LỜI CÁM ƠN Sau một thời gian công tác, học tập, cùng với sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các thầy trong trường Đại học Thuỷ Lợi, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân và cùng với sự n
Trang 1LỜI CÁM ƠN Sau một thời gian công tác, học tập, cùng với sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các thầy trong trường Đại học Thuỷ Lợi, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân và cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ: “Phân tích ứng suất biến dạng của đập bê tông trọng lực bằng phương pháp phần tử hữu hạn có sử dụng phần tử bậc cao và phần tử tiếp xúc”, với mong muốn đóng góp những giá trị về khoa học và đem lại hiệu quả trong thực tiễn.
Chính vì vậy, hôm nay, khi hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi xin bày
tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy GS.TS Phạm Ngọc Khánh, người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành công việc nghiên cứu khoa học của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Thủy lợi, khoa Đại học và sau đại học, khoa Xây dựng Công trình thủy và các thầy tham gia giảng dạy khoá Cao học 17 trường Đại học Thủy lợi đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khoá học.
Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, những người đã khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn này.
Cuối cùng, xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến những người đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời tôi là gia đình và người thân, những người đã giành cho tôi những gì tốt đẹp nhất, giành cho tôi thời gian, không gian, niềm tin và động lực để tôi thực hiện luận văn này, những người đã đi cùng tôi trên mọi nẻo đường dù khó khăn hay vất vả.
Hoàng Tuấn Minh
Trang 2MỤC LỤC Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐẬP 5
1.1 Tổng quan về vấn đề xây dựng đập ở Việt Nam và thế giới 5
1.1.1 Lịch sử của việc xây dựng đập [11] 5
1.1.2 Tình hình xây dựng đập hiện nay [4] 5
1.1.3 Tình hình xây dựng đập ở Việt Nam 6
1.2 Các loại đập bê tông được sử dụng hiện nay 9
1.3 Nguyên nhân sự cố, vấn đề thiết kế, thi công và vận hành [11] 9
1.3.1 Nguyên nhân do khảo sát, thiết kế 9
1.3.2 Nguyên nhân do thi công 11
1.3.3 Nguyên nhân do quy trình bảo trì, vận hành, sử dụng 12
1.4 Những tồn tại và vấn đề cần nghiên cứu 12
1.5 Hướng lựa chọn trong luận văn 13
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ỨNG SUẤT BIẾN DẠNG ĐẬP BÊ TÔNG TRỌNG LỰC 14
2.1 Tổng quan về phương pháp tính toán ứng suất đập bê tông trọng lực 14
2.1.1 Phương pháp sức bền vật liệu 15
2.1.2 Phương pháp lý thuyết đàn hồi [8], [11] 17
2.1.3 Phương pháp số [1], [2], [3],[9] 18
2.2 Ưu nhược điểm và lựa chọn phương pháp tính toán 19
2.2.1 Ưu nhược điểm các phương pháp tính toán 19
2.2.2 Lựa chọn phương pháp tính toán 22
2.3 Cơ sở của phương pháp phần tử hữu hạn, đặc biệt là có sử dụng phần tử phần tử tiếp xúc, để đánh giá mức độ tiếp xúc giữa đập và nền; sử dụng phần tử bậc cao để xác định ứng suất cục bộ quanh các lỗ khoét trong thân đập 23
Trang 3Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
2.3.1 Lịch sử phương pháp PTHH 23
2.3.2 Cơ sở phương pháp phần tử hữu hạn 24
2.3.3 Trình tự giải bài toán bằng phương pháp PTHH: 25
2.3.4 Các phần tử sử dụng trong luận văn 32
2.3.5 Lựa chọn phần mềm tính toán 41
2.3.6 Sơ đồ khối của bài toán giải bằng phương pháp PTHH 42
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH ỨNG SUẤT, BIẾN DẠNG CỦA ĐẬP DÂNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN 43
3.1 Giới thiệu về công trình 43
3.1.1 Đặc điểm khu vực công trình 43
3.1.2 Các thông số của công trình cho tính toán 46
3.2 Các số liệu đưa vào tính toán 48
3.3 Sơ đồ tính toán và tổ hợp tải trọng 50
3.4 Phương pháp tính, loại phần tử sử dụng, các điều kiện biên và sơ đồ trong phần mềm Ansys 52
3.4.1 Các phương pháp tính toán, phần tử sử dụng, điều kiện biên 52
3.4.2 Sơ đồ lưới phần tử và lực tác dụng tính toán trong Ansys 54
3.5 Kết quả tính toán các phương pháp 54
3.5.1 Kết quả tính toán phương pháp PTHH có sử dụng phần tử tiếp xúc và phần tử bậc cao (phương pháp 1 - PP1) 54
3.5.2 Kết quả tính toán phương pháp PTHH không sử dụng phần tử tiếp xúc và sử dụng phần tử bậc thấp (phương pháp 2 – PP2) 62
3.6 Nhận xét kết quả tính toán giữa hai phương pháp 66
3.6.1 Về ứng suất cục bộ khu vực hành lang 66
3.6.2 Về sự bóc tách giữa đập và nền 67
3.6.3 Kết luận 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 4
Danh mục các chữ viết tắt
4). Phương pháp có sử dụng phần tử bậc cao và phần tử tiếp xúc: PP1
5). Phương pháp sử dụng phần tử bậc thấp : PP2
Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
1) Danh sách các hình trong luận văn
Hình 1.1 Đập bê tông Itaipu 10
Hình 1.2a Đập bê tông thủy điện Sơn La (nhìn từ hạ lưu) 11
Hình 1.2b Đập bê tông thủy điện Sơn La (góc nhìn từ nhà điều hành) 12
Hình 2.1 Sơ đồ xác định các loại ứng suất trên biên đập 16
Hình 2.2 Sơ đồ xác định các loại ứng suất chính trên biên đập 16
Hình 2-3: Các dạng phần tử phổ biến 27
Hình 2-4 Phần tử tam giác 34
