Làm cho hệ thống trở lên bất cập, các công trình có nguy cơ bị xuống cấp ảnh hưởng tới năng lực phục vụ của hệ thống , cần thiết có sự đánh giá một cách chính xác, khoa học và toàn diện
Trang 1Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với nông nghiệp, công nghiệp, môi trường và sinh hoạt ở các khu dân cư Mặc dù vậy do nước ngọt ngày càng trở nên khan hiếm, quản lý tưới không hợp lý và suy thoái môi trường đã và đang là thách thức lớn đối với nhiều vùng và thậm chí đối với nhiều quốc gia Sự gia tăng về dân
số, về nhu cầu và chất lượng cuộc sống cụ thể về sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp trong tương lai hướng tới sự cạnh tranh khốc liệt hơn trong sử dụng tài nguyên đất và nước Vì vậy cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy nông là rất cần thiết để khai thác hết tiềm năng về nông nghiệp và tạo cơ hội phát triển kinh
tế, xã hội một cách bền vững
Hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1958, là một trong những hệ thống thủy lợi lớn nhất đồng bằng bắc bộ nước ta với diện tích 185.860ha bao gồm đất đai của 4 tỉnh thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương và Bắc Ninh
Hệ thống được bao bọc bởi 4con sông lớn: Sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bỡnh và sông Luộc
Lợi ích của hệ thống có thể còn giá trị mãi mãi về sau, nhưng do sự thay đổi hơn 50 năm qua cùng với một số tác động của tự nhiên và xã hội như: sự chi phối mạnh mẽ của dòng chảy do các yêu cầu về tưới tiêu cũng đa dạng vì thay đổi cơ cấu cây trồng, quá trình công nghiệp hóa lại diễn ra một cách nhanh chóng, sự biến đổi
có tính cực đoan của khí hậu,… Làm cho hệ thống trở lên bất cập, các công trình
có nguy cơ bị xuống cấp ảnh hưởng tới năng lực phục vụ của hệ thống , cần thiết có
sự đánh giá một cách chính xác, khoa học và toàn diện về hiệu quả của các công trình từ đầu mối tới mặt ruộng thông qua hệ thống chỉ tiêu để đưa ra các biện pháp khai thác quản lý hệ thống công trình thích hợp nhất nhằm nâng cao năng lực phục
vụ và phát huy tối đa lợi ích mang lại của hệ thống lợi đối với khu vực rộng lớn giàu tiềm năng nông nghiệp này Vì vậy trong luận văn này tôi muốn đề cập tới vấn
đề đó qua đề tài:
“ Nghiên cứu, đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải ”
Trang 2Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
2 Mục đích của Đề tài
- Nghiên cứu đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phục vụ của hệ thống Bắc Hưng Hải Sau đó sử dụng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá và đưa ra các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận quan điểm thực tiễn, hệ thống đa mục tiêu, tổng hợpvà phát triển bền vững trong khai thác tài nguyên nước
- Tiếp cận về phương châm, đường lối nghiên cứu: Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm trên thế giới và trong nước
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa các tài liệu về hiện trạng hệ thống công trình của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải
- Phương pháp kế thừa (theo các tài liệu thu thập, điều tra được):
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo, báo cáo khoa học nhằm tổng hợp các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học về lĩnh vực nghiên cứu
4 Kết quả dự kiến đạt được
- Đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hệ thống Bắc Hưng Hải
- Những kiến nghị về các giải pháp nâng cac năng lực phục vụ của hệ thống công trình trên Bắc Hưng Hải
Trang 3Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HỆ
TH ỐNG THỦY LỢI 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1 Phát triển hệ thống thuỷ lợi trên thế giới
Theo dự đoán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO) cho biết dân số trên địa cầu ước tính lên tới 9 tỷ người vào khoảng năm 2050 Nhu cầu về lương thực qua đó tăng ngày càng lớn Người ta cũng dự đoán rằng 80% lương thực đáp ứng cho con người là sản phẩm của nền nông nghiệp được tưới Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thuỷ lợi được coi như là một biện pháp quan trọng hàng đầu Trong gần 4 thập kỷ qua, tưới nước được quan tâm đáng kể, diện tích tưới trên thế giới ngày càng được mở rộng:
- Năm 1950 diện tích tưới đạt 96 triệu ha;
- Năm 1989 diện tích tưới đạt 233 triệu ha;
- Năm 1990 diện tích tưới đạt 260 triệu ha;
- Năm 2000 diện tích tưới đạt xấp xỉ 300 triệu ha
Như vậy trong vòng 50 năm diện tích tưới trên thế giới đã tăng hơn 300% Cũng theo số liệu của FAO, 73% diện tích tưới trên thế giới là của các nước đang phát triển (trong đó có Việt nam) Tuy nhiên, diện tích được tưới này mới chỉ chiếm 21% đất trồng trọt của các nước này
Châu Á cũng là châu lục phát triển tưới lớn nhất trên thế giới, chiếm khoảng 50% diện tích tưới toàn thế giới Sự phát triển tưới ở các nước Châu á Thái Bình Dương thể hiện ở bảng 1-1
Trang 4Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Bảng 1.1: Phát triển tưới ở Châu Á Thái Bình Dương (Đơn vị 1000 ha)
T Tên các nước 1965 1970 1975 1980 1985 1990 Các nước đang
Trang 5Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Hệ thống tưới bằng bơm: lấy nước từ sông suối
- Hệ thống tưới bằng trạm bơm lấy nước ngầm (loại này phổ biến ở Ấn độ, Băngladest)
Các hệ thống tưới được phân loại thành quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ Tiêu chuẩn phân loại có nơi dựa vào vốn đầu tư xây dựng công trình, có nơi dựa vào diện tích tưới thiết kế của công trình Có công trình tưới chỉ đơn thuần phục vụ tưới, có công trình có thể phục vụ đa mục tiêu như tưới, cấp nước sinh hoạt, vận tải thuỷ, thuỷ sản, phát điện, phòng chống lũ và du lịch Nhưng đều có điểm chung giống nhau là cấp nước tưới cho nông nghiệp Việc tăng sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp trong thời gian vừa qua đã đưa ra kết luận về việc đầu tư một cách chiến lược là không chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng của hệ thống tưới, mà cả trong nghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông Để đáp ứng những thách thức trong tương lai, đầu tư cho nông nghiệp phải được xem xét lại và khuyến khích chiến lược trọn gói bao gồm nghiên cứu, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng lực cho những người sử dụng nước, và đẩy mạnh thương mại nông nghiệp trên toàn cầu Chính vì vậy mà trong tất cả các chiến lược phát triển thủy lợi đều nhận thấy xu hướng đảm bảo phát triển bền vững
1.1.2 Quản lý hệ thống thuỷ nông và hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
1.1.2.1.Quản lý hệ thống thuỷ nông:
Có nhiều ý kiến đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý hoạt động của hệ thống thuỷ nông, song định nghĩa được nhiều người nhắc tới là: “Quản lý hoạt động của hệ thống thuỷ nông là quá trình mà tổ chức hoặc cá nhân đưa ra các mục tiêu cho một hệ thống thuỷ nông, từ đó thiết lập nên các điều kiện thích hợp, huy động các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu đã đề ra mà không gây ra những tác động xấu nào” Các kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng đối với quản lý hệ thống thủy nông phải coi trọng cả 2 yếu tố là nội dung và phương pháp Nội dung của công tác quản lý thủy nông được coi như chất liệu tạo nên sự bền vững về mặt vật chất, còn phương pháp để thực hiện các nội dung đó được coi là công nghệ tạo lên sản phẩm đó
Trang 6Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Theo tiến sĩ Mark Svedsen – Viện Quản lý nước Quốc tế (IWMI) “ Không có một bộ phận nào của công trình hạ tầng bảo đảm chức năng làm việc quá một vài năm trừ khi có một tổ chức vận hành, duy tu và nâng cấp nó” Sự thành công của hệ thống thuỷ lợi cần cả hai yếu tố “Phần cứng” và “Phần mềm” Phần cứng ở đây gồm công trình đầu mối, hệ thống kênh mương, công trình điều tiết và các trang thiết bị Phần mềm là công tác quản lý Một trong hai phần trên sẽ trở nên vô dụng nếu không có phần kia Tuy nhiên, công tác quản lý nước trong thế kỷ mới không chỉ đơn giản phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Trong khi mục tiêu cụ thể là cung cấp nước cho cây trồng một cách đầy đủ với mức độ tin cậy hơn, quản lý nước luôn có những tác động có ý nghĩa đến các hoạt động kinh tế, tính bền vững về môi trường
và đảm bảo sức khoẻ con người Cũng như ngành công nghịêp, nông nghiệp cũng phải làm giảm các tác động bất lợi từ bên ngoài, đặc biệt là các tác động liên quan đến sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu
Các liên quan đến môi trường phải là một phần trong sử dụng và quản lý nước Khai thác nước sông và nước hồ và xây dựng các công trình tưới luôn chiếm chỗ của đất ngập nước tự nhiên, mà bản thân nó là thành phần có khả năng sản xuất hàng hoá cao của hệ thống sinh thái nông nghiệp Vấn đề tiêu nước dẫn đến suy giảm chất lượng nước, tăng các bệnh liên quan đến dùng nước, và suy thoái chất lượng đất do úng ngập và nhiễm mặn Để giảm các tác động này việc quản lý nước cần phải dựa vào chiến lược đánh giá môi trường và phân tích chi phí - lợi ích, quan trắc môi trường và sự thống nhất trong quản lý tưới Tuy nhiên cần phải công nhận
