77 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, KỸ THUẬT NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG CANH TÁC NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM TỈNH HÕA BÌNH80 3.1.
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Vũ Thị Phục Mã số học viên: 1581440301011
Lớp: 23KHMT11
Chuyên ngành: Khoa học môi trường Mã số: 60-85-02
Khóa học: 2015-2017
Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng với đề tài nghiên cứu trong luận văn “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hóa chất Bảo
vệ thực vật trong nông nghiệp vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình”
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không giống với các đề tài luận văn nào trước đây, do
đó không có sự sao chép của bất kì luận văn nào Nội dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư liệu nghiên cứu và sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn
Nếu xảy ra vấn đề gì với nội dung luận văn này, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định
Tác giả luận văn
Vũ Thị Phục
Trang 2ii
LỜI CÁM ƠN
Tác giả xin trân trọng cám ơn PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng và các thầy cô trong
bộ môn đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và đóng góp ý kiến cho việc soạn thảo Luận văn thạc sĩ này
Tác giả cũng xin cảm ơn toàn thể thành viên trong gia đình đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học và luận văn của mình
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong muốn nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các chuyên gia, các bạn đọc để tôi hoàn thiện hơn nữa
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 25 tháng 11 năm 2016
Trang 3TN&MT : Tài Nguyên và Môi trường
VietGAP : Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp
tốt
Trang 4iv
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 5
1.1 Hóa chất BVTV 5
1.1.1 Khái niệm và phân loại [1] 5
1.1.2 Tác dụng của hóa chất BVTV 9
1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của hóa chất BVTV tới môi trường 10
1.2.1 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV ở Việt Nam [3] 11
1.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất BVTV 13
1.2.3 Hiện trạng xử lý ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV [5] 15
1.3 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 18
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 18
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội [6] 23
1.3.3 Tình hình canh tác nông nghiệp của 04 huyện thuộc vùng phía Đông Nam tỉnh Hòa Bình [6] 27
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG CANH TÁC NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG ĐÔNG NAM TỈNH HÒA BÌNH 31
2.1 Hiện trạng sử dụng hóa chất BVTV trên địa bàn 31
2.2 Hiện trạng phát sinh các chất thải nguy hại từ hóa chất BVTV trong canh tác nông nghiệp 43
2.2.1 Nguồn phát sinh 43
2.2.2 Khối lượng, thành phần phát sinh 45
2.3 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải và CTNH từ hoạt động canh tác nông nghiệp 46
2.3.1 Công tác thu gom, vận chuyển chất thải 46
Trang 5v
2.3.2 Công tác xử lý chất thải 49
2.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất BVTV trong canh tác nông nghiệp đến môi trường 49
2.4.1 Số liệu chất lượng môi trường đất và nước vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình 51 2.4.2 Ảnh hưởng đến môi trường từ quá trình canh tác, sử dụng hóa chất BVTV 68 2.5 Đánh giá chung về thực trạng và những bất cập trong sử dụng hóa chất BVTV và quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh 77
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, KỸ THUẬT NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG CANH TÁC NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM TỈNH HÕA BÌNH80 3.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách quản lý 80
3.1.1 Cơ quan quản lý 81
3.1.2 Tổ chức, cá nhân kinh doanh, buôn bán hóa chất BVTV 81
3.1.3 Đối với người sử dụng 82
3.2 Nhóm giải pháp về đầu tư kỹ thuật và công nghệ 85
3.2.1 Giải pháp về thu gom, xử lý chất thải nguy hại 85
3.2.2 Biện pháp xử lý đất tại các kho chứa hóa chất BVTV cũ 89
3.3 Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức cộng đồng 101
3.4 Nhóm giải pháp về đầu tư 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
Trang 6vi
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Hòa Bình và khu vực nghiên cứu 18
Hình 1.2 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất theo hiện trạng đến ngày 31/12/2015 [6] 21
Hình 2.1 Biểu đồ tình hình sử dụng hóa chất BVTV giai đoạn 2011-2015 [10] 37
Hình 2.2 Biểu đồ tình hình sử dụng phân bón hóa học qua các năm 41
Hình 2.3 Kho hóa chất BVTV cũ tại Xóm Mỵ Thanh- Xã Mỵ Hòa – huyện Kim Bôi 45 Hình 2.4 Diễn biến lượng chất thải phát sinh trong sử dụng hóa chất BVTV từ năm 2011-2015 tại tỉnh Hòa Bình [6] 45
Hình 2.5 Bể gạch để chứa chai lọ, bao bì hóa chất BVTV sau sử dụng tại một cánh đồng xã Yên Trị, Yên Thủy 47
Hình 2.6 Hố thu gom rác, bao bì hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 47
Hình 2.7 Bao bì hóa chất BVTV vứt bừa bãi tại vùng chè trên địa bàn huyện Yên Thủy48 Hình 2.8 Bao bì hóa chất BVTV vứt bừa bãi tại vùng mía trên địa bàn huyện Yên Thủy48 Hình 2.9 Vị trí lấy mẫu đất khu vực nghiên cứu 53
Hình 2.10 Hàm lượng Pb trong mẫu đất 56
Hình 2.11 Hàm lượng Cd trong mẫu đất 57
Hình 2:12 Hàm lượng As trong mẫu đất 57
Hình 2.13 Vị trí lấy mẫu nước mặt 63
Hình 2.14 Thông số N trong nước sông trên địa bàn 4 huyện vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình 66
Hình 2.15 Thông số P trong nước sông trên địa bàn 4 huyện vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình 66
Hình 2.16 Thông số Cd trong nước sông trên địa bàn 4 huyện vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình 67
Hình 2.17 Thông số Pb trong nước sông trên địa bàn 4 huyện vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình 67
Hình 2.18 Thông số As trong nước sông trên địa bàn 4 huyện vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình 68
Hình 2.19 Con đường phát tán của hóa chất BVTV trong môi trường[12] 69
Hình 3.1 Hình ảnh về thực hiện chương trình IPM 84
Hình 3.2 Hình ảnh các dụng cụ bảo hộ lao động 84
Trang 7vii
Hình 3.3 Bể thu gom bao bì hóa chất BVTV trên một đồng ruộng tại huyện Yên Thủy86
Hình 3.4 Thùng chứa PTNH cố định và lưu động có nắp đậy 87
Hình 3.5 Lantana camara L 90
Hình 3.6 Rau muống, bèo tây 91
Hình 3.7 Cây dương xỉ Pteris vittata, Pityrogramma calomelanos và cỏ Vetiver 92
Hình 3.8 Phát sinh gốc sulfate và các phản ứng [20] 96
Trang 91
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại nhóm độc theo WHO 7
Bảng 1.2 Tình hình biến động quỹ đất tỉnh Hoà Bình trong 5 năm qua 24