Hình 2-5 Tọa độ tham chiếu 34
Hình 2-6 Tọa độ diện tích 35
Hình 2-7 Phần tử tam giác 3 điểm nút 37
Hình 2-8 Phần tử tam giác 6 điểm nút 39
Hình 2-9 Đồ thị các hàm dạng 40
Hình 2-10 Sơ đồ khối của phương pháp giải bài toán phần tử hữu hạn 42
Hình 3.1 Thủy điện Đồng Nai 2 46
Hình 3.2 Sơ đồ tính toán chung 52
Hình 3.3 Sơ đồ lưới phần tử tính toán trong Ansys 54
Trang 5Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
Hình 3.4 Ứng suất Sx mép chân đập thượng lưu tổ hợp 2 (PP1) 56
Hình 3.5 Ứng suất Sy mép chân đập thượng lưu tổ hợp 2 (PP1) 56
Hình 3.6 Ứng suất Sx mép chân đập thượng lưu tổ hợp 3 (PP1) 57
Hình 3.7 Ứng suất Sy mép chân đập thượng lưu tổ hợp 3 (PP1) 57
Hình 3.8 Ứng suất Sx mép chân đập thượng lưu tổ hợp 4 (PP1) 58
Hình 3.9 Ứng suất Sy mép chân đập thượng lưu tổ hợp 4 (PP1) 58
Hình 3.10 Ứng suất Sx hành lang tổ hợp 2 (PP1) 59
Hình 3.11 Ứng suất Sy hành lang tổ hợp 2 (PP1) 59
Hình 3.12 Ứng suất Sx hành lang tổ hợp 3 (PP1) 60
Hình 3.13 Ứng suất Sy hành lang tổ hợp 3 (PP1) 60
Hình 3.14 Ứng suất Sx hành lang tổ hợp 4 (PP1) 61
Hình 3.15 Ứng suất Sy hành lang tổ hợp 4 (PP1) 61
Hình 3.16 Ứng suất Sx mép thượng lưu đập tổ hợp 3 (PP2) 62
Hình 3.17 Ứng suất Sy mép thượng lưu đập tổ hợp 3 (PP2) 62
Hình 3.18 Ứng suất Sx mép thượng lưu đập tổ hợp 4 (PP2) 63
Hình 3.19 Ứng suất Sy mép thượng lưu đập tổ hợp 4 (PP2) 63
Hình 3.20 Ứng suất Sx hành lang tổ hợp 3 (PP2) 64
Hình 3.21 Ứng suất Sy hành lang tổ hợp 3 (PP2) 64
Hình 3.22 Ứng suất Sx hành lang tổ hợp 4 (PP2) 65
Hình 3.23 Ứng suất Sy hành lang tổ hợp 4 (PP2) 65
Hình 3.24 Vị trí các điểm so sánh ứng suất giữa hai phương pháp tính 66
Trang 6
2) Danh sách các bảng trong luận văn
Bảng 1.1 Bảng thống kê số lượng đập lớn (đến năm 2000) 6
Bảng 1.2 Một số hồ và đập ở Việt Nam 7
Bảng 3.1 Các đặc trưng địa lý thủy văn 44
Bảng 3.2 Đặc trưng nhiệt độ không khí tại các trạm đại biểu 44
Bảng 3.3 Lượng mưa trung bình năm tại các trạm đại biểu (mm) 45
Bảng 3.4 Thông số chính cho công trình thủy điện Đồng Nai 2 46
Bảng 3.5 Các đặc trưng cơ của đá nền và tiếp giáp đập và nền 48
Bảng 3.6 Các đặc trưng cơ lý của bê tông 49
Bảng 3.7 Bảng tổ hợp tải trọng 51
Bảng 3.8 Kết quả tính toán ứng suất biến dạng đập dâng 55
Bảng 3.9 So sánh kết quả tính toán tại hành lang 66
Bảng 3.10 So sánh kết quả tính toán tại mép thượng, hạ lưu đập 67
Trang 7Luận văn thạc sĩ -1- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế, các công trình được xây dựng ngày càng nhiều, trong đó việc xây dựng các công trình thủy lợi để điều tiết dòng chảy tạo thuận lợi cho công việc sản xuất, cũng như nhu cầu cấp nước cho các hộ dùng nước, cũng với mục tiêu như vậy việc xây dựng các công trình thủy điện
để phục vụ nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của các ngành sản xuất và dịch vụ cũng như đời sống nhân dân, phục vụ đa mục tiêu, như thủy lợi, thủy điện, du lịch và sinh thái.
Từ hàng nghìn năm trước chúng ta đã biết xây dựng những con đập chắn nước, tạo hồ chứa bằng vật liệu địa phương. Một vài thế kỷ gần đây, nhờ có
sự phát triển các kết cấu mới cũng như là vật liệu mới như bê tông, nên chúng
ta có rất nhiều loại đập khác nhau. Về vật liệu thì có các đập như đập đất đầm nén, đập đá đổ, đập bê tông thường và bê tông đầm lăn. Về kết cấu thì có đập
đá đổ lõi giữa, đập bản mặt bê tông, đập bê tông trọng lực, đập vòm, đập bản chống to đầu,…vv. Nhưng gần đây thì vật liệu bê tông được sử dụng nhiều trong thiết kế vì có nhiều ưu điểm cả về độ bền, tốc độ thi công và kết cấu xây dựng. Trong việc thiết kế các công trình thủy lợi, thủy điện, các đập bê tông được sử dụng tích nước hồ chứa và là một trong những phần trọng yếu của toàn bộ hệ thống công trình.
Với đập chắn nước trong các thiết kế hiện nay ngoài phương pháp được sử dụng phổ biến để tính toán ứng suất đập bê tông là phương pháp sức bền vật liệu, lý thuyết đàn hồi, thì còn có phương pháp khác là phương pháp phân tích ứng suất, biến dạng của đập bê tông bằng phương pháp số mà điển hình là phương pháp phần tử hữu hạn. Nhưng trong hầu hết các tính toán theo phương pháp phần tử hữu hạn hiện nay ở Việt Nam thường tính theo mặt cắt đơn vị và liên kết giữa bê tông và nền chỉ là những liên kết điểm nút thông
Trang 8thường. Vì vậy chưa thể mô phỏng chính xác tương tác làm việc giữa đập và nền cùng các điều kiện khai thác sử dụng công trình. Để mô phỏng và tính toán chính xác điều kiện làm việc cũng như tác động thực sự của các điều kiện khai thác công trình lên đập bê tông trọng lực thì cần phải có sự thay đổi trong việc mô phỏng mô hình tính toán để đảm bảo sự làm việc sát với thực tế công trình nhất. Ngoài ra, trong đập còn có các lỗ khoét, như hành lang dọc, hành lang ngang, thang bộ, thang máy, buồng bơm thu nước rò rỉ thân đập, vv Vì vậy với phần tử bậc cao, việc tính toán ứng suất cục bộ các lỗ khoét trở lên chính xác hơn. Cùng với nó là việc tối ưu hóa lưới phần tử theo mô hình h, để có kết quả chính xác hơn. Với phương pháp tính toán mới này, đã khắc phục được nhược điểm của phương pháp tính toán thông thường về các điểm có ứng suất cục bộ, do đó việc bố trí vật liệu cũng phù hợp hơn.