là quản lý nước đem lại nhiều kết quả tốt, tăng khả năng phát triển kinh tế- xã hội của toàn bộ khu vực nông thôn, mặc dù phát triển xã hội cần thiết quản lý hệ thống tưới và mở rộng cơ sở hạ tầng giao thông và thị trường để bán sản phẩm Các tác động môi trường tích cực của tưới bao gồm tạo ra hệ thống đất ngập nước nhân tạo, thay đổi vi khí hậu và đa dạng sinh học
1.1.2.2.Hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông:
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, và kết quả cho biết là hiệu quả tưới ở hầu hết các hệ thống thuỷ lợi chỉ đạt khoảng 25-35%; hầu hết các hệ thống thuỷ lợi không thu được đầy đủ thuỷ lợi
Trang 7Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
phí để chi cho công tác quản lý và duy tu bảo dưỡng công trình Chính vì vậy mà cơ
sở hạ tầng của các hệ thống thuỷ lợi càng ngày càng bị xuống cấp, và dẫn đến hiệu quả tưới ngày càng giảm đi Ngân hàng Thế giới, các ngân hàng phát triển khác và một số nước đã đầu tư xây dựng nhiều hệ thống thuỷ lợi lớn Xuất phát từ hiện trạng hoạt động của các hệ thống, có nhiều ý kiến đối lập nhau về việc có nên đầu tư thêm cho các hệ thống thuỷ lợi mới hay không Ai cũng nhận thấy sự cần thiết phải đầu
tư nhiều hơn cho hệ thống thuỷ lợi, cả đầu tư xây dựng hệ thống mới, cải tạo hoặc hiện đại hoá hệ thống hiện có, nhưng nên đầu tư như thế nào Đối với hệ thống thuỷ lợi, nếu chỉ đánh giá hiệu quả hệ thống bằng một chỉ tiêu như tổng sản lượng sản phẩm nông nghiệp thu được khi có tưới hoặc không tưới, hoặc thậm chí một vài chỉ tiêu khác nữa cũng không thể đánh giá đầy đủ được công tác vận hành của hệ thống Chuyên gia về môi trường có thể quan tâm đến dòng chảy trên sông, kênh và ngăn chặn sự suy giảm khối lượng và chất lượng nước; Chuyên gia xã hội có thể quan tâm nhiều về vấn đề xã hội; Chuyên gia kinh tế có thể chỉ quan tâm đến hiệu quả đầu tư, trong khi nhà nông học có thể tập trung vào năng suất cây trồng trên mỗi hecta, v.v
Vậy hiệu quả hoạt động là gì? và hiểu như thế nào cho đúng? Khi chúng ta nói một hệ thống hoạt động yếu kém, không đạt yêu cầu hay hoạt động hiệu quả là
có hàm ý như thế nào? Hiệu quả hoạt động đã được định nghĩa theo một số cách khác nhau Small và Svendsen (1990) đưa ra một định nghĩa khá rộng về hiệu quả hoạt động hệ thống thuỷ nông: “Bao gồm tổng thể các hoạt động (tiếp nhận các yếu
tố đầu vào và chuyển đổi các yếu tố đó thành sản phẩm đầu ra trung gian hay thành phẩm cuối cùng) và ảnh hưởng của các hoạt động đó (tác động lên chính bản thân
hệ thống và môi trường bên ngoài)” Hơn thế họ còn đưa ra các mô hình khác nhau
về hiệu quả hoạt động của các tổ chức và kết luận rằng một mô hình định hướng mục tiêu hiệu quả là hết sức hữu ích trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống thuỷ nông Murray Rust và Snellen (1993) bổ xung thêm vào lý thuyết của Small và Svendsen bằng cách đưa ra một khung phân tích và đánh giá hoạt động chi tiết của
hệ thống Theo họ, hiệu quả hoạt động là (1): “mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc người sử dụng về một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định nào đó” và (2) “là
Trang 8Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
hiệu quả có được do hoạt động của các tổ chức toàn quyền sử dụng những nguồn lực của mình”
Theo định nghĩa của IWMI thì: “ Hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
là mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống đó”
Bất kỳ một hệ thống thuỷ nông nào cũng cần phải đạt được các mục tiêu đề
ra đối với sản xuất nông nghiệp Về căn bản, các hệ thống thuỷ nông góp phần tăng sản lượng nông nghiệp nhưng cũng phải đối mặt với một số vấn đề như thời gian hoàn vốn dài, phân phối nước không đồng đều, hiệu quả sử dụng nước thấp và các vấn đề về môi trường liên quan như nhiễm mặn, ngập úng, sức khoẻ cộng đồng
Cho dù một hệ thống thuỷ nông lớn hay nhỏ, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông là quan trọng để xem nó có đạt được các mục tiêu đề
ra hay không Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông giúp cung cấp những thông tin cần thiết về vận hành hệ thống tới người quản lý và người hưởng lợi góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống, đánh giá hiệu quả hoạt động của
hệ thống thuỷ nông cũng là cơ sở quan trọng để quyết định phương án đầu tư nâng cao hiệu quả công trình Ngoài ra đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông còn giúp cho việc so sánh các hệ thống thuỷ nông với nhau xem hệ thống nào hiệu quả hoạt động tốt hơn
Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông đã được nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau và thảo luận ở nhiều hội thảo quốc tế
Ở cấp Quốc gia năm 1989 Ấn độ đã cho ra đời 2 ấn phẩm “ Tiêu chuẩn đo đạc quản lý vận hành hệ thống tưới” và “Giám sát đánh giá hệ thống tưới” Tiếp sau đó các chuyên gia Ấn Độ và IWMI đã tiến hành đánh giá hệ thống tuới Sirsa có sự trợ giúp của công nghệ viễn thám và các mô hình thuỷ lực; đánh giá hệ thống tưới Bhakra với sự trợ giúp của công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Năm 1990, tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) đã có hội thảo ở Thái Lan về cải tiến hệ thống tưới trong nền nông nghiệp phát triển bền vững Ở hội thảo này đã có một vài nghiên cứu liên quan đến đánh giá hiệu quả hoạt động của
hệ thống thuỷ nông
Trang 9Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Năm 1993, IWMI đã có nghiên cứu liên quan đến đánh giá hiệu quả hệ thống phân phối nước của dự án tưới ở Pakistan và SriLanka
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông được các chuyên gia của IWMI và Sri Lanka sử dụng là:
- Chỉ tiêu lượng nước dùng trên 1 đơn vị diện tích canh tác;
- Năng suất cây trồng;
- Thu nhập trên 1 ha đất canh tác;
- Sản lượng trên 1 m3nước tưới;
- Sự công bằng trong phân phối nước ở đầu và cuối nguồn nước
Trung Quốc một cường quốc đông dân trên thế giới, nông nghiệp là một
ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực 70% tổng sản lượng lương thực, 80% sản lượng bông, 90% sản lượng rau được tạo ra từ diện tích nông nghiệp được tưới Hiện nay cũng chưa có được một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông tiêu chuẩn Tuy nhiên thấy được tầm quan trọng phải đánh giá hiện trạng hoạt động của các hệ thống thủy lợi, trong hai năm 1993 ÷1994 Trung Quốc đã tiến hành đánh giá 195 hệ thống thuỷ nông lớn với ba mức đánh giá:
- Mức 1: Đánh giá kết cấu công trình hoặc kênh mương;
- Mức 2: Đánh giá toàn bộ hệ thống;
- Mức 3: Đánh giá cải tạo nâng cấp hệ thống
Kết quả đánh giá cho thấy 70% công trình đầu mối bị xuống cấp hoặc trong tình trạng nguy hiểm, 16% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang chỉ có 4% hoạt động bình thường Đối với kênh mương 60% chuyển nước tốt, 21% xuống cấp nghiêm trọng, 9% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang Đối với các trạm bơm 36% mất khả năng làm việc, 32% xuống cấp hoặc trong tình trạng nguy hiểm
Malaysia với mục tiêu sản xuất lương thực đáp ứng tối thiểu 65% nhu cầu lương thực trong nước, chính phủ đã thấy được tầm quan trọng phải đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông và tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác của các hệ thống này Từ những năm 1990 đã bắt đầu tiến hành đánh giá ở 8 vùng trọng điểm lúa với nội dung chính là đánh giá hiệu quả sử dụng nước
Trang 10Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Trong quá trình đánh giá các chỉ tiêu đã được sử dụng như: tỷ lệ cấp nước tương đối, hiệu quả tưới, chỉ tiêu sử dụng nước, hệ số quay vòng ruộng đất IWMI đã có nghiên cứu ở Kerian năm 1991 cho thấy chỉ số hiệu quả dùng nước từ 0.035 đến 0.271 kg/m3, trung bình 0.12 kg/m3, trong khi đó theo tài liệu của FAO với hệ thống tưới cho lúa việc sử dụng nước có hiệu quả chỉ số này năm trong khoảng từ 0,7
÷1,1 kg/m3
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy lợi một cách chính xác
là rất khó khăn vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, phục vụ nhiều mục tiêu khác nhau
Cho đến hội thảo vùng Châu á Thái Bình Dương tại Bangkok tháng 5/1994 các chuyên gia đã nhất trí về các thông số, tuy rằng mỗi nước có những mục tiêu đánh giá khác nhau tuỳ theo điều kiện của hệ thống thuỷ nông đó
Các thông số để đánh giá hiệu quả của hệ thống thuỷ nông được chia thành nhóm như sau:
+ Hệ thống phân phối nước (bao gồm công trình trên kênh)
- Hiệu quả vận chuyển nước ở các cấp kênh
- Hiệu quả phân phối nước
- Bồi lắng và cỏ rác
+ Hiệu quả môi trường trong hệ thống tưới:
- Mức độ nhiễm mặn, kiềm hoá
- Chất lượng nước mặt, nước ngầm
- Ngập úng
- Cỏ dại trong kênh có nước đọng
+ Hiệu quả tưới mặt ruộng:
- Hệ số quay vòng đất
- Hiệu ích tưới
- Hiệu quả sử dụng nước
+Hiệu quả xã hội:
- Lao động
- Sở hữu ruộng đất
- Giới trong hoạt động tưới
Trang 11Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Sự thoả mãn của nông dân
+ Hiệu quả về sử dụng đa mục tiêu
+ Hiệu quả về kinh tế