Bảng 1.3 Sự phân bố dân cư của tỉnh Hòa Bình năm 2015 26
Bảng 2.1 Số lượng cửa hàng, cơ sở buôn bán thuốc và kho hóa chất BVTV 31
Bảng 2.2 Trích lục Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam hiện đang lưu thông trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 32
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV từ 2011 – 2015 37
Bảng 2.4 Ước tính khối lượng một số loại thuốc BVTV được sử dụng phổ biến ở tỉnh Hòa Bình trong năm 2015 38
Bảng 2.5 Số lượng phân bón hóa học sử dụng qua các năm 41
Bảng 2.6 Lượng thuốc BVTV, phân bón hóa học sử dụng ở 04 huyện thuộc khu vực nghiên cứu 42
Bảng 2.7 Vị trí lẫy mẫu đất 52
Bảng 2.8 Số liệu hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp trên địa bàn 4 huyện55 Bảng 2.9 Số liệu dư lượng hóa chất BVTV tại khu vực nghiên cứu 60
Bảng 2.10 Vị trí lấy mẫu nước mặt trên khu vực nghiên cứu 62
Bảng 2.11 Số liệu phân tích một số mẫu nước mặt trên địa bàn 4 huyện vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình 65
Bảng 2.12 Thời gian tồn lưu của hóa chất BVTV trong đất 76
Bảng 2.13 Thời gian bán hủy của các loại thuốc trừ sâu thuộc POPs 76
Bảng 3.1 Hiệu quả xử lý DDT bằng phương pháp phân hủy sinh học 94
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nền kinh tế nông nghiệp đang ngày càng được quan tâm và chú trọng đầu tư phát triển Trước thực trạng công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, nguy cơ thiếu lương thực đang là mối lo của toàn nhân loại Các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp một cách tối đa nhằm tạo ra lương thực cung cấp cho hơn 7 tỉ người Bên cạnh những máy móc, thiết bị tiên tiến thay thế sức lao động của con người là các loại hóa dược, nông dược được sử dụng hiệu quả góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản Nhưng mặt trái về suy giảm chất lượng môi trường
mà các loại phân bón, hóa chất BVTV này mang lại là vô cùng lớn
Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp chủ đạo, góp phần lớn vào GDP của quốc gia Tuy nhiên những thách thức về ô nhiễm môi trường nông nghiệp nông thôn hiện nay đang trở thành vấn đề lớn của các cấp quản lý và nhân dân Việc lạm dụng hóa chất BVTV trong canh tác nông nghiệp đã và đang đe dọa đến môi trường đất và nước Ngoài vẫn đề tồn lưu hóa chất độc hại thì sự tích tụ kim loại nặng (có trong thành phần hóa chất BVTV) vào môi trường đất và nước đang trở thành vấn đề nóng trong xã hội
Thực trạng lạm dụng hóa chất BVTV trong canh tác nông nghiệp đang diễn ra hết sức phổ biến và khó có thể kiểm soát với hàng nghìn loại hóa chất được bán trên thị trường Người nông dân do thiếu kiến thức và vì lợi ích kính tế mà sử dụng quá mức cho phép các loại thuốc trừ sâu, trừ bệnh dẫn đến tình trạng dư lượng hóa chất BVTV trong nông sản vượt ngưỡng cho phép và gây hại cho sức khỏe con người và môi trường
Hiện tại các khu vực canh tác nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cơ bản vẫn là đồi núi, địa phương đang chú trọng khuyến khích các vùng trồng cây chuyên canh, đặc sản: Cam Cao Phong, mía, chè,… do đó hiệu suất sử dụng hóa chất nông nghiệp sẽ rất cao Một t lệ nhất định các hóa chất này bị rửa trôi theo nước mưa và hệ quả là làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm cho môi trường đất và nước Có thể khẳng định rằng hiệu quả hoạt động canh tác nông nghiệp của Hòa Bình nói trên một phần là do hiệu quả
Trang 122
của việc sử dụng hóa chất; nhưng những tác động của các hóa chất này từ việc sử dụng, phương thức lưu giữ và bảo quản cũng như từ các chất thải do sử dụng chúng đã
và sẽ là sức ép đối với môi trường, đặc biệt là môi trường đất và nước
Sử dụng hóa chất BVTV (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ chuột, thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng, thuốc trừ ốc, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc bảo quản kho,…) vẫn đang là hoạt động không thể thiếu trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và Hoà Bình nói riêng Hiện chưa có một điều tra thống kê cụ thể nào về dư lượng hóa chất và sự tích lũy kim loại nặng do hóa chất BVTV (hóa chất bảo vệ nông nghiệp, bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) được triển khai trên địa bàn Hoà Bình, do đó chưa có cơ sở đề xuất các chính sách phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh dựa trên sự phát triển của nền nông nghiệp hữu cơ, cũng như chưa có các chính sách hợp lý trong việc quản lý hóa chất sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp phù hợp với hoàn cảnh và xu thế phát triển của tỉnh
Việc đánh giá phát tán các chất ô nhiễm: dư lượng hóa chất BVTV và tích lũy kim loại nặng (As, Pb, Cd) từ quá trình sử dụng hóa chất BVTV tới môi trường nước và môi trường đất là một nhiệm vụ quan trọng trong phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường của tỉnh
Chính vì vậy, việc “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình” được thực hiện trong giai đoạn này là hết sức quan trọng và cần thiết
Luận văn tập trung vào vấn đề ô nhiễm môi trường đất và nước do dư lượng hóa chất BVTV và tích lũy kim loại nặng từ việc sử dụng hóa chất BVTV trong hoạt động canh tác nông nghiệp trên địa bàn 04 huyện phía Đông Nam (không bao gồm lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) tỉnh Hòa Bình
2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường đất và nước do dư lượng hóa chất BVTV và
tích lũy kim loại nặng từ hóa chất BVTV trong canh tác nông nghiệp vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình
Trang 133
- Đề xuất một số biện pháp bảo vệ và giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất và nước phù
hợp cho vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng
Dư lượng hóa chất BVTV và tích lũy kim loại nặng (As, Pb, Cd) do hóa chất BVTV ảnh hưởng đến chất lượng môi trường đất, nước tại các khu vực canh tác nông nghiệp thuộc 04 huyện vùng Đông Nam tỉnh Hòa Bình
Tiếp cận tổng hợp: dùng trong đánh giá chất lượng môi trường đất và nước và đề xuất
biện pháp giảm thiểu ô nhiễm từ hóa chất BVTV
b Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa: Điều tra thu thập thông tin số
liệu tại khu vực nghiên cứu, phỏng vấn ý kiến người dân, tìm hiểu thực tế sử dụng hóa chấtBVTV trong canh tác nông nghiệp, xác định những vấn đề bức xúc cần giải quyết
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu và kết quả nghiên cứu đã công bố từ các
nguồn tài liệu liên quan tới đề tài, các báo cáo của các cơ quan liên quan tại khu vực nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích tổng hợp những thông tin số liệu đã thu
thập để hình thành cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu của luận văn
- Phương pháp so sánh: Dựa vào kết quả phân tích được, đánh giá so sánh với quy
