LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài luận văn “Nghiên cứu xây dựng kế hoạch tiến độ theo tiê
Trang 1BẢN CAM ĐOAN
Đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật “Nghiên cứu xây dựng kế hoạch tiến độ theo tiêu chí
về hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian áp dụng cho công trình: Cải tạo nâng cấp đê hữu sông Kinh Thầy từ Km 7+980 đến Km 9+240”, của học viên đã được Nhà trường
giao nghiên cứu theo quyết định số 1321/QĐ-Đhtl ngày 10/8/2015 của Trường Đại học Thủy Lợi
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu trên là của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Học viên
ĐOÀN THỊ HUYỀN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay tác giả đã hoàn
thành luận văn thạc sĩ với đề tài luận văn “Nghiên cứu xây dựng kế hoạch tiến độ theo tiêu chí về hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian áp dụng cho công trình: Cải tạo nâng cấp đê hữu sông Kinh Thầy từ Km 7+980 đến Km 9+240”, chuyên ngành
Quản lý xây dựng
Tác giả xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Trọng Tư đã trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ để tác giả hoàn thành tốt nhiệm vụ của luận văn đặt ra
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu trường Đại học Thủy Lợi; các thầy cô giáo trong Khoa Công Trình, Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng đã giảng dạy, hướng dẫn tận tình tác giả trong suốt quá trình học tập tại trường và đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành tốt luận văn này Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khích lệ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, chắc chắn khó tránh khỏi những sai sót Tác giả mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Học viên
ĐOÀN THỊ HUYỀN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
BẢN CAM ĐOAN ii
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… iii
MỤC LỤC .iv
DAN H MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ THEO TIÊU CHÍ VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN THEO THỜI GIAN 4
1.1 Tình hình xây dựng nói chung và trong khu vực nghiên cứu 4
1.1.1Tình hình xây dựng trên thế giới hiện nay 4
1.1.2Tình hình xây dựng ở Việt Nam hiện nay 4
1.1.3Tình hình xây dựng ở khu vực nghiên cứu ( Tỉnh Hải Dương ) 5
1.2 Các phương pháp lập kế hoạch tiến độ hiện nay 6
1.2.1Kế hoạch tiến độ trong xây dựng 6
1.2.2Các phương pháp sử dụng để lập kế hoạch tiến độ 16
1.3 Những bất cập trong xây dựng kế hoạch tiến độ liên quan đến hiệu quả sử dụng v ốn 22
1.3.1 Đ ánh giá hiện trạng công tác lập kế hoạch tiến độ thi công hiện nay 22
1.3.2 Ảnh hưởng của kế hoạch tiến độ đến hiệu quả sử dụng vốn 25
1.4 Đặt vấn đề xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 29
CHƯƠNG II:CƠ SỞ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian 31
2.1.1 Cơ sở lý thuyết phân tích hiệu quả vốn đầu tư trong xây dựng 31
2.1.2 Tính toán ứ đọng vốn 33
2.1.3 Đánh giá sử dụng vốn trong lập kế hoạch tiến độ 33
2.2 Các bài toán điều khiển kế hoạch tiến độ 34
2.2.1 Phương pháp lập kế hoạch tiến độ theo sơ đồ mạng 34
2.2 2 Một số bài toán tối ưu sơ đồ mạng 40
Trang 52.3 Giới thiệu về mô hình toán vận dụng trong điều khiển kế hoạch tiến độ 51
2.3.1 Giới thiệu về Microsoft Project……… ……… 51
2.3.2 Nội dung của Microsoft Project 2010 51
2.3.3 Trình tự lập kế hoạch tiến độ cho một dự án 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 60
CHƯƠNG III: XÂY DỰNG TIẾN ĐỘ HỢP LÝ THEO TIÊU CHÍ VỐN THEO THỜI GIAN ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH “ CẢI TẠI VÀ NÂNG CẤP ĐÊ HỮU SÔNG KINH THẦY TỪ KM 7+980 ĐẾN KM 9+240” 61
3.1 Giới thiệu về công trình xây dựng “ Cải tạo và nâng cấp đê hữu sông Kinh Thầy từ km 7+980 đến km 9+240” 61
3.2 Các nội dung về thiết kế, thi công để phục vụ lập tiến độ 63
3.2.1 Giải pháp kỹ thuật 63
3.2.2 Biện pháp thi công 64
3.2.3 Trình tự thi công 65
3.3 Xây dựng kế hoạch tiến độ 65
3.3.1 Khối lượng thi công công trình 65
3.3.2 Kế hoạch tiến độ thi công hiện trạng (PA1) 66
3.3.3 Kế hoạch tiến độ thi công Phương án 2 (PA2) 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Các bước lập tiến độ 13
Hình 1.2 Cấu trúc mô hình kế hoạch tiến độ ngang 18
Hình 1.3 Cấu trúc mô hình kế hoạch tiến độ xiên 20
Hình 1.4 Cấu trúc mô hình kế hoạch tiến độ mạng 21
Hình 1.5 Chậm tiến độ sẽ gây tác động tiêu cực tới nền kinh tế 23
Hình 2.1 Hình thức đầu tư vốn vào công trình 31
Hình 2.2 Biểu đồ tích lũy vốn và thời gian 32
Hình 2.3 Các bước lập sơ đồ mạng 39
Hình 2.4 Mối quan hệ giữa chi phí và thời giant hic ông 44
Hình 2.5 Mối quan hệ giữa cung và tiêu thụ tài nguyên 48
Hình 3.1 Hiện trạng tuyến đê K7+980 đến K9+240 62
Hình 3.2 Kế hoạch thi công công trình phương án 1 68
Hình 3.3 Biểu đồ phân bổ vốn đầu tư xây dựng công trình phương án 1 70
Hình 3.4 Biểu đồ lũy tích vốn đầu tư xây dựng công trình phương án 1 70
Hình 3.5 Kế hoạch thi công công trình phương án 2 73
Hình 3.6 Biểu đồ phân bổ vốn đầu tư xây dựng công trình phương án 2 74
Hình 3.7 Biểu đồ lũy tích vốn đầu tư xây dựng công trình phương án 2 75
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Khối lượng thi công công trình 65
Bảng 3.2 Thời gian và chi phí thi công công trình 66
Bảng 3.3 Trình tự công nghệ và tổ chức thi công phương án 1 67
Bảng 3.4 Bảng tính thiệt hại do ứ đọng vốn đầu tư của phương án 1 79
Bảng 3.5 Trình tự công nghệ và tổ chức thi công phương án 2 72
Bảng 3.6 Bảng tính thiệt hại do ứ đọng vốn đầu tư của phương án 2 74
Bảng 3.7 Bảng so sánh kết quả 2 phương án 75
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng là một ngành sản xuất cơ bản trong nền kinh tế quốc dân Ngành xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho toàn xã hội Đặc biệt khi Việt Nam bắt đầu xây dưng nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa khi ngành xây dựng càng có vị trí đặc biệt quan trọng Sản phẩm xây dựng gắn liền với tất cả các ngành sản xuất với tất cả các lĩnh vực kinh tế, nhất là trong giai đoạn phát triển ban đầu Xây dựng không chỉ có vai trò quan trọng trong việc phục vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, mà nó còn tạo điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động xã hội, dân sinh, quốc phòng thông qua việc đầu tư xây dựng các công trình xã hội, dịch vụ cơ sở hạ tầng ngàng càng đạt trình độ cao
Từ đó có thể thấy rằng, ngành xây dựng đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân trong xã hội, tạo điều kiện xóa bỏ dần cách biệt giữa thành thị và nông thôn, miền ngược và miền xuôi Nó giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, quyết định quy mô và trình độ kỹ thuật của xã hội, của đất nước nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay nói riêng
Có thể nói rằng xây dựng là biểu hiện sự phát triển của xã hội Chính vì lẽ đó Nhà nước ta coi xây dựng là một trong những ngành công nghiệp nặng – ngành xây dựng
cơ bản Gọi là xây dựng cơ bản là vì sản phẩm của nó là tài sản của xã hội góp phần làm ra những sản phẩm khác
Chúng ta đã biết công tác xây dựng là tập hợp nhiều quá trình sản xuất phức tạp liên quan đến nhiều ngành sản xuất khác nhau Việc đảm bảo sự phối hợp giữa các quá trình một cách nhịp nhàng, đạt hiệu quả là một bài toán phức tạp đòi hỏi người kỹ sư xây dựng phải biết lý thuyết hệ thống khoa học và phương pháp kế hoạch tổ chức xây dựng Nghĩa là vận dụng kiến thức khoa học tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra mà không cần đầu tư thêm vật chất kỹ thuật hay tài nguyên
Có thể thấy rằng tổ chức xây dựng là hoàn thiện hệ thống quản lý, xác định các phương pháp tổ chức, chỉ đạo xây dựng một cách khoa học đảm bảo hiệu quả kinh tế