Hiện tại trên thế giới cũng chưa có tiêu chuẩn hay hướng dẫn đánh giá hiệu quả tưới cụ thể Mỗi quốc gia, mỗi vùng miền tùy vào điều kiện tự nhiên, hình thức quản lý công trình mà lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp, không có một
hệ thống chỉ tiêu nào được áp dụng cho tất cả các nước Để giúp chọn các thông số giám sát đánh giá một số nước đã đưa ra các thông số và mức độ quan trong về các
chỉ số trong hệ thống thủy nông như Bảng 1.2
Vấn đề quan trọng của đánh giá hiệu quả tưới là ở chỗ :
- Định ra các thông số quan trọng để đánh giá Các thông số này có thể được thiết lập từ giai đoạn quy hoạch hệ thống
- Chỉ tiêu hay nói cách khác là tiêu chuẩn mà các thông số nêu trên phải đạt được đối với một hệ thống cụ thể
Một số chỉ tiêu và thông số hiệu quả tưới còn chưa rõ ràng trong việc đo đạc hoặc tính toán Quy trình tổ chức đánh giá, xác định vị trí đo đạc, thời gian đo cũng chưa được cụ thể hoá trong các tài liệu có liên quan Đây chính là yếu tố hạn chế việc áp dụng đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới
Trang 12Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Bảng 1.2 Bảng đánh giá mức độ quan trọng của các thông số đánh giá hiệu quả hệ thống thuỷ nông ở một số nước trong khu vực
TT Thông số Thái Lan Việt Nam Lào Phili
pin
Trung Quốc Indonesia Malaysia Ấn Độ Myanmar Ne pal
Paki stan
Hàn Quốc Banglades Bhutan Sri lanka
- Tính công bằng xx x xx xx xx xx x xx x xx xx xx
- Hiệu suất xx xx xx x xx xx xx x x xx xx xx xx x xx
- Mức độ tin cậy x xx xx x x xx xx x x xx x xx x xx
- Sự di chuyển chỗ ở của nông dân x x x x x x x x xx x x x xx
- Sự thoả mãn của nông dân xx xx x xx x xx x x xx X xx x xx xx
Trang 13Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG THUỶ NÔNG Ở VIỆT NAM
1.2.1 Phát triển hệ thống thủy lợi tại Việt Nam
1.2.1.1 Hiện trạng đầu tư xây dựng
Tính đến năm 2003 cả nước đã xây dựng được 75 hệ thống thủy lợi lớn; 1967
hồ chứa có dung tích trữ lớn hơn 0,2 triệu m3, tổng dung tích trữ 24,8 tỷ m3, trong
đó có 10 hồ chứa thuỷ điện với tổng dung tích trữ 19 tỷ m3 và 1957 hồ chứa và nhiều đập dâng, hồ chứa nhỏ có nhiệm vụ chính là tưới; trên 10.000 trạm bơm (Q=24,8 triệu m3/h), trong đó trên 2.000 trạm bơm lớn; trên 1.000 km kênh trục lớn, hơn 5.000 cống tưới, tiêu lớn, 23.000 km bờ bao
Nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi đã và đang được đầu tư xây dựng và sửa chữa nâng cấp Các chương trình kiên cố hoá kênh mương, chương trình thoát lũ ra biển Tây, chương trình sửa chữa nâng cấp các hồ chứa bằng nguồn vốn ngân sách Trung ương, địa phương, trái phiếu Chính phủ, vốn vay của các tổ chức quốc tế
WB, ADB và huy động sức dân đã được thực hiện Nhờ đó, cơ sở vật chất kỹ thuật
thuỷ lợi được tăng cường
1.2.1 2 Hiệu quả đầu tư phát triển thủy lợi
+ Tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác, năng suất, sản lượng lúa để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu Các công trình thủy lợi đã góp phần cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước như vùng Bắc Nam Hà, Nam Yên Dũng; vùng Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười
+ Phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai (lũ lụt, úng, hạn, sạt lở ), bảo vệ tính mạng, sản xuất, cơ sở hạ tầng, hạn chế dịch bệnh:Hệ thống đê biển ở Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ có thể ngăn mặn và triều tần suất 10% gặp bão cấp 9 Hệ thống đê Trung Bộ, bờ bao đồng bằng Sông Cửu Long chống được lũ sớm và lũ tiểu mãn để bảo
vệ sản xuất vụ Hè Thu và Đông Xuân Các công trình hồ chứa lớn và vừa ở thượng
du đã từng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du Các công trình chống lũ ở ĐBSH vẫn được duy tu, củng cố
Trang 14Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
+ Hàng năm các công trình thuỷ lợi bảo đảm cấp 5-6 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác:Cấp nước sinh hoạt cho đồng bằng, trung du miền núi Đến nay khoảng 70-75% số dân nông thôn đã được cấp nước hợp vệ sinh với mức cấp 60 l/ngày đêm.Cấp nước cho các khu công nghiệp, các làng nghề, bến cảng.Các hồ thuỷ lợi đã trở thành các điểm du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế như: Đại Lải, Đồng Mô - Ngải Sơn, Dầu Tiếng
+ Góp phần lớn vào xây dựng nông thôn mới: thủy lợi là biện pháp hết sức hiệu quả đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ, ổn định xã hội, xoá đói giảm nghèo nhất là tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới
+ Góp phần phát triển nguồn điện: hàng loạt công trình thuỷ điện vừa và nhỏ
do ngành Thuỷ lợi đầu tư xây dựng Sơ đồ khai thác thuỷ năng trên các sông do ngành Thuỷ lợi đề xuất trong quy hoạch đóng vai trò quan trọng để ngành Điện triển khai chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhanh và hiệu quả hơn
+ Góp phần cải tạo môi trường: các công trình thủy lợi đã góp phần làm tăng
độ ẩm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước, phòng chống cháy rừng
+ Công trình thuỷ lợi kết hợp giao thông, quốc phòng, chỉnh trang đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; nhiều trạm bơm phục vụ nông nghiệp góp phần đảm bảo tiêu thoát nước cho các đô thị và khu công nghiệp lớn
1.2.1 3 Những tồn tại chính
+ Thuỷ lợi chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của các đô thị lớn:5 tỉnh, thành phố lớn đang bị ngập lụt nặng do ngập triều (TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Hải Phòng và Vĩnh Long) Thành phố Huế và các đô thị khu vực Trung Bộ, ngập úng do lũ Thành phố Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng ngập úng nặng do mưa
+ Các công trình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, mặc dù cũng đã đầu tư xây dựng nhiều hồ chứa thượng nguồn kết hợp hệ thống đê dưới hạ du nhưng hiện nay hệ thống đê biển, đê sông và các cống dưới đê vẫn còn nhiều bất cập, phần lớn
Trang 15Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
đê chưa đủ mặt cắt thiết kế, chỉ chống lũ đầu vụ và cuối vụ, chính vụ (miền Trung), các cống dưới đê hư hỏng và hoành triệt nhiều
Hiện tượng bồi lấp, xói lở các cửa sông miền Trung còn diễn ra nhiều và chưa được khắc phục được
+ Nước thải không được xử lý hoặc xử lý không triệt để đổ vào kênh gây ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống thủy lợi: Bắc Đuống, Sông Nhuệ
+ Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và nuôi trồng thủy sản làm thay đổi
diện tích và cơ cấu sự dụng đất tạo ra những yêu cầu mới đối với công tác thuỷ lợi Nhu cầu cấp nước sinh hoạt ở nông thôn, thành thị, nhu cầu tiêu thoát tại nhiều khu vực tăng lên nhanh chóng
+ Mâu thuẫn quyền lợi, thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành, địa phương nên công trình chưa phát huy hiệu quả phục vụ đa mục tiêu
+ Một số hệ thống thuỷ lợi có hiệu quả thấp do vốn đầu tư hạn chế nên xây
dựng thiếu hoàn chỉnh, đồng bộ Nhiều công trình chưa được tu bổ, sửa chữa kịp thời nên bị xuống cấp, thiếu an toàn
+ Việc thực thi Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Luật Đê
điều và Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão còn xem nhẹ
+ Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi chưa tương xứng với cơ sở
hạ tầng hiện có, nhất là các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long
+ Nguồn nhân lực còn hạn chế về trình độ, phân bố không hợp lý, thiếu hụt
nghiêm trọng kỹ sư thủy lợi ở địa phương, vùng sâu, vùng xa Theo số liệu điều tra mẫu trên phạm vi 5 tỉnh thành toàn quốc:
1.2.1 4 Biến đổi khí hậu và thách thức đối với ngành thuỷ lợi
* Biến đổi khí hậu
Theo kịch bản của Bộ Tài Nguyên và Môi trường: Đến năm 2010 nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 2,3oC (so với trung bình thời kỳ 1980-1999) Tính chung cho cả nước, lượng mưa năm tăng khoảng 5% (so với thời kỳ 1980-1999)
Trang 16Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Trong 10 năm qua, các yếu tố khí hậu Việt Nam có nhiều biến đổi: Số trận bão hàng năm vào ven biển nước ta tăng 0,4 trận
* Nguồn nước
Theo đánh giá của ADB, đến năm 2070, dòng chảy vào tháng cao điểm của sông Mekong dự báo tăng 41% ở đầu nguồn và 19% ở vùng đồng bằng Còn vào các tháng mùa khô, dòng chảy giảm khoảng 24% ở thượng nguồn và 29% ở vùng Đồng Bằng Dòng chảy mùa kiệt ở lưu vực sông Hồng giảm 19%; mực nước lũ có thể đạt cao trình +13,24 xấp xỉ cao trình đỉnh đê hiện nay +13,40 (Báo cáo Viện Quy hoạch Thuỷ lợi) Điều đó có nghĩa là khả năng lũ trong mùa mưa và cạn kiệt trong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn
* Mực nước biển dâng
Cũng theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Bộ tài nguyên môi trường đến năm 2100 mực nước biển dâng 0,75-1,0m nên về mùa lũ, vào những năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của ĐBSCL sẽ bị ngập lũ với thời gian khoảng 4-5 tháng
Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu ven sông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng,vào mùa khô sẽ có khoảng trên 70% diện tích ĐBSCL sẽ bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l