Xuất phát từ thực tiễn đó, với tư cách là người làm công tác tư vấn thiết kế công trình thủy công, tôi xin chọn đề tài “Phân tích ứng suất biến dạng của đập bê tông trọng lực bằng phương pháp phần tử hữu hạn có sử dụng phần tử bậc cao và phần tử tiếp xúc” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ của mình.
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
a Mục tiêu
Trên cơ sở các nghiên cứu về phương pháp phần tử hữu hạn, với sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tính toán và máy tính ngày càng mạnh hơn, khả năng tính toán tốt hơn, vì vậy bài toán được sử dụng mô hình tính toán với phần tử bậc cao và phần tử contact mô phỏng sự liên kết giữa nền và đập, mục tiêu là đưa ra được sự khác biệt với các phương pháp tính toán thông thường
và so sánh bằng kết quả tính toán. Chỉ ra được ưu điểm và sự phù hợp với thực tế của phương pháp tính toán và sử dụng mô hình tính toán, thấy được
Trang 9Luận văn thạc sĩ -3- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
ứng suất cục bộ quanh các lỗ khoét chính xác hơn, đánh giá được sự tách bóc giữa đập và nền nói riêng và ổn định, độ bền của đập nói chung.
b Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu ở đây, phân tích ứng suất biến dạng được áp dụng với mặt cắt của đập bê tông trọng lực với công trình cụ thể là công trình Thủy điện Đồng Nai 2 và sử dụng phần tử bậc cao để tính toán ứng suất và biến dạng của đập, ứng suất cục bộ các lỗ khoét. Trong đó sẽ tính toán ứng suất bằng phương pháp phần tử hữu hạn với mô hình thông thường và tính toán theo phương pháp phần tử hữu hạn thực hiện với mô hình là liên kết giữa đập
và nền có sử dụng phần tử riêng biệt là phần tử contact, để có thể chỉ ra các sự khác biệt trong tính toán để đánh giá mức độ tiếp xúc giữa đập và nền.
3 Nội dung nghiên cứu
Trong đó:
Trang 10- Chương 2: Các phương pháp phân tích ứng suất biến dạng đập bê tông trọng lực.
- Chương 3: Phân tích ứng suất biến dạng đập dâng bằng phương pháp phần
tử hữu hạn.
Trang 11Luận văn thạc sĩ -5- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐẬP
1.1 Tổng quan về vấn đề xây dựng đập ở Việt Nam và thế giới
1.1.1 Lịch sử của việc xây dựng đập [11]
Từ hàng nghìn năm trước chúng ta đã biết xây dựng các đập để chắn nước, nhằm dâng nước để phục vụ tưới tiêu trồng trọt. Các đập nước đầu tiên được xây dựng là các đập trọng lực, làm bằng đá dùng tải trọng bản thân để chặn và giữ nước. "Khoảng 2950-2750 trước Công nguyên (TCN), đập đầu tiên được biết đến tồn tại do người Ai Cập cổ đại xây dựng. Các đập được gọi là el-Sadd Kafara, mà trong tiếng Ả Rập có nghĩa là "Dam of the Pagans”. Đập cao 37 ft, phía ngoài là các tường đá, bên trong được đổ đầy các sỏi và đá, phía ngoài được phủ một lớp đá vôi chống xói mòn và tác động của sóng. Đập thứ hai được biết tới là đập đất tên là Nimrod ở Mesopotamia được xây vào khoảng 2000 năm TCN, với lõi là đất sét, Nimrod được xây từ phía bắc của Baghdad tới Tigris với mục đích chống xói mòn và giảm mối đe dọa của lũ lụt, nó chuyển hướng của dòng sông, và giúp tưới cho cây trồng. Đập được xây bằng gỗ nên khó xác định chính xác thuộc loại gì. Khoảng năm 100 sau công nguyên, những người La Mã là những người đầu tiên sử dụng bê tông và vữa để xây đập trọng lực. Đập ở Ponte di San Mauro có một khối bê tông lớn còn sót lại. Bằng chứng cho thấy rằng một tấm bê tông lớn đã được sử dụng như là lõi và lớp ngoài được hoàn thành bằng đá xây.
1.1.2 Tình hình xây dựng đập hiện nay [4]
Theo thống kê của hội đập cao thế giới (ICOLD), tính đến năm 2000 trên thế giới có 45.000 đập lớn. Với tiêu chí chiều cao đập H ≥ 10÷15m, chiều dài đập
L ≥ 500m, Qx ≥ 2000m3/s, và dung tích hồ chứa W ≥ 1.000.000m3.
Trang 12Bảng 1.1 Bảng thống kê số lượng đập lớn (đến năm 2000)
có 500 đập.
Trước những năm 90 của thế kỷ 20, thì phần lớn đập được xây bằng vật liệu đất chiếm 78%, 5% là bằng đá đổ và 12% là bê tông trọng lực và còn lại 4%
là đập vòm, nhưng hiện nay với việc các vật liệu xây dựng mới, kỹ thuật xây dựng phát triển, khoa học kỹ thuật phát triển, xu hướng sử dụng vật liệu bê tông trong các dự án xây dựng mới các đập ngày càng tăng lên.
1.1.3 Tình hình xây dựng đập ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có nhiều hồ đập trên thế giới, với khoảng 10.000 hồ chứa lớn nhỏ, trong đó có khoảng 500 đập lớn và xếp thứ 16 trên thế giới [4]. Các tỉnh miền Bắc và miền Trung chiếm 88,2% số hồ chứa của toàn quốc. Tính đến năm 2010 nước ta có khoảng 2000 hồ có W>200.000m3. Hầu hết các đập được xây dựng ở Việt Nam là đập đất, đập đá, và đập đất đá hỗn hợp. Đập bê tông và bê tông cốt thép mới bắt đầu được xây dựng vào những năm gần đây.
Thống kê về một số hồ chứa và đập xem bảng 1.2. [11]
Trang 13Luận văn thạc sĩ -7- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
Bảng 1.2 Một số hồ và đập ở Việt Nam
Dung tích Tên công trình Năm xây dựng Loại đập Hmax
Đa Nhim 1962 ÷1964 Bê tông CVC 38 165
Hồ chứa nước Dầu Tiếng 1981-1985 Đập đất 28 1580
Hồ Easoupe thượng 2002-2005 Đập đất 27 146,94
Hồ Krong buk hạ 2006-2010 Đập đất 33 109,3
Trang 14Dung tích Tên công trình Năm xây dựng Loại đập Hmax
Trang 15Luận văn thạc sĩ -9- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
1.2 Các loại đập bê tông được sử dụng hiện nay
Việc xây dựng đập và hồ chưa nước hiện nay ngày càng được quan tâm, bởi các tác dụng của hồ chứa và hiệu quả kinh tế của nó đem lại rất lớn, để đáp ứng nhu cầu về lượng nước, đẩy nhanh việc cấp nước, đảm bảo an toàn cho công trình, sử dụng công nghệ hiện đại, việc các đập được xây dựng bằng vật liệu bê tông ngày càng được sử dụng nhiều.