chuẩn hiện nay, nhằm đưa ra số liệu đáng tin cậy cho luận văn
Trang 144
- Phương pháp chuyên gia:Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về các vấn đề liên
quan đến nội dung của luận văn
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm các phần sau:
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, KỸ THUẬT NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG CANH TÁC NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM TỈNH HÕA BÌNH KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 15Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên & Môi trường, toàn quốc hiện có trên 1.153 điểm tồn lưu hóa chất BVTV, bao gồm 289 kho lưu giữ và 864 khu vực ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu ở 39 tỉnh Tại 25 tỉnh, qua khảo sát đã tìm thấy khoảng 70 tấn hóa chất BVTV tồn lưu trên mặt đất và ước tính khoảng 150 tấn trên cả nước Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn cả là số tồn dư hóa chất BVTV đã được tìm thấy ở các điểm chôn lấp lẫn với đất trên cả nước có số lượng ước tính tới 1.140 tấn Các kho lưu trữ đã xuống cấp nghiêm trọng, hệ thống thoát nước tại các kho chứa hầu như không có nên khi mưa lớn tạo thành dòng nước mặt rửa trôi hóa chất BVTV tồn đọng gây ô nhiễm nước ngầm, nước mặt và ô nhiễm đất diện rộng, gây ảnh hưởng trực
tiếp tới sức khỏe và cuộc sống người dân
1.1.1 Khái niệm và phân loại [1]
- Khái niệm: Hóa chất BVTV (BVTV) là tên gọi chung để chỉ các hoá chất dùng trong
nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm mục đích diệt sâu bệnh, cỏ dại, côn trùng và động vật gặm nhấm để bảo vệ sản xuất và bảo quản nông lâm sản
- Phân loại hóa chất BVTV
Trang 166
Có nhiều cách phân loại hóa chất BVTV, trong đó có bốn cách phân loại chủ yếu sau đây
a Phân loại theo mục đích sử dụng
Nhóm các chất trừ sâu, trừ nhện, trừ côn trùng gây hại:
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion, Monitor
+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa
+ Nhóm các hợp chất sinh học: Pyrethroid, Permetrin
Nhóm các chất trừ nấm, trừ bệnh, trừ vi sinh vật gây hại:
+ Các hợp chất chứa đồng
+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh
+ Các hợp chất chứa thu ngân
+ Một số loại khác
Nhóm các chất trừ cỏ dại, làm rụng lá, kích thích sinh trưởng:
+ Các hợp chất chứa Phênol (2,4- D)
+ Các hợp chất của axits propyoníc (Dalapon)
+ Các dẫn xuất của cacbamat (ordram)
+ Triazin
Nhóm các chất diệt chuột và động vật gặm nhấm: Photphua kẽm và Warfarin
b Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hoá học
Hóa chất BVTV có nguồn gốc hữu cơ
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion, + Monitor
+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa
Trang 177
+ Các chất trừ sâu thu ngân hữu cơ
+ Các dẫn xuất của hợp chất nitro
+ Các dẫn xuất của urê
+ Các dẫn xuất của axít propioníc
+ Các dẫn xuất của axít xyanhydríc
Các chất trừ sâu vô cơ
+ Các hợp chất chứa đồng
+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh
+ Các hợp chất chứa thu ngân
+ Một số loại khác
+ Các chất trừ sâu có nguồn gốc thực vật là ancaloid, thực vật có chứa nicotin, anabazin, pyrethroid
c Phân loại nhóm độc theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
Các chuyên gia về độc học đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể động vật
ở cạn (chuột nhà) và đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc tố tới cơ thể qua miệng và da như sau
Bảng 1.1 Phân loại nhóm độc theo WHO
Trang 18- Vạch màu đỏ trên bao bì là thuốc độc nhóm I, thuộc loại rất độc và độc
- Vạch màu vàng trên bao bì là thuốc độc nhóm II, thuộc loại độc trung bình
- Vạch màu xanh trên bao bì da trời là thuốc độc nhóm III, , thuộc loại ít độc
- Vạch màu xanh lá cây trên bao bì là thuốc độc nhóm IV, , thuộc loại độc.rất nhẹ
d Phân loại theo độ bền vững
Các hoá chất BVTV có độ bền vững rất khác nhau, nhiều chất có thể lưu đọng trong môi trường đất, nước, không khí và trong cơ thể động, thực vật Do vậy các hoá chất BVTV có thể gây những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ con người Dựa vào độ bền vững của chúng, có thể sắp xếp chúng vào các nhóm sau:
- Nhóm chất không bền vững: Nhóm này gồm các hợp chất phốt pho hữu cơ, cacbamat Các hợp chất nằm trong nhóm này có độ bền vững kéo dài trong vòng từ 1-
12 tuần
- Nhóm chất bền vững trung bình: Các hợp chất nhóm này có độ bền vững từ 1- 18 tháng Điển hình là thuốc diệt cỏ 2,4D (thuộc loại hợp chất có chưa Clo)
- Nhóm chất bền vững: các hợp chất nhóm này có độ bền vững từ 2- 5 năm Thuộc nhóm này là các loại thuốc trừ sâu đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam là DDT, 666 (HCH), Đó là các hợp chất Clo bền vững
-Nhóm chất rất bền vững: Đó là các hợp chất kim loại hữu cơ, loại chất này có chứa các kim loại nặng như Thu ngân (Hg), asen (As) Các kim loại nặng Hg và As không bị phân hu theo thời gian, chúng đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam Tuy nhiên, các loại thuốc có xuất sứ từ Trung Quốc đang tồn tại trôi nổi trên thị trường vẫn chứa
Trang 19bị phóng thích bừa bãi Chất độc có thể gây chết cho tế bào vi sinh vật ( fungicide – chất diệt nấm, bactericide – chất diệt vi khuẩn) Nhiều loại thuốc trừ cỏ gây ra cho cỏ dại những triệu chứng rất điển hình: lá cỏ bị trắng ra từng mảng hoặc có những đốm bị cháy; lá có thể bị xoắn, héo vàng toàn bộ rồi lụi, rụng đi Những thuốc trừ cỏ phenoxy làm cho ngọn bị xoăn, lá mọc dị dạng, thân cong và có nhiều rễ trên thân
Trang 2010
Để gây được một tác động nào đó đến cơ thể sinh vật, chất độc phải xâm nhập được vào cơ thể , lưu lại trong đó trong một khoảng thời gian nhất định và được cơ thể đồng hóa, từ đó tác động đến các cơ quan, hủy hoại các chức năng của cơ thể sống Ví dụ như hợp chất của Hg có độc tính nhờ sự có mặt của nguyên tố Hg trong phân tử, một
số hợp chất Hg đã được chọn làm thuốc trừ sauu, bệnh (falizan…), Hoạt tính hóa học của chất độc càng cao thì độc tính càng cao Anhydricasenno (As2O3) do có hoạt tính cao hơn nên độc tính của nó cao hơn Anhydric (As2O5) [2]
Dựa vào phương thức thẩm thấu và đặc tính tác dụng, người ta có thể chia các hóa chất BVTV thành các nhóm sau:
a Hóa chất BVTV tác dụng tiếp xúc
Cách thông thường để kiểm soát sâu hại là phun hóa chất BVTV lên sâu hại hoặc lên
bề mặt đối tượng cần bảo vệ có sâu đi qua với một lượng đủ thấm qua lớp vỏ cơ thể sâu hại Thuốc có tác dụng như vậy gọi là thuốc có tác dụng tiếp xúc
b Hóa chất BVTV tác dụng vị độc
Thuốc có tác dụng vị độc được sử dụng ở dạng phun, bột rắc hay mồi độc và được dùng để diệt các loài có hại qua đường miệng của chúng Các loài có hại ăn phải thuốc cùng với thức ăn qua miệng
c Hóa chất BVTV tác dụng nội hấp
