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, theo tác giả luận văn khó có thể nghiên cứu toàn diện Vì thế, luận văn được giới hạn nghiên cứu trong phạm vi sau:
Phạm vi về mặt không gian và nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về công
tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
Phạm vi về mặt thời gian: luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng công
tác quản lý dự án của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An từ năm 2010 đến 2015 và
đề xuất giải pháp quản lý dự án cho giai đoạn mới
V Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra thu thập thông tin;
- Phương pháp kế thừa, áp dụng mô hình quản lý thông qua sách báo và thông tin Internet nhưng có chọn lọc;
- Phương pháp thống kê, phân tích tính toán, tổng hợp số liệu;
Trang 144
- Phương pháp khảo sát thực tế;
- Phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản pháp quy như: Nghị định, Thông tư,
Luật xây dựng của nhà nước;
- Phương pháp tiếp cận thông tin dự án
VI K ết quả dự kiến đạt được
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần phải nghiên cứu, giải quyết được những vấn đề sau:
- Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Những kinh nghiệm có được trong quá trình quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ở nước
ta và trên thế giới trong thời gian qua
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình công tác quản lý dự án;
VII N ội dung của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc thành 03 chương với nội dung chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
- Chương 2: Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
- Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An;
Trang 15Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, cùng với xu hướng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng, công tác quản lý đầu tư xây dựng ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều bộ môn liên quan Do đó, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình dân dụng ở nước ta trong thời gian tới Thực tiễn đó đã thúc đẩy ra đời một “nghề” mới mang tính chuyên nghiệp thực sự: Quản lý dự
án, một nghề đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp từ các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động tư vấn
Hiện nay, công tác QLDA đang ngày càng được chú trọng và mang tính chuyên nghiệp hơn, nó tỷ lệ thuận với quy mô, chất lượng công trình và năng lực cũng như tham vọng của chính Chủ đầu tư Kinh nghiệm cho thấy công trình có yêu cầu cao về chất lượng, hoặc công trình được thiết kế xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết với các đơn vị tư vấn quốc tế,… đòi hỏi một ban quản lý dự án có năng lực thực sự, làm việc với cường độ cao, chuyên nghiệp và hiệu quả Đây là lĩnh vực mới mẻ và nhiều tiềm năng ở Việt Nam Chúng ta đã tự điều hành, quản lý nhiều dự án trọng điểm Quốc gia và vượt tiến độ như : nhà máy thủy điện Sơn La; Đập Cửa Đạt (Thanh Hóa) là đập đá đổ bê tông bản mặt lớn nhất Việt Nam…
Trang 166
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những công trình quan trọng bị xuống cấp nghiêm trọng ngay khi mới đưa vào sử dụng Ngoài việc gây thất thoát chi phí cho việc cải tạo, sửa chữa, nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của người sử dụng Có thể kể đến một
số công trình tiêu biểu trong thời gian gần đây, vì buông lỏng công tác quản lý từ chủ đầu
tư đến nhà thầu thi công mà dẫn đến chất lượng công trình xuống cấp nhanh chóng, hậu quả thiệt hại vô cùng to lớn như :
- Công trình đường ống dẫn nước sông Đà, dẫn nước từ sông Đà về Hà Nội để phục
vụ sinh hoạt cho người dân cũng như cho sản xuất Tính đến ngày 10/10/2016, công tình này đã bị vỡ đến 19 lần và lần gần nhất là vào ngày 11/7/2016 ; gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt của người dân Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến an toàn đường bộ nơi bị vỡ đường ống ;
- Kế đến có thể nói là công trình đường sắt trên cao tuyến Cát Linh-Hà Đông Do công tác quản lý dự án kém làm đội vốn của Chủ đầu tư cũng như công tác khác làm ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công Nhà thầu thi công quản lý không toàn diện, an toàn lao động bị buông lỏng nên liên tiếp xảy ra các vụ tai nạn trên công trường, làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công và an toàn của người dân quanh khu vực công trường
1.1.2 Tình hình qu ản lý dự án ở một số nước trên thế giới
Như phần trên đã nói chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự
án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia Do vậy, quản lý chất lượng dự án công trình xây dựng là vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm
1.1.2.1 C ộng hòa Pháp
Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh
về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng dự án công trình xây dựng Ngày nay, nước Pháp có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các tổ chức thi công xây dựng Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định các công trình có trên 300 người hoạt động, độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40 m, kết cấu cổng sân vườn ra trên 200 m và độ sâu của móng trên 30 m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra
Trang 177
giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được Chính phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính” Do đó,
để quản lý chất lượng các dự án đầu tư công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra chất lượng kém Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm chủ đầu tư, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế Chế độ bảo hiểm bắt buộc đã buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng
1.1.2.2 Hoa K ỳ
Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Mỹ rất đơn giản