Hiện nay các đập bê tông trọng lực được sử dụng nhiều trong thiết kế cho các đập mới xây dựng, chỉ trừ trường hợp nền không thể sử dụng được vật liệu bê tông mới sử dụng đến vật liệu địa phương. Mặc dù đập bê tông được sử dụng
đã khá lâu trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì vẫn còn là nhiều điều cần chú ý trong tính toán thiết kế. Vì vậy vấn đề tính toán thiết kế được đặt ra mục tiêu đảm bảo tính kinh tế, an toàn cho hồ chứa, mang lại hiệu ích kinh tế cao, nhanh chóng đưa vào hoạt động.
Và hiện nay với việc cập nhật công nghệ cùng thế giới, chúng ta cũng đã sử dụng các loại kết cấu cũng như là vật liệu mới để xây dựng đập, như ngoài vật liệu bê tông thông thường, chúng ta còn sử dụng vật liệu bê tông đầm lăn (RCC). Vật liệu mới giúp chúng ta rút ngắn thời gian thi công, mang các đặc tính ưu việt của cả hai loại vật liệu là đất và bê tông với cách thi công đầm nén của đất và vững chắc của bê tông, giảm nhiệt lượng của bê tông nhờ phụ gia được thêm vào và lượng xi măng được giảm bớt.
1.3 Nguyên nhân sự cố, vấn đề thiết kế, thi công và vận hành [11]
Trong việc xây dựng đập và hồ chứa, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cố, có thể phân loại theo yếu tố chủ quan và khách quan như sau:
1.3.1 Nguyên nhân do khảo sát, thiết kế
Không có chứng chỉ khảo sát, thiết kế hoặc vượt cấp chứng chỉ.
Chất lượng khảo sát không đạt yêu cầu (số lượng lỗ khoan, độ sâu lỗ
Trang 16Tính toán thiết kế sai, không phù hợp (sơ đồ tính toán thiết kế không phù hợp, tính thiếu hoặc sót tải trọng, tính toán tổ hợp sai nội lực, không tính độ ổn định theo quy phạm, vi phạm quy định về cấu tạo )
Bố trí lựa chọn, địa điểm, lựa chọn phương án quy trình công nghệ, quy trình
sử dụng không hợp lý phải bổ sung, sửa đổi, thay thế (chất lượng , báo cáo nghiên cứu khả thi, lựa chọn phương án, chất lượng thẩm định, trình độ năng lực của chủ đầu tư, người quyết định đầu tư).
Hình 1.1 Đập bê tông Itaipu
Trang 17
Luận văn thạc sĩ -11- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
1.3.2 Nguyên nhân do thi công
Lựa chọn nhà thầu thi công không phù hợp (không có chứng chỉ hành nghề hoặc vượt cấp với cấp công trình). Nhà thầu không có hệ thống quản lý chất lượng, trình độ năng lực đạo đức nghề nghiệp của tư vấn giám sát và nhà thầu kém.
Sử dụng vật liệu và chế phẩm xây dựng không phù hợp yêu cầu của thiết kế (thép nhỏ, cường độ thấp, mác xi măng thấp, cường độ bê tông, vữa khối xây không đạt )
Áp dụng công nghệ thi công mới không phù hợp không tính toán đầy đủ các điều kiện sử dụng (như thi công ván khuôn trượt trong kết cấu không phù hợp, thi công trong điều kiện nhiệt độ thấp, trời mưa, vv )
Biện pháp thi công, không được quan tâm đúng mức dẫn đến sai phạm, sự cố.
Hình 1.2a Đập bê tông thủy điện Sơn La (nhìn từ hạ lưu)
Trang 18Hình 1.2b Đập bê tông thủy điện Sơn La (góc nhìn từ nhà điều hành)
1.3.3 Nguyên nhân do quy trình bảo trì, vận hành, sử dụng
Trang 19Luận văn thạc sĩ -13- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
1.5 Hướng lựa chọn trong luận văn
Từ những điều đã nói ở trên, vấn đề tồn tại trong các thiết kế hiện nay là mô hình tính toán phù hợp nhất, vì vậy trong luận văn này sẽ đề cập đến một hướng mới trong việc mô hình trong tính toán thiết kế, nhằm đưa ra được đánh giá thực tế, phù hợp nhất với điều kiện thực tế của công trình.
Hướng lựa chọn của luận văn là mô hình tính toán để làm sáng tỏ được tương tác giữa đập và nền trong thực tế, để đánh giá sự liên kết giữa đập và nền trong quá trình làm việc. Và trong mô hình tính toán có sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn với việc áp dụng các phần tử bậc cao và phần tử tiếp xúc để
mô phỏng tính toán. Đồng thời đánh giá được ứng suất cục bộ các lỗ khoét chính xác hơn.
Trang 20CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ỨNG SUẤT BIẾN DẠNG
ĐẬP BÊ TÔNG TRỌNG LỰC Tính toán ứng suất trong thân đập để kiểm tra điều kiện bền trong các trường hợp làm việc khác nhau của đập, với những yêu cầu: [5]
a Tính toán các ứng suất chính lớn nhất và nhỏ nhất ở biên đập để kiểm tra các điều kiện bền trên biên
b Xác định trạng thái ứng suất trong thân đập:
- Xác định giá trị ứng suất tại các điểm khác nhau trong thân đập;
- Vẽ đường đẳng ứng suất chính để tiến hành phân vùng sử dụng vật liệu cho thích hợp.
- Vẽ các đường quỹ đạo ứng suất chính, từ đó có thể bố trí các mặt khe thi công, các đường ống đặt trong thân đập.
c Tính toán các loại ứng suất tập trung cục bộ xuất hiện quanh các đường hầm, lỗ khoét trong thân đập và tính toán bố trí cốt thép chịu lực cho riêng khu vực này.[1]
2.1 Tổng quan về phương pháp tính toán ứng suất đập bê tông trọng lực
Có nhiều phương pháp phân tích ứng suất đập bê tông trọng lực được chia làm các nhóm như:
Trang 21Luận văn thạc sĩ -15- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
2.1.1 Phương pháp sức bền vật liệu
Tính toán ứng suất trên các mặt biên và chia lưới để có độ chính xác tùy theo mục đích và yêu cầu, tính toán ứng suất tại các mắt lưới và vẽ biểu đồ ứng suất.