Một vài loại côn trùng như ve, rệp, hút nhựa bằng miệng Chúng dùng miệng nhỏ hình kim cắm vào cây trồng và hút nhựa Loài côn trùng này rất khó diệt bằng loại thuốc có tác dụng tiếp xúc Nhờ cách gây độc vào nguồn thức ăn của chúng là nhựa cây, chúng ta có thể đưa thuốc vào cơ thể côn trùng đó Đó là cách gây tác dụng nội hấp
d Hóa chất BVTV tác dụng xông hơi
Để loại trừ một số sâu hại ngũ cốc, bột mì, chúng ta phải áp dụng biện pháp xông hơi Thuốc xông hơi được đưa vào khu vực cần xử lý ở dạng rắn, lỏng hoặc dạng khí Thuốc lan toả khắp không gian có sâu hại và diệt sâu hại qua đường hô hấp
1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của hóa chất BVTV tới môi trường
Trang 2111
1.2.1 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV ở Việt Nam [3]
Trong lĩnh vực trồng trọt, hóa chất BVTV có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững năng suất, chất lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực Tuy nhiên, người nông dân thường có kiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong hóa chất BVTV, dẫn tới tình trạng sử dụng hóa chất BVTV thiếu hiệu quả và an toàn, làm tăng chi phí sản xuất
và nguy cơ mấtan toàn thực phẩm (ATTP), ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và môi trường
Danh mục hóa chất BVTV được phép sử dụng ở nước ta đến năm 2013 đã lên tới 1.643 hoạt chất, trong khi, các nước trong khu vực chỉ có khoảng từ 400 đến 600 loại hoạt chất, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malaysia 400-600 loại
Hầu hết hóa chất BVTV tại Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Nếu như trước năm 1985 khối lượng hóa chất BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 - 9.000 tấn thì trong 03 năm gần đây, hàng năm Việt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 - 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần Các loại hóa chất BVTV mà Việt Nam đang sử dụng có độ độc còn cao, nhiều loại thuốc đã lạc hậu
Từ năm 2006 đến nay, Việt Nam nhập khẩu bình quân trên 70.000 tấn thành phẩm hàng năm với trị giá từ 210 - 774 triệu USD Trên 90% hóa chất BVTV được nhập khẩu từ Trung Quốc Bên cạnh đó, tình trạng thuốc giả, nhái và thuốc nhập lậu tràn lan trên thị trường cũng là một vấn đề “nhức nhối” trong vấn đề quản lý và sử dụng hóa chất BVTV
Theo kết quả điều tra, thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường và báo cáo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về các điểm tồn lưu do hóa chất BVTV từ thời kỳ bao cấp, chiến tranh, không rõ nguồn gốc hoặc nhập lậu (sau đây gọi tắt là điểm ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu) tính đến tháng 6 năm 2015 trên địa bàn toàn quốc thống kê được 1.562 điểm tồn lưu do hóa chất BVTV trên địa bàn 46 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Căn cứ theo QCVN 54:2013/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về ngưỡng xử lý hóa chất BVTV hữu cơ theo mục đích sử dụng đất thì hiện có khoảng 200 điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa
Trang 2212
chất BVTV có mức độ rủi ro cao gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
- Tồn lưu dưới dạng kho lưu chứa [3]
Các loại hóa chất BVTV tồn lưu gồm rất nhiều chủng loại và ở nhiều dạng khác nhau,
từ dạng thuốc, dạng bột, dạng ống, dạng lẫn trong đất và cả loại không còn nhãn mác
đa chủng loại… tập trung chủ yếu ở các khu vực kho thuốc của ngành y tế trong chiến tranh; kho cũ của các xã, hợp tác xã, các cơ sở và trong vườn các hộ dân; tại kho của Chi cục BVTV (BVTV), Các trạm BVTV phục vụ nông nghiệp Theo kết quả điều tra, khảo sát thống kê cho thấy các kho hóa chất BVTV tồn lưu hiện đang lưu giữ khoảng
217 tấn; 37 nghìn lít hóa chất BVTV và 29 tấn bao bì
Các kho chứa hóa chất BVTV tồn lưu hầu hết được xây dựng từ những năm 1980 trở
về trước, khi xây dựng chưa quan tâm đến việc xử lý kết cấu, nền móng để ngăn ngừa khả năng gây ô nhiễm Hơn nữa, từ trước đến nay các kho không được quan tâm tu sửa, gia cố hàng năm, nên đều đã và đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng nền
và tường kho phần lớn bị rạn nứt, mái lợp đã thoái hóa, dột nát, nhiều kho không có cửa sổ, cửa ra vào được buộc gá tạm bợ; hệ thống thoát nước hầu như không có nên khi mưa lớn tạo thành dòng mặt kéo theo lượng thuốc tồn đọng gây ô nhiễm nước ngầm, nước mặt và ô nhiễm đất xung quanh khu vực tồn lưu hóa chất BVTV, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và cuộc sống người dân, thậm trí những tác động này còn ảnh hướng đến hệ thần kinh và giống nòi của những người dân bị nhiễm độc lâu dài do hóa chất BVTV tồn lưu gây ra
- Tồn lưu dưới dạng khu vực
Ở nước ta, hóa chất BVTV đã được sử dụng từ những năm 40 của thế k trước để phòng trừ các loại dịch bệnh Đến những năm gần đây, việc sử dụng hóa chất BVTV
đã tăng lên đáng kể cả về khối lượng lẫn chủng loại, với hơn 1.000 loại hóa chất BVTV đang được lưu hành trên thị trường Mặt khác căn cứ vào kết quả báo cáo của
U ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì sau khi xóa bỏ chế độ bao cấp hầu hết các loại hóa chất đều được đem đi chôn lấp hoặc kho trong quá trình
sử dụng do không được quan tâm tu sửa, gia cố hàng năm, nên đều đã và đang trong
Trang 2313
tình trạng xuống cấp nghiêm trọng nền và tường kho phần lớn bị rạn nứt, mái lợp đã thoái hóa, dột nát, nhiều kho không có cửa sổ, cửa ra vào được buộc gá tạm bợ; hệ thống thoát nước hầu như không có nên khi mưa lớn tạo thành dòng mặt kéo theo lượng hóa chất tồn đọng gây ô nhiễm nước ngầm, nước mặt và ô nhiễm đất xung quanh khu vực tồn lưu hóa chất BVTV, kết quả điều tra, khảo sát cho thấy các loại hóa chất BVTV tồn lưu trong đất chủ yếu gồm: DDT, Basal, Lindan, thuốc diệt chuột, thuốc diệt gián, muỗi của Trung Quốc, Vinizeb, Echo, Xibuta, Kayazinno, Hinossan, Viben-C, Ridostar… và nhiều loại thuốc không nhãn mác, không rõ nguồn gốc xuất
xứ
1.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất BVTV
Thuốc BVTV cũng là một trong những nhân tố gây mất ổn định môi trường Do bị lạm dụng, thiếu kiểm soát, dùng sai, nên nhiều mặt tiêu cực của thuốc BVTV đã bộc lộ như: gây ô nhiễm nguồn nước và đất; để lại dư lượng trên nông sản, gây độc cho người
và nhiều loại động vật máu nóng; gây mất cân bằng trong tự nhiên, làm suy giảm tính
đa dạng của hệ sinh thái nông nghiệp, xuất hiện các loài dịch hại mới, tạo tính chống thuốc của dịch hại và làm đảo lộn các mối quan hệ phong phú giữa các loài sinh vật trong hệ sinh thái, gây bùng phát và tái phát dịch hại, dẫn đến hiệu lực phòng trừ của thuốc bị giảm sút hoặc mất hẳn [4]