vì Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công…) tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ
1.1.2.3 Singapore
Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Ngay từ giai đoạn lập dự án, chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư
Trang 188
chuyên ngành thực hiện Họ nhận sự ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý
giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát Do vậy, các chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào
để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh
dự uy tín và kinh nghiệm của các cá nhân để được các chủ đầu tư giao việc
1.1.3 Tình hình đầu tư theo các nguồn vốn
Huy động các nguồn vốn trong toàn xã hội là một nhân tố quan trọng thúc đẩy đầu tư
và đảm bảo hiệu quả đầu tư Các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm:
- Vốn đầu tư nhà nước; Vốn đầu tư trong nước khác và vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng nhanh qua các năm, mức tăng bình quân trong giai đoạn 2011-2015 tính theo giá cố định là 13,54%/năm Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội
so với GDP những năm qua rất cao Năm 2015 vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tính theo giá thực tế đạt 830,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2014 và bằng 41,9% GDP
Theo số liệu thống kê cho thấy, vốn đầu tư trong nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó vốn nhà nước chiếm tỷ lệ đáng kể Quy mô đầu tư trong các năm 2011-2015 được mô tả cụ thể trên hình 1.1
Hình 1.1 cho thấy hằng năm vốn đầu tư phát triển toàn xã hội liên tục tăng, cơ cấu các nguồn vốn đầu tư có sự thay đổi, trong đó nguồn vốn của khu vực có nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng cao trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội và ngược lại, nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước (NSNN) có xu hướng giảm
Trang 199
Vốn đầu tư nhà nước, gồm:
- Vốn Ngân sách nhà nước; Vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh; Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước;Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; Vốn khác do Nhà nước quản lý
Hình 1.1 : Tình hình đầu tư theo nguồn vốn trong các năm 2011-2015
(Ngu ồn: Niên giám thống kê các năm 2011 đến 2015 của Tổng cục Thống kê)
Vốn đầu tư (VĐT) nhà nước trong những năm qua nhìn chung năm sau tăng so với năm trước nhưng tỷ trọng so với vốn đầu tư toàn xã hội có xu thế giảm (xem Bảng
B ảng 1.1 : Vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2011-2015
(Ngu ồn: Báo cáo tình hình thực hiện Kinh tế Xã hội các năm 2011 đến 2015 của Chính phủ)
Trang 2010
Trong vốn đầu tư nhà nước, phần vốn NSNN vẫn là chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư nhà nước Bình quân tỷ trọng vốn NSNN trong tổng vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2011-2015 là 55,5% (xem Bảng 1.2)
B ảng 1 2: Tỷ lệ các nguồn vốn trong vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2011-2015
(Ngu ồn: Niên giám Thống kê 2015 của Tổng cục Thống kê)
1.1.4 Tình hình v ốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước và vốn đầu tư xây dựng ở một
B ảng 1 3: Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015
(Ngu ồn: Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế xã hội các năm 2011 đến 2015 của Chính phủ)
Trong những năm vừa qua, vốn đầu tư XDCB ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, chỉ tính riêng vốn đầu tư XDCB từ NSNN bình quân trong các năm 2011-2015 đó chiếm 20,95% trong tổng chi NSNN Trong chi đầu
tư phát triển thì chi cho XBCB là chủ yếu (xem Bảng 1.4)
Trang 2111
Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng
Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 Tổng cộng
Tổng chi NSNN 319,110 329,610 590,714 472,455 582,200 2.294,089 Chi đầu tư phát triển từ
NSNN 86,409 82,400 119,462 107,440 125,500 521,211 Trong đó chi cho XDCB 81,951 78,180 99,862 100,455 120,100 480,548
B ảng 1 4 : Vốn đầu tư XDCB từ NSNN giai đoạn 2011-2015
(Ngu ồn: Báo cáo Quyết toán Ngân sách các năm 2011-2016 của Bộ Tài chính
V ốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước cho một số ngành)
Vốn đầu tư từ NSNN cho XDCB được tập trung cho một số ngành có xây dựng chuyên ngành như ngành Xây dựng, ngành Giao thông, ngành Công thương và ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trong giai đoạn 2011-2015 vốn đầu tư cho những ngành này luôn ở mức cao Số liệu thống kê ở Bảng 1.5 cho thấy tình hình vốn đầu tư từ NSNN cho các ngành đó nêu
Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng
cộng
Tổng VĐT từ NSNN 64,1 97,0 100,9 153,8 141,6 557,40 VĐT thuộc NSNN cho
(Ngu ồn: Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế xã hội các năm 2011đến 2015 của Chính phủ)
Qua số liệu thống kê ở Bảng 1.5 cho thấy tình hình thực hiện đầu tư từ NSNN cho ngành Xây dựng còn thấp, tổng vốn đầu tư trong các năm 2011-2015 là 4.575 tỷ đồng,
Trang 2212
chiếm tỷ trọng bình quân 0,82% tổng vốn đầu tư từ NSNN Vốn đầu tư từ NSNN cho ngành Giao thông là rất lớn, tổng vốn đầu tư trong các năm 2011-2015 là 37.726
tỷ đồng, tỷ trọng vốn đầu tư từ NSNN cho giao thông cao hơn các ngành khác Vốn đầu
tư từ NSNN cho ngành Công thương không nhiều, tổng vốn đầu tư trong các năm
2011-2015 là 5.091 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng bình quân 0,91% tổng vốn đầu tư từ NSNN Cũng qua số liệu thống kê cho thấy, vốn NSNN chi cho đầu tư xây dựng ở ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong 5 năm (2011-2015) là 15.955 tỷ đồng, vốn đầu tư cho ngành này có xu hướng ngày một tăng, nhất là vốn đầu tư từ nguồn NSNN