Nội dung phương pháp này dựa trên nguyên tắc, coi đập như là một thanh, được ngàm chặt vào nền và chịu lực phức tạp, với giả thiết là trị số σy tại mặt cắt nằm ngang là đường thẳng, trị số tại các mép biên được xác định theo công thức nén lệch tâm. Cụ thể của phương pháp sức bền vật liệu được nêu ra
ở dưới đây.
2.1.1.1 Xác định ứng suất tại các mép biên đập [5]
Sử dụng công thức nén lệch tâm của sức bền vật liệu, xác định ứng suất tại các mép biên đập như x, x ; y, y ; xy
Trang 22 2
Hình 2.2 Sơ đồ xác định các loại ứng suất chính trên biên đập
a) Các ứng suất chính ở biên thượng lưu; b) Các ứng suất chính ở biên hạ lưu 2.1.1.2 Xác định ứng suất trong thân đập theo phương pháp chia lưới
Chia đập thành các lưới trực giao với các mắt lưới là Δx và Δy, với các ứng suất trên mép biên đã biết ở trên, dựa trên các phương trình cân bằng ta xác định được các thành phần ứng suất x, y, xy trên các điểm nút.
Trang 23Luận văn thạc sĩ -17- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
2.1.1.3 Xác định ứng suất chính trong thân đập
Từ các ứng xuất tại các điểm nút xác định ở trên, xác định tiếp được các giá trị ứng suất chính 1, 3, phương của các ứng suất chính và T. Theo công thức sau:
22
2.1.2 Phương pháp lý thuyết đàn hồi [8], [11]
Nội dung phương pháp này là nghiên cứu trạng thái ứng suất, biến dạng, chuyển vị của vật thể đàn hồi dưới các tác dụng bên ngoài (tải trọng, sự thay đổi nhiệt độ, sự chuyển vị cưỡng bức…)
Với các giả thiết:
a. Vật liệu liên tục, đồng nhất và đẳng hướng: là vật liệu ở tại mọi điểm và theo mọi phương tính chất cơ lý của nó đều như nhau.
Trang 24b. Vật liệu có tính đàn hồi tuyệt đối: theo giả thiết này quá trình tăng tải và giảm tải hoàn toàn thuận nghịch, trong quá trình chịu tải năng lượng hoàn toàn được bảo toàn.
c. Quan hệ giữa ứng suất và biến dạng là bậc nhất tức là vật liệu làm việc tuân theo định luật Hooke.
d. Vật liệu ở trạng thái tự nhiên trước khi chịu lực: Ở trạng thái ban đầu, khi vật thể chưa biến dạng thì trong vật thể không phát sinh ứng suất, nghĩa là bên trong vật thể không có ứng suất trước.
e. Giả thiết biến dạng bé: theo giả thiết này biến dạng tương đối rất nhỏ so với
1 do đó tích các biến dạng có thể bỏ qua so với biến dạng và so với 1.
Nội dung phương pháp này coi đập là môi trường đàn hồi đồng nhất đẳng hướng. Để xem xét ứng suất của đập, người ta tách ra một phân tố để xét cân bằng các phương trình vi phân.
Phương pháp lý thuyết đàn hồi dùng lời giải Lévy để xác định các giá trị và thành phần ứng suất, từ các giá trị giải được theo Lévy vẽ biểu đồ các ứng suất x, y, xy tại các lát cắt ở các cao trình khác nhau trong thân đập và cao trình sát nền. Trên cơ sở ứng suất tại lát cắt tiếp giáp giữa đập và nền, dùng ứng suất này làm tải trọng đối với nền, xác định ứng suất x, y, xy trong nền,
và từ đấy tính ngược lại để xác định lại ứng suất tại mặt cắt trong thân đập ở
vị trí sát nền.
2.1.3 Phương pháp số [1], [2], [3],[9]
Các phương pháp số hay phương pháp rời rạc hóa có thể phân thành 2 nhóm chính: Các phương pháp rời rạc kiểu toán học mà đại diện là phương pháp sai phân hữu hạn và phương pháp rời rạc kiểu vật lý mà đại diện là phương pháp phần tử hữu hạn. Nếu như trong phương pháp sai phân hữu hạn ta chỉ thay các
vi phân bằng các sai phân thì trong phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) ta
Trang 25Luận văn thạc sĩ -19- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
thay thế hệ thực (hệ liên tục) bằng một mô hình vật lý gần đúng (bằng một số hữu hạn các phần tử) mà lời giải của nó được xác định bằng số hữu hạn số.
Kết luận: Do có sai số lớn vì giả thiết ứng suất y phân bố trên mặt cắt là đường thẳng, trị số trên mép biên xác định theo công thức nén lệch tâm, nên phương pháp này không được sử dụng cho các công trình có tính chất quan trọng, hay trong các giai đoạn thiết kế kỹ thuật, vì vậy chỉ nên dùng kiểm tra
sơ bộ về giá trị ứng suất trên biên.
Trang 262.2.1.2 Phương pháp lý thuyết đàn hồi
a Ưu điểm
Cho lời giải chính xác ở những vùng ít chịu ảnh hưởng bởi sự phi tuyến của vật liệu. Những vùng mà theo lý thuyết có thể đưa ra được ngay công thức và kết quả tính toán, là lời giải trực tiếp từ các phương trình vi phân, các phương trình này vừa thỏa mãn điều kiện liên tục của biến dạng vừa thỏa mãn điều kiện biên. Giải quyết được một số bài toán mà phương pháp sức bền vật liệu không làm được là ứng suất lỗ khoét, ứng suất nhiệt, bài toán ứng suất nhiệt cũng có thể tính toán được kết quả khá chính xác.
b Nhược điểm
Phương pháp lý thuyết đàn hồi chỉ đúng với bài toán có biên vô hạn, với mặt cắt đủ xa so với hai vai đập và tại điểm xa đỉnh đập, xa đáy đập. Lời giải kém chính xác ở vùng gần đỉnh đập và sát đáy đập vì vùng này phụ thuộc vào ứng suất biến dạng của nền. Do vậy với bài toán tải trọng phức tạp, với nhiều thành phần lực tác dụng sẽ khó khăn trong việc giải các phương trình vi phân, ngoài ra vì không xét đến E, μ của vật liệu, nên với tính dị hướng của vật liệu thì kết quả tính toán không chính xác và đôi khi có sai số khá lớn.
Kết luận: So với phương pháp sức bền vật liệu thì phương pháp này có thể giải quyết một số bài toán phức tạp hơn, tuy nhiên về mặt ứng dụng vẫn bị hạn chế, do có kết quả kém chính xác trong các trường hợp thực tế ứng dụng
vì tải trọng tác động phức tạp, nên chỉ dùng để kiểm tra và tính toán sơ bộ.