Theo kết quả điều tra, thống kê về các điểm tồn lưu hóa chất BVTV từ năm 2007 đến năm 2009 của bộ TN&MT đã phát hiện 1.153 khu vực gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố Trong số này, có khoảng 864 khu vực môi trường đất bị ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố và 289 kho hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố Trong đó, 189 khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng và ô nhiễm nghiêm trọng, 87 khu vực bị ô nhiễm và 588 khu vực đất
có ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu nhưng vẫn chưa đánh giá chi tiết mức độ ô nhiễm Kết quả điều tra mới đây nhất của các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương đã phát hiện thêm 409 khu vực bị ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu Hầu hết nằm ở địa bàn các tỉnh miền Bắc và miền Trung
Trang 2414
Một nghiên cứu của Viện Môi trường nông nghiệp Việt Nam cho thấy lượng hóa chất BVTV còn bám lại trên vỏ bao bì bình quân chiếm 1,85% t trọng bao bì Trong khi
đó, người dân hoàn toàn không có ý thức xử lý lượng hóa chất BVTV còn tồn lại trên
vỏ bao bì Có tới hơn 65% những người dân được hỏi khẳng định họ vứt vỏ bao bì ngay tại nơi pha thuốc
Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, có tới 80% hóa chất BVTV tại VN đang được sử dụng không đúng cách, không cần thiết và rất lãng phí.[5]
Cục Bảo vệ thực vật- Bộ NN&PTNT cho biết, kết quả thanh, kiểm tra tình hình sử dụng hóa chất BVTV trong thời gian gần đây đối với 13.912 hộ nông dân sử dụng hóa chất BVTV, thì có đến 4.167 hộ (chiếm 29,9%) sử dụng hóa chất BVTV không đúng quy định như không đảm bảo lượng nước, không có bảo hộ lao động, sử dụng hóa chất BVTV không đúng nồng độ, liều lượng, bao bì sau khi sử dụng vứt bừa bãi không đúng nơi quy định… Các vi phạm chủ yếu là người nông dân không có phương tiện bảo hộ lao động, sử dụng hóa chất BVTV không đúng nồng độ, liều lượng, bao bì vứt bừa bãi không đúng nơi quy định…
Đối với các cơ sở kinh doanh hóa chất BVTV, qua tra kiểm tra tại 12.347 cơ sở, cơ quan chức năng cũng phát hiện 1.704 cơ sở vi phạm quy định, chiếm 13,8% Các hành
vi vi phạm chủ yếu là không có chứng chỉ hành nghề, không có giấy phép kinh doanh, buôn bán hóa chất BVTV ngoài danh mục, kém chất lượng, hết hạn sử dụng…[5] Hiện đại đa số nông dân vẫn dựa vào hóa chất BVTV hóa học là chính, t lệ sử dụng thuốc sinh học đạt rất thấp Trong khi đó, các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật an toàn, hiệu quả trong BVTV chậm được nhân rộng nên việc mất an toàn khi sử dụng hóa chất BVTV vẫn tồn tại từ rất lâu cho đến nay
Thực tế, hiện nay dịch vụ về hoạt động BVTV đã phát triển khá mạnh ở nhiều địa phương, song hiệu quả vẫn còn hạn chế Theo điều tra năm 2014 của Cục BVTV (Bộ NN&PTNT), cả nước có khoảng trên 600 tổ dịch vụ BVTV, nhưng chủ yếu chỉ thực hiện việc phun thuốc (chiếm trên 60%), còn dịch vụ trọn gói từ điều tra sâu bệnh, cung ứng, phun thuốc thuê còn rất thấp (chỉ đạt 2,6%).[5]
Trang 2515
Với lượng hóa chất BVTV sử dụng rất lớn, ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu gây ra tại Việt Nam đang trở nên ngày một nghiêm trọng hơn
1.2.3 Hiện trạng xử lý ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV [5]
Để khắc phục những mặt tồn tại của hóa chất BVTV, các cơ quan quản lý Nhà nước cần kiểm soát tốt việc sản xuất, nhập khẩu, sử dụng hóa chất BVTV Loại bỏ dần những hóa chất BVTV độc hại, lạc hậu, khuyến khích sử dụng hóa chất BVTV sinh học, hóa chất BVTV thế hệ mới, thuốc bảo quản rau, quả an toàn Đồng thời, đẩy mạnh việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong việc tự bảo vệ và sử dụng hóa chất BVTV một cách có ý thức Khuyến khích, mở rộng việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và các chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý dinh dưỡng (ICM), chương trình canh tác lúa cải tiến (SRI), 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, đẩy mạnh chương trình khuyến nông, sản xuất cây trồng an toàn theo quy trình VietGAP… Qua đó, giúp nông dân phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường để
phát triển bền vững và xây dựng nông thôn mới
Theo kết quả điều tra năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện cả nước có hơn 1.000 điểm ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu trong đó tập trung chủ yếu trên địa bàn các tỉnh Miền Trung Các kho hóa chất được xây dựng từ những năm
1980 trở về trước, đã và đang xuống cấp trầm trọng và phần lớn nằm gần khu vực dân
cư Việc phòng ngừa, ngăn chặn tác hại do hóa chất BVTV tồn lưu gây ra đối với sức khỏe cộng đồng, môi trường và phát triển kinh tế-xã hội đang trở nên vô cùng cấp thiết
Nhìn chung các loại hóa chất BVTV mà Việt Nam đang sử dụng có độc tố còn cao ( nhóm độc I chiếm 11,8 – 22%, nhóm độc II 40-58,8%, nhóm độc III 11-30, nhóm độc
IV 10-17%), trong đó nhiều loại thuốc đã lạc hậu Để xử lý hóa chất BVTV tồn lưu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21/10/2010 về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu trên phạm vi cả nước và Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 02/9/2012 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phụ ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2010-2015 Bộ Tài nguyên – Môi trường ban hành Thông tư số 43/2013/TT-
Trang 26có 02 đơn vị được cấp pháp áp dụng công nghệ đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng để xử lý hóa chất BVTV POP là Công ty xi măng Holcim và công ty xi măng Thành Công Đối với các lò đốt chất thải nguy hại được áp dụng và cấp phép, tuy nhiên chưa có cơ sở nào được cấp phép để đốt hóa chất BVTV POP
Nhóm giải pháp không đốt hiện có nhiều phương pháp đang được áp dụng tại Việt Nam, bao gồm: phương pháp cô lập triệt để, công nghệ chôn lấp, công nghệ khử bằng natri, phân hủy bằng tia cực tím hay công nghệ Fenton, công nghệ vi sinh… So sánh giữa hai nhóm công nghệ đốt và không đốt cho thấy, nhóm công nghệ không đốt có rất nhiều công nghệ cụ thể, đa dạng và phong phú hơn nhiều so với nhóm đốt Các công nghệ thuộc nhóm đốt được quản lý và kiểm soát một cách chặt chẽ hơn qua các quá trình giám sát, quan trắc, cấp phép Các công nghệ thuộc nhóm không đốt đã có những
du nhập khá rõ ràng trong thời gian vừa qua, tuy nhiên cần nhiều thời gian để lựa chọn công nghệ phù hợp nhất và cần thiết có các yêu cầu kỹ thuật chuẩn để áp dụng một cách đúng quy trình
Theo Trần Ngọc Đình đã điều tra, đánh giá về các điểm ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu cho biết việc xử lý các loại hóa chất BVTV tồn lưu còn lưu trữ ở trong kho tương đối đơn giản Song việc cải tạo và phục hồi các khu vực bị ô nhiễm lại rất phức tạp và
Trang 2717