kỹ thuật tối ưu khi xây dựng một công trình cũng như một hệ thống các công trình
Trang 10Nhiệm vụ của những người trong ngành xây dựng là phải sử dụng có hiệu quả vốn đầu
tư để đạt được mục đích đề ra trong giai đoạn ngắn nhất Để đạt được mục tiêu trên người ta phải vận dụng sáng tạo những thành quả của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, khai thác tiềm năng tự nhiên và cơ sở vật chất kỹ thuật của các đơn vị sản xuất Tất cả điều đó phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất xây dựng của người điều hành trong quá trình xây dựng công trình
Thi công xây dựng công trình là một quá trình tổng hợp nhiều công đoạn khác nhau bao gồm: khai thác và gia công vật liệu, sản xuất cấu kiện, kiến tạo công trình… Trước khi khởi công xây dựng còn phải tiến hành nhiều công tác phụ trợ như: làm đường, lán trại, kho chứa vật liệu máy móc thiết bị thi công… Còn trong khi thực hiện thi công xây dựng công trình có rất nhiều công việc diễn ra cùng một thời gian Với rất nhiều những công việc kể trên trong việc xây dựng công trình mà không có kế hoạch cụ thể trong việc chuẩn bị chu đáo trước và trong khi thi công sẽ dẫn đến tình trạng thừa cái này, thiếu cái kia, các công việc chồng chéo lên nhau, công trình không được xây dựng đúng thời hạn, chất lượng kém, giá thành cao
Trong những năm gần đây, tiến độ thi công xây dựng công trình trở thành vấn đề rất được quan tâm trong xây dựng Lập kế hoạch tiến độ thi công công trình là điều kiện tiên quyết để quyết định sự thành công của một dự án, đặc biệt là trong các dự án về thủy lợi Tiến độ thi công xây dựng công trình quyết định trực tiếp đến thời gian hoàn thành công trình và đưa công trình vào khai thác, sử dụng Việc đẩy nhanh tiến độ thi công có thể giúp giảm thiểu gía thành của công trình, sớm đưa công trình vào khai thác Từ đó đem lại hiệu quả kinh tế cho chủ đầu tư xây dựng công trình nói riêng và cho xã hội nói chung
Các công trình trước đây thường chỉ đạt được tiêu chí về thời gian hoàn thành công
trình mà không để ý đến chi phí, chất lượng công trình chính bời vậy nên khi thời gian công trình kéo dài chi phí sẽ cao, thời gian ngắn thì chất lượng công trình sẽ không được đảm bảo Chính bởi vậy sự cần thiết phải xây dựng tiến độ để thời gian xây dựng phải phù hợp với chi phí và chât lượng xây dựng công trình
Từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng kế hoạch tiến độ theo tiêu chí mang lại hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian áp dụng cho xây dựng công
Trang 11trình: Cải tạo và nâng cấp đê hữu sông Kinh Thầy từ Km 7+980 đến Km 9+240” làm luận văn tốt nghiệp
hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo hiệu quả đầu tư của dự án
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các công trình thủy lợi, cụ thể trong luận văn, tác
giả ứng dụng cho công trình: “Cải tạo và nâng cấp đê hữu sông Kinh Thầy từ Km 7+980 đến Km 9+240”
Phạm vi nghiên cứu là đề tài nghiên cứu về phương pháp lập tiến độ thi công xây dựng công trình thủy lợi, cụ thể là công trình: “Cải tạo và nâng cấp đê hữu sông Kinh Thầy
từ Km 7+980 đến Km 9+240”
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Tiếp cận trên cơ sở lý thuyết, điều khiển kế hoạch tiến độ, cơ sở thực tiễn xây dựng công trình
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích, kế thừa các nghiên cứu đã có
Phương pháp nghiên cứu về cơ sở lý thuyết
Phương pháp mô hình toán
5 Dự kiến kết quả đạt được
Phân tích, áp dụng cơ sở lý thuyết trong điều khiển kế hoạch tiến độ, sử dụng các mô hình toán trong lập và điều khiển kế hoạch tiến độ
Lập được một tiến độ hợp lý cho một công trình: “Cải tạo và nâng cấp đê hữu sông Kinh Thầy từ Km 7+980 đến Km 9+240” thỏa mãn chỉ tiêu kinh phí, chất lượng và
thời gian thi công công trình
Trang 12CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ THEO TIÊU CHÍ VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN THEO THỜI GIAN
1.1 Tình hình xây dựng nói chung và trong khu vực nghiên cứu
1.1.1Tình hình xây dựng trên thế giới hiện nay
Tình hình kinh tế toàn cầu cải thiện dần, tính hiệu hồi phục từ các nhà thầu xây dựng trên thế giới và các công trình bị đình trệ Bên cạnh đó tính hiệu hồi phục cũng đa phần đến từ các nước phát triển, cụ thể hóa quan điểm về việc dòng tiền cho xây dựng đang quay lại các nước phát triển trong ngắn hạn Tuy nhiên, tại một số thị trường đang ấm lên như ở Mỹ, Nhật Bản và Singrapore, do mức độ cạnh tranh cao nên làm ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp
Tình hình chỉ mới được cải thiện trong những năm gần đây, do đó biên lợi nhuận của các doanh nghiệp chưa thể cải thiện trong ngắn hạn Tại khu vực Châu Âu, do tác động của khủng hoảng kinh tế, biên lợi nhuận gộp của các nước Đức và Nga đã giảm mạnh trong giai đoạn 2011-2013 Còn ở Việt Nam do tác động của thị trường Bất Động Sản đóng băng, lợi nhuận trong lĩnh vực dân dụng cũng đã giảm từ 10% xuống còn 5% trong năm 2013 Ấn Độ là nước cải thiện nhiều nhất với biên lãi gộp lên tới 16% mức cao nhất trong các nước khảo sát, do những chính sách đổi mới và cải cách kinh tế của chính phủ hiện tại
1.1.2 Tình hì nh xây dựng ở Việt Nam hiện nay
Sự phát triển của ngành Xây Dựng phụ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và các chính sách vĩ mô Với vai trò là ngành hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế, tăng trưởng của ngành xây dựng phụ thuộc vào các yếu tố như tốc độ đô thị hóa, vốn đầu tư FDI, lãi suất cho vay và lạm phát Bên cạnh đó, xây dựng cũng là lĩnh vực tạo nên nền tảng cho phát triển cho những ngành khác và nền kinh tế nói chung Do đó, việc chính phủ luôn duy trì một mức giải ngân vào lĩnh vực xây dựng, đặc biệt là cơ sở
hạ tầng Ngoài các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cũng có tác động trực tiếp tới ngành xây dựng Như trong giai đoạn 2011-2013, chính sách thắt chặt tiền tệ đã đẩy lãi suất cho vay lên mức trên 20%/năm, khiến cho nguồn vốn đổ vào đầu tư xây dựng giảm mạnh Do đó, chu kỳ của ngành xây dựng cũng chịu tác động mạnh từ chu kỳ
Trang 13của tăng trưởng kinh tế ước tính kéo dài khoảng 3-10 năm Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của ngành sẽ có một độ lệch nhất định so với tốc độ tăng trưởng GDP
Trong giai đoạn 2016-2020, nhu cầu về đầu tư cho giao thông đường bộ khoảng 202,000 tỷ/năm và cho ngành điện là khoảng 125,000 tỷ/năm Do đó, áp lực về vốn đầu tư là rất lớn trong thời gian sắp tới Vì vậy, nếu những nổ lực cải thiện khung pháp
lý cho hình thức PPP phát huy tác dụng, thì việc thu hút vốn đầu tư tư nhân sẽ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành xây dựng nói chung
Hiện nay, trên cả nước đang triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới Nhờ đó
mà giao thông nông thôn đang có những bước phát triển nhảy vọt, các con đường về thôn, xóm được nâng cấp chất lượng, tạo điều kiện phát triển văn hóa, xã hội và thu hút đầu tư về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo
1.1.3 Tình hình xây dựng ở khu vực nghiên cứu ( Tỉnh Hải Dương )
Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam Trung Tâm hành chính của tỉnh là Thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây, phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bình, phía tây giáp tỉnh Hưng Yên Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương hiện
là đô thị loại 2 theo quy hoạch, Hải Dương nằm trong Vùng thủ đô với vai trò là một trung tâm công nghiệp của toàn vùng
Hải dương là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ có hệ thống đê điều khá lớn được nằm trên các con sông lớn như sông Thái Bình, sông Gùa, sông Kinh Môn và nằm rải