2.2.1.3 Phương pháp sai phân hữu hạn
Phương pháp này tương đối đơn giản nhưng việc lập trình khá cồng kềnh. Khối lượng tính toán lớn, chưa phản ánh được sự làm việc của nền và vật liệu. Phương pháp sai phân hữu hạn không giải được các bài toán có điều kiện biên phức tạp. Độ chính xác còn phụ thuộc vào hình dạng và kích thước mắt lưới, mắt lưới càng dày thì độ chính xác càng cao. Không phân tích được bài toán
Trang 27Luận văn thạc sĩ -21- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
dị hướng và trong giai đoạn thi công công trình. Thường chỉ áp dụng tính toán được với các công trình nhỏ, kết cấu đơn giản sẽ cho kết quả tương đối chính xác.
2.2.1.4 Phương pháp PTHH
a Ưu điểm
Một trong những ưu điểm nổi bật của phương pháp PTHH là dễ dàng lập chương trình để giải trên máy tính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự động hóa tính toán hàng loạt kết cấu với những kích thước, hình dạng, mô hình vật liệu và điều kiện biên khác nhau.
Phương pháp PTHH cũng thuộc loại bài toán biến phân, song nó khác với các phương pháp biến phân cổ điển như phương pháp Ritz, phương pháp Galerkin… ở chỗ nó không tìm dạng hàm xấp xỉ của hàm cần tìm trong toàn miền nghiên cứu mà chỉ trong trong từng miền con thuộc miền nghiên cứu đó. Điều này đặc biệt thuận lợi đối với những bài toán mà miền nghiên cứu gồm nhiều miền con có những đặc tính cơ lý khác nhau, có khả năng áp dụng cho những bài toán hình học và những bài toán biên phức tạp với mối quan hệ rời rạc, ví dụ như bài toán phân tích ứng suất trong đập, trong nền không đồng chất…
Chính nhờ những đặc điểm đó mà phương pháp PTHH phân tích được trạng thái ứng suất biến dạng quanh vị trí lỗ khoét, ứng suất tập trung, ứng suất nhiệt, dòng chảy, khí động học… mà các phương pháp sức bền vật liệu, sai phân hữu hạn… không giải quyết được.
b Nhược điểm
Phương pháp PTHH là phương pháp gần đúng, do vậy với yêu cầu kết quả chính xác tuyệt đối về ứng suất thì sẽ không đạt được, nhưng về chuyển vị nút thì sẽ có kết quả chính xác, và tùy việc chia phần tử là thưa hay là chia mịn thì
Trang 28Kết luận: Vì rời rạc hóa thành các miền con nên số phương trình của phương pháp phần tử hữu hạn là rất lớn, vì vậy để giải thủ công thì không thể giải quyết hết được và chỉ giải được những bài toán nhỏ, tuy nhiên với máy tính
có khả năng xử lý hàng triệu phép tính một giây thì điều này lại hoàn toàn đơn giản. Vì khắc phục được điểm yếu các phương pháp khác, và khắc phục được nhược điểm của chính phương pháp PTHH, vì phải giải nhiều phương trình, nên sử dụng phương pháp này bằng máy tính sẽ rất thuận lợi.
2.2.2 Lựa chọn phương pháp tính toán
Trước đây nhiều bài toán giải bằng phương pháp giải tích, nhưng nhiều khi giải bằng phương pháp giải tích gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có những bài toán không thể tìm được nghiệm bằng một biểu thức giải tích đóng hoặc bằng hàm có dạng tường minh. Do đó chúng ta đã nghiên cứu nhiều phương pháp tính toán kết cấu khác như: phương pháp sai phân, phương pháp phần tử biên, phương pháp thực nghiệm, phương pháp không lưới, vv…
Tuy nhiên qua những phân tích các phương pháp tính toán ứng suất cho đập
bê tông ở trên, ta thấy phương pháp phần tử hữu hạn đã khắc phục được các nhược điểm của các phương pháp khác, đồng thời tận dụng được sức mạnh về khả năng tính toán của máy tính, nhất là trong thời kỳ máy tính có khả năng tính toán ngày càng nhanh, nhiều phép tính một lúc như hiện nay, là một thuận lợi cho việc thực hiện các bài toán lớn, phức tạp và mang lại hiệu quả
để đảm bảo được mục đích và yêu cầu cho phục vụ các công việc tính toán.
Do vậy trong luận văn này chọn phương pháp PTHH để mô phỏng, tính toán, giải quyết vấn đề đặt ra.
Trang 29Luận văn thạc sĩ -23- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
2.3 Cơ sở của phương pháp phần tử hữu hạn, đặc biệt là có sử dụng phần tử phần tử tiếp xúc, để đánh giá mức độ tiếp xúc giữa đập và nền;
sử dụng phần tử bậc cao để xác định ứng suất cục bộ quanh các lỗ khoét trong thân đập
2.3.1 Lịch sử phương pháp PTHH
Phương pháp phần tử hữu hạn được bắt nguồn từ những yêu cầu giải các bài toán phức tạp về lý thuyết đàn hồi, phân tích kết cấu trong xây dựng và kỹ thuật hàng không. Nó được bắt đầu phát triển bởi Alexander Hrennikoff (1941) và Richard Courant (1942). Mặc dù hướng tiếp cận của những người
đi tiên phong là khác nhau nhưng họ đều có một quan điểm chung, đó là chia những miền liên tục thành những miền con rời rạc. Hrennikoff rời rạc những miền liên tục bằng cách sử dụng lưới tương tự, trong khi Courant chia những miền liên tục thành những miền có hình tam giác cho cách giải thứ hai của phương trình vi phân từng phần (PPVPTP) elliptic, xuất hiện từ các bài toán
về xoắn của phần tử thanh hình trụ. Sự đóng góp của Courant là phát triển, thu hút một số người nhanh chóng đưa ra kết quả cho PPVPTP elliptic được phát triển bởi Rayleigh, Ritz, và Galerkin. Sự phát triển chính thức của phương pháp PTHH được bắt đầu vào nửa sau những năm 1950 trong việc phân tích kết cấu khung máy bay và công trình xây dựng, và đã thu được nhiều kết quả ở Berkeley (xem Early Finite Element Research at Berkeley) trong những năm 1960 trong ngành xây dựng. Phương pháp này được cung cấp nền tảng toán học chặt chẽ vào năm 1973 với việc xuất bản cuốn Strang
và tổng kết trong An Analysis of The Finite element Method và kể từ đó phương pháp PTHH được tổng quát hóa thành một ngành của toán ứng dụng, một mô hình số học cho các hệ thống tự nhiên, được ứng dụng rộng rãi trong
kĩ thuật. Phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) tuy ra đời vào cuối những năm 50 nhưng rất ít được sử dụng vì công cụ toán còn chưa phát triển. Vào cuối những năm 60, phương pháp PTHH đặc biệt phát triển nhờ vào sự phát
Trang 30triển nhanh chóng và sử dụng rộng rãi của máy tính điện tử. Đến nay có thể nói rằng phương pháp PTHH được coi là phương pháp có hiệu quả nhất để giải các bài toán cơ học vật rắn nói riêng và các bài toán cơ học môi trường liên tục nói chung như các bài toán thủy khí lực học, bài toán về từ trường và điện trường.[11], [12]
Sự phát triển của phương pháp PTHH trong cơ học kết cấu trên cơ sở nguyên
lý năng lượng, ví dụ như: nguyên lý công khả dĩ, phương pháp PTHH cung cấp một cơ sở tổng quát mang tính trực quan theo quy luật tự nhiên, đó là một yêu cầu lớn đối với những kỹ sư kết cấu.