tốn kém Chẳng hạn nếu như xử lý 1kg hóa chất tồn lưu chỉ cần 2 USD, song cần 20 USD để xử lý 1kg bị rò rỉ vào vùng đất bề mặt; 200 USD xử lý 1kg bị thấm xuống tầng đất dưới Nhưng khi 1 kg hóa chất đã ngấm xuống nguồn nước ngầm thì phải sử dụng tới 2.000 USD để xử lý Cùng với kinh phí, thời gian để xử lý cũng tăng lên rất nhiều lần khi hóa chất đã phân tán ra môi trường Vấn đề nan giải nhất tại các điểm tồn lưu hóa chất BVTV ở Việt Nam, đó là các hóa chất này đã bị chôn lấp, rò rỉ, rơi vãi trong quá trình lưu trữ không phù hợp tiêu chuẩn Do đó, công việc quản lý môi trường tại những điểm này sẽ phải tập trung vào nội dung cải tạo, xử lý triệt để phục hồi các khu vực bị ô nhiễm để đưa hiện trạng của đất và nguồn nước ngầm trở về trạng thái ban đầu, nhưng hiệu quả đến đâu lại lệ thuộc vào mức độ đầu tư kinh phí cho công tác này [5]
Trong nhiều năm qua, nhờ huy động được từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, Tổng cục Môi trường và các địa phương đã phối hợp tổ chức tiêu hủy, xây hầm bê tông kiên
cố chôn lấp hàng trăm tấn hóa chất BVTV tồn lưu tại những điểm “nóng‟ gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt, diện tích nền kho thuốc trước đây giờ được trồng cỏ Vetiver, là loại thực vật có thân cứng và lá sắc nhọn trâu bò không dám ăn, có khả năng hấp thụ
và biến đổi được hóa chất độc hại trong đất, loài cỏ này tự lụi tàn và tái sinh không cần chăm sóc.[5]
Do đó, biện pháp cần tiến hành ngay là tăng cường truyền thông và nâng cao nhận thức của cộng đồng, nhất là cộng đồng dễ bị tổn thương đang sống gần khu vực bị ô nhiễm Họ phải được trang bị các kiến thức để chủ động phòng tránh tác hại của ô nhiễm, do tồn lưu hóa chất BVTV đối với sức khỏe và sinh kế của mình Qua đó thay đổi hành vi như không đi vào khu vực bị nhiễm; thiết lập hàng rào ngăn trẻ em và cả gia súc, gia cầm; tránh dùng nước giếng đào, giếng khoan nông cho mục đích sinh hoạt nhằm giảm nguy cơ phơi nhiễm các chất ô nhiễm đến con người Trong đó yêu cầu tiến hành điều tra, đánh giá, xác định mức độ và phạm vi ô nhiễm của 100 khu vực tồn lưu hóa chất BVTV gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng; xây dựng dự án đầu tư, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Theo đó, với kinh phí thực hiện 1.010 t đồng từ nguồn ngân sách Trung ương và địa phương, do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, cơ quan chức năng và địa phương phải thực hiện di dời
Trang 2818
các công trình và người dân sinh sống trên khu vực ô nhiễm Các địa phương tiến hành
cô lập, cách ly, bao vây ngăn chặn ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu ra môi trường xung quanh; xây dựng các hệ thống an toàn ngăn ngừa người dân và gia súc tiếp xúc với khu vực bị ô nhiễm Đồng thời xử lý, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đất, nước, không khí đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành về môi trường; cũng như quan trắc, giám sát chất lượng môi trường trong và sau quá trình xử lý, sau đó lập báo cáo gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường để kiểm tra, xác nhận hoàn thành
1.3 Giới thiệu khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng tây bắc Việt Nam, có vị trí ở phía nam Bắc
Bộ, giới hạn ở tọa độ 20°19' - 21°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, tỉnh
lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 73 km Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Hà Nội.[6]
Hòa Bình nằm giáp ranh giữa 3 khu vực: tây bắc, đông bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam
Địa giới Hòa Bình:
Phía bắc giáp với tỉnh Phú Thọ;
Phía nam giáp với các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình;
Phía đông và đông bắc giáp với thủ đô Hà Nội,
Phía tây, tây bắc, tây nam giáp với các tỉnh Sơn La, Thanh Hóa
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam Thu nhập bình quân đầu người: 1500 USD (tương đương 34.090.909 đồng) Khu vực nghiên cứu mà tác giả lựa chọn là 04 huyện phía Đông Nam tỉnh Hòa Bình bao gồm huyện Lạc Sơn, Lạc Thủy, Yên Thủy, Kim Bôi Vì vậy khu vực nghiên cứu
có đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng với tỉnh Hòa Bình Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Hòa Bình và khu vực nghiên cứu
Trang 2919
Trang 30- Phía Đông Nam (vùng thấp): thuộc hệ thu sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Bùi, gồm các huyện Kỳ Sơn, Tân Lạc, Kim Bôi, Lương Sơn, Yên Thu , Lạc Thu , Lạc Sơn, thành phố Hoà Bình Địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20-250, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 100-200 m, đi lại thuận lợi
1.3.1.2 Khí hậu [6]
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình 60%, cao nhất tới 90% vào tháng 8 và tháng 9, thấp nhất là 75% vào tháng 11 và tháng 12 Do khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt trong năm:
- Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 24oC, cao nhất 38-39oC vào tháng 6 và tháng 7, lượng mưa trung bình từ 1.700-1.800 mm (trên 90% tổng lượng mưa cả năm)
- Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh, ít mưa, nhiệt độ trung bình 15-16oC, thấp nhất 5oC vào tháng 1 và tháng 12, ở vùng núi cao có nơi nhiệt độ xuống tới 2oC, lượng mưa từ 100-200 mm (chiếm 10% lượng mưa cả năm)
Khí hậu Hoà Bình nhìn chung tương đối phức tạp, mưa nắng thất thường tạo ra các vùng tiểu khí hậu khác nhau trên địa bàn tỉnh, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp
1.3.1.3 Tài nguyên đất [6]
- Tài nguyên đất: Diện tích đất tự nhiên của tỉnh Hoà Bình tính đến 1/1/ 2009 là 4.595,2 km2; gồm 3 nhóm chính: Nhóm Feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất
Trang 3121
kết cấu hạt thô trên các loại đá chủ yếu là sa thạch Pocfirit Spilit; nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn trên các loại đá phiến thạch sét, diệp thạch; nhóm Feralit phát triển trên đá vôi và biến chất của đá vôi
Đất đai có độ màu mỡ cao thích hợp với nhiều loại cây trồng Với hàng trăm ngàn ha đất gồm các lô đất liền khoảnh có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau nhất là trồng rừng, trồng cây công nghiệp để phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản
và phát triển công nghiệp Phần đất trống, đồi núi trọc khó phát triển nông nghiệp và trồng rừng có diện tích khá lớn thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng các khu công nghiệp
- Tình hình sử dụng đất:
Đến năm 2015, diện tích đất nông nghiệp là 352,9 nghìn ha, chiếm 84% diện tích tự nhiên, trong đó đất rừng có diện tích khá lớn (đất rừng phòng hộ 112,3 nghìn ha, đất rừng sản xuất 144,1 nghìn ha), trong diện tích đất trồng lúa không nhiều, chỉ có 29,9 nghìn ha
Hình 1.2 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất theo hiện trạng đến ngày 31/12/2015 [6]
Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn là 48,8 nghìn ha, chiếm 10,58% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
1.3.1.4 Tài nguyên nước [6]
Có mạng lưới sông, suối phân bổ khắp trên tất cả các huyện, thành phố Nguồn cung cấp nước lớn nhất của Hoà Bình là sông Đà chảy qua các huyện: Mai Châu, Đà Bắc,