Qua số liệu thống kê cho thấy vốn đầu tư cho XDCB từ NSNN nói riêng và từ các nguồn vốn khác trong thời gian qua rất lớn và là nội dung chi chủ yếu trong chi cho đầu tư phát triển Vốn đầu tư cho XDCB nếu được đầu tư đúng sẽ phát huy hiệu quả vốn đầu tư rất lớn vì XDCB tạo nên những tài sản chủ yếu để thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Với lượng vốn đầu tư lớn như vậy, hàng năm có hàng nghìn DAĐT xây dựng được triển khai Tùy thuộc nguồn vốn đầu tư được sử dụng để đầu tư các dự án xây dựng mà mỗi dự án được quản lý theo những yêu cầu khác nhau Đối với các dự án đầu tư XDCT sử dụng vốn nhà nước do có những đặc điểm riêng xuất phát từ đặc điểm nguồn vốn đầu tư được sử dụng nên có những yêu cầu quản lý riêng khác so với các dự
án đầu tư XDCT không sử dụng vốn nhà nước
1.1.5 Th ực trạng quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng công trình
Dưới góc độ quản lý nhà nước, Nhà nước quản lý mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của đất nước thông qua hệ thống pháp luật Nhà nước quản lý bằng cách ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và thực thi các quy định đó trong thực tiễn Đối với lĩnh vực đầu
tư và xây dựng, nhà nước cũng sử dụng các công cụ pháp luật để quản lý Trong thời gian qua, để quản lý công tác đầu tư xây dựng nói chung và quản lý DAĐT XDCT nói riêng, nhà nước đá ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động này
Trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng, cho đến nay về cơ bản hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ, tuy nhiên vẫn còn có những
Trang 23- Luật Đất đai số 45/2013/QH13; Luật Xây dựng số 50/2014/QH13; Luật Đầu tư
số 67/2014/QH13; Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13; Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13; Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13
Trong các Luật trên có những quy định bắt buộc áp dụng cho mọi loại DAĐT xây dựng không phân biệt nguồn vốn, có những quy định chỉ áp dụng bắt buộc cho những DAĐT xây dựng sử dụng vốn nhà nước, còn các dự án không sử dụng vốn nhà nước
có thể áp dụng hoặc chỉ khuyến khích áp dụng nếu thấy cần thiết
Trên cơ sở các Luật do Quốc hội ban hành nêu trên, Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị định và Thông tư để hướng dẫn thi hành, thực thi trong thực tế Chỉ tính từ thời điểm Luật Xây dựng được ban hành và có hiệu lực đến nay, trong lĩnh vực QLDA đầu tư xây dựng đã có nhiều văn bản pháp luật được ban hành Năm 2015, Chính phủ ban hành các Nghị định để cụ thể hóa Luật Xây dựng như:
1 Nghị định 32/2015/NĐ-CP về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng;
2 Nghị định 37/2015/NĐ-CP hướng dẫn về hợp đồng xây dựng;
3 Nghị định 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;
4 Nghị định 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng
5 Thông tư số 05/2016/TT-BXD ngày 10/03/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng;
6 Thông tư số 06/2016/TT-BXD ngày 10/03/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Như vậy chỉ tính riêng trong lĩnh vực QLDA ĐTXD, trong thời gian qua, các cơ quan quản lý nhà nước luôn luôn theo sát tình hình thực tế, nhanh chóng có những quy định
Trang 2414
được ban hành để hướng dẫn và điều chỉnh Đối với các DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước lại càng được các cơ quan quản lý quan tâm, đã có nhiều quy định trong các văn bản pháp luật được ban hành được dùng để điều chỉnh các dự án xây dựng sử dụng vốn nhà nước
Cùng với Chính phủ, các Bộ, ngành trong phạm vi quản lý nhà nước được phân công cũng đã ban hành các thông tư, quyết định để hướng dẫn áp dụng
Không chỉ trong QLDA nói chung mà ngay cả trong từng nội dung quản lý cụ thể của
dự án như quản lý chi phí, quản lý chất lượng các cơ quan quản lý nhà nước cũng đã thường xuyên ban hành các văn bản pháp luật để hướng dẫn áp dụng Điều này có thể nhận thấy thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước trong thời gian qua
Như vậy về mặt quản lý nhà nước, dưới góc độ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, có thể nói trong thời gian qua các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc soạn thảo và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tạo thành một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ để quản lý các DAĐT XDCT nói chung và quản lý DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước nói riêng Tuy nhiên, cũng chưa thể nói rằng hệ thống văn bản pháp luật được ban hành trong thời gian qua là đầy đủ và hoàn thiện mà thực tế còn có tồn tại, bất cập thể hiện ở chỗ các văn bản pháp luật chưa theo kịp với
sự phát triển của thực tế xã hội, các văn bản đôi lúc còn chồng chéo mâu thuẫn nhau, Chính vì vậy, việc hoàn thiện các văn bản pháp luật luôn là vấn đề thời sự được đặt ra đối với các cơ quan quản lý nhà nước
1.1.6 Tình hình th ực hiện các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong th ời gian qua
Dưới góc độ quản lý nhà nước, ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan chức năng thì việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật cũng là một mặt không thể thiếu trong quản lý nhà nước Trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng, việc thực hiện các quy định về quản lý DAĐT XDCT có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo hiệu quả đầu tư Pháp luật quy định việc đầu tư XDCT phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và an toàn môi trường, Đối với DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà
Trang 2515
nước, nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng Trong thời gian qua, có nhiều cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương
đó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng nói chung, quản lý DAĐT XDCT nói riêng Nhờ đó mà tình hình đầu tư và xây dựng trên cả nước đạt được những kết quả đáng kể Nhiều DAĐT XDCT đã được quản lý tốt, dự án hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng công trình cao, hiệu quả đầu tư của dự án được đảm bảo Tuy nhiên, trong thời gian qua cũng còn có một số cơ quan