Vùng đồng bằng sông Hồng hiện có khoảng 55 hệ thống thủy nông, thủy lợi vừa đảm bảo tưới cho 765.000 ha (trong đó : tưới lúa mùa khoảng 580.000 ha, màu
và cây công nghiệp dài ngày 7.000 ha), diện tích được tiêu khoảng 510.000 ha Tuy nhiên, các công trình tiêu nước vùng ven biển hiện nay hầu hết đều là các hệ thống tiêu tự chảy; khi mực nước biển dâng lên, việc tiêu tự chảy sẽ hết sức khó khăn, diện tích và thời gian ngập úng tăng lên tại nhiều khu vực Vùng miền trung khoảng 5.500 ha sẽ bị ngập, thời gian ngập lũ sẽ dài hơn, lũ đén sẽ khốc liệt hơn và dòng chảy kiệt sẽ suy giảm đáng kể
* Nhu cầu nước và khả năng cân bằng nước trong tương lai
- Nhu cầu nước: Tổng nhu cầu nước năm 2000 khoảng 78 tỷ m3, năm 2010 khoảng 103 tỷ m3, năm 2020 khoảng 122 tỷ m3và lưu lượng duy trì môi trường sinh thái hạ du trong mùa khô khoảng 4.300 m3/s Dự báo nhu cầu nước:
Trang 17Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
+ Nông nghiệp: năm 2010 tăng 11-12 % so với năm 2000, năm 2020 tăng khoảng 12 % so với năm 2010
+ Sinh hoạt: năm 2010 tăng 90-100% so với năm 2000, năm 2020 tăng 60-70
9-1.2.1 5 Các giải pháp phát triển thuỷ lợi thích ứng với biến đổi khí hậu
- Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến
hệ thống công trình thủy lợi
- Nghiên cứu, áp dụng các chỉ tiêu thiết kế nhằm nâng cao mức đảm bảo cấp nước, tiêu thoát nước, chống lũ thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu
- Rà soát, bổ sung quy hoạch, từng bước xây dựng các công trình ngăn sông lớn
- Đầu tư xây dựng, nâng cấp các hệ thống đê biển, đê sông, đê cửa sông bảo đảm an toàn cho dân sinh và sản xuất
- Xây dựng các chương trình nâng cấp các hệ thống thủy lợi phục vụ cấp nước, tiêu thoát nước, đảm bảo an toàn công trình
- Nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp, công nghệ khoa học tiên tiến hạn chế tác động bất lợi do biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây ra
1.2.2 Những nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông:
Ở Việt nam chưa có một tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tưới chung cho các hệ thống công trình thuỷ lợi Một số kết quả nghiên cứu về hệ thống các chỉ tiêu đánh
Trang 18Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông được đưa ra tại các hội thảo, một số văn bản liên quan, những dự án điều tra, những đề tài nghiên cứu và những nghiên cứu của các nhà khoa học đạt được một số kết quả như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nhanh hiện trạng (cơ sở hạ tầng, quản lý vận hành) và hiệu quả KT_XH công trình thuỷ lợi, phục vụ nâng cấp hiện đại hoá và đa dạng hoá mục tiêu
sử dụng” (2001-2005) do Viện khoa học Thuỷ lợi thực hiện đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá nhanh (RAP) dùng để đánh giá hiệu quả các công trình thuỷ lợi
- Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông, GS-TS Tống Đức
Khang đưa ra khái niệm “ Hiệu quả khai thác các hệ thống thủy nông là hiệu quả của
tưới sau khi xây dựng công trình, sản lượng nông nghiệp tăng thêm trong điều kiện tự nhiên và điều kiện sản xuất nông nghiệp cụ thể của vùng tức là hiệu ích của tưới”, tác
giả cũng đưa ra 2 cách đánh giá về hiệu quả quản lý khai thác công trình:
+ Cách thứ nhất là lấy thực trạng trước khi xây dựng công trình làm chuẩn + Cách thứ hai là lấy hiệu quả thiết kế trong văn bản được duyệt LCKTKT hoặc TKKT làm chuẩn Sau đó từ hiệu quả do công trình mang lại sau khi xây dựng
để so sánh với chuẩn mà đánh giá
Tác giả cũng đưa ra hệ chỉ tiêu đánh giá hệ thống thuỷ nông như sau:
- Chỉ tiêu nước tưới;
- Chỉ tiêu về diện tích tưới và trạng thái công trình;
- Chỉ tiêu về cải tạo đất;
- Chỉ tiêu về sản lượng và hiệu ích tưới;
- Chỉ tiêu tổng hợp nhiều mặt
PGS.TS Lê Đình Thỉnh đã nghiên cứu chế độ tưới, kỹ thuật tưới lúa vụ Đông Xuân, với các chế độ tưới sau:
- Nông lộ liên tiếp (N): 60 ÷ 0 cm
- Nông lộ thường xuyên (NTX): 60 ÷30 cm
- Nông lộ phơi
Trang 19Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyờn ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyờn nước
Tỏc giả đó cú kết luận, hiệu quả đầu tư kỹ thuật đó gúp phần tăng năng suất 2
vụ lỳa là 50%, tương ứng với 7,31 tạ/ha và 8,5 tạ/ha ở hai khu vực thớ nhiệm Thường Tớn và Nam Ninh
Kỹ sư Lưu Văn Dự, Viện Khoa học Thủy lợi cũng đó nghiờn cứu về hiệu ớch của tưới Để rỳt ra tỏc động của tưới đối với năng suất cõy trồng tỏc giả sử dụng cụng thức:
100
wr w
W
E = Wtưới (1-1)
Trong đú:
Ew: Tỏc động của tưới đối với năng suất cõy trồng (tớnh theo %)
Wtưới: Lượng nước thực tưới tại mặt ruộng
Wwr: Nhu cầu nước của cõy trồng
Tuy nhiờn, thực chất cụng thức mới chỉ phản ảnh % lượng nước cần tưới trong toàn bộ nhu cầu nước của cõy trồng, nếu lượng mưa hữu ớch càng nhỏ thỡ tỷ
số này càng lớn Cụng thức chưa phản ỏnh được tỏc động của tưới đối với năng suất cõy trồng
- TS Hà Lương Thuần: đưa ra quan điểm “Với một diện tớch tưới lớn như ở nước ta hiện nay, cần thiết phải đỏnh giỏ HQT và tỡm cỏc biện phỏp nõng cao HQT
ở hệ thống” Hiệu ớch tưới là một thụng số để đỏnh giỏ hiệu quả tưới ở mặt ruộng
Đi sõu vào nghiờn cứu hiệu ớch tưới, tỏc giả đưa ra định nghĩa hiệu ớch tưới: ” Hiệu
ớch tưới là mức độ đúng gúp trực tiếp của yếu tố nước trong tập hợp cỏc yếu tố thõm canh tạo nờn năng suất cõy trồng” và thiết lập phương trỡnh quan hệ giữa hiệu
ớch tưới với tổng lượng nước yờu cầu tưới của cõy trồng tớnh từ cấy đến thu hoạch
Cơ sở lý luận thiết lập cụng thức này như sau:
Dựa trờn cụng thức cơ bản tớnh hiệu ớch tưới do Giỏo sư XuZiFang và Shenpeijun – Học viện Thủy lợi và Điện lực Vũ Hỏn nghiờn cứu năm 1989:
100
1 3
1 2
Y Y
Y Y
E W
−
−
Trang 20Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Trong đó :
Ew: hệ số hiệu ích tưới (%)
Y1: Năng suất cây trồng không tưới với biện pháp nông nghiệp trung bình
Y2: Năng suất cây trồng có tưới với biện pháp nông nghiệp trung bình
Y3: Năng suất cây trồng với tưới có kỹ thuật và biện pháp nông nghiệp tiên tiến Tác giả sử dụng phương pháp kiểm nghiệm trên ô thửa nhỏ ở các trạm thí nghiệm, sau đó dùng phương pháp thống kê để đánh giá trên quy mô hệ thống hoặc một vùng Qua đó xác định mối quan hệ giữa hiệu ích tưới với tổng lượng nước yêu cầu tưới cho các vùng trồng lúa ở Đồng bằng Bắc Bộ:
Ew=0,097Ir +9,74 (1-3)
Trong đó:
Ew: hiệu ích tưới tiềm năng, tính bằng %
Ir: tổng lượng nước yêu cầu tưới ở các giai đoạn sinh trưởng của cây trồng từ cấy đến thu hoạch, tính bằng mm
Ir=∑IRRegi - ∑IRR eg(N,LP)
(1-4)
∑IRRegi - Tổng lượng nước cần tưới của từng giai đoạn từ làm đất đến thu hoạch tính theo CROPWAT - mm
∑IRR eg(N,LP)- Tổng lượng nước cần tưới của giai đoạn mạ và làm đất - mm
Dự án hợp tác Quốc tế với Ôxtrâylia “Quản lý nước tổng hợp trên hệ thống
tưới bằng bơm của Đồng bằng sông Hồng” do Viện Khoa học Thuỷ lợi thực hiện từ
năm 1995 đến 1998, một trong những nội dung chính của dự án là nghiên cứu ứng dụng mô hình IMSOP để trợ giúp vận hành và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thông qua chỉ tiêu cấp nước tại các điểm điều tiết
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “ Nghiên cứu xác định năng lực làm việc thực tế
của các hệ thống thuỷ nông đã có so với thiết kế “ do Viện Khoa học Thuỷ lợi thực
hiện đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
và phương pháp đánh giá hiệu quả ở ba hệ thống: hệ thống Nam Thái bình, hệ thống Liễn Sơn – Vĩnh Phúc, hệ thống Suối Hai – Hà Tây Bước đầu đưa ra các nhận xét
Trang 21Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
về thực trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông ở các hệ thống nói trên
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Dung đã bảo vệ thành công năm 2003
với đề tài “Nghiên cứu hiện trạng hiệu quả của các hệ thống thủy lợi và kiến nghị
các chỉ tiêu đánh giá”
Tác giả nghiên cứu thực trạng hệ thống tưới dựa trên cơ sở phân tích 2 hệ thống đại diện là Nam Thái Bình và Liễn Sơn - Vĩnh Phúc Từ đó kiến nghị những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tưới của hệ thống công trình thuỷ lợi
Luận văn thạc sĩ của Dương Thị Kim Thư đã bảo vệ thành công năm 2006
với đề tài “Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các hệ thống thủy nông Nam Thạch
Hãn bằng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả”
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn hợp đã bảo vệ thành công năm 2008 với
đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống thủy nông Nam sông
+ Phương pháp thống kê là một trong những phương pháp truyền thống và
cơ bản nhất thường được áp dụng để điều tra đánh giá hiện trạng công trình thuỷ lợi
từ trước tới nay Phương pháp này là những bảng biểu được thiết kế sẵn do người điều tra thiết kế theo các mục đích sử dụng và phân tích sau này Phương pháp thống kê cũng rất đa dạng về mẫu biểu và các số liệu sẽ điền vào đó Đối với mỗi nhóm chỉ tiêu cần điều tra thông thường sẽ được thiết kế thành một bảng ví dụ như thống kê về tên công trình, số lượng các công trình, số lượng các loại cống, thời điểm xây dựng và hiện trạng của loại công trình, thống kê về nhân lực, dân số, giới