Trang 3222
Tân Lạc, Kỳ Sơn và thành phố Hoà Bình với tổng chiều dài 151 km Hồ Hoà Bình với diện tích mặt nước khoảng 8.000 ha, dung tích 9,5 t m3 ngoài nhiệm vụ cung cấp điện cho Nhà máy Thu điện Hoà Bình còn có nhiệm vụ chính là điều tiết và cung cấp nước cho vùng Đồng bằng sông Hồng
Ngoài ra, Hoà Bình còn có 02 con sông lớn nữa là sông Bôi và sông Bưởi cùng khoảng 1.800 ha ao hồ, đầm nằm rải rác trên địa bàn tỉnh Đây cũng là nơi trữ nước, điều tiết nước và nuôi trồng thu sản tốt
Bên cạnh đó nguồn nước ngầm ở Hoà Bình cũng có trữ lượng khá lớn, chủ yếu được khai thác để sử dụng trong sinh hoạt Chất lượng nước ngầm ở Hoà Bình được đánh giá là rất tốt, không bị ô nhiễm Đây là một tài nguyên quan trọng cần được bảo vệ và khai thác hợp lý
1.3.1.5 Tài nguyên rừng [6]
Năm 2009 diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình là 251.315 ha, chiếm 54,7% diện tích tự nhiên; trong đó đất rừng tự nhiên 151.949 ha, đất rừng trồng 98.250
ha Rừng Hòa Bình có nhiều loại gỗ, tre, bương, luồng; cây dược liệu quý như dứa dại,
xạ đen, củ bình vôi Ngoài các khu rừng phòng hộ, phần lớn diện tích rừng trồng thuộc các dự án trồng rừng kinh tế hiện nay đã đến kỳ khai thác và tiếp tục được trồng mới mở rộng diện tích, hứa hẹn khả năng xây dựng các nhà máy chế biến quy mô lớn Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình có các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, bao gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (chung với Thanh Hoá), Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn, Vườn quốc gia Cúc Phương (chung với Ninh Bình và Thanh Hoá), Vườn Quốc gia Ba Vì (chung với Hà Nội) và khu bảo tồn đất ngập nước lòng hồ Hoà Bình Đây là các khu vực có đa dạng sinh học cao, có giá trị đối với phát triển du lịch
1.3.1.6 Tài nguyên khoáng sản [6]
Hoà Bình có nhiều loại khoáng sản, một số khoáng sản đã được tổ chức khai thác như: Amiăng, than, nước khoáng, đá vôi Đáng lưu ý nhất là đá, nước khoáng, đất sét có trữ lượng lớn
Trang 33- Nước khoáng Kim Bôi, Lạc Sơn
- Ngoài ra còn có nhiều mỏ khoáng sản đa kim: Đồng, chì, kẽm, thu ngân, antimon, pyrit, photphorit, có trữ lượng ở các mức độ khác nhau
Thế mạnh về khoáng sản của tỉnh là đá để sản xuất vật liệu xây dựng, nguyên liệu sản xuất xi măng, nước khoáng khai thác với quy mô công nghiệp Những điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên trên là những tiền đề rất quan trọng để tỉnh xây dựng Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội [6]
Tỉnh Hòa Bình bao gồm thành phố Hòa Bình và 10 huyện, độ cao trung bình so với mặt nước biển là trên 200m, trong đó cao nhất là huyện Đà Bắc nằm ở độ cao 560m, thành phố Hòa Bình, huyện Lạc Thủy, huyện Yên Thủy chỉ ở độ cao 20 – 50m Toàn tỉnh Hòa Bình có tổng cộng 11 dãy núi cao trên 1.000m (so với mặt nước biển) Độ dốc lớn theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, địa hình bị chia cắt phức tạp, hiểm trở
Theo Báo cáo 6 tháng đầu năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước so với cùng kỳ đạt 6,96% (cùng kỳ tăng 7,5%); nếu tính giá trị sản xuất có tính Công ty Thủy điện Hòa Bình, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 11,1% (cùng kỳ tăng 6,66%)
Nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp có nhiều thuận lợi, giá trị sản xuất ước đạt 3.110 t đồng Tổng diện tích gieo trồng vụ đông xuân ước đạt 80,1 nghìn ha; sản lượng ước đạt
Trang 3424
190,6 nghìn tấn Diện tích gieo cấy lúa đạt 16.578 ha, năng suất ước đạt 56 tạ/ha, sản lượng 92,8 nghìn tấn [6] Trên địa bàn tỉnh hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh tập trung được phát triển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím huyện Tân Lạc, Cao Phong; vùng gỗ, luồng nguyên liệu ở huyện Đà Bắc, Mai Châu; vùng lạc, đậu ở huyện Lạc Sơn, Yên Thủy; vùng cây dưa hấu ở huyện Lạc Thủy, Kim Bôi; vùng cây dược liệu ở Tân Lạc, Lạc Sơn; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Mai Châu, Đà Bắc Tính đến cuối tháng 10/2015 diện tích lúa mùa toàn tỉnh đã gặt được 21.000 ha đạt gần 90% tổng diện tích Thu hoạch cây màu hè thu được 588 ha lạc; 3.590
ha ngô; 855 ha khoai lang; 147 ha đậu tương và 2.213 ha rau đậu các loại Cây màu vụ đông đã trồng được 730 ha ngô; 343 ha khoai lang; 56 ha đậu tương và 690 ha rau đậu Bảng 1.2 Tình hình biến động quỹ đất tỉnh Hoà Bình trong 5 năm qua
2011: 213.906 ha; năm 2012: 227.507 ha; năm 2013: 224.963 ha; năm 2014: 222.645 ha; năm 2015: 285.865 ha nguyên nhân chính là do có sự điều chỉnh và đo đạc lại diện tích rừng và đưa diện tích đất chưa sử dụng vào trồng rừng sản xuất Sử dụng tốt các nguồn vốn chương trình, dự án để trồng rừng, bảo vệ, chăm sóc rừng trồng Diện tích trồng mới biến động qua các năm: năm 2011 đạt 10.936 ha; năm 2012 đạt 9.506 ha;
Trang 35Kết thúc thời vụ trồng rừng năm 2015, toàn tỉnh đã trồng được: 8.751 ha, đạt 125% kế hoạch năm Độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh đạt mức 46%
Công nghiệp: Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh thì ngành công nghiệp và xây dựng ngày
càng đóng vai trò chủ đạo chiếm 56% tổng sản phẩm[6] Hiện nay có 08 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, bổ sung vào quy hoạch các khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2015 Đến nay đã có 2 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động là Khu công nghiệp Bờ trái Sông Đà và Khu công nghiệp Lương Sơn, trong đó
đã có 30 dự án đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh với doanh thu 20 triệu USD và
450 t đồng, nộp ngân sách nhà nước 14,5 t đồng, giải quyết việc làm cho trên 5.000 lao động Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông – lâm sản, công nghiệp cơ khí, điện tử, may mặc là chủ đạo
Theo Báo cáo 6 tháng đầu năm 2015, sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng ở mức khá, giá trị tăng thêm tăng 12,52% so với cùng kỳ
Du lịch- dịch vụ: Hòa Bình là tỉnh có rất nhiều tiềm năng để phát triển ngành Du lịch,
với nhiều danh lam thắng cảnh lạ và sự đa dạng văn hóa, phong tục tập quán sinh hoạt của cộng đồng các dân tộc Mường, Dao, Thái, Tày, là lợi thế lớn để tỉnh Hòa Bình phát triển ngành Du Lịch nâng cao nguồn thu ngân sách cho tỉnh, cải thiện đời sống nhân dân Ngành Du Lịch phát triển sẽ kéo theo ngành dịch vụ phát triển Trong những năm gần đây, số lượt khách du lịch đến tỉnh Hòa bình đang tăng nhanh, doanh thu cũng theo đó tăng rất nhanh Tuy nhiên, đầu tư cho phát triển ngành du lịch của tỉnh chưa đúng với tiềm năng sẵn có, công tác quảng bá hình ảnh chưa thực sự thu hút