quản lý nhà nước chưa làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật
Pháp luật quy định việc đầu tư XDCT phải phù hợp quy hoạch nhưng trong thực tế do quy hoạch chậm, chất lượng quy hoạch thấp nên có những DAĐT XDCT chưa theo quy hoạch hoặc do theo quy hoạch sai nên dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, điển hình như DAĐT xây dựng một số nhà máy đường, một số cảng biển, Khi dự án hoàn thành đó không khai thác được, không phát huy hiệu quả đầu tư, gây lãng phí vốn đầu tư rất lớn Mặc dù trong thời gian gần đây, công tác quy hoạch đó bước đầu nâng cao được chất lượng, quy hoạch ngày càng phù hợp hơn với thực tế nhưng quy hoạch thực sự chưa đi trước một bước Khi quy hoạch Thủ Đô được phê duyệt đó có hơn 700 dự án phải điều chỉnh hoặc dừng do vi phạm quy hoạch Điều này chứng tỏ vẫn còn có sự yếu kém trong quản lý của một số bộ phận cơ quan quản lý nhà nước
Theo quy định của pháp luật, các DAĐT XDCT phải được giám sát và đánh giá đầu tư hàng năm Cơ quan tổng hợp báo cáo là Bộ Kế hoạch và Đầu tư Quy định rất rõ như vậy nhưng theo số liệu tổng hợp báo cáo cho thấy còn có những cơ quan, đơn vị không chấp hành Qua số liệu tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy tính đến ngày 18/4/2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới nhận được Báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2016 của 112/124 cơ quan, đạt 90,3%; trong đó: 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (93,7%); 26/32 cơ quan Bộ và tương đương (81,3%); 7/9 cơ quan thuộc Chính phủ (77,8%); 20/20 Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty (100%) Năm 2015
có 65 cơ quan gửi báo cáo: các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 63,5%; các cơ
Trang 261.2 Th ực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình qua các góc nhìn: ch ất lượng sản phẩm, chi phí và tiến độ và nguyên nhân tồn tại
Có thể nói: “Chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đạt được là thước đo đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình” Chất lượng DAĐT
XDCT được đánh giá trên ba phương diện chủ yếu: chất lượng sản phẩm của dự án, chi phí và thời gian thực hiện dự án Vì vậy, có thể thông qua thực trạng chất lượng DAĐT XDCT trong thời gian qua để đánh giá chất lượng quản lý DAĐT XDCT Thực trạng chất lượng DAĐT XDCT sẽ được phân tích, đánh giá trên ba phương diện để thấy được những kết quả đó đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong quản lý DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước và nguyên nhân của chúng
1.2.1 Th ực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nhìn từ
ch ất lượng sản phẩm dự án
1.2.1.1 Th ực trạng về chất lượng sản phẩm của dự án ĐTXD
Sản phẩm cụ thể của DAĐT XDCT ở mỗi giai đoạn đầu tư là khác nhau Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, chất lượng DAĐT XDCT được biểu hiện tập trung ở chất lượng công trình xây dựng Thông qua chất lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng có thể đánh giá được chất lượng DAĐT XDCT trong giai đoạn thực hiện đầu tư
Trang 2717
Trong vài năm gần đây công tác đầu tư XDCB được triển khai ngày một nhiều Số lượng các công trình ở mọi quy mô xây dựng ngày càng tăng Ước tính bình quân hàng năm cả nước có trên 6000 DAĐT XDCT được triển khai, trong đó tỷ lệ các dự án nhóm A khoảng 5% công trình, nhóm B hơn 20% công trình, nhóm C khoảng 75% công trình Quy mô và loại công trình rất đa dạng, từ các công trình nhỏ lẻ tới các công trình tổ hợp có quy mô lớn Theo báo cáo của Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng thì nhìn một cách tổng quát, phần lớn công trình xây dựng trong thời gian qua đảm bảo chất lượng, tuy nhiên vẫn còn có những công trình không đạt chất lượng, để xảy ra sự cố hoặc có vấn đề về chất lượng trong thực hiện DAĐT XDCT dẫn đến phải sửa chữa, khắc phục
Sự cố công trình là biểu hiện rõ nét nhất của những công trình có vấn đề về chất lượng Sự cố công trình ở đây được hiểu theo nghĩa chung nhất là những vấn đề, những hiện tượng kỹ thuật xảy ra làm cho công trình xây dựng không thể thi công xây dựng hoặc không khai thác sử dụng đúng như các dự định ban đầu của các bên hữu quan (Chủ đầu tư, nhà thầu trong hoạt động xây dựng) đối với công trình đó
Sự cố công trình có thể xảy ra tại bất cứ giai đoạn nào trong quá trình thực hiện dự án
và không chỉ xảy ra ở công trình đang xét mà còn có thể xảy ra ở các công trình lân cận Sự cố công trình được thống kê theo các số liệu điều tra cũng như các số liệu báo cáo về chất lượng công trình của các cơ quan có liên quan đến quản lý chất lượng công trình xây dựng của các tỉnh, thành phố, các Bộ, Ban, Ngành và các Đoàn thể Theo số liệu của cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, hàng năm có khoảng 0,28 - 0,56% công trình bị sự cố thì với hàng vạn công trình được triển khai thì cũng đó có hàng trăm công trình bị sự cố
Sự cố công trình xảy ra đa dạng với nhiều nguyên nhân khác nhau, phân bố trong nhiều ngành và ở nhiều giai đoạn khác nhau trong thời gian thực hiện đầu tư Đặc điểm của một số các sự cố công trình điển hình trong các năm vừa qua được nêu trong các bảng dưới đây:
Trang 28T ổng số CTXD trong năm
T ỷ lệ
% Nhóm
Bảng 1.6: Số lượng các công trình xây dựng có sự cố theo nhóm dự án qua các năm 2011-2015
(Ngu ồn Internet: Số liệu tổng hợp Báo cáo của Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình)
Các số liệu tổng hợp thống kê trong bảng 1.6 cho thấy số lượng CTXD có sự cố theo nhóm dự án xảy ra ở các năm, phần lớn tập trung ở dự án nhóm C, sau đó là các dự án nhóm B, bình quân số lượng công trình có sự cố trong 5 năm là 0,36% và trong tổng
số các công trình có sự cố thì công trình nhóm C chiếm trên 64,5%
Bảng 1.7: Số lượng các công trình xây dựng có sự cố theo chuyên ngành giai đoạn 2011-2015
(Ngu ồn Internet: Số liệu tổng hợp Báo cáo của Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình)