Trang 22Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
tính, trình độ học vấn cán bộ, các bảng thống kê về tình hình tài chính, cân đối thu chi cũng như các bảng thống kê nguồn vốn sử dụng cho công tác bảo dưỡng công trình Hoặc các bảng thống kê về diện tích, năng suất cũng như hiện trạng sử dụng đất là những tài liệu cơ bản bao giờ cũng đi kèm với điều tra thuỷ lợi, các bảng này
có thể là bảng tự thiết kế của người điều tra hoặc là những bảng số thống kê của các đơn vị quản lý, thống kê địa phương Các số liệu thu thập được theo phương pháp này đều là các số liệu thô mà rất cần sự phân tích sử dụng của người điều tra cũng như cơ quan quản lý Phương pháp thống kê này còn có tính kế thừa, luỹ tích các tài liệu như các số liệu về mực nước, lưu lượng cũng như các tài liệu quan trắc thống
kê khí tượng thuỷ văn hoặc chất lượng nguồn nước
+ Phương pháp điều tra phỏng vấn theo bảng câu hỏi được lập sẵn, đây là cách mà các chuyên gia trong nước tiếp thu những kinh nghiệm của bạn bè quốc tế và có điều chỉnh hoặc cải tiến cho phù hợp với điều kiện cụ thể từng mục tiêu điều tra trong nước ở những năm gần đây Người điều tra thiết kế hệ thống các câu hỏi dựa theo các mục tiêu số liệu thu thập và được cơ quan chủ quản thông qua Đây là phương pháp hay
sử dụng nhất để thu thập đánh giá về kinh tế xã hội, thu nhập, hoặc một số số liệu liên quan đến môi trường, kinh tế xã hội và những sự chính kiến của người dân hoặc các nhà quản lý nằm trong vùng điều tra Số liệu điều tra được cũng là các tài liệu thô và được các chuyên gia phân tích và đưa ra các số liệu đánh giá
+ Phương pháp khảo sát, đo đạc thực địa: là phương pháp thường dùng để tiến hành khảo sát đo đạc các thông số kỹ thuật của hệ thống như đo đạc hiệu suất dẫn nước của hệ thống kênh mương, đo đạc hiệu suất của các thiết bị và tiêu thu điện năng, dầu mỡ, kiểm tra hiệu suất thực tế của máy bơm,… Kết quả của phương pháp này là những thông số kỹ thuật đánh giá tính trạng hoạt động của các thiết bị hoặc tình trạng tổn thất nước, chiếm đất của hệ thống kênh mương, thấm qua thân đập đất, khảo sát ẩn hoạ của sinh vật đối với hệ thống các công trình Qua điều tra các thông số này các nhà điều tra và quản lý làm cơ sở cho giải pháp nâng cấp, khắc phục và thường phục vụ cho các dự án đầu tư nâng cấp và quản lý cũng như nghiên cứu khoa học
Trang 23Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
+ Phương pháp lấy mẫu và phân tích thông thường được sử dụng để điều tra chất lượng môi trường vùng hệ thống Mẫu sẽ được thiết kế về vị trí, số lượng, thời gian, không gian, chủng loại (nước, đất) để phục vụ công tác phân tích và đánh giá
so sánh Tài liệu phân tích sẽ là số liệu gốc về tình trạng môi trường hoặc xu hướng diễn biến chất lượng nguồn đất, nước của hệ thống theo không gian và thời gian
+ Phương pháp tổ chức họp tư vấn cộng đồng có sự tham gia của các đơn vị quản lý và người dùng nước: đây là phương pháp thường được dùng để điều tra về tính phù hợp của các cơ chế chính sách, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng để có các điều chỉnh về chính sách đầu tư, cơ chế quản lý và phân chia lợi nhuận cũng như trách nhiệm của người dân trong vùng hệ thống phụ trách Phương pháp này hiện nay được các nhà đầu tư quan tâm thực hiện như là một phần của công việc thực hiện dự án Với mục têu dự án là xoá đói giảm nghèo, chuyển giao công nghệ, chuyển giao toàn bộ hoặc một phần công trình hay hệ thống cho những người sử dụng nước tham gia quản lý, vận hành Và như vậy, người dân trong vùng
hệ thống sẽ có trách nhiệm trong công tác bảo vệ, duy tu bảo dưỡng công trình, đảm bảo tính bền vững của công trình
+ Phương pháp điều tra theo mẫu biểu (Form) của một phần mềm đã được thiết kế sẵn: Hiện nay, việc ứng dụng các công nghệ thông tin trong các lĩnh vực quản lý diễn ra rất mạnh mẽ từ trung ương tới các địa phương Với sự trợ giúp của công cụ máy tính và các phần mềm hỗ trợ người điều tra có thể tiến hành thiết kế các phần mềm quản lý riêng áp dựng cho từng đối tượng quản lý và thiết kế nội dung các thông tin sẽ đưa vào lưu trữ Các mẫu biểu sẽ được in ấn và mang đi thực địa để điều tra, kết quả điều tra sẽ được nhập, lưu trữ, phân tích theo các mục đích
sử dụng của người quản lý và đặc biệt quan trong trọng công tác quản lý là cập nhật các thông tin điều tra Cụ thể ứng dụng phương pháp này đã được tiến hành đối với điều tra hiện trạng khai thác nước ngầm vùng Tây Nguyên phục vụ cho công tác quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước ngầm và phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên Phần mềm Quản lý tài sản hệ thống thuỷ lợi của Trường Đại Học Menbuốc, Ôxtrâylia được thử nghiệm quản lý dữ liệu cơ bản về tài sản cho một số
Trang 24Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
hệ thống thuỷ lợi Củ Chi, Đan Hoài, La Khê Và hiện nay, Tổ chức nông lương thế giới (FAO) và Trung tâm đào tạo và nghiên cứu tưới (ITRC) Trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật California (Cal Poly) San Louis Obispo, California, USA 93407 tháng
9 năm 2001 đã thiết kế và giới thiệu phần mềm đánh giá hệ thống thuỷ lợi theo các tiêu chí công trình hiện đại (RAP), phầm mềm này đã được tổ chức FAO và ngân hàng thế giới (WB) giới thiệu và ứng dụng để đánh giá hệ thống thuỷ lợi của nhiều nước trên thế giới và khu vực như Australia, Thái Lan, Malaysia, Indonexia, Trung Quốc, ấn Độ, Srilanka … và cũng đã giới thiệu tại Việt Nam thông qua hai khoá hội thảo đào tạo tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2002 dưới sự tài trợ của
WB Các học viên được tham gia hai khoá đào tạo đã đi đánh giá thực tế ở hai hệ thống thuỷ nông lớn là Cấm Sơn - Cầu Sơn tỉnh Bắc Giang và hệ thống thuỷ lợi hồ Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh, và hiện nay hai hệ thống này đã được WB và Bộ NN&PTNT đưa vào chương trình nâng cấp hiện đại hoá trong khuôn khổ Dự án hỗ trợ Thuỷ lợi Việt Nam (WRAP) và sẽ triển khai các năm 2004
+ Phương pháp chuyên gia: Đây là phương pháp thường được quốc tế sử dụng để đánh giá nhiều trong các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và môi trường Phương pháp này dựa theo trình độ của các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao
về lĩnh vực khoa học chuyên ngành và có nhiều kinh nghiệm thực tế để đánh giá trên cơ sở định tính hoặc kết quả định lượng bằng các chỉ tiêu cụ thể Phương pháp
này cũng được tổ chức FAO giới thiệu và sử trong việc đánh giá một số chỉ tiêu thực địa dựa trong phần mềm Chương trình Đánh giá nhanh (RAP) ở trong nước hiện nay phương pháp này cũng được sử dụng tương đối rộng rãi trong các lĩnh vực đánh giá tác động môi trường, đánh giá các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội …
1.2.4 Nhận xét đánh giá:
1 Phát triển thuỷ lợi ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng khâm phục Hàng ngàn công trình thuỷ lợi lớn nhỏ đã được xây dựng Đó là kết quả đầu tư rất lớn về công sức và tiền của của Nhà nước cũng như của người dân qua nhiều thập kỷ
2 Các công trình được xây dựng ở những vùng khác nhau, thời điểm khác
Trang 25Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
nhau, điều kiện kinh tế, kỹ thuật và tài chính khác nhau do đó hiệu quả của các hệ thống này cũng khác nhau Điều này dẫn tới sự cần thiết phải nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông nhằm có các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
3 Một số tác giả đã đề nghị các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông, tuy nhiên mục tiêu đánh giá chưa đạt tính tổng quát vì mới chỉ giải quyết được mức độ đạt được so với yêu cầu đặt ra của từng công trình mà chưa quan tâm đến việc so sánh hiệu quả giữa các hệ thống với nhau
4 Các chỉ tiêu đánh giá còn nặng về hiệu quả kinh tế mà chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả mang tính công bằng, tính hợp lý trong phân phối nước, hiệu quả xã hội, môi trường
5 Nếu nhìn từ góc độ của thế giới thì có thể nói đến nay chúng ta chưa có một nghiên cứu nào toàn diện và đầy đủ về hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông Có nghĩa là đi từ khái niệm đến nội dung, từ các chỉ tiêu đến phương pháp đánh giá và thu thập số liệu cho đến tổ chức đánh giá
6 Nghiên cứu xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông mang tính tổng quát trên quan điểm hệ thống là cần thiết
Trang 26Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC
CTTL TẠI VIỆT NAM 2.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC CTTL LỢI HIỆN NAY
2.1.1 Hệ thống cơ cấu tổ chức và cơ chế chính sách
Tổ chức QLKTCTTL gồm 2 nội dung chính: Quản lý nhà nước và quản lý khai thác Quản lý nhà nước quy định tại chương IV điều 30 của pháp lệnh khai thác
và bảo vệ công trình thủy lợi như sau:
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
2 Bộ nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình
3 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ có trách nhiệm phối hợp với bộ nông nghiệp và PTNT thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo
vệ công trình thủy lợi theo sự phân công của chính phủ
4 Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo
vệ CTTL địa phương theo sự phân cấp của chính phủ
Quản lý khai thác : Đối vơi hệ thống công trình thủy lợi phục vụ nhiều tỉnh thành lập công ty QLKTCTTL trực thuộc bộ NN & PTNT Với hệ thống công trình thủy lợi phục vụ trong phạm vi một tỉnh thành lập công ty KTCTTL trực thuộc Sở NN&PTNT
Cùng với các cơ quan quản lý nhà nước, quá trình phát triển thuỷ lợi trong những năm qua đã hình thành 2 khu vực quản lý vận hành các công trình thuỷ lợi : Khu vực các doanh nghiệp nhà nước quản lý các hệ thống lớn bao gồm các công trình đầu mối, trục dẫn chính và các kênh đến xã Khu vực nông dân tự quản lý các công trình nhỏ và hệ thống kênh mương trong nội bộ xã
Đến nay, cả nước có 172 doanh nghiệp nhà nước với gần 20000 cán bộ công nhân, trong đó có 1800 cán bộ đại học và trên đại học Những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thuỷ lợi đã cố gắng trên cả 3 nội dung của
Trang 27Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
công tác quản lý là quản lý công trình, quản lý nước và quản lý kinh tế Nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều rơi vào tình trạng tài chính khó khăn, công trình xuống cấp, đời sống của người lao động thấp dẫn đến hiệu quả khai thác chưa cao
Khu vực nông dân tự quản, trước đây khi còn các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, các hợp tác xã đều có các đội thuỷ nông chuyên trách làm nhiệm vụ dẫn nước và sửa chữa công trình trong phạm vi hợp tác xã Các đội thuỷ nông phối hợp
với các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi thành mạng lưới khép kín từ đầu mối đến mặt ruộng Sau khi chuyển đổi cơ chế, người nông dân tự chủ sản xuất kinh doanh trên ruộng đất được giao quyền sử dụng Các đội thuỷ nông thuộc các hợp tác
xã nông nghiệp cũ gần như tan rã Do nhu cầu tất yếu phải có sự hợp tác với nhau của những hộ cùng hưởng nước từ một con kênh, ở nhiều nơi nông dân tự tổ chức nhau lại dưới nhiều hình thức như: Hợp tác xã dùng nước, hiệp hội dùng nước, tổ đường nước, ban quản lý công trình… Có nơi, nông dân đứng ra nhận khoán chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý vận hành hệ thống trên mặt ruộng Nhìn chung tổ chức dùng nước cơ sở hiện nay còn lúng túng cũng hạn chế hiệu quả của các công trình thuỷ lợi
Về cơ chế chính sách trong quản lý vận hành, cùng với pháp lệnh khai thác
và bảo vệ công trình thủy lợi đã có nghị định về thuỷ lợi phí 112/HĐBT, Nghị định 56/CP về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, thông tư liên tịch 90/TCNN hướng dẫn chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi…Nhưng cơ chế tài chính của các doanh nghiệp vẫn không đảm bảo Hầu hết các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi đều rơi vào tình trạng thu không đủ chi, nhưng việc cấp bù thực hiện không đầy đủ Ở những địa phương quan tâm và khả năng ngân sách khá việc cấp bù chỉ được một phần Ở những địa phương khó khăn việc cấp bù không được thường xuyên Theo tính toán, muốn đảm bảo hệ thống các công trình không xuống cấp, an toàn và hiệu quả hàng năm cần 1200-1500 tỷ để duy tu bảo dưỡng và quản lý Trong khi nguồn thu từ thuỷ lợi phí chỉ đạt 350-400 tỷ
và ngân sách hỗ trợ khoảng 100 tỷ như vậy mới đảm bảo khoảng 40% yêu cầu chi phí hợp lý Đặc biệt ngày 22/10/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số
Trang 28Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
154/2007/NĐ-CP: chính thức bắt đầu miễn giảm thủy lợi phí từ 1/1/2008 trên toàn quốc đặt ra rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, duy tu bảo dưỡng CTTL
Hàng năm nguồn vốn Nhà nước đầu tư nâng cấp sửa chữa, nâng cấp, khôi phục lớn như vậynhưng kết quả đạt được về tưới tiêu vẫn chưa tương xứng với đầu
tư Theo tài liệu điều tra thì bình quân cả nước các hệ thống thuỷ lợi mới đảm bảo tưới ổn định 50÷60% so với thiết kế Trong đó có hệ thống mới đảm bảo tưới 25÷30% diện tích thiết kế (chủ yếu là các hệ thống thuỷ lợi nhỏ), hầu hết các hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn đảm bảo tưới 90÷100% diện tích, nhưng phải có các biện pháp khác hỗ trợ nên đã làm cho chi phí quản lý tăng lên, nhất là vùng cuối kênh
Theo các tài liệu điều tra trên tuyến kênh liên xã thì các xã đầu kênh sử dụng nước lãng phí gấp 5–10 lần so với thiết kế, nên khoảng 50-70 % diện tích của các xã giữa kênh và khoảng 90–100 % diện tích của các xã cuối kênh thiếu nước Đã dẫn đến tình trạng chi phí phục vụ cho tưới đối với diện tích của các xã cuối kênh tăng lên đáng kể (chi phí tăng 1,64-2 lần) Do chất lượng tưới kém nên năng suất giảm 1,55-2 lần so với các xã đầu kênh, đặc biệt là xung đột thường xảy ra giữa các xã do tranh chấp nước và công trình xuống cấp nhanh hơn
2.1.2 Quảnn lý, khai thác công trình thuỷ lợi đa mục tiêu
Ở Việt Nam, trong những năm trước đây thuộc thế kỷ trước các công trình thủy lợi được xây dựng chủ yếu phục vụ tưới, tiêu cho các loại cây trồng vì điều kiện kinh tế nông thôn trước đây, ngành trồng trọt là chính yếu nhất Tuy nhiên trong thực tế quản lý khai thác ngoài nhiệm vụ cấp thoát nước cho cây trồng, mà trước yêu cầu tự nhiên, cấp bách của phát triển kinh tế xã hội và đời sống, các hệ thống thủy lợi đã kết hợp cấp thoát nước cho các ngành khác: Cấp thoát nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, du lịch, thương mại, công nghiệp và dịch vụ,…
Mặc dù đã được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy lợi trong các năm qua, trong đó đã bước đầu chú ý xây dựng một số CTTL phục vụ nhiều đối tượng dùng nước như các hồ chứa kết hợp cấp nước tưới với nuôi trồng thủy sản , cấp nước sinh hoạt , du lịch (các CTTL hồ chứa Núi Cốc , Dầu Tiếng, Đại Lải , Xạ Hương , Đồng Mô , Suối Hai , Yên Lập , Tràng Kênh, Tà
Trang 29Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Keo, Tuyền Lâm, Suối Vàng,…) Một số CTTL tưới nước kết hợp phát điện, cấp nước cho công nghiệp, chăn nuôi (Hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần, hồ Tà Keo, hồ Núi Cốc, đập Cầu Sơn, Liễn Sơn, 19 tháng 5 Yên Bái, Ngòi Là Tuyên Quang…), nhưng
do nhiều khó khăn về xã hội, kinh tế nên vẫn còn thiếu nhiều các công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu được quy hoạch, thiết kế ngay từ đầu, ngay cả các công trình
đã được xây dựng cũng phát huy hiệu quả rất kém
Thực tiễn ở nước ta đã chứng minh và khẳng định hướng khai thác tổng hợp kinh doanh dịch vụ tổng hợp CTTL là đúng đắn, khả thi để nâng cao hiệu quả, tính bền vững của CTTL Từ nhiều năm qua Việt Nam đã thực hiện chiến lược Quản lý tổng hợp tài nguyên nước , sử dụng nguồn nước đa mục tiêu thông qua các công trình thuỷ lợi cấp, thoát nước cho phát triển nông nghiệp (vốn chiếm gần 80% tổng các yêu cầu dùng nước ở nước ta) và các ngành kinh tế - xã hội khác
2.1.3 Quản lý tưới có sự tham gia của người dân
Một thực trạng đang diễn ra là các công trình thuỷ lợi nhỏ phạm vi thôn, xã, liên xã, nhất là nhiều công trình thuỷ lợi ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn bị bỏ ngỏ, chưa có chủ quản lý thực sự, do chưa có sự phân công, phân cấp, có cơ chế chính sách phù hợp, thiếu vốn duy tu bảo dưỡng, đang trong tình trạng xuống cấp phát huy hiệu quả thấp, thậm chí có công trình đã bị huỷ liệt
Trước tình hình trên một số địa phương đã củng cố tổ chức thuỷ nông cơ sở chuyển giao cho nông dân quản lý công trình trên địa bàn của họ (IMT), thực hiện
xã hội hoá về thuỷ lợi, phát huy được vai trò của người dân tham gia quản lý công trình thuỷ lợi (PIM) hiệu quả
Thực tế đang diễn ra là một số ít tỉnh hầu hết công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh do tổ chức hợp tác của dân quản lý Kết quả đạt được đã cho thấy: đối với công trình thuỷ lợi có quy mô nhỏ, kể cả cấp kênh xã, liên xã thuộc các hệ thống thuỷ lợi vừa
và lớn khi giao quyền quản lý cho tổ chức của nông dân, sẽ phát huy hiệu quả cao hơn
Từ thực tế ở Việt nam và từ các đặc điểm chủ yếu của công trình thuỷ lợi là: nằm rải rác trên diện rộng, thường xuyên chịu tác động phá hoại của thiên nhiên, con người và khi bị hỏng phải sửa chữa tốn kém, Chính phủ không thể đảm đương
Trang 30Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
hết công việc duy tu, bảo dưỡng (O&M) đến tận cánh đồng, mỗi hộ nông dân không thể giải quyết được vấn đề nước tưới tiêu mà phải dựa vào cộng đồng tập thể (PIM), Nhà nước
Vì vậy có thể khẳng định là không thể thiếu vai trò của người dân tham gia O&M (PIM) và PIM được coi là một giải pháp hữu hiệu nhất để phát huy tối đa năng lực của công trình thuỷ lợi một cách bền vững
PIM thực sự chia sẻ trách nhiệm đầu tư thuỷ lợi cho người dân, giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của người dân trong O&M đối với
hệ thống thuỷ lợi, góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống thể hiện cả về số lượng, chất lượng, thể hiện ở giá thành thấp
2.1.4 Hiện trạng hiệu quả tưới