Trang 362015 là 22,48% ; T trọng ngành Công nghiệp – Xây dựng từ 17,1% năm 2000 tăng lên 30,4% vào năm 2009 và năm 2010 là 46%, đến năm 2012 là 50,25%; T trọng ngành Thương mại – Dịch vụ từ 34,3% năm 2000 giảm xuống 32,9% vào năm 2009 và năm 2010 là 27%, đến năm 2015 là 27,27%
Hòa Bình là một trong số ít các tỉnh ở nước ta mà người Kinh chiếm thiểu số chỉ chiếm 27,73%; người Mường chiếm đến 63,3%; người Thái 3,9%; Dao 1,7%; Tày 2,7%; Mông 0,52% Hòa Bình có 10 huyện và 01 thành phố, số dân và mật độ dân số của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2015 như sau:
Bảng 1.3 Sự phân bố dân cư của tỉnh Hòa Bình năm 2015
Thành phố/huyện Số xã
Số Phường, thị trấn
Trang 3727
Khu vực đồi núi cao ở phía Tây Bắc có dân cư thưa thớt (huyện Đà Bắc, Mai Châu); trong khi đó vùng đồi núi thấp ở phía Đông Nam, dân cư tập trung đông đúc (Huyện Lương Sơn với mật độ dân số 243 người/km2, Yên Thủy với mật độ dân số 212 người/km2), đặc biệt thành phố Hòa Bình mật độ dân số lên đến 633 người/km2
Người Mường, Dao và người Kinh sống ở khắp các huyện và tập trung nhiều ở Thành phố, thì người Thái chủ yếu sống ở huyện Mai Châu, người Tày chỉ sống tập trung ở huyện Đà Bắc
Thành phố Hòa Bình có 144 km2 diện tích tự nhiên và dân số 91.230 người (năm 2015), bao gồm 15 đơn vị hành chính gồm 8 phường: Phương Lâm, Đồng Tiến, Chăm Mát, Thái Bình, Tân Thịnh, Tân Hòa, Hữu Nghị, Thịnh Lang và 7 xã: Dân Chủ, Sủ Ngòi, Thống Nhất, Hòa Bình, Yên Mông, Thái Thịnh, Trung Minh
Thành phố Hoà Bình đã được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III vào tháng 12/
2006
Dân cư phân bố không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, gần 80% dân số tập trung ở vùng thấp và thành phố Khu vực có dân số tập trung đông nhất là huyện Kim Bôi với tổng dân số là 108.092 người, mật độ dân số là 196 người/km2; ở các vùng cao, giao thông khó khăn, dân cư thường rất thưa thớt, thấp nhất là huyện Kỳ Sơn chỉ có 31.794 người, mật độ dân số là 151 người/km2
- Hiện nay, toàn tỉnh Hòa Bình có 11 đô thị bao gồm: 1 thành phố, 10 thị trấn
- Diện tích tự nhiên thành phố Hòa Bình: 144 km2, dân số 91.230 người
- Dân số đô thị (gồm cả thành phố và các thị trấn) hiện có: 121.074/806.102 người chiếm 15,02% (năm 2015)
- Dân số nông thôn hiện có: 686.915/806.102 người chiếm 84,98% (năm 2015)
1.3.3 Tình hình canh tác nông nghiệp của 04 huyện thuộc vùng phía Đông Nam tỉnh Hòa Bình [6]
Qua công tác điều tra trên địa bàn, cho thấy tình hình sản xuất của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh như sau:
Trang 3828
1 Huyện Lạc Sơn:
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm là 21.483,9/21.000 ha, đạt 102,3% kế hoạch
Trong đó: Lúa là 9.381,3/8.825 ha, đạt 106,3% kế hoạch, bằng 103% so với cùng kỳ
năm 2014, năng suất bình quân cả năm theo số liệu phỏng vấn của Chi cục Thống kê
huyện đạt 53,39 tạ/ha, sản lượng đạt 50.091,3 tấn (năng suất theo đo gặt thống kê đạt
54,69 tạ/ha, sản lượng 51.300,2 tấn) Ngô là 4.117,9/5.027 ha, đạt 82% kế hoạch,
bằng 79% so với cùng kỳ năm 2014, năng suất bình quân cả năm đạt 35,45 tạ/ha, sản lượng đạt 14.599,7 tấn
Tổng sản lượng lương thực cây có hạt theo số liệu phỏng vấn của Chi cục Thống kê
huyện là 64.691 tấn, đạt 107,8% kế hoạch, bằng 98,3% so với cùng kỳ năm 2014 (theo
kết quả đo gặt thống kê đạt 65.873,3 tấn, đạt 109,79% kế hoạch) Bình quân lương
thực đầu người đạt 474,6 kg/người/năm
Các cây hoa màu, cây công nghiệp, cây trồng hàng năm khác: Cây chất bột có củ là 4.036,7 ha; Cây thực phẩm là 2.076,8 ha; Đậu các loại là 585,9 ha; Cây công nghiệp hàng năm là 966,9 ha; Cây hàng năm khác là 904,3 ha
Trang 3929
Diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân 7429,01 ha, đạt 103,33% KH, tăng 3,02% so với cùng kỳ Trong đó: Diện tích lúa là 484,42 ha, đạt 102,74% KH, tăng 7,36% so với cùng kỳ; ngô là 1423,26 ha, đạt 101,66% KH, tăng 1,16% so với cùng kỳ; khoai sọ là 23,3 ha, đạt 58,25% KH, bằng 70,61% so với cùng kỳ; sắn 1223 ha, đạt 104,16% KH, tăng 4,39% so với cùng kỳ; mía là 1491,2 ha, đạt 106,51% KH, tăng 6,39% so với cùng kỳ; lạc là 1774,8 ha, đạt 104,4% KH, tăng 4,49% so với cùng kỳ
Năng suất cây trồng vụ đông xuân: Lúa 45,65 tạ/ha, đạt 101,4% KH, tăng 6,59% so với cùng kỳ; ngô 39,49 tạ/ha, đạt 92,1% KH, tăng 287,5% so với cùng kỳ; khoai lang 54,24 tạ/ha, đạt 100,44% KH, tăng 8,69% so với cùng kỳ; khoai sọ 80,38% tạ/ha, đạt 98,02% KH, giảm 1,91% so với cùng kỳ; lạc 22,67 tạ/ha, đạt 113,3% KH, tăng 130,2% so với cùng kỳ ; đậu tương 12,5 tạ/ha đạt 96,15% KH, bằng 100% so với cùng kỳ; rau các lạo 189,26 tạ/ha, đạt 97,05% KH, tăng 10,5% so với cùng kỳ; đậu các loại 13,49 tạ/ha đạt 103,76% KH, tăng 44,89% so với cùng kỳ
Về sản lượng: Lúa 2211,47 tấn, đạt 109,2% KH, tăng 14,4% so với cùng kỳ; Ngô 5621,14 tấn, đạt 93,68% KH, tăng 292% so với cùng kỳ; Khoai lang 736,52 tấn đạt 71,51% KH, giảm 6,42% so với cùng kỳ; Khoai sọ 187,29 tấn, đạt 57,1% KH, giảm 30,74% so với cùng kỳ; lạc 4023,47 tấn, đạt 118,34% KH, tăng 140,52% so với cùng kỳ; Đậu tương 3,38 tấn đạt 21,12% KH, giảm 26,31% so với cùng kỳ; Rau các loại 12112,54 tấn, đạt 191,68% KH, tăng 22,55% so với cùng kỳ; Đậu các loại 165,48 tấn đạt 81,52% KH, tăng 2,52% so với cùng kỳ
4 Huyện Kim Bôi
Mặc dù ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành trồng trọt vẫn đạt ở mức cao và tương đối ổn định, tổng diện tích gieo trồng 8769,1 ha đạt 94,8% so với KH vụ xuân và bằng 96,7% so cùng kỳ
Sản lượng cây lương thực có hạt 24923,8 tấn đạt 93,6% so với KH vụ xuân và bằng 94,7% so cùng kỳ
Công tác thủy lợi: tiếp tục đôn đốc các địa phương, Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi tăng cường kiểm tra, đảm bảo an toàn hệ thống công trình thủy lợi, tích nước phục vụ sản xuất vụ đông xuân năm 2014 – 2015 Công tác quản lý đê điều, phòng chống lụt bão và thiên tai được duy trì thường xuyên
Trang 4030
Chăn nuôi – thú y: ngày 07/10/2013, dịch cúm H5N1 đã xảy ra tại địa bàn xã Nhuận Trạch, huyện Lương Sơn, tỉnh đã chỉ đạo địa phương triển khai tích cực các biện pháp chống dịch và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm để có biện pháp tăng cường công tác phòng, chống bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh
Pb, As, Hg… có độc tính lớn, thời gian lưu lại trong đất dài, có loại nông dược thời gian lưu trong đất tới 10 đến 30 năm Đó là nguyên nhân gây tích tụ các nguyên tố kim loại nặng (Pb, As, Cd, Hg…) trong đất, nước và hậu quả lâu dài là tác động trực tiếp đến sức khỏe con người do hiện tượng khuếch đại sinh học và thẩm thấu, lan truyền chất ô nhiễm vào nguồn nước Hậu quả là ngày càng có nhiều người mắc các chứng bệnh nan y như: bênh ngoài da đặc biệt là bệnh ung thư Trước tình trạng báo động đó, cần thiết phải có các chính sách, chương trình sản xuất nông nghiệp an toàn, hiệu quả
áp dụng trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Hòa Bình nói riêng