Các số liệu tổng hợp thống kê trong bảng 1.7 cho thấy số lượng công trình xây dựng
có sự cố theo theo chuyên ngành chủ yếu xảy ra với các công trình xây dựng dân dụng
Trang 29Bảng 1.8: Số lượng các công trình xây dựng có sự cố theo theo giai đoạn đầu tư từ 2011-2015
(Ngu ồn Internet: Số liệu tổng hợp Báo cáo của Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình)
Các số liệu tổng hợp thống kê trong bảng 1.8 cho thấy số lượng các công trình xây dựng có sự cố theo các giai đoạn đầu tư phần lớn xảy ra ở giai đoạn đang thi công Khó có thể liệt kê hết các công trình có vấn đề về chất lượng xảy ra trong những năm gần đây trên địa bàn cả nước Qua một số công trình tiêu biểu kể trên có thể cho thấy các công trình có vấn đề về chất lượng không chỉ xảy ra ở các địa phương mà ngay ở các thành phố lớn, nơi có tiềm lực về kinh tế và kỹ thuật Những công trình này cũng rất đa dạng, từ công trình dân dụng, công nghiệp đến công trình giao thông, thủy lợi,
từ công trình do nhà thầu trong nước thi công đến công trình do nhà thầu nước ngoài đảm nhiệm Nguyên nhân dẫn đến chất lượng công trình có vấn đề cũng rất đa dạng và thể hiện ở nhiều khâu, nhiều giai đoạn của DAĐT XDCT
1.2.1.2 Th ực trạng tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng sản phẩm dự án ĐTXD
Chất lượng DAĐT XDCT tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý chất lượng của các bên có liên quan Các DAĐT XDCT đều được CĐT thẩm định và phê duyệt thiết kế
Trang 3020
Hình thức quản lý DAĐT XDCT được CĐT lựa chọn phần lớn là CĐT trực tiếp QLDA có thành lập ban QLDA, chỉ có số ít thực hiện với hình thức thuê tư vấn QLDA
Hình thức giám sát chất lượng công trình có tỷ lệ ngược lại so với hình thức QLDA Điều này thể hiện tính chuyên nghiệp trong quản lý đầu tư xây dựng chưa cao, năng lực của các ban QLDA còn hạn chế hoặc lý do thuê để giảm bớt trách nhiệm Công tác kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước là một trong những nội dung được quy định trong Luật Xây dựng và Nghị định về quản lý chất lượng công trình xây dựng nhưng chưa được chú trọng
1.2.1.3 Th ực trạng quản lý chất lượng dự án đầu tư XDCT của các chủ thể tham gia
Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn (giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm định), nhà thầu xây lắp là các chủ thể trực tiếp quản lý chất lượng công trình xây dựng Thực tế đó chứng minh rằng dự án, công trình nào mà 3 chủ thể này có đủ trình độ năng lực quản lý, thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành của nhà nước, tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý chất lượng trong các hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp các tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp thì tại đó công tác quản lý chất lượng tốt và hiệu quả
a) Quản lý chất lượng của chủ đầu tư:
Chủ đầu tư là chủ đồng vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng, họ là người chủ đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình lập
dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn thi công xây lắp vận hành bảo trì, vì vậy họ là chủ thể quan trọng nhất quyết định chất lượng DAĐT xây dựng
Đối với DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước thì CĐT hiện nay không phải là chủ đồng tiền vốn đầu tư, thực chất CĐT được Nhà nước ủy nhiệm để quản lý vốn đầu tư xây dựng, họ không phải chủ “thực sự” Thực trạng hiện nay nhiều CĐT không có đủ năng lực, trình độ, thiếu hiểu biết về chuyên môn xây dựng, nhiều trường hợp làm kiêm nhiệm vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn rất hạn chế b) Quản lý chất lượng của các tổ chức tư vấn:
Trang 3121
- Quản lý chất lượng của tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế:
Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, nhiều dự án vốn của nhà nước và của các thành phần kinh tế được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế tăng rất nhanh Bên cạnh một số các đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống lâu năm, có đủ năng lực trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư
vấn khảo sát thiết kế năng lực trình độ còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ Mặt khác kinh phí cho công việc này còn thấp, dẫn đến chất lượng của công tác lập dự án, khảo sát, thiết kế chưa cao, còn nhiều sai sót
- Quản lý chất lượng của tổ chức tư vấn giám sát (của chủ đầu tư, của tổ chức
tư vấn giám sát độc lập):
Do tốc độ phát triển xây dựng thời gian qua rất nhanh trong khi chưa có các công ty tư vấn giám sát chuyên nghiệp nên tình trạng chung là các công ty tư vấn thiết kế mới bổ sung thêm nhiệm vụ này, hơn nữa lực lượng cán bộ tư vấn giám sát thiếu và yếu, trình
độ năng lực, kinh nghiệm thi công còn rất hạn chế, ít được bồi dưỡng cập nhật nâng cao trình độ về kỹ năng giám sát, về công nghệ mới, chế độ đãi ngộ hạn chế, do phí quản lý giám sát còn thấp nên hạn chế đến công tác quản lý tổ chức tư vấn giám sát c) Quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây lắp:
Đây là chủ thể quan trọng, quyết định đến việc quản lý và đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng Thời gian qua, các nhà thầu trong nước đó phát triển rất mạnh cả
số lượng và chất lượng Nhận rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng là thương hiệu, là uy tín của đơn vị mình, là vấn đề sống còn trong cơ chế thị trường nên nhiều Tổng công ty, công ty đó xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, thời gian qua lại có không ít công trình thi công không đảm bảo chất lượng gây lún sụt, sập đổ, nhiều công trình thấm, dột, nứt vỡ, xuống cấp rất nhanh
mà nguyên nhân của nó là:
- Còn khá nhiều nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có hệ thống quản lý chất lượng theo yêu cầu, tính chất, quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời mọi
Trang 3222