Trang 14Hàng năm ngoài ảnh hưởng do thiên tai hệ thống công trình đê điều còn ảnh hưởng trực tiếp do tác động của con người như lấn chiếm mặt đê, mái đê, hành lang bảo vệ
đê, đặc biệt là việc hút cát trái phép diễn ra như hiện nay, làm cho lòng sông diễn biến phức tạp, gây ra hiện tượng sạt lở bãi sông, nguy hiểm cho thân đê, nền đê và một số công trình trong hệ thống đê điều Bên cạnh đó một số đoạn có địa chất rất kém, mặt cắt đê tự nhiên chưa đủ mặt cắt đê hoàn chỉnh, những hiểm họa chưa phát hiện, một số cống qua đê do xây dựng từ rất lâu nay đã bị xuống cấp nghiêm trọng, việc đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như công tác phòng chống lụt bão là rất khó khăn, ngoài ra một số vị trí điếm canh đê cũng bị xuống cấp, không còn đảm bảo nơi sinh hoạt cho lực lượng canh gác đê trong mùa mưa lũ
Căn cứ vào hiện trạng, chất lượng, khả năng chống lũ của hệ thống đê điều, việc đề nghị lập dự án đầu tư tu bổ đê điều địa phương tỉnh Hải Dương năm 2016 là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách không chỉ là vấn đề trước mắt còn mang tính lâu dài
1.2 Các phương pháp lập kế hoạch tiến độ hiện nay
1.2.1 Kế hoạch tiến độ trong xây dựng
1.2.1.1 Khá i niệm
Ngành xây dựng nói chung cũng như ngành sản xuất khác muốn đạt được những mục đích đề ra phải có một kế hoạch sản xuất cụ thể Một kế hoạch sản xuất được gắn liền với một trục thời gian người ta đó là kế hoạch lịch hay tiến độ Như vậy tiến độ là một
kế hoạch được gắn liền với niên lịch Mọi thành phần của tiến độ được gắn trên một trục thời gian xác định
Công trường xây dựng được tổ chức bởi nhiều tổ chức xây lắp với sự tham gia của nhà thầu, người thiết kế, doanh nghiệp cung ứng vật tư máy móc thiết bị và các loại tài nguyên… Như vậy xây dựng một công trình là một hệ điều khiển phức tạp, rộng lớn
Vì trong hệ có rất nhiều các thành phần và mối quan hệ giữa chúng rất phức tạp Sự phức tạp cả về số lượng các thành phần và trạng thái của nó biến động và ngẫu nhiên
Vì vậy trong xây dựng công trình không thể điều khiển chính xác mà có tính xác suất
Để xây dựng một công trình phải có một mô hình khoa học điều khiển các quá trình tổ chức và chỉ đạo việc xây dựng Mô hình đó chính là kế hoạch tiến độ thi công Đó la một biểu kế hoạch trong đó quy định trình tự và thời gian thực hiện các công việc, các
Trang 15quá trình hoặc các hạng mục công trình cùng những yêu cầu về các nguồn tài nguyên
và thứ tự dùng chúng để thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch đề ra
Như vậy tiến độ xây dựng là kế hoạch sản xuất xây dựng thể hiện bằng biểu đồ, nội dung bao gồm các số liệu tính toán, các giải pháp được áp dụng trong thi công gồm: công nghệ, thời gian, địa điểm, vị trí và khối lượng các công việc xây lắp cùng với điều kiện thực hiện chúng
Tiến độ là bộ phận không thể tách rời của thiết kế tổ chức xây dựng và thiết kế tổ chức thi công, trong đó:
Tiến độ trong thiết kế tổ chức xây dựng gọi tắt là tiến độ tổ chức xây dựng do cơ quan
tư vấn thiết kế lập bao gồm kế hoạch thực hiện các công việc: Thiết kế, chuẩn bị, thi công, hợp đồng cung cấp máy móc, thiết bị, cung cấp hồ sơ tài liệu phục vụ thi công
và đưa công trình vào hoạt động Biểu đồ tiến độ nếu là công trình nhỏ thì thể hiện bằng sơ đồ ngang, nếu công trình lớn phức tạp thì thể hiện bằng sơ đồ mạng Trong tiến độ các công việc thể hiện dưới dạng tổng quát, nhiều công việc của công trình đơn
vị được nhóm lại thể hiện bằng một công việc tổng hợp Trong tiến độ phải chỉ ra được những thời điểm chủ chốt như giai đoạn xây dựng, ngày hoàn thành của các hạng mục xây dựng, thời điểm cung cấp máy móc thiết bị cho công trình và ngày hoàn thành toàn bộ
Tiến độ trong thiết kế tổ chức thi công xây dựng gọi là tiến độ thi công do đơn vị nhà thầu (B) lập với sự tham gia của các nhà thầu phụ (B*) Trong đó thể hiện các công việc chuẩn bị, xây dựng tạm, xây dựng chính và thời gian đưa từng hạng mục công trình vào hoạt động Tiến độ thi công có thể thể hiện bằng sơ đồ ngang hay sơ đồ mạng Tồng tiến độ lập dựa vào tiến độ của các công trình đơn vị Các công trình đơn
vị khi liên kết với nhau dựa trên sự kết hợp công nghệ và sử dụng tài nguyên Trong tiến độ đơn vị các công việc xây lắp được xác định chi tiết từng chủng loại, khối lượng theo tính toán của thiết kế thi công Thời hạn hoàn thành các hạng mục công trình và toàn bộ công trường phải đúng với tiến độ tổ chức xây dựng
1.2.1.2 Mục đích của việc lập tiến độ trong xây dựng
Ta thấy rằng nếu các dự án xây dựng không có kế hoạch tiến dộ thì không xác định được thời gian hoàn thành dự án Các công việc không được thực hiện theo một trình
Trang 16không kiểm soát được công việc Việc chậm trể trong quá trình thi công ảnh hướng rất nhiều đến chi phí đầu tư xây dựng dự án, hầu hết các dự án bị chậm tiến độ đều làm cho chi phí tăng lên từ 20%-30% tổng giá trị Bên cạnh đó, việc chậm bàn giao công trình vào sử dụng còn làm chậm vòng quay vốn đầu tư, Nhà thầu bị ứ đọng vốn Vì vậy để dự án đảm bảo về mặt thời gian nhanh nhất, chất lượng tốt nhất và chi phí hợp
lý, để tránh sự ách tắc, cản trở trong quá trình thi công thì cần phải có một kế hoạch tiến độ thi công tối ưu và khoa học
Khi xây dựng một công trình phải thực hiện rất nhiều các quá trình xây lắp liên quan chặt chẽ với nhau trong một không gian và thời gian xác định với tài nguyên có giới hạn Như vậy mục đích của việc lập tiến độ là thành lập một mô hình xây dựng, trong
đó sắp xếp các công việc sao cho đảm bảo xây dựng công trình trong thời gian ngắn, giá thành hạ, chất lượng cao
Mục đích này có thể cụ thể như sau:
- Kết thúc và đưa các hạng mục công trình từng phần cũng như tổng thể vào hoạt động đúng thời hạn địch trước
- Sử dụng hợp lý máy móc thiết bị
- Giảm thiểu thời gian ứ đọng tài nguyên chưa sử dụng
- Lập kế hoạch sử dụng tối ưu về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ xây dựng
- Cung cấp kịp thời các giải pháp có hiệu quả để tiến hành thi công công trình
1.2.1.3 Vai trò của việc lập kế hoạch tiến độ thi công
Kế hoạch tiến độ là tài liệu thể hiện rõ các căn cứ, các thông tin cần thiết để nhà thầu
tổ chức và quản lý tốt mọi hoạt động xây lắp trên toàn công trường
Trong kế hoạch tiến độ thường thể hiện rõ:
+ Danh mục công việc, tính chất công việc, khối lượng công việc theo từng danh mục + Phương pháp thực hiện ( Phương pháp công nghệ và cách tổ chức thực hiện ) nhu cầu lao động, xe cộ, máy móc và thiệt bị thi công và thời gian cần thiết
để thực hiện từng đầu việc
+ Thời điểm bắt đầu và kết thúc của từng đầu việc và mối quan hệ trước sau về không gian, thời gian, công nghệ cách thức tổ chức sản xuất của các công việc
+ Thể hiện tổng hợp những đòi hỏi về chất lượng sản xuất, an toàn thi công và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đã có trên công trường
Trang 17Kế hoạch tiến độ còn là căn cứ để lập các kế hoạch phụ trợ khác như: kế hoạch lao động – tiền lương, kế hoạch sử dụng xe máy, kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch đảm bảo tài chính cho thi công…
Việc thiết kế tổ chức thi công mà điều quan trong là thiết kế phương thức, cách thức tiến hành từng công trình, hạng mục hay tổ hợp công trình…, có một vai trò rất lớn trong việc đưa ra công trình thực từ hồ sơ thiết kế kỹ thuật ban đầu và các điều kiện về các nguồn tài nguyên Nó là tài liệu chủ yếu chuẩn bị về mặt tổ chức và công nghệ, là công cụ để người chỉ huy điều hành sản xuất, trong đó người thiết kế đưa vào các giải pháp hợp lý hóa sản xuất để tiết kiệm vật liệu, lao động, công suất thiết bị, giảm thời gian xây dựng và hợp lý về mặt giá thành
1.2.1.4 Đặc điểm kế hoạch tiến độ thi công
Kế hoạch tiến độ thi công xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của từng công trình như: điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa chất thủy văn nơi xây dựng công trình, cơ