2.3.2 Cơ sở phương pháp phần tử hữu hạn
Phương pháp phần tử hữu hạn là phương pháp số để giải các bài toán được
mô tả bởi các phương trình vi phân riêng phần cùng với các điều kiện biên cụ thể.
Cơ sở của phương pháp này là làm rời rạc hóa các miền liên tục phức tạp của bài toán. Các miền liên tục được chia thành nhiều miền con (phần tử). Các miền này được liên kết với nhau tại các điểm nút. Trên miền con này, dạng biến phân tương đương với bài toán được giải xấp xỉ dựa trên các hàm xấp xỉ trên từng phần tử, thoả mãn điều kiện trên biên cùng với việc biến thỏa mãn các hệ phương trình của lý thuyết đàn hồi.
Về mặt toán học, phương pháp phần tử hữu hạn (PPPTHH) được sử dụng để giải gần đúng bài toán phương trình vi phân từng phần (PTVPTP) và phương trình tích phân, ví dụ như phương trình truyền nhiệt. Trên cơ sở nguyên lý năng lượng, chuyển các phương trình vi phân về các phương trình đại số. PPPTHH không tìm dạng xấp xỉ của hàm trên toàn miền xác định V của nó
mà chỉ trong những miền con Ve (phần tử) thuộc miền xác định của hàm.Trong PPPTHH miền V được chia thành một số hữu hạn các miền con, gọi là phần tử. Các miền này liên kết với nhau tại các điểm định trước trên
Trang 31Luận văn thạc sĩ -25- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
biên của phần tử được gọi là nút. Các hàm xấp xỉ này được biểu diễn qua các giá trị của hàm (hoặc giá trị của đạo hàm) tại các điểm nút trên phần tử. Các giá trị này được gọi là các bậc tự do của phần tử và được xem là ẩn số cần tìm của bài toán.
2.3.3 Trình tự giải bài toán bằng phương pháp PTHH:
2.3.3.1 Trình tự giải một bài toán bằng PPPTHH gồm:
- Chia phần tử
- Giả thiết các hàm ẩn
- Thiết lập các hệ phương trình cơ bản của bài toán
- Xử lý điều kiện biên
- Giải hệ phương trình cơ bản
b Mô hình cân bằng: Ứng với mô hình này ta biểu diễn gần đúng dạng phân
bố của ứng suất hay nội lực trong phần tử. Hệ phương trình cơ bản của bài toán sử dụng mô hình này được thiết lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Castigliano.
c Mô hình hỗn hợp: Ứng với mô hình này ta biểu diễn gần đúng dạng phân
bố của cả chuyển vị lẫn ứng suất trong phần tử. Ta coi chuyển vị và ứng suất
là 2 yếu tố độc lập riêng biệt. Hệ phương trình cơ bản của bài toán sử dụng
mô hình này được thiết lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Reisner-Hellinger.
Trang 32Các hàm xấp xỉ thường được chọn dưới dạng đa thức nguyên, dạng của đa thức này được chọn như thế nào đó để bài toán hội tụ, có nghĩa là ta phải chọn
đa thức như thế nào đó để khi tăng số phần tử lên khá lớn thì kết quả tính toán sẽ tiệm cận tới kết quả chính xác.
Chú ý rằng hàm xấp xỉ cần phải chọn để đảm bảo được một số yêu cầu nhất định, trước tiên là phải thỏa mãn các phương trình cơ bản của lý thuyết đàn hồi. Nhưng để thỏa mãn một cách chặt chẽ tất cả các yêu cầu thì sẽ có nhiều phức tạp trong việc chọn mô hình và lập thuật toán giải. Do đó trong thực tế người ta phải giảm bớt một số yêu cầu nào đó nhưng vẫn đảm bảo nghiệm đạt được độ chính xác yêu cầu.
Trong 3 mô hình trên thì mô hình tương thích được sử dụng rộng rãi hơn cả, còn 2 mô hình sau chỉ sử dụng có hiệu quả trong một số bài toán nhất định.
Các phần tử thường được sử dụng là các phần tử dạng thanh, dạng phẳng, dạng khối như trên hình 2-3.
Trang 33Luận văn thạc sĩ -27- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
Hình 2-3: Các dạng phần tử phổ biến
b Giả thiết các điều kiện biên theo chuyển vị
Trong phạm vi của mỗi phần tử ta giả thiết một dạng phân bố xác định nào đó của hàm cần tìm, có thể là: Hàm chuyển vị, hàm ứng suất, cũng có thể là cả hàm chuyển vị và cả hàm ứng suất.
Thông thường giả thiết các hàm này là những đa thức nguyên mà các hệ số của đa thức này gọi là các thông số. Trong phương pháp PTHH, các thông số này được biểu diễn qua các trị số của hàm và có thể là cả các trị số của các đạo hàm của nó tại các điểm nút của phần tử.
Ví dụ: Nếu hàm cần tìm là hàm chuyển vị thì các hệ số của hàm xấp xỉ sẽ được xác định qua các chuyển vị và các đạo hàm của các chuyển vị ở các nút của phần tử.
Ở đây chọn ẩn là các chuyển vị nút của phần tử, cũng có thể là chuyển vị nút
và chuyển vị tại một số điểm trên cạnh hoặc điểm bên trong của phần tử. Giả thiết hàm chuyển vị: Giả sử tại một điểm (x,y) nào đó trong phần tử e có chuyển vị được biểu diễn bằng hàm u(x,y). Ta xấp xỉ hàm này bằng một đa thức nguyên:
{u} = [Me].{αe} (2.2) trong đó: {u}– véc tơ chuyển vị nút.