công việc phải được nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản Trong thực tế, nhiều đơn vị không thực hiện các quy định này; không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí còn khoán trắng cho các đội thi công và phó mặc cho giám sát của CĐT
- Một điều rất quan trọng đối với các nhà thầu là việc lập biện pháp tổ chức thi công công trình, đặc biệt đối với các công trình lớn, trọng điểm, nhiều công việc có khối lượng lớn, phức tạp, ứng dụng công nghệ mới, nếu làm tốt công việc này thì đã bảo đảm phần rất quan trọng để quản lý chất lượng công trình Tuy nhiên, trong thời gian qua, công việc này chưa được các nhà thầu quan tâm đúng mức dẫn đến các sai phạm, sự cố công trình Nhiều đơn vị đã xây dựng và được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001-2008 nhưng khi triển khai vẫn còn hình thức, chủ yếu là ở Văn phòng công
ty mà thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện trường xây dựng
- Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các đốc công giỏi, thợ đầu đàn Nhiều đơn vị sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân tự do, công nhân thời vụ, đó thế việc tổ chức hướng dẫn, huấn luyện công nhân tại chỗ lại rất sơ sài Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân còn rất nhiều hạn chế
- Một số nhà thầu, do những nguyên nhân khác nhau, đã hạ giá thầu một cách thiếu căn cứ để có công trình hoặc do phải “chi” nhiều khoản ngoài chế độ cho đối tác hoặc bản thân tư túi,… nên đó tìm cách “hạ chất lượng sản phẩm” để bù đắp
1.2.1.4 Nguyên nhân c ủa những tồn tại trong quản lý chất lượng sản phẩm dự án đầu
tư xây dựng công trình
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng nói riêng và chất lượng DAĐT XDCT nói chung Bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì nguyên nhân do công tác quản lý chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng DAĐT XDCT yếu, kém Theo tác giả, có 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến yếu, kém trong quản lý chất lượng DAĐT XDCT:
Trang 3323
Thứ nhất, các quy định pháp luật về quản lý chất lượng DAĐT XDCT còn chưa đầy
đủ và đồng bộ
Nguyên nhân này, được biểu hiện ở các điểm sau:
- Các quy định hiện hành mới chủ yếu tập trung vào quản lý chất lượng công trình xây dựng, đó chỉ là một giai đoạn/ một khâu trong toàn bộ quá trình đầu tư dự án xây dựng Chính vì vậy mà trong thực tế, nhiều CĐT chưa quan tâm quản lý chất lượng toàn bộ các khâu, các giai đoạn của quá trình đầu tư dự án XDCT Trong thực
tế, chất lượng công trình xây dựng bị chi phối bởi nhiều yếu tố, xuất hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư, xây dựng và sử dụng công trình (bắt đầu từ giai đoạn lập DAĐT, khảo sát và thiết kế tới thi công, bảo hành và bảo trì công trình) Có những giai đoạn tưởng như ít ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng nhưng thực tế nó có ảnh hưởng tiềm ẩn rất lớn, chất lượng công trình xây dựng bị chi phối ngay từ giai đoạn lập DAĐT, khảo sát và thiết kế (giai đoạn đầu trước khi thi công) Quản lý chất lượng trong giai đoạn lập DAĐT, khảo sát và thiết kế rất quan trọng, có tính quyết định đến chất lượng và hiệu quả của DAĐT Do kết quả của giai đoạn này chủ yếu được thể hiện trên giấy, ảnh hưởng của nó tới chất lượng công trình xây dựng thường bộc lộ ở những giai đoạn sau, khó được nhận biết nên nhiều người chưa ý thức hết được Song về hậu quả thì hết sức khó lường, sự hư hỏng, xuống cấp của công trình thường nghiêm trọng và khó khắc phục hơn những lỗi do thi công
- Các điều kiện về năng lực của CĐT chưa được quy định, quy trình QLDA chưa được hướng dẫn chi tiết: Trong quản lý DAĐT XDCT, chủ đầu tư có vai trò rất quan trọng Năng lực của CĐT là nhân tố có tính quyết định đến chất lượng QLDA Thực tế hiện nay, do không có quy định về điều kiện năng lực của CĐT nên nhiều CĐT tự coi mình có đủ năng lực và đứng ra tổ chức QLDA Các CĐT thường tự tổ chức bộ máy QLDA khi mà năng lực lại không đáp ứng được Các ban QLDA được lập ra do không có năng lực nên thường triển khai các bước quy trình quản lý chất lượng rất hình thức
Th ứ hai, việc tuân thủ các quy định pháp luật, tuân thủ quy trình, quy phạm, quy chuẩn,
tiêu chuẩn của các bên liên quan đến quản lý DAĐT XDCT còn yếu kém Nguyên nhân này thể hiện ở những điểm sau:
Trang 3424
- Việc tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn, từ tư vấn lập dự án, tư vấn khảo sát thiết kế đến tư vấn thẩm tra, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm định chất lượng trong điều kiện hiện nay còn mang nặng tính hình thức, kém tính cạnh tranh, ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án
- Không tuân thủ quy trình thiết kế, quy trình thi công, đặc biệt là quy trình thi công chuyên ngành chưa phù hợp: Việc áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật, công nghệ chưa đảm bảo sự lựa chọn tối ưu về kinh tế - kỹ thuật và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng dự án
- Công tác quản lý, giám sát trong quá trình thực hiện: Công tác quản lý, giám sát chất lượng công trình xây dựng của Chủ đầu tư, Ban QLDA, Giám sát xây dựng, Giám sát tác giả của tư vấn thiết kế, còn nhiều điểm yếu, thiếu tính chuyên nghiệp Đội ngũ tư vấn giám sát chưa đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý chất lượng công trình, chưa kiên quyết xử lý các vi phạm về chất lượng
- Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, quản lý chất lượng xây dựng còn chưa được coi trọng đúng mức và hoạt động còn hạn chế, thiếu một mạng lưới kiểm định chất lượng xây dựng trong phạm vi cả nước đặc biệt là nhiệm vụ quyền hạn của tổ chức này còn hạn chế
- Đấu thầu giá thấp để thắng thầu, dẫn đến yếu kém về chất lượng trong thi công, không đủ chi phí đảm bảo chất lượng công trình
- Các biện pháp đảm bảo an toàn công trình, an toàn lao động, thực hiện các quy định về môi trường còn bị coi nhẹ Các công trường xây dựng triển khai thiếu khoa học, mặt bằng thi công bề bộn