sở hạ tầng (giao thông, điện, nước…), địa hình, mức độ phức tạp về kỹ thuật và điều kiện tổ chức thi công Quá trình sản xuất xây dựng là một quá trình động và luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên đến tiến độ thi công Tiến độ xây dựng chịu ảnh hưởng của các đặc điểmcủa sản xuất xây dựng và sản phẩm xây dựng vì vậy trong quá trình lập kế hoạch tiến độ thi công cần phải có dự trữ sản xuất Nguồn dự trữ này đảm bảo quá trình xây dựng được liên tục và đề phòng những rủi ro
Khi thiết kế kế hoạch tiến độ thi công trong giai đoạn này cần chú ý tới các yêu cầu sau:
- Kế hoạch tiến độ này phải được thiết lập trên cơ sở giải pháp tác nghiệp xây lắp dự định cho các hạng mục và công tác chủ yếu
- Danh mục đầu việc được phân chia chi tiết hơn, phù hợp với các giải pháp công nghệ
đã chọn: khối lượng công việc được xác định phù hợp phương án kỹ thuật và tổ chức thi công được áp dụng
- Độ dài thời gian thực hiện các đầu việc, các hạng mục không được ấn định theo định mức chung mà được tính toán trên cơ sở năng suất thực tế của phương tiện thi công và lực lượng lao động đã chọn, chính vì vậy độ chính xác được cao hơn
Trang 18- Thứ tự thực hiện các đầu việc được ấn định thông qua tính toán các quan hệ về công nghệ và tổ chức để có nhiều quá trình xây lắp được triển khai liên tục, nhịp nhàng, tận dụng triệt để năng lực thi công và mặt bằng sản xuất
- Phải xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật phù hợp với tiến độ đã lập và có thể phải tiến hành tối ưu hóa kế hoạch tiến độ theo những yêu cầu nhất định
- Tiến độ lập ra ban đầu chỉ là dạng tĩnh trên cơ sở tính toán và giả thiết theo sự mong muốn của người lập, từ đó có thể dự kiến tính toán được khả năng tiêu thụ tài nguyên của công trình Tuy nhiên trong thi công thường có những thay đổi vì vậy yêu cầu tiến
độ lập ra ban đầu phải có sự mềm dẻo thể hiện qua những yếu tố như :
+ Các công việc thường có dự trữ để có thể thay đổi thời gian ban đầu, kết thúc cuả công việc
+ Tiến độ có khả năng điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thi công Điều đó được thực hiện dễ dàng trong sơ đồ ngang hay trong phương pháp sơ đồ mạng
1.2.1.5 Các căn cứ để lập kế hoạch tiến độ thi công xây dựng
Khi lập kế hoạch tiến độ thi công xây dựng công trình cần căn cứ vào các điều kiện và tài liệu sau:
- Bản vẽ thiết kế kiến trúc và kết cấu, bản vẽ thi công công trình
- Các quy định về thời gian khởi công và hoàn thành công trình, thời gian đưa công trình vào sử dụng từng phần (nếu có)
- Các số liệu về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương nơi xây dựng công trình
- Dự toán thi công xây dựng công trình và giá hợp đồng
- Định mức lao động (định mức sản xuất hoặc định mức chung)
- Các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm có liên quan
- Phương án thi công, phương án công nghệ của các công tác chủ yếu
- Điều kiện tài nguyên sử dụng cho thi công công trình
- Sự phối hợp giữa các bên liên quan
- Hợp đồng thi công giữa các bên A và bên B
1.2.1.6 Các bước lập tiến độ
Tiến độ thi công được lập dựa trên số liệu và tính toán của thiết kế tổ chức xây dựng hoặc thiết kế tổ chức thi công cùng với những kết quả khảo sát bổ sung do đặc điểm
Trang 19của công trường Trong số những số liệu đó, đặc biệt quan tâm đến thời hạn của các hạng mục công trình và toàn bộ công trường
Để tiến độ lập nhanh chóng thỏa mãn nhiệm vụ đề ra và hợp lý, người lập tiến độ phải tiến hành lập theo các bước như sau:
Việc phân tích công nghệ thi công được bắt đầu ngay sau khi có thiết kế công trình do
cơ quan tư vấn thiết kế chủ trì lập có sự bàn bạc với người thực hiện xay dựng, đôi khi phải có ý kiến của các bên liên quan như: người cấp vốn, đơn vị chịu trách nhiệm cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ cho việc thi công xây dựng công trình Sự hợp tác đầy đủ sẽ tạo điều kiện để những quyết định lựa chọn về công nghệ thi công trở thành hiện thực sau khi lựa chọn được công nghệ thi công ta tiến hành phân tích công nghệ đó
Phân tích công nghệ xây lắp để lập tiến độ thi công do cơ quan xây dựng thực hiện có
sự tham gia của các đơn vị dưới quyền Sự phân tích đặc điểm sản xuất để nắm vững công nghệ xây lắp làm cho các đơn vị thực hiện hiểu tường tận công việc và sẽ có biện pháp kỹ thuật phù hợp Những biện pháp áp dụng chỉ được phép hoàn thiện thêm công nghệ đã được lựa chọn, mọi vật tư thay thế không được làm giảm chất lượng công trình… quan trọng hơn tất cả là không kéo dài thời giant hi công
* ) Lập danh mục công việc xây lắp
Việc lập danh mục công việc xây lắp dựa vào phân tích công nghệ sản xuất và những tính toán trong thiết kế Tất cả các công việc trong danh mục sẽ được trình bày ở tiến
độ, vì vậy việc phân chia các quá trình thành những công việc phỉa thỏa mãn những điều kiện sau:
- Tên công việc trùng với mã số trong định mức sử dụng
- Công việc có thể tiến hành thi công độc lập về không gian cũng như thời gian, không
Trang 20- Một công việc phải đủ khối lượng cho một đơn vị (tổ, đội) làm việc trong một thời gian nhất định
- Trong khả năng có thể nên phân chia mỗi việc cho một đơn vị chuyên môn hóa đảm nhiệm, trong các trường hợp không thể mới bố trí tổ đa năng hay hỗn hợp thực hiện
- Tại thời điểm kết thúc các giai đoạn xây dựng công trình các công việc liên quan cũng kết thúc tại thời điểm đó
- Những công việc không thực hiện tại hiện trường nhưng nằm trong quy trình xây lắp cũng phải đưa vào danh mục
- Những công việc lớn có thể chia làm nhiều công việc nhỏ để có thể kết hợp thi công song song với các công việc khác để có thể rút ngắn thời gian thi công
- Nhiều công việc nhỏ, khối lượng ít có thể gộp lại thành một công việc dưới một tên chung để đơn giản khi thực hiện biểu đồ
Trang 21Hình 1.1: Các bước lập tiến độ
Trang 22* )Xác định khối lượng công việc
Khối lượng công việc luôn được đi kèm với bản danh mục được tính toán xác định theo bản vẽ thi công và thuyết minh của thiết kế Đơn vị của khối lượng thường dùng
là các đơn vị đo lường ( m, m2, m3, t, cái, chiếc…) cũng có thể dùng đơn vị tiền tệ tương đương trong định mức, đơn giá sử dụng Xác định đúng đối tượng là cơ sở chọn phương tiện, phương án thi công hợp lý Từ đó xác định chính xác nhân lực, máy móc
và thời gian thi công để lập tiến độ
* ) Chọn biện pháp kỹ thuật thi công
Trên cơ sở khối lượng công việc và điều kiện làm việc ta chọn biện pháp thi công Trong quá trình chọn biện pháp thi công ưu tiên sử dụng cơ giới sẽ rút ngắn thời gian thi công cùng tăng năng suất lao động giảm giá thành Chọn máy móc nên tuân theo quy tắc “Máy móc hóa đồng bộ” Trong một kíp máy chọn máy cho công việc chủ đạo hay công việc có khối lượng lớn trước sau đó chọn cho các máy còn lại Trường hợp
có nhiều phương án khả thi trong lựa chọn máy móc phải tiến hành so sánh các chi tiết kinh kế kỹ thuật Sử dụng biện pháp thi công thủ công chỉ trong trường hợp điều kiện thi công không cho phép cơ giới hóa, khối lượng quá nhỏ hay chi phí tốn kém nếu dùng cơ giới
Khi chọn máy ngoài tính năng kỹ thuật phải phù hợp ta cần chú ý đến năng suất và sự ảnh hưởng của biện pháp thi công đến môi trường xung quanh
* ) Chọn các thông số tiến độ (nhân lực máy móc)
Tiến độ phụ thuộc ba loại thông số cơ bản đó là công nghệ, không gian và thời gian: Thông số công nghệ bao gồm số tổ đội (dây chuyền) làm việc độc lập, khối lượng công việc, thành phần tổ đội (biên chế), năng suất của tổ đội Thông số không gian bao gồm vị trí làm việc, tuyến công tác và phân đoạn, đợt thi công Thông số thời gian gồm thời gian thi công công việc và thời gian đưa từng hay toàn bộ công trình vào hoạt động