Trang 34 e=[Ae]{αe} (2.4) trong đó: [Ae] là ma trận tọa độ nút của phần tử.
Giải (2.4) ta được: {αe}=[A]-1 e (2.5) Đặt (2.5) vào (2.3) ta được:
{u} =[Me] [Ae]-1 e = [Ne] e (2.6) trong đó: [Ne] = [Me][Ae]-1 (2.7) gọi là hàm dạng của phần tử.
(2.6) biểu diễn quan hệ giữa chuyển vị tại một điểm bất kỳ trong phần tử và chuyển vị nút của nó.
c Liên hệ giữa véc tơ chuyển vị nút của phần tử và chuyển vị nút của toàn kết cấu:
Giả sử số chuyển vị nút của phần tử là nd, còn chuyển vị nút của toàn kết cấu
là n và véc tơ chuyển vị nút của toàn kết cấu là { thì rõ ràng các thành phần của véc tơ chuyển vị nút e của phần tử phải nằm trong các thành phần của véc tơ chuyển vị nút của toàn kết cấu {. Nói cách khác, ta có thể biểu diễn mối quan hệ này bằng một biểu thức toán học:
Trang 35Luận văn thạc sĩ -29- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
e=[Le]{} (2.8) Trong đó: [Le] là ma trận định vị của phần tử e với kích thước nd x n, nó cho
d Mối liên hệ giữa biến dạng và chuyển vị:
Gọi {ε} là véc tơ biến dạng thì ta có mối liên hệ giữa biến dạng và chuyển vị : {ε}= [∂]{u}
Trong bài toán ứng suất phẳng ta có:
Trang 36f Thiết lập phương trình cơ bản của phương pháp PTHH:
Trong phần này ta thiết lập phương trình cơ bản của phương pháp PTHH trên
cơ sở của nguyên lý cực tiểu thế năng.
Giả sử vật thể có thể tích V cân bằng dưới tác dụng của các lực thể tích G, lực tập chung tại nút là P và lực bề mặt q trên bề mặt S, khi đó thế năng toàn phần của kết cấu có dạng:
= 1
2
T V
Trang 37Luận văn thạc sĩ -31- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
Chia miền V thành ne phần tử, mỗi phần tử có thể tích Ve, diện tích bề mặt Se.
Theo nguyên lý cực tiểu thế năng toàn phần, “khi có chuyển vị khả dĩ cho
phép, nếu vật ở trạng thái cần bằng và thỏa mãn điều kiện biên, thì thế năng
toàn phần của hệ đạt giá trị dừng cực tiểu” (Nguyên lý Lagrange), ta có:
Trang 38g Giải hệ phương trình cơ bản:
Giải hệ (2-22) sẽ tìm được các ẩn số là chuyển vị tại các điểm nút của toàn miền nghiên cứu.
h Xác định các đại lượng cơ học cần tìm khác:
Để xác định các đại lượng cơ học cần tìm khác ta dựa vào các phương trình
cơ bản của lý thuyết đàn hồi .
2.3.4 Các phần tử sử dụng trong luận văn
Đối với các phần tử bậc thấp ưu điểm cơ bản là các tính toán đơn giản. Tuy nhiên trong một số trường hợp, nếu gradient ứng suất biến đổi lớn thì nếu tính toán với phần tử bậc thấp kết quả sẽ kém chính xác hoặc muốn nâng cao độ chính xác ta phải sử dụng các phần tử có kích thước bé tức là phải chia kết cấu thành rất nhiều phần tử. Để khắc phục nhược điểm này trong tính toán bằng phương pháp phần tử hữu hạn ta thường sử dụng các phần tử có hàm chuyển vị không phải bậc nhất mà bậc cao hơn. Các phần tử này được gọi là các phần tử bậc cao.
Một phần tử hữu hạn, nếu trường chuyển vị của nó được mô tả bằng các đa thức bậc nhất dẫn đến biến dạng và ứng suất không đổi trong phần tử, được gọi là phần tử tuyến tính. Để phản ánh tốt hơn trạng thái ứng suất và biến dạng của phần tử, trường chuyển vị còn được mô tả bằng các đa thức xấp xỉ bậc hai hoặc cao hơn. Các phần tử như vậy gọi là phần tử bậc cao. Trong các phần tử bậc cao, ngoài các nút ở các đỉnh của phần tử, còn cần đưa thêm vào các nút bổ sung nằm trên cạnh biên hoặc nằm bên trong phần tử để đảm bảo
số bậc tự do của phần tử bằng số toạ độ tổng quát. Sử dụng phần tử bậc cao có thể nâng cao độ chính xác, giảm bớt số lượng phần tử khi rời rạc hoá kết cấu, mặt khác thích hợp với những trường chuyển vị có gradient của trường
Trang 39Luận văn thạc sĩ -33- Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
chuyển vị biến đổi nhanh. Ví dụ bài toán xác định ứng suất cục bộ gồm các vị trí đặt lực tác dụng hoặc ứng suất quanh các lỗ khoét.
2.3.4.1 Hệ tọa độ tự nhiên, ma trận phần tử tam giác bậc thấp và bậc cao
a Hệ tọa độ tự nhiên
Hệ toạ độ tự nhiên là một hệ toạ độ địa phương trong phần tử, nó cho phép xác định vị trí của một điểm bất kỳ trong phần tử bằng một tập hợp các số không thứ nguyên có giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1 hoặc từ -1 đến 1. Đặc điểm chủ yếu của hệ toạ độ này là nó thay đổi tuyến tính từ 0 đến 1 hoặc
từ –1 đến 1. Như vậy vị trí của một điểm bất kỳ trong phần tử, với hệ toạ độ này được biểu diễn qua toạ độ các đỉnh.
Ưu điểm cơ bản của hệ toạ độ tự nhiên so với hệ toạ độ Đề các là ở chỗ, hàm dạng trở thành đơn giản rất nhiều, và việc tính biểu thức tích phân xác định của phần tử có thể đưa về dạng giải tích đơn giản. Ngoài ra toạ độ tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc tính toán các phần tử cong. Nếu ta gọi toạ độ này tại nút i là Li (i=1, 2, n) thì Li có giá trị bằng 1, còn toạ độ ở các nút khác bằng không.
Trên hình 2.4 là phần tử tam giác phẳng. Toạ độ tổng quát (x,y) và toạ độ địa phương (,) được đưa vào như hình vẽ. Vị trí điểm P trong phần tử tam giác trong hệ toạ độ xOy được xác định bằng vị trí véc tơ OP