- Sử dụng vật liệu và chế phẩm xây dựng không phù hợp yêu cầu của thiết kế
- Áp dụng công nghệ thi công mới không phù hợp, không tính toán đầy đủ các điều kiện sử dụng
- Biện pháp thi công không được quan tâm đúng mức dẫn đến sai phạm, sự cố
Trang 3525
- Vi phạm các quy trình thi công, vi phạm các quy định an toàn trong vận hành thiết bị, thiết bị điện, làm việc trên cao, hệ thống lan can an toàn bảo vệ,…
Thứ ba, năng lực của các chủ thể liên quan đến quản lý DAĐT XDCT còn yếu, yếu về
năng lực chuyên môn, yếu về năng lực quản lý, yếu về phương tiện, thiết bị, Biểu hiện cụ thể của nguyên nhân này có thể thấy ở những điểm sau:
- Chủ đầu tư chưa coi trọng cơ sở khoa học trong các tính toán, lựa chọn phương
án dẫn đến bố trí, lựa chọn địa điểm, lựa chọn quy trình công nghệ, quy trình sử dụng không hợp lý phải bổ sung, sửa đổi, thay thế
- Công tác tư vấn khảo sát thiết kế còn nhiều hạn chế, nhất là bước lập dự án và thiết kế cơ sở chưa đảm bảo chất lượng nên đến giai đoạn khảo sát thiết kế kỹ thuật phải điều chỉnh, bổ sung, nhiều trường hợp phải điều chỉnh quy mô, giải pháp kỹ thuật, kéo dài thời gian thực hiện, Chất lượng khảo sát không đạt yêu cầu (số lượng
lỗ khoan, độ sâu lỗ khoan, chất lượng thiết bị khoan, chất lượng phân tích mẫu, báo cáo đánh giá không đầy đủ, ) mà nguyên nhân là do trình độ năng lực của tư vấn được giao nhiệm vụ còn yếu
- Tính toán thiết kế sai, không phù hợp (sơ đồ tính toán thiết kế không phù hợp, tính thiếu hoặc sót tải trọng, tính toán tổ hợp sai nội lực, không tính độ ổn định theo quy phạm, vi phạm quy định về cấu tạo, sử dụng phần mềm tính toán không có bản quyền, )
- Năng lực nhà thầu thi công không phù hợp Nhà thầu không có hệ thống quản lý chất lượng, trình độ năng lực, đạo đức nghề nghiệp của tư vấn giám sát và nhà thầu kém
- Đầu tư thiết bị và công nghệ của các đơn vị thi công hạn chế (trong đó có lý do
cơ chế khoán cho đơn vị, đơn vị dưới công ty manh mún), không có điều kiện đổi mới công nghệ và thiết bị
- Quản trị tài chính doanh nghiệp yếu kém; tính toán chi phí quản lý, chi phí phục
vụ thi công chưa đúng
- Chưa có chính sách quản trị nguồn nhân lực Công tác đào tạo cán bộ QLDA chưa được CĐT coi trọng Nhiều chủ đầu tư, Ban QLDA làm trái ngành, trái nghề, không đủ trình độ năng lực, lại không được đào tạo kiến thức QLDA
Trang 3626
Hình 1.2 : Nguyên nhân ch ủ yếu dẫn đến chất lượng dự án đầu tư
xây d ựng công trình còn yếu kém
1.2.2 Th ực trạng chất lượng quản lý dự án ĐTXD công trình từ quan điểm chất lượng quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Trong thời gian vừa qua, công tác quản lý chi phí DAĐT XDCT đã đạt được những thành tích đáng kể Nhiều DAĐT XDCT tuân thủ tốt các quy định về quản lý chi phí DAĐT do Nhà nước ban hành Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những dự án chưa được quản lý tốt về mặt chi phí dẫn đến tình trạng chi phí thực tế thường vượt dự kiến, thậm chí còn có dự án có tình trạng thất thoát, lãng phí chi phí Trong những năm vừa qua, một số DAĐT XDCT có lãng phí thất thoát trong quá trình đầu tư dự án đó được các
cơ quan chức năng kiểm tra, thanh tra và có kết luận
DAĐT xây dựng có thất thoát, lãng phí xảy ra ở mọi loại hình công trình xây dựng, ở nhiều khâu của quá trình đầu tư dự án và có ở tất cả các nhóm dự án Điều này có thể thấy được qua một số dự án sử dụng vốn nhà nước và qua báo cáo của các cơ quan chức năng như “Dự án đường sắt trên cao”đang bị chậm tiến độ phê duyệt cuối cùng 2 tháng “đội” vốn lên 868,06 triệu USD (tăng 315,18 triệu USD) so với tổng mức đầu tư ban đầu (theo báo Đất Việt số ra ngày 17/4/2015) Theo báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư các dự án có thất thoát, lãng phí vốn đầu tư chủ yếu xảy ra ở các dự án nhóm C và B do các địa phương quản lý Số dự án phải điều chỉnh vốn đầu tư xảy ra chủ yếu ở các dự án nhóm C
Trong khâu nghiệm thu thanh toán cũng có những vấn đề sai sót như CĐT không chấp hành các quy định trong nghiệm thu, thanh toán Nghiệm thu vượt khối lượng thực hiện, thanh toán trùng lặp, Theo số liệu của thanh tra Bộ Xây dựng cho thấy trong
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng
dự án đầu tư xây dựng công trình yếu, kém
Việc tuân thủ cácquy định pháp luật còn yếu kém
Trang 3727
thời gian qua đó có không ít dự án mắc phải những sai sót này Theo số liệu tổng kết thực hiện công tác thanh tra trong lĩnh vực quản lý vốn đầu tư xây dựng, Bộ Tài chính cho biết, Thanh tra Tài chính đó thực hiện các cuộc thanh tra và phát hiện nhiều sai sót Các sai sót xảy ra ở nhiều khâu từ công tác chuẩn bị đầu tư, đấu thầu, thực hiện đầu tư, bố trí vốn, phê duyệt tổng mức đầu tư, phê duyệt dự toán, công tác đấu thầu, tạm ứng, nghiệm thu thanh toán, đến quyết toán công trình hoàn thành ở một số dự
án Ngoài những dự án, những số liệu tổng kết nêu trên, còn rất nhiều dự án khác cũng
có tình trạng quản lý chi phí không tốt, dẫn tới lãng phí, thất thoát hoặc phải điều chỉnh tổng mức đầu tư đã được đưa tin trên báo chí, được nêu trong các báo cáo thanh tra của các Bộ, các Sở Xây dựng trong cả nước Qua các thông tin trên có thể thấy việc quản lý chi phí chưa tốt xảy ra ở nhiều nơi và ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu
tư dự án
Hình 1.3 : Nguyên nhân ch ủ yếu dẫn đến tồn tại trong quản lý
chi phí d ự án ĐTXD công trình
1.2.3 Th ực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình từ điểm nhìn quản lý
ch ất lượng tiến độ (thời gian) thực hiện dự án
1.2.3.1 Th ực trạng tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình thời gian qua
Trong những năm vừa qua, tình hình tiến độ thực hiện DAĐT XDCT có nhiều tiến bộ