Các thông số tiến độ liên quan chặt chẽ đến nhau theo quy luật chặt chẽ Sự thay đổi mỗi thông số sẽ làm các thông số khác thay đổi theo và làm thay đổi tiến độ thi công Việc chọn các thông số trước tiên phải phù hợp với công nghệ thi công sau đó là hợp
lý về mặt tổ chức Tùy theo phương pháp tổ chức người ta chọn các thông số theo những nguyên tắc riêng
Trang 23- Phân khu, phân đoạn phải phù hợp với kết cấu, kiến trúc để các phần việc thi công
độc lập, đảm bảo chất lượng công trình
- Khối lượng của các công việc đủ lớn để sử dụng hiệu quả năng suất máy móc, năng
lực tổ đội
- Số loại công việc (trong danh mục công việc) chọn tùy theo mức độ chuyên môn hóa
của tổ đội Công việc phân càng nhỏ sẽ tăng mức độ chuyên môn hóa song làm cho số
công việc tăng lên thường kéo dài thời hạn thi công và tổ chức thực hiện càng phức
tạp
- Nếu công việc vừa thi công cơ giới vừa thi công thủ công thì phải chọn thông số máy
trước, thông số người chọn tùy theo máy
* ) Xác định thời gian thi công
Thời giant hi công công việc phụ thuộc vào khối lượng, tuyến công tác, mức độ sử
dụng tài nguyên và thời hạn xây dựng công trình Để đẩy nhanh tốc độ xây dựng, nâng
cao hiệu quả cơ giới hóa phải chú trọng đến chế độ làm việc hai ca, ba ca, những công
việc chính được cơ giới hóa đồng bộ Tuy nhiên làm tăng ca sẽ làm tăng phụ phí như
chiếu sáng, chi phí bảo hộ làm ca hai, ca ba, tăng lực lượng cán bộ kỹ thuật, quản lý
Những quá trình thi công thủ công chỉ áp dụng làm tăng ca khi khối lượng lớn nhưng
tuyến công tác hẹp không triển khai thêm nhân công được
Khi thời gian thi công không xác định đủ chính xác, người ta dùng giá trị tin cậy, đó là
trường hợp quá trình thực hiện công việc gặp nhiều yếu tố ngẫu nhiên không lường
được, thời gian hoàn thành công việc phải ước đoán với độ tin cậy nhất định từ kinh
nghiệm sản xuất còn ít hoặc điều kiện sản xuất phụ thuộc quá nhiều yếu tố ngẫu nhiên
Áp dụng giá trị tin cậy về thời gian thi công dựa trên *)Lập tiến độ ban đầu
Sau khi chọn biện pháp thi công và xác định các thông số tổ chức, ta tiến hành lập tiến
độ ban đầu Lập tiến độ bao gồm xác định phương pháp thể hiện tiến
độ và thứ tự công việc hợp lý triển khai công việc
Tiến độ có thể thể hiện bằng sơ đồ ngang, sơ đồ xiên hay sơ đồ mạng Chọn ccash nào
thì tùy thuộc vào quy mô, tính phức tạp của công trình Sơ đồ ngang thường biểu diễn
tiến độ công trình nhỏ và công nghệ đơn giản Sơ đồ xiên dùng để biểu diễn tiến độ thi
công đòi hỏi sự chặt chẽ về thời gian và không gian Biểu đồ xiên chỉ thích hợp với
Trang 24công trình có số lượng công việc ít Sơ đồ mạng dùng để thể hiện tiến độ thi công những công trình lớn và phức tạp
Thứ tự triển khai công việc luôn gắn liền với thứ tự thi công Bên cạnh chú ý đến công nghệ, luôn khai thác khả năng triển khai công việc đồng thời song song rút ngắn thời gian thi công Mặt khác triển khai công việc đồng thời chú ý đến vấn đề
*) Điều chỉnh tiến độ ban đầu
Sau khi tiến độ ban đầu được lập, người ta tiến hành tính toán các chỉ số của nó và so sánh các chỉ tiêu đề ra Các tiêu chí đó chỉ thường là thời gian thi công (đúng giai đoạn, tiến độ), mức sử dụng tài nguyên, độ ổn định điều hòa tiền vốn, nhân lực, giá thành phương án Nếu các chỉ tiêu đạt tiến độ ban đầu sẽ tiến hành tối ưu theo quan điểm người xây dựng để nâng cao chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật
Trong trường hợp có vài tiêu chí không đạt, ta phải điều chỉnh lại tiến độ ban đầu Việc điều chỉnh sẽ được tiến hành theo nhiều vòng
- Vòng 1: Điều chỉnh bước lập tiến độ bao đầu (sắp xếp lại công việc ) nếu chưa đạt tiến hành điều chỉnh vòng tiếp
- Vòng 2 : Điều chỉnh các thông số tổ chức tăng giảm số công nhân, máy móc Đây là bước tổ chức lại đơn vị sản xuất nếu chưa đạt ta tiến hành tiếp vòng sau
- Vòng 3 : Điều chỉnh biện pháp thi công Đay là vòng điều chỉnh phương án kỹ thuật thi công (thay đổi loại máy móc, chọn phương pháp thi công khác…) nếu chưa đạt ta tiến hành điều chỉnh tiếp vòng cuối cùng
- Vòng 4 : Đây là vòng điều chỉnh công nghệ sản xuất Vì các biện pháp tổ chức và kỹ
thuật đều không đạt ta phải thay đổi công nghệ xây dựng
Tuy nhiên mỗi vòng có thể tiến hành một vài lần khi không đạt mới chuyển sang vòng tiếp theo Việc điều chỉnh tiến độ thường khó khăn với công trình lớn phức tạp khi đó người ta cần sự trợ giúp của máy tính điện tử
1.2.2 Các phương pháp sử dụng để lập kế hoạch tiến độ
Tùy theo tính chất của các công trình và yêu cầu của công nghệ có 3 phương pháp được sử dụng để lập kế hoạch tiến độ như sau:
1.2.2.1 Mô hình kế hoạch tiến độ bằng số
Mô hình kế hoạch tiến độ bằng số dùng để lập kế hoạch đầu tư và thi công dài hạn trong các dự án, cấu trúc đơn giản
Trang 25+Phần 1: Trình bày thứ tự và gọi tên các hạng mục đầu tư cùng giá trị công tác tương ứng (trong đó có tách riêng giá trị cho phần xây lắp và toàn bộ)
+Phần 2: Dùng các con số để chỉ sự phân bố vốn tài nguyên dùng để xây dựng các hạng mục theo các năm Phần này quy ước ghi tử số là tổng giá trị đầu tư của hạng mục, mẫu số là phần giá trị xây dựng
+Phần 3: Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư theo các năm và cho toàn bộ kế hoạch
1.2.2.2 Mô hình kế hoạch tiến độ ngang
+ Khái niệm
Mô hình kế hoạch tiến độ ngang (phương pháp này do nhà khoa học Gantt đề xướng từ năm 1917) là những đoạn thẳng nằm ngang có độ dài nhất định chỉ thời điểm bắt đầu, thời điểm thực hiện, thời điểm kết thúc việc thi công các công việc theo trình tự công nghệ nhất định
+ Đặc điểm cấu tạo
Cấu trúc gồm:
-Phần 1 : Danh mục các công việc được sắp xếp theo thứ tự công nghệ và tổ chức thi công, kèm theo là khối lượng công việc, nhu cầu nhân lực, máy thi công, thời gian thực hiện, vốn … của từng công việc
-Phần 3: Tổng hợp các nhu cầu tài nguyên, vật tư, nhân lực, tài chính Trình bày cụ thể
về số lượng, quy cách vật tư, thiết bị, các loại thợ… các tiến độ đảm bảo cung ứng cho xây dựng
Trang 264 2
5 7 Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3
1 2 5 6 7 8 9 10 11 12 T(ngày)
P(người)
Hỡnh 1.2: Cấu trỳc mụ hỡnh kế hoạch tiến độ ngang +Cỏc bước lập kế hoạch tiến độ:
-Kờ khai cỏc hạng mục cụng trỡnh, sắp xếp thứ tự cỏc cụng việc
-Tớnh toỏn khối lượng cụng trỡnh
-Lập tuần tự thi cụng cỏc hạng mục cụng việc (sơ bộ )
-Xỏc định phương phỏp và thiết bị thi cụng
-Lập kế hoạch về cung ứng vật tư thiết bị nhõn lực …
-Chỉnh sửa kế hoạch tụng tiến độ sơ bộ
+Trỡnh tự lập kế hoạch tiến độ cụng trỡnh đơn vị
-Kờ khai cỏc hạng mục cụng trỡnh, sắp xếp thứ tự cỏc cụng việc
-Tớnh toỏn khối lượng cụng trỡnh tương đối cụ thể và chớnh xỏc
-Xỏc định hạng mục cụng việc chủ yếu và thứ yếu
-Sơ bộ lập kế hoạch tiến độ cụng trỡnh đơn vị
-Chỉnh sửa kế hoạch tiến độ sơ bộ
-Đề xuất kế hoạch cung ứng nhõn lực, vật tư, thiết bị mỏy múc
Trang 27+Ưu nhược điểm và phạm vi sử dụng
- Ưu điểm: Diễn tả một phương pháp tổ chức sản xuất, một kế hoạch xây dựng tương đối đơn giản, rõ ràng
-Nhược điểm:
Phương pháp này không thể hiện rõ và chặt chẽ mối quan hệ về công nghệ và tổ chức giữa các công việc mà nó phải thể hiện Sự phụ thuộc giữa các công việc chỉ thực hiện một lần duy nhất trước khi thực hiện kế hoạch do đó các giải pháp về công nghệ, tổ chức mất đi giá trị thực tiễn là vai trò điều hành khi kế hoạch được thực hiện
Khó nghiên cứu sâu nhiều phương án, hạn chế về khả năng dự kiến diễn biến của công việc, không áp dụng được các tính toán sơ đồ một cách nhanh chóng khoa học
Không chỉ ra được những công việc quan trọng quyết định sự hoàn thành đúng thời gian của tiến độ đã đề ra
Không bao quát được quá trình thi công những công trình phức tạp
Dễ bỏ sót công việc khi quy mô công trình lớn
Khó dự đoán được sự ảnh hưởng của tiến độ thực hiện từng công việc đến tiến độ chung