Sử dụng nước cho nông nghiệp là một thành phần chính dẫn đến an ninh lương thực và đưa hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo Tưới là hộ sử dụng nước lớn nhất, khai thác nước cho tới nay vượt quá 66.000 triệu m3/năm, chiếm trên 80% tổng sử dụng nước ước tính Tổng diện tích được tưới là 8,34 triệu ha năm 2007 trong tổng diện tích canh tác là 9,7 triệu ha Hiện nay có 110 công ty thủy nông,
trong những năm gần đây hiệu quả thủy lợi nói chung và hiệu quả tưới nói riêng đã đạt được các kết quả sau:
+ Tạo điều kiện thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích canh tác, tạo tiền đề trực tiếp giải quyết các vấn đề cấp bách hiện nay ở Việt Nam là đảm bảo một cách
ổn định nhu cầu thiết yếu về lương thực, thựa phẩm, tạo điều kiện phát huy có hiệu quả sức lao động còn dồi dào ở từng địa phương
+ Tăng tính ổn định trong sản xuất nông nghiệp trong một chu kỳ mấy năm liên tiếp
+ Bảo vệ thường xuyên cho nhân dân và nền kinh tế không bị ngập lụt tàn phá, uy hiếp cả tính mạng con người
+ Thủy lợi hóa là nội dung chủ yếu hiện nay của Đảng và Nhà nước ta góp phần thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn và đóng vai trò tích cực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Trang 31Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
+ Hiệu quả thủy lợi còn phải tính đến tác dụng góp phần xây dựng và ổn định nông thôn mới XHCN
+ Theo kết quả nghiên cứu của Viện quy hoạch nông nghiệp thì đất ở đồng bằng sông Hồng đã cải tạo tốt hơn, diện tích đất mặn và chua đã giảm so với năm
1960 nhờ công trình tưới tiêu cải tạo đất
+ Ở đồng bằng sông Cửu long công trình thủy lợi đã góp phần ngăn mặn, thau chua, xổ phèn mở rộng diện tích ngọt hóa phát triển sản xuất nông nghiệp + Kết quả thủy lợi đã làm giá trị đất sản xuất nông nghiệp góp phần không nhỏ trong việc bố trí lại dân cư trong vùng và cả trong nước Bộ mặt nông thôn ở ĐBSCL có thay đổi lớn, giao thông thủy, bộ mở rộng cảnh quan môi trường được cải thiện góp phần thúc đẩy chương trình nước sinh hoạt nông thôn
* Các hiệu quả có thể định lượng được
- Đối với nông nghiệp: Yếu tố thủy lợi khôn chỉ tác dụng trực tiếp làm tăng năng suất cây trồng mà còn làm tăng lợi ích của phân bón và tất cả các biện pháp khác Vì vậy không mang tính hiệu quả của nước đơn thuần, mà là biện pháp tổng hợp bằng sự điều tiết, chế ngự, cung cấp và tiêu thoát nước cho phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của từng loại cây
- Theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì yếu tố thủy lợi tác động làm tăng năng suất lúa từ 16 - 35 %
- Chỉ số quay vòng ruộng đất sau khi có công trình thủy lợi đã tăng từ 1,3 lên
2 - 2,2 lần ặc biệt có nơi tăng 2,4 - 2,7 lần góp phần tăng sản lượng lương thực 16
triệu tấn năm 1986 lên 40 triệu tấn năm 2010, tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu người, tạo ra một thị trường tiêu thụ hết sức lớn thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển
- Thủy lợi góp phần giải phóng sức lao động đối với nông dân trong sản xuất như: giảm được công vận chuyển, công chăm sóc, công tát nước ( bình quân vụ Đông Xuân hàng năm ở vùng bơm điện mỗi ha được tưới giảm được từ 50 - 100 công tát nước
Trang 32Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Thủy lợi là biện pháp làm tốt đất: Một số kết quả nghiên cứu cho thấy nhờ
có thủy lợi làm tăng độ xốp của đất từ 43 - 47%, trị số pH tăng 0,1 - 1 đơn vị nên
độ chua trong đất giảm.Trên đất mặn, độ xốp tăng từ 31 - 45%, tổng số muối tan giảm 1,18%, yếu tố dinh dưỡng dễ tiêu tăng 0,6mg trong 100g đất
- Thủy lợi kết hợp phát điện bình quân 30 triệu KWh/năm, chiếm 20% tổng sản lượng điện
- Kết hợp giao thông thủy, bộ nhờ có hàng ngàn km kênh và bờ kênh
- Công trình hồ chứa có tác dụng chứa nước mùa mưa làm giảm lũ, cắt lũ cho
hạ du Tổng diện tích trữ nước trên 23 tỷ m3 chiếm hơn 70% tổng lượng nước phát sinh trên lãnh thổ, trong đó dùng 5,5 tỷ cho tưới, số còn lại dùng cho phát điện và cắt lũ
- Xóa đói giảm nghèo, có lương thực cho đồng bào vùng cao, tạo điều kiện hạn chế nạn phá rừng đầu nguồn
- Nuôi trồng thủy sản: Có khoảng gần 300 hồ có thể nuôi cá được với gần 200.000 ha mặt thoáng, hàng năm có khả năng cung cấp hàng ngàn tấn cá thịt
- Nước phục vụ sinh họat và công nghiệp: Các hệ thống thủy lợi đã cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho phần lớn dân cư nông thôn nhất là trong mùa khô Với 80% dân số sống ở nông thôn, hầu hết các hệ thống thủy lợi đều tạo nguồn nước sinh hoạt trực tiếp cho dân hoặc nâng cao mực nước ngầm tại các giếng đào Ngay ở miền núi, đồng bào sống khá phân tán, những nơi đảm bảo nguồn nước sinh hoạt vững chắc là những nơi có hệ thống thủy lợi đi qua Những công trình thủy lợi tạo nguồn nước điển hình như: Dầu Tiếng, Sông Quao, Nam Thạch Hãn, Các công trình thuỷ lợi đã trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp nước cho phát triển công nghiệp , tiểu công nghiệp , các làng nghề ở nông thôn , khu công nghiệp nhỏ tại các tỉnh Bắc Ninh, Thái Bình , Hà Nam, Nam Định , Vĩnh Phúc , Hà Nội , Hải Phòng
* Hiệu quả không định lượng
- Góp phần cải tạo môi trường, môi sinh nhất là những vùng ngập úng, chua phèn quanh năm, giảm các loại bệnh tật bằng cách tăng độ ẩm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn mặn, cải tạo môi trường, phòng chống cháy rừng,
Trang 33Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Thủy lợi kết hợp với phát triển du lịch nhỏ tạo ra được các khu nghỉ mát hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế như: Đại Lải, Đồng Mô, Hồ Xuân Hương,
- Phát triển xây dựng nông thôn: Thủy lợi là biện pháp hết sức hiệu quả đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ, ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới
Mặc dù hiệu quả to lớn mà các hệ thống tưới mang lại là không thể phủ nhận nhưng theo nhiều tài liệu nghiên cứu các hệ thống tưới nước ta vẫn chưa phát huy hết được năng lực thiết kế, hiệu quả tưới mới chỉ khai thác được 60 - 65% Cá biệt
có công trình mới khai thác được trên 30% năng lực Bộ Nông nghiệp & PTNT có chủ trương trong những năm tới chỉ đạo các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nâng cao hiệu quả công trình thêm 20% bằng các biện pháp công trình cùng với củng cố tổ chức quản lý từ các công ty QLKTCTTL đến cơ sở
2.2 NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA HỆ THỐNG BẮC HƯNG HẢI 2.2.1 Giới thiệu về hệ thống
Hệ thống Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 con sông lớn như Hình 2.1 :
- Sông Đuống ở phía Bắc với độ dài phần chảy qua hệ thống là 67km;
Trang 34Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Hình 2.1: Bản đồ phân vùng thuỷ lợi HTTL Bắc Hưng Hải
Trang 35Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Sông Luộc ở phía Nam với độ dài phần chảy qua hệ thống là 72km;
- Sông Thái Bình ở phía Đông với độ dài phần chảy qua hệ thống là 73km;
- Sông Hồng ở phía Tây với độ dài phần chảy qua hệ thống là 57km
Diện tích phần trong đê là 185.600 ha; diện tích đất canh tác toàn hệ thống khoảng 150.200 ha bao gồm đất đai của toàn bộ tỉnh Hưng Yên (10 huyện), 7 huyện thị của Hải Dương, 3 huyện của tỉnh Bắc Ninh và 2 quận, huyện của thành phố Hà Nội
2.2.1 2 Đặc điểm địa hình khu vực:
Địa hình có xu hướng dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam hình thành 3 vực chính:
Vùng ven sông Hồng , sông Đuống cao độ phổ biến (+4,0), chỗ cao nhất +8
÷ +9 Thành phần gồm: đất pha cát, đất thịt nhẹ, ít chua, đất thấm nước cao, mực nước ngầm nằm sâu.Vùng trung tâm với cao độ +2,0m đến +2,5m; Vùng ven sông Luộc, Sông Thái Bình, cao độ phổ biến + 1,0 đến + 1,5 Nơi thấp nhất +0,5, đất chua, nước ngầm nằm cao
2.2.1 3 Đặc điểm khí tượng
+ Đặc điểm về khí hậu:
+ Mưa: Lưu vực Bắc Hưng Hải nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy
không giáp với biển nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của khí hậu miền duyên hải, hàng năm chia hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều Mùa đông lạnh, ít mưa từ tháng 11 đến tháng 3
Chế độ mưa không những biến động về thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, mà cũng rất mạnh mẽ về lượng mưa Năm mưa nhiều lượng mưa lớn gấp 3 lần năm mưa ít.Lượng mưa một ngày lớn nhất đó đo được tại một số vị trí trong vùng như sau: Gia Lâm 404 mm, Thuận Thành 204.2, Văn Giang 248, Thanh Miện
330, Tứ Kỳ 410, Hải Dương 288, Ân Thi 318, Hưng Yên 377,9 mm, Bần 281,1
mm Trong các tháng mùa mưa, nhất là tháng 7 và 8 thường có những đợt mưa kéo dài 3, 5, 7, 10 ngày hoặc hơn nữa, sinh ra lũ lớn và úng lụt nghiêm trọng như các năm 1963, 1968, 1971, 1973, 1979, 1996
Trang 36Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Nhiệt độ: Lượng bức xạ ở trong vùng dồi dào, nhiệt độ cao, nhiệt động
trung bình năm 23,3 0C và khá đồng nhất trên địa bàn toàn vùng, phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp quanh năm, tuy nhiên do sự chi phối mạnh mẽ của hoàn lưu cực đới nên hàng năm nhiệt độ tại Trong vùng phân hoá thành hai mùa có tính chất khác hẳn nhau: Mùa hè nóng, nhiệt độ trung bình ổn định trên 25 0C, mùa đông rét lạnh, nhiệt độ trung bình dưới 20 0C
- Độ ẩm: Khí hậu ở đây khá ẩm ướt, độ ẩm tương đối trung bình năm vượt
quá 80% Ban ngày độ ẩm thấp, đêm cao, giá trị lớn nhất tại thời điểm 4 ÷ 6 giờ sáng, nhỏ nhất tại thời điểm 12 ÷ 15 giờ
- Bốc hơi:Lượng bốc hơi Piche trung bình nhiều năm đạt 992 mm tại Hải
Dương, 884 mm tại Hưng Yên, 1.000 mm tại Hà Nội Tháng 7 có lượng bốc hơi tháng trung bỡnh lớn nhất đạt 110 mm tại Hải Dương, 96,0 mm tại Hưng Yên, 121 mm tại
Hà Nội Tháng 3 có khí hậu ẩm ướt mưa phùn, lượng bốc hơi tháng trung bỡnh đạt nhỏ nhất 53,0 mm tại Hải Dương, 50 mm tại Hưng Yên, 56,2 mm tại Hà Nội
- Nắng: Số giờ nắng trung bỡnh năm đạt 1.623 giờ tại Hải Dương, 1.473 giờ
tại Hưng Yên, 1.589 giờ tại Hà Nội Tháng 2, 3 có số giờ nắng trung bình tháng nhỏ nhất trong năm, tháng 2, 3 đạt từ 42 đến 48 giờ Tháng 7 có số giờ nắng bình tháng cao nhất đạt 198 giờ tại Hải Dương, 177 giờ tại Hưng Yên, 193 giờ tại Hà Nội
- Gió: Hướng gió trong một năm biến đổi và thể hiện theo mùa của hoàn lưu Các tháng giữa mùa đông, gió có thành phần Bắc (Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc) chiếm tần suất từ 40 ÷ 65%, trong đó hướng Bắc xuất hiện nhiều hơn cả Tốc độ gió thay đổi phụ thuộc nhiều vào độ cao và khoảng cách đối với biển Hàng năm tốc độ gió mạnh trung bình đạt từ 30 - 35m/s tập trung trong mùa bão (tháng 7, 8, 9)
2.2.1 4 Mạng lưới sông ngòi
Hệ thống Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 con sông lớn là: Sông Đuống ở phía Bắc, Sông Luộc ở phía Nam, Sông Thái Bình ở phía Đông và Sông Hồng ở phía Tây
Các sông nội đồng: Kim Sơn, Cửu An, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt là các trục tưới tiêu rất quan trọng trong hệ thống tưới tiêu của hệ thống
Trang 37Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
- Sông Kim Sơn: hay còn gọi là sông Chính Bắc, từ cống Xuân Quan đến
Âu thuyền Cầu Cất (dài 62,3km) là trục dẫn nước tưới chính cho hệ thống và cùng với sông Đĩnh Đào là trục tiêu Chính phía Bắc cho hệ thống Bắc Hưng Hải
- Sông Điện Biên (dài 15,7km): là đoạn sông từ cống Lực Điền đến cửa thị
xã Hưng Yên, dài 25 km là sông dẫn nước chủ yếu cho tiểu khu Tây Nam Cửu An lấy nước của sông Kim Sơn qua cống Lực Điền
- Sông Tây Kẻ Sặt (dài 12,7km): Là con sông khá rộng và sâu nối sông Kim
Sơn với sông Cửu An Là con sông dẫn nước tưới quan trọng, lấy nước từ sông Kim Sơn qua cống Tranh tưới cho tiểu Khu Bình Giang- Bắc Thanh Miện, Đông Nam Cửu An và một phần tiểu khu Tây Nam Cửu An
- Sông Đình Đào (dài 44,7km): đoạn sông từ Bá Thuỷ đến Ngọc Lâm dài
33km Là con sông nối sông Kim Sơn với Cửu An, vai trũ của sụng này cũng như sông Điện Biên và Tây Kẻ Sặt, là trục tiêu chính phía Bắc, tiêu nước từ sông Kim Sơn và sông Tràng Kỷ đổ vào dẫn xuống ngó ba Cự Lộc rồi đổ ra Cầu Xe, An Thổ
- Sông An thổ (dài 4,6km) là sông nhánh của sông Cửu An - Cầu Xe, nối
với sông Luộc, trên sông An Thổ có cống An Thổ với mục đích chính là tiêu nước thừa từ hệ thống Bắc hưng hải ra sông Luộc
- Sô ng Cửu An (dài 60,6km): Là sông chính Nam của hệ thống từ Sài Thị
đến Cự Lộc, là trục tiêu chính Nam hiện nay
- Sông Tràng K ỷ (dài 12,7km): Là sông tưới tiêu kết hợp, có nhiệm vụ dẫn
nước tưới cho phần phía Đông của tiểu khu Gia Thuận, một phần tiểu khu Bắc Kim Sơn và phần phía bắc của tiểu khu Cẩm Giàng
2.2.1.5 Điều kiện dân sinh kinh tế:
Vùng nghiên cứu nằm trong địa phận 4 tỉnh là Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh và Hà Nội Riêng tỉnh Hưng Yên nằm trọn trong hệ thống còn lại các tỉnh khác chỉ có một số huyện cụ thể như sau:
Mật độ dân số bình quân toàn vùng từ 1000 người /km2 đến 1200 người /km2, trong đó thành thị 2980 – 3800 người/km2, nông thôn là 1242 người/km2.Tỷ
lệ nam nữ trong vùng gần như tương đương nhau khoảng 50% Dân số ở thành thị
Trang 38Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
là 501.621 người, nông thôn là 2.207.743 người chiếm 82% dân số toàn vùng
Tốc độ tăng dân số: Những năm gần đây, hưởng ứng phong trào kế hoạch hoá gia đình của Đảng và nhà nước nên tỷ lệ sinh con thư 3 đã giảm đáng kể Theo thống kê thì tỷ lệ sinh trung bình toàn vùng là 1,4% - 1,7% đạt mức độ cho phép.Năm 2004 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là từ 0,9 – 1,3 đã giảm đáng kể so với những năm trước đây
Từ năm 2000 trở lại đây cơ cấu lao động của vùng Bắc Hưng Hải đã có nhiều thay đổi do chuyển đổi cơ cấu kinh tế Nhiều khu công nghiệp đã và đang được xây dựng dọc theo các trục đường 5 Hà Nội - Hải Dương, dọc đường 39 đi Hưng Yên, một số khu đô thị, thị trấn, thị tứ được mở rộng và nâng cấp đã thu hút một số lượng lớn lao động nông thôn thoát ly khỏi đồng ruộng Tuy có những biến động đó nhưng nhìn chung vùng nghiên cứu vẫn là vùng thuần nông, dân chủ yếu sống bằng nghề nông nên tỷ lệ giữa nông thôn và thành thị vẫn chênh nhau rất cao
Lứa tuổi trong độ tuổi lao động chiếm 53%, đây là lực lượng chủ yếu làm cho kinh tế vùng phát triển.Lực lượng tham gia trong các ngành Nông – Lâm nghiệp là 77%, Công nghiệp là 9,5 – 9,7%, Thương nghiệp là 3,6% còn lại là các ngành nghề khác.Người dân trong vùng có nhiêu kinh nghiệm và trình độ thâm canh sản xuất, có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, có truyền thống cần cù và năng động trong sản xuất-kinh doanh, hoà nhập tích cực vào cơ chế thị trường
2.2.2 Hiện trạng hệ thống công trình
2.2.2.1 Các công trình chính:
Các công trình chính trong hệ thống phần lớn được xây dựng vào các năm kháng chiến chống mỹ, điều kiện kỹ thuật cũng như các công nghệ vật liệu chưa phát triển Hơn thế nữa trong quá trình quản lý khai thác không có nhiều kinh phí
để cải tạo nâng cấp thường xuyên chống xuống cấp, chỉ tu sửa ở mức đảm bảo yêu cầu tối thiểu duy trì hoạt động bình thường Do vậy hầu hết các công trình trong hệ thống đã xuống cấp Cụ thể:
Trang 39Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
* Cụm đầu mối Xuân Quan - Báo Đáp:
+ Cống Báo Đáp:
Được xây dựng năm 1959, cách cống Xuân Quan 3km Nhiệm vụ để làm dâng mực nước sau hạ lưu Xuân Quan để đảm bảo an toàn cho cống Xuân Quan về mùa lũ Cống gồm 6 cửa lấy nước, kích thước bxh=5x4m và 1 cửa thông thuyền Khẩu độ thông thuỷ cống 35m, thân cống dài 9 m, đáy cống (- 0,5 m), mặt cầu (+ 7,25 m) Đã xuống cấp, hiện đang thực hiện xây dựng cống Báo Đáp mới
+ Cống Cầu Xe
Cống Cầu Xe xây dựng năm (1966-1969) làm nhiệm vụ ngăn triều tiêu úng cho hệ thống Bắc Hưng Hải với diện tích tiêu thiết kế 151600 ha kết hợp giao thống thủy Cống dài 12,5 m, rộng 56 m gồm 6 cửa tiêu và một cửa âu thuyền chiều rộng mỗi cửa là 8m, âu thuyền có kích thước 8 x 5,8m
Cống Cầu Xe được xây dựng trên nền đất yếu của vùng ảnh hưởng của thủy triều Cống bị xói nghiêm trọng cả thượng lưu và hạ lưu Vật tư xây dựng cống nhiều chủng loại Việc bơm cạn để kiểm tra rất khó khăn Đánh giá ổn định chưa chắc chắn Với hiện trạng như vậy không lường được hiểm họa có thể xẩy ra
+ Cống An Thổ
Cống xây dựng và hoàn thành năm 1977 Nhiệm vụ của cống: cùng với cống Câu Xe ngăn triều tiêu úng cho 151.600 ha của Băc Hưng hải, kết hợp giao thông thủy
Cống An Thổ là cống bê tông cốt thép và đá xây , cốmg dài 12 m, rộng 5 cửa
có bxh = 8x6 m, và một âu thông thuyền có kích thước b = 8m
Trang 40Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Cống được nâng cấp tu bổ vào năm 1999 Lắp đặt hệ thống xe thả phai và một bộ phai thép mới gồm 7 chiếc làm đường ray cho xe chạy
+ Cống Bảo Đập:
Cống xây dựng và hoàn thành năm 1959 là loại cống điều tiết và âu tàu, có nhiệm vụ kiểm soát mực nước thượng lưu và hạ lưu tại cống Xuân Quan, có 6 cửa với kích thước 5 x 4m, 1 âu tàu có kích thước; 3,5m x9m
* Các công trình tiêu:
+ Cống Cầu xe: Xây dựng năm 1969, gồm 7 cửa; mỗi cửa rộng 8,0 m (6 cửa
lấy nước và 1 cửa âu ) Đáy cống (-4,0); Đỉnh cống (mặt cầu giao thông) (+5,3) Nhiệm vụ tiêu cho diện tích lưu vực 151.600 ha Với P = 10%; Qtiêu = 360 m3
/s; Với P = 20%; Qtiêu = 230 m3/s; ngăn triều không cho nước sông ngoài vào lưu vực Bắc Hưng Hải, kết hợp giao thông thuỷ, bộ Công trình đã xuống cấp nghiêm trọng, hiện đang thực hiện xây dựng cống Cầu Xe mới
+ Cống An Thổ: Xây dựng năm 1977 cùng với cống Cầu Xe làm nhiệm vụ
ngăn triều tiêu thuỷ cho hệ thống Bắc Hưng Hải Cống gồm 6 cửa kích thước bxh=8x6m và 1 cửa âu tách riêng bề rộng B=8m Cửa cống bằng thép kiểu van phẳng 2 tầng đóng mở bằng tời 6 tấn
Hiện trạng: Các trụ pin 1,2,5 và tường ngực đã bị nứt chiều dài từ 1÷2m, chiều rộng 0.5mm; Kênh dẫn thượng và hạ lưu không bị xói, ngược lại hiện nay hàng năm thường bị bồi lắng nhiều, tốc độ bội lắng nhanh, ảnh hưởng đến dòng chảy và giao thông thủy
+ Trạm bơm Mi động: Xây dựng năm 1978, bơm tiêu úng cho 4000ha thuộc
2 huyện Thanh miện - Hải Dương và Phù cừ - Hưng yên Trạm có qui mô 10 máy bơm loại máy có Q= 7800 m3/h, công xuất 200KW
* Các công trình điều tiết trên kênh chính:
+ Cống Kênh Cầu: Xây dựng năm 1961, cống gồm 6 cửa kích thước bxh=
3,2x3,7m và 1 cửa thông thuyền bxh =5x8m Cánh cống bằng thép kiểu van phẳng
2 tầng đóng mở bằng tời 6 tấn Đã qua 40 năm vận hành không được đầu tư bằng