so với trước đây Nhiều dự án đã hoàn thành đúng tiến độ đề ra, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đem lại hiệu quả đầu tư cho CĐT và lợi ích cho xã hội Tuy nhiên, bên cạnh các dự án thực hiện đúng tiến độ vẫn còn nhiều dự án không hoàn thành đúng tiến độ do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan Các
dự án chậm tiến độ xảy ra ở tất cả các nhóm dự án và ở tất cả các cấp quản lý, từ các
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tồn tại trong quản lý chi phí DAĐT XDCT
Do cơ chế, chínhsách về quản lý đầu
tư xây dựng chưa hoàn thiện
Do năng lực của các
chủ thể tham gia
QLDA còn yếu, kém
Do tác động củayếu tố khách quan
Trang 381.2.3.2 Th ực trạng xác định thời gian thực hiện các công việc của dự án ĐTXD công trình
Thời gian thực hiện các công việc của dự án gồm 3 thành phần thời gian:
- Thời gian thực hiện các thủ tục hành chính (trình duyệt, phê duyệt, xin phép, );
- Thời gian thực hiện công việc tư vấn (lập dự án, lập tổng mức đầu tư, thiết kế, thẩm tra, thẩm định, );
- Thời gian thực hiện các công việc “kỹ thuật” (thi công XDCT, lắp đặt thiết bị, );
Trong 3 thành phần trên, thành phần thời gian thực hiện các thủ tục hành chính tuy có quy định nhưng trong thực tế xác định chính xác nó cũng không đơn giản
Trong tổng thời gian thực hiện DAĐT XDCT thì thời gian XDCT là thời gian từ khi khởi công đến lúc kết thúc xây dựng, nghiệm thu bàn giao, đưa công trình xây dựng vào khai thác, sử dụng Như vậy, thời gian XDCT sẽ bao gồm cả những khoảng thời gian gián đoạn thi công xây dựng do bất kỳ một nguyên nhân nào
Việc xác định thời gian xây dựng có ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chi phí, chất lượng, thời cơ kinh doanh, giảm thiệt hại do ứ đọng vốn đầu tư Xác định độ dài thời gian xây dựng hợp lý có ý nghĩa kinh tế rất lớn nhằm nâng cao hiệu quả đầu
tư, là chỉ tiêu quan trọng trong quá trình phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế tài chính của DAĐT Thời gian XDCT được xác định hợp lý sẽ góp phần đảm bảo tính khả thi trong việc lập kế hoạch và tiến độ thực hiện, quản lý vốn đầu tư trong XDCT
Trang 3929
Thời gian thực hiện dự án nói chung và thời gian XDCT nói riêng được xác định ở bước lập dự án, nó là kế hoạch về thời gian và đại lượng này được xác định bởi các chuyên gia khi lập dự án Nhưng trong thực tế việc xác định thời gian thực hiện dự án cũng như thời gian XDCT trong đại đa số các DAĐT xây dựng ở Việt Nam gần như phụ thuộc vào ý chí chủ quan của CĐT Vấn đề này là một thực tế xuất phát từ mục tiêu đầu tư của dự án cũng như kỳ vọng về lợi ích của dự án đem lại cho nhà đầu tư Thời gian XDCT của các dự án này đó được xác định bằng phương pháp chuyên gia
mà thực chất là sử dụng kinh nghiệm từ các công trình tương tự đó kết thúc đầu tư, từ
đó các chuyên gia lập dự án thực hiện “gia giảm” tùy thuộc vào các yếu tố mang tính thời sự của dự án Các yếu tố chi phối tới việc định lượng thời gian thực hiện dự án cũng như thời gian XDCT của các chủ thể tham gia lập dự án thường là dựa vào các
mục tiêu định sẵn như: Mục tiêu hiệu quả kinh tế (dự án đến thời điểm nào đó phải hoàn thành để đạt được thời cơ kinh doanh); mục tiêu hiệu quả xã hội (dự án phải hoàn thành để giải quyết một nhu cầu cấp bách nào đó); mục tiêu chính trị (dự án phải hoàn thành để đón chào một sự kiện thời sự nào đó)
Mỗi một công trình xây dựng khi lập DAĐT đều được xây dựng kế hoạch và lập quỹ thời gian cho quá trình xây dựng Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thi công xây dựng thì thường có sự khác biệt hay là độ lệch giữa kế hoạch và thực tế của thời gian XDCT
Độ lệch này có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian giữa thực tế và kế hoạch Nhưng hầu hết các DAĐT XDCT thực hiện trong thời gian vừa qua, đặc biệt là các dự án được đầu tư từ nguồn vốn nhà nước đều trong tình trạng kéo dài so với kế hoạch Điều đáng nói là tình trạng chậm tiến độ của các dự án xảy ra ở mọi nơi, mọi loại dự án, trong đó rất nhiều DAĐT thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng quan trọng và chưa có dấu hiệu cải thiện năm sau so với năm trước
Trang 4030
Hình 1.4: Nguyên nhân ch ủ yếu dẫn đến dự án ĐTXD công trình chậm tiến độ
th ời gian qua 1.3 Đánh giá chung về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
1.3.1 Nh ững kết quả đạt được
Qua phân tích ở trên cho thấy, tình hình quản lý dự án đầu tư XDCT thời gian qua đó đạt được nhiều kết quả đáng kể Về quản lý nhà nước, các cơ quan chức năng của Nhà nước đã ban hành được một hệ thống các văn bản về quản lý dự án đầu tư XDCT góp phần tạo hành lang pháp lý cho quản lý dự án đầu tư XDCT Các cơ quan chức năng nhà nước, theo chức năng của mình đã thực thi tương đối tốt công việc QLDA theo nhiệm vụ, quyền hạn được phân công
Thời gian qua đã có nhiều dự án đầu tư XDCT được đầu tư hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng phát huy rất tốt hiệu quả đầu tư, trong đó có rất nhiều công trình quan trọng đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước Nhiều công trình xây dựng hoàn thành với chất lượng tốt được gắn biển công trình chất lượng cao, nhiều dự án đã hoàn thành đúng và vượt tiến độ, trong đó có những công trình lớn và có ý nghĩa quan trọng Công trình thủy điện Sơn La hoàn thành sớm nhiều hạng mục quan trọng đó tiết kiệm được nhiều tỷ đồng Các hạng mục chính của dự án thủy điện Sơn La đều đạt và vượt tiến độ đến nay đã phát lên lưới trên 2 tỷ KWh điện, góp phần thiết thực giải quyết khó khăn về thiếu điện phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế Nhiều công trình khác như Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Sân vận động Mỹ Đình, cũng đó hoàn thành đúng tiến độ với chất lượng cao, kịp thời phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị, đời sống của nhân dân
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến dự ánđầu tư xây dựng công trình chậm tiến độ
Do năng lực của cácchủ thể liên quanđến quản lý và thực hiện dự án còn yếu
Do chậmgiải phóng mặt bằng
Do thiếu vốn