Trong thời gian thi công nếu tiến độ có trục trặc thì khó tìm được nguyên nhân và giải pháp khắc phục
- Phạm vi áp dụng: Tất cả các nhược điểm trên làm giảm hiệu quả của quá trình điều khiển khi sử dụng sơ đồ ngang, hay nói cách khác mô hình kế hoạch tiến độ ngang chỉ
sử dụng hiệu quả đối với các công việc đơn giản, số lượng đầu việc không nhiều, mối quan hệ qua lại giữa các công việc ít phức tạp
1.2.2.3 Mô hình kế hoạch tiến độ xiên
+Đặc điểm cấu tạo
Về cơ bản mô hình kế hoạch tiến độ xiên chỉ khác mô hình kế hoạch tiến độ ngang ở chỗ thay vì biểu diễn các công việc bằng các đoạn thẳng ngang người ta dùng các đường thẳng xiên để chỉ sự pháp triển của các quá trình thi công theo cả thời gian (trục hoành) và không gian (trục tung) Mô hình kế hoạch tiến độ xiên, còn gọi là sơ đồ xiên hay sơ đồ chu trình (Xyklogram)
Trang 28Trục không gian mô tả các bộ phận phân nhỏ của đối tượng xây lắp (khu vực, đợt, phân đoạn công tác…), trục hoành là thời gian, mỗi công việc được biểu diễn bằng một đường xiên riêng biệt
Hình dạng các đường xiên có thể khác nhau, phụ thuộc vào tính chất công việc và sơ
đồ tổ chức thi công, sự khác nhau này gây ra bởi phương, chiều, nhịp độ của quá trình
Về nguyên tắc các đường xiên này không được phép cắt nhau trừ trường hợp đó là những công việc độc lập với nhau về công nghệ
- Phạm vi áp dụng: Mô hình kế hoạch tiến độ xiên thích hợp với các công trình có nhiều hạng mục giống nhau, mức độ lặp lại của các công việc cao Đặc biệt thích hợp với các công tác có thể tổ chức thi công dưới dạng dây chuyền
1.2.2.4 Mô hình k ế hoạch tiến độ theo sơ đồ mạng
+Khái niệm
Mô hình kế hoạch tiến độ theo sơ đồ mạng là một đồ thị có hướng biểu diễn trình tự thực hiện tất cả các công việc, mối quan hệ và sự phụ thuộc giữa chúng, nó phản ánh
Trang 29tính quy luật của công nghệ sản xuất và các giải pháp được sử dụng để thực hiện chương trình nhằm với mục tiêu đề ra
Phương pháp sơ đồ mạng là tên chung của nhiều phương pháp có sử dụng lý thuyết mạng, mà cơ bản là phương pháp đường găng (CPM -Critical Path Methods), và phương pháp kỹ thuật ước lượng và kiểm tra dự án (PERT - Project Evaluation and Review Technique)
Hình 1.4: Cấu trúc mô hình kế hoạch tiến độ mạng +Ưu điểm, nhược điểm và phạm vi áp dụng
-Ưu điểm:
Cho thấy mối quan hệ chặt chẽ về công nghệ, tổ chức giữa các công việc
Chỉ ra được những công việc quan trọng, quyết định đến thời hạn hoàn thành công trình (các công việc này như sau này gọi là công việc “găng”) Do đó người quản lý biết tập trung chỉ đạo có trọng điểm
Loại trừ được những khuyết điểm của sơ đồ ngang
Giảm thời gian tính toán do sử dụng được máy tính điện tử vào lập, tính, quản lý và điều hành tiến độ
Cho phép tối ưu hóa kế hoạch, tiến độ thi công theo chỉ tiêu thời gian, giá thành xây dựng và nhu cầu tài nguyên cho thi công Đồng thời còn thuận tiện cho việc tự động hoá tính toán và điều khiển thi công
-Nhược điểm:
Phải liệt kê toàn bộ các hoạt động trong dự án nên phức tạp và cầu kỳ
Phương pháp sơ đồ mạng chỉ thực sự có hiệu quả trên cơ sở có sự quản lý sát sao của cán bộ kỹ thuật, các bộ quản lý và sự đảm bảo về cung ứng vật tư – kỹ thuật, lao động đầy đủ theo yêu cầu đã lập ra trong mạng
Trang 30Phương pháp sơ đồ mạng dùng để lập kế hoạch và điều khiển tất cả các loại dự án, từ
dự án xây dựng một công trình đến dự án sản xuất kinh doanh hay dự án giải quyết bất
kỳ một nhiệm vụ phức tạp nào trong khoa học kỹ thuật, kinh tế, quân sự… đều có thế
sử dụng sơ đồ mạng
1.3 Những bất cập trong xây dựng kế hoạch tiến độ liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn
1.3.1 Đánh giá hiện trạng công tác lập kế hoạch tiến độ thi công hiện nay
Việc thiết kế kế hoạch tiến độ thi công xây dựng công trình ở nước ta hiện
nay chưa hợp lý chặt chẽ, tùy thuộc vào nhà thầu và chưa được các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng quan tâm đúng mức Các doanh nghiệp xây dựng có khuynh hướng coi trọng sản xuất xem thường quản lý, coi trọng giá trị sản lượng xem nhẹ hiệu quả, quan tâm tới tiến độ, giá rẻ bỏ mặc chất lượng Các doanh nghiệp để có thể thắng thầu, đã cố tình lập kế hoạch tiến độ thi công xây dựng công trình có thời gian càng ngắn càng tốt mà không hoặc ít chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng tác động như năng lực
về tài chính, về máy móc thiết bị và về tiền vốn, về công nghệ xây dựng Những hành
vi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng của hồ sơ thiết kế tổ chức thi công, đến chất lượng của hồ sơ dự thầu
Trong giai đoạn vừa qua, lập tiến độ trong xây dựng phần lớn theo kinh nghiệm của cán bộ thực hiện công việc này và chỉ dựa vào định mức để xây dựng tiến độ Vì vậy, công tác tiến độ chưa giải quyết được những vấn đề tối ưu như thời gian xây dựng và chi phí trong quá trình xây dựng cũng như chưa xét đến những yếu tố rủi ro gặp phải như điều kiện địa chất, điều kiện khí tượng thủy văn… nên dẫn đến một số tiến độ không hoàn thiện được gây lãng phí thời gian, tiền bạc, ảnh hưởng đến chất lượng công trình
Hầu hết các dự án xây dựng đều có kế hoạch tiến độ thi công, tuy nhiên vẫn chưa được các đơn vị thi công áp dụng do chưa có tính khả thi Hiện nay, có nhiều dự án đầu tư xây dựng chậm tiến độ, vượt tổng mức đầu tư được duyệt, chất lượng chưa bảo đảm, còn nhiều tranh chấp trong quá trình thực hiện Những bức xúc trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng dẫn đến tình trạng chậm tiến độ của hầu hết các dự án của Việt Nam hiện nay
Trang 31Ví dụ: các dự án chậm tiến độ ảnh hưởng đến vốn sử dụng: cải tạo, nâng cấp bờ hữu song Nhuệ (Thanh Oai); cải tạo, nâng cấp trạm bơm tiêu Săn (Thạch Thất); cải tạo
mạng lưới cấp nước (quận Tây Hồ)…
Dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng Sau hơn 3 năm triển khai, tuyến đường cao tốc có quy mô lớn nối Hà Nội - Hải Phòng với tổng mức đầu tư gần 25.500 tỷ đồng mới thực hiện được hơn 20% khối lượng Dù phải thông xe vào năm 2014, nhưng cho đến nay tuyến cao tốc thuộc loại hiện đại nhất Việt Nam này vẫn khó khăn bộn bề và gần như tất cả các gói thầu đều chưa đạt yêu cầu
Hình 1.5: Chậm tiến độ sẽ gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế
Tiến độ thi công của các công trình xây dựng chủ yếu lập theo phương pháp sơ đồ ngang nên dẫn đến các tồn tại: không thể hiện rõ và chặt chẽ mối quan hệ về công nghệ và tổ chức giữa các công việc; không chỉ ra được những công việc quan trọng quyết định sự hoàn thành đúng thời gian của tiến độ; không cho phép bao quát được quá trình thi công những công trình phức tạp; dễ bỏ sót công việc khi quy mô công trình lớn; khó dự đoán được sự ảnh hưởng của tiến độ thực hiện từng công việc đến tiến độ chung; thời gian thi công nếu gặp trục trặc khó tìm được nguyên nhân và giải pháp khắc phục
Trang 32Do quy định của luật Đấu thầu, luật Xây dựng, luật Đầu tư liên quan đến chủ đầu tư, lựa chọn nhà thầu tư vấn, giám sát, thi công xây lắp còn nhiều điểm chồng chéo chưa phù hợp
Công tác đền bù giải phóng mặt bằng là nguyên nhân chính gây ra tình trạng chậm tiến
độ như hiện nay (Ví dụ: dự án đường vành đai 1 đến 10 năm nay vẫn chưa xong do khâu đền bù giải phóng mặt bằng chậm trễ) Tại những vị trí mà các chủ đầu tư tư nhân phải cạnh tranh để có đất và phải đấu thầu, chính quyền áp dụng một giá thấp hơn giá mà nhà đầu tư tư nhân trả dẫn đến tình trạng khiếu nại của người dân
Các chế tài và quy định để xử lý các vi phạm trong hoạt động xây dựng chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe đối với các chủ đầu tư và các nhà thầu
Đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện dự án chưa thực sự có chuyên môn cao, chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ theo quy định
Thủ tục hành chính trong mỗi nội dung, mỗi khâu công việc và sự phối hợp giữa các
cơ quan Trung ương với địa phương, giữa các sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã chưa sát sao, còn thiếu linh động
Dựa vào khối lượng lao động của các công tác, các quy định trong hợp đồng ( về giá thành, về chất lượng công trình, về thời gian hoàn thành công trình ), năng lực nhà thầu và các điều kiện về tự nhiên thời tiết nơi thi công ta sẽ tiến hành tổ chức quá trình thi công sao cho hợp lý, hiệu quả nhằm đạt được năng suất cao, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm Do đó đòi hỏi phải nghiên cứu và tổ chức xây dựng một cách chặt chẽ đồng thời phải tôn trọng các quy trình, quy phạm kỹ thuật
Từ khối lượng công việc và công nghệ thi công ta lên được kế hoạch tiến độ thi công, xác định được trình tự và thời gian hoàn thành các công việc Thời gian đó dựa trên kết quả phối hợp một cách hợp lý các thời hạn hoàn thành của các tổ đội công nhân và máy móc chính Dựa vào các điều kiện cụ thể của khu vực xây dựng và nhiều yếu tố khác theo tiến độ thi công ta sẽ tính toán được các nhu cầu về nhân lực, nguồn cung cấp vật tư, thời hạn cung cấp vật tư, thiết bị theo từng giai đoạn thi công
Các công việc nếu không được thực hiện theo quy trình kỹ thuật hợp lý và không tuân thủ nghiêm ngặt thời gian bắt đầu và thời gian hoàn thành thì không thể kiểm soát được, từ đó người quản lý, chủ đầu tư không thể biết được chính xác thời hạn hoàn
Trang 33thành dự án.Việc chậm trễ trong quá trình thi công sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chi phí Phần lớn các dự án bị chậm tiến độ đều làm chi phí tăng, thậm chí tăng đến 20% - 30% tổng giá trị Chậm bàn giao đưa công trình vào vận hành còn có nghĩa là vốn đầu tư bị
ứ động, quay vòng chậm gây ra thiệt hại cho nhà thầu, chủ đầu tư, Nhà nước và xã hội Trong chừng mực nhất định, không đảm bảo đúng tiến độ còn có nghĩa là chất lượng của một số phần việc không đảm bảo
1.3.2 Ảnh hưởng của kế hoạch tiến độ đến hiệu quả sử dụng vốn
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả vốn đầu tư Các nhân tố này có thể là khách quan, chủ quan Đó là các yếu tố do tự nhiên mang lại, các loại rủi ro có thể lường trước, không lường trước; là các yếu tố do con người mang lại như trình độ chuyên môn của các nhà quản lý vốn đầu tư, các điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật vv
Các nhân tố ảnh hưởng này tác động đến cả hai thành phần của hiệu quả vốn đầu tư Lợi ích công dụng của các đối tượng do kết quả của quá trình đầu tư tạo nên khi đưa vào sử dụng và vốn đầu tư chỉ ra nhằm tạo nên các kết quả ấy Do đó các nhân tố này tồn tại dọc theo suốt thời gian của quá trình đầu tư khi có chủ trương đầu tư, ngay trong quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng và đặc biệt là cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư được hoàn thành
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước là kế hoạch tiến độ xây dựng công trình
Nhiều năm nay, vốn đầu tư vào các dự án xây dựng chiếm đến 40%GDP, nhưng do chậm hoàn thành dẫn đến đình trệ sản xuất, nguồn vốn không được xoay vòng kịp thời Có thể nói các công trình chậm tiến độ đang “chôn” một lượng vốn khá lớn của toàn xã hội
Việc chậm trễ trong quá trình thi công sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chi phí Phần lớn các
dự án bị chậm tiến độ đều làm chi phí tăng thậm chí tăng đến 20%-30% tổng giá trị Chậm bàn giao đưa công trình vào vận hành còn có nghĩa là vốn đầu tư bị ứ đọng, quay vòng chậm gây thiệt hại cho nhà thầu, chủ đầu tư, Nhà nước và xã hội Trong chừng mực nhất định, không đảm bảo đúng tiến độ còn có nghĩa là chất lượng của mét
Trang 34*) Nhiều công trình "án binh bất động"
Hà Nội là đô thị có tốc độ phát triển về xây dựng đứng đầu cả nước Bên cạnh sự “thay
da đổi thịt” nhờ các đường cao tốc, khu chung cư hiện đại thì cũng còn không ít các dự
án dở dang, chậm tiến độ đang như những “đốm xám” trên diện mạo của thủ đô
Dự án Usilk City (Hà Đông, Hà Nội) nằm trên đường Lê Văn Lương đã khởi công nhiều năm nay Thậm chí, hiện nay một số tòa đã bàn giao nhà cho khách hàng nhưng các tầng thương mại, cảnh quan sân vườn tại 3 tòa nhà 101, 102, 103 cụm CT1 của cụm dự án này vẫn chưa hoàn thiện khiến tổ hợp chung cư này vẫn như một đại công trường dang dở dù đã có người đến ở
Hoặc như tổ hợp dự án Sky Garden Towers tại Định Công (Hoàng Mai, Hà Nội) được thiết kế đa mục đích: thương mại, văn phòng, căn hộ, được khởi động từ cuối 2011 Tuy nhiên, đến giữa năm 2013, dự án ngừng thi công Dự án Sky Garden do Công ty TNHH Định Công làm chủ đầu tư nhưng nhiều khách hàng lên tiếng không thể tiếp cận được chủ đầu tư để tìm hiểu lý do dự án tạm dừng Theo đúng tiến độ, dự án phải giao nhà cho người mua vào tháng 6/2014 Thế nhưng hiện tại, công trình này mới đổ khung tầng 7 trên tổng số 28 tầng và hiện không có dấu hiệu gì của hoạt động sản xuất trên công trường này
Dự án 198B Tây Sơn (Đống Đa, Hà Nội) nằm ở vị trí đẹp (nút giao Tây Sơn - Thái Hà
- Chùa Bộc) đã xây cao 21 tầng, do Công ty TNHH Liên doanh đầu tư tài chính Hòa Bình làm chủ đầu tư Tuy nhiên hiện nay, dự án đang sa lầy vì tiến độ và có nguy cơ đổi chủ hoặc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư nếu không đủ năng lực tiếp tục thực hiện Hiện nay công trình đã xây dựng xong phần thô theo quy mô cấp phép Công trình này đang nằm trong danh sách một loạt các dự án nhà ở chậm tiến độ trên địa bàn thành phố của Sở Xây dựng TP Hà Nội
Theo nhận định của Tổng hội Xây dựng Việt Nam, các dự án chậm tiến độ sẽ gây thiệt hại và lãng phí vô cùng lớn Nhà nước, doanh nghiệp và cả xã hội bỏ vốn đầu tư vào các dự án xây dựng (chiếm 40% GDP), nhưng do chậm hoàn thành dẫn đến đình trệ sản xuất, nguồn vốn không được quay vòng kịp thời bị "chôn" lại Chưa kể thiệt hại về lãi suất cho người dân, những lãng phí về đất đai khó có thể đo đếm hết
Trang 35Kế hoạch tiến độ thi công công trình là điều kiện tiên quyết để quyết định sự thành công của một dự án Một kế hoạch sơ sài, tùy tiện, bố trí nhân sự lộn xộn, không khoa học, không tính toán và có phương án dự phòng trước được những sự cố phát sinh, công tác quản lý yếu kém sẽ làm giảm năng suất lao động và trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ bàn giao dự án công trình, chưa kể đến chất lượng công trình, dự án cũng bị ảnh hưởng và chi phí bị đội lên do chậm tiến độ, thất thoát, hư hao… Bên cạnh đó, sản phẩm xây dựng là những công trình, dự án lớn, thời gian tồn tại lâu dài, nên nếu công tác lập kế hoạch không tốt, quản lý yếu kém, thì khi sự cố, sai lầm trong công tác xây dựng xảy ra, sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường ngoài việc lãng phí về tiền của, thời gian, công sức để sửa chữa sai lầm đó Do đó, có thể thấy tầm quan trọng của việc lập kế hoạch tiến độ thi công công trình với sự thành công của dự án, công trình đó
Sẽ là thiếu sót khi lập kế hoạch tiến độ mà bỏ qua dự toán chi phí ban dầu cho việc thi công dự án công trình đó Trên cơ sở thông tin dự toán cho từng giai đoạn thi công dự
án công trình mà người lập kế hoạch lựa chọn, phân bổ nguồn lực cho hợp lý Tuy nhiên, không tránh khỏi việc dự toán ban đầu bị sai Khi đó thì người lập kế hoạch tiến
độ vẫn phải lập kế hoạch đảm bảo thực hiện công việc chính xác và yêu cầu bổ sung, sửa đổi dự toán hoặc thêm vào dự toán phát sinh
Tiến độ thi công ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí thi công xây dựng công trình Chính
vì vậy, cần phải có một kế hoạch tiến độ thi công tối ưu để giảm thiểu tối đa được chi phí thi công xây dựng công trình
Hoàn thành đúng thời hạn là một trong những tiêu chí cơ bản đánh giá sự thành công của dự án Hơn thế nữa, rút ngắn được thời gian thực hiện dự án còn có thể mang lại nhiều hiệu quả kinh tế Các hiệu quả kinh tế đó là:
- Đối với chủ đầu tư: Sớm thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra và giảm thiệt hại vì ứ đọng vốn
ở các giai đoạn đầu tư dở dang
- Đối với nhà thầu: Giảm thiệt hại vì ứ đọng vốn sản xuất kinh doanh và giảm chi phí
cố định
Trang 361.4 Đặt vấn đề xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu
Để lập một kế hoạch tiến độ thi công công trình thì việc đầu tiên là phải xác định các công việc cần thực hiện để hoàn thành dự án, công trình đó Công việc trong tiến dộ thi công là một “đầu việc” đi kèm khối lượng công tác và quỹ thời gian để thực hiện công việc đó Xác định khối lượng, phạm vi công việc cần phải căn cứ vào các loại tiến độ (phân chia dựa theo đối tượng lập và cấp bậc quản lý tiến độ) được xác lập cho việc quản lý thi công dự án nhiều hạng mục, một hạng mục công trình hoàn chỉnh hay tiến độ để thi công một bộ phận hoàn chỉnh của công trình Với mỗi loại tiến độ khác nhau sẽ có đầu việc khác nhau đi kèm phạm vi khối lượng công việc và thời gian thực hiện công việc khác nhau
Để có một kế hoạch tiến độ hoàn chỉnh thì cần phải nghiên cứu và phân tích thêm để đưa ra dự trù thời gian thực hiện và nguồn lực để triển khai thi công dự án công trình
Dự trù thời gian cho từng đầu việc đã được xác lập ở bước trên và phải căn cứ vào tổng thời gian thi công dự án công trình và các mốc thời gian phải hoàn thành và ban giao trong từng thời kỳ, phù hợp với biện pháp thi công đã được lựa chọn và các nguồn lực đã được bố trí thi công trên công trường sao cho đảm bảo an toàn lao động cho những người tham gia thi công Dự trù nguồn lực chính là việc xác định nhu cầu nguồn lực, nguyên vật tư, máy thi công cho từng công việc, theo tiến độ thi công công trình dự án Trên cơ sở đó, lấy căn cứ để ước lượng được nhu cầu về vốn cần chuẩn bị
cho quá trình thi công dự án công trình và có kế hoạch chuẩn bị, điều động, bố trí công việc sao cho phù hợp với dòng tiền trong các thời kỳ giai đoạn thực hiện dự án
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Thi công xây dựng công trình là một qua trình phức tạp, diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài và phần lớn công trình xây dựng đều thi công ở ngoài trời, chịu tác động của điều kiện tự nhiên, thời tiết, các điều kiện kinh tế - xã hội tại địa điểm xây dựng…
Vì vậy, để xây dựng một công trình phải có một mô hình khoa học điều khiển các quá trình tổ chức và chỉ đạo việc xây dụng Mô hình đó chính là tiến độ thi công
Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều công trình bị chậm tiến độ, trong đó có một phần là
do chất lượng của các bản kế hoạch tiến độ thi công do nhà thầu lập chưa cao Nhiều bản kế hoạch tiến độ không được sử dụng trong quá trình thi công do không có tính khả thi hoặc chưa phù hợp với điều kiện thực tế thi công Việc chậm tiến độ của các công trình xây dựng diễn ra khá phổ biến, nó là nguyên nhân dẫn chất lượng công trình
bị giảm, hiệu quả đầu tư thấp
Tiến độ thi công thực hiện công trình gắn liền với chất lượng công trình, chi phí xây dựng công trình Để có thể đưa ra được một kế hoạch tiến độ thi công tối ưu để nhanh chóng đưa công trình vào sử dụng là một vấn đề vô cùng phức tạp
Việc lập kế hoạch tiến độ trong xây dựng là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết Một dự án nếu có kế hoạch tiến độ thi công hợp lý sẽ xác định được tương đối chính xác thời hạn hoàn thành xây dựng công trình từ đó sẽ giảm được tối đa các chi phí không đáng có, nâng cao chất lượng công trình, hạgiá thành xây dựng công trình Chính vì vậy mà công tác lập kế hoạch tiến độ cần được quan tâm chú trọng đúng mức Hiện nay có nhiều phương pháp được sử dụng để lập kế hoạch tiến độ xây dựng công trình, song song với nó cũng có nhiều biện pháp tổ chức xây dựng được sử dụng nên tùy theo tính chất của từng công trình và yêu cầu kỹ thuật mà lựa chọn phương pháp hợp lý
Vào thời điểm hiện tại, những công nghệ, những phần mềm ra đời đã phần nào giúp đỡ chử đầu tư, nhà thầu đưa ra được phương án kế hoạch thi công tối ưu nhất
Tóm lại, bài toán đặt ra hiện nay là cần nâng cao hiệu quả trong công tác lập
Trang 38kế hoạch tiến độ xây dựng cho các dự án, bên cạnh đó giảm chi phí đầu tư xây dựng công trình và nâng cao chất lượng công trình Đây là một bài toán đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp xây dựng cần có cái nhìn đúng đắn và đưa ra giải pháp hợp lý Trong phạm vi luận văn này, vấn đề trên sẽ được tác giả nghiên cứu trong các chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
2.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo thời gian
2.1.1 Cơ sở lý thuyết phân tích hiệu quả vốn đầu tư trong xây dựng
Vốn đầu tư là lượng tiền vốn bỏ vào công trình Tiền vốn là lọai tài nguyên sử dụng một lần nó chỉ sinh lợi khi công trình hoạt động Vì vậy việc đưa tiền vốn vào công trình theo thời gian là một chỉ tiêu quan trọng của tiến độ
Đối với dự án đầu tư thì vốn là điều kiện quyết định không thể thiếu đối với bất kỳ một
dự án nào trong nền kinh tế thị trường hiện nay Mọi hoạt động đầu tư diễn ra đều cần phải có vốn, nó quyết định đến sự thành bại của một dự án đầu tư Do đó, việc chủ động sử dụng hiệu quả vốn đầu tư là vấn đề rất cần thiết đối với dự án
Khi thiết kế tổ chức xây dựng công trình người ta thường xem xét biểu đồ cung ứng vốn xây dựng cơ bản Đối với người xây dựng vốn thường vay ngân hàng phải chịu một lãi suất Người xây dựng chỉ trả được khi bên A tạm ứng hoặc thanh toán hợp đồng Trường hợp bên A tạm ứng không kịp thời thì bên chủ thầu phỉa chịu lãi ngân hàng Vì vậy tiền vốn đưa vào công trình càng sớm thì càng dễ bị ứ đọng gây nên thua thiệt cho người xây dựng Người ta phải tìm một hình thức đưa tiền vốn vào công trình sao cho ứ đọng vốn là thấp nhất
Hình thức đưa tiền vốn vào công trình có 3 dạng cơ bản là thể hiện trên hình 2-1 Đường vi phân đưa tiền vốn vào công trình thể hiện lượng tiền chi phí cho các công tác xây lắp tại các khoảng thời gian theo tiến độ thi công (tuần, tháng, quý, năm)
o + t
Trang 40Hình a thể hiện việc đưa tiền vốn vào công trình đều đặn, từ lúc bắt đầu đén lúc kết thúc lượng vốn đầu tư trong khoảng thời gian như nhau bằng nhau
Hình b đưa tiền vốn vào công trình tăng dần, lúc đầu chi phí ít sau tăng dần lên lúc kết thúc đưa tiền vốn vào công trình cao nhất
Hình c đưa tiền vốn vào công trình giảm dần, lúc đầu lớn nhất sau giảm dần lúc kết thúc lượng tiền đưa vào ít nhất
Để đánh giá 3 hình thức đầu tư trên vào công trình ta vẽ biểu đồ phân bổ vốn đầu tư
theo tiến độ thi công, được thể hiện trên hình 2-2 Ta thấy trên hình 2-2 có 3 đường tích phân tương ứng với ba cách đầu tư nêu trên
0
t21
t
(3) (2) (1)
C1
C2
Hình 2-2: Biểu đồ tích lũy vốn và thời gian
Đường phân tích thể hiện đồng vốn đưa vào công trình đến các thời điểm trên tiến độ
Nó thể hiện tổng số tiền đưa vào thực hiện công tác xây dựng đến thời điểm ta xét t Hiển nhiên dạng đường tích phân phụ thuộc vào đường vị phân Đường tích phân a là đường thẳng, đường b là đường parabol lõm, đường c là đường paraol lồi Vì 3 hình thức đầu tư cho cùng một công trình nên giá trị cuối cùng đều bằng nhau (C) Diện tích phần gạch giữa đường tích phân và trục (T) thể hiện ứ đọng tiền vốn vào công trình Mục đích của người làm kinh tế là sao cho ứ đọng vốn là thấp nhất rõ ràng khi đường tích phân có diện tích gạch chéo bé nhất
Đối với một công trình dù đầu tư tiền theo cách nào cũng phải đảm bảo thời hạn thi công và giá thành không đổi Nghĩa là có chung (T) và (C) Vậy với phép tính tích phân đơn giản ta tính được: