Bài giảng Lý thuyết thống kê - Bài 1: Tổng quan về thống kê kinh doanh được biên soạn nhằm cung cấp các kiến thức bao gồm khái niệm về thống kê kinh doanh, đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh doanh; xác định tổng thể thống kê, phân biệt các loại tổng thể thống kê; tiêu thức thống kê và chỉ tiêu thống kê; dữ liệu thống kê và các nguồn dữ liệu thống kê; điều tra thống kê.
Trang 1BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ THỐNG KÊ KINH DOANH
Hướng dẫn học
Bài này giới thiệu những nét khái quát về thống kê kinh doanh, đối tượng nghiên cứu của môn học cũng như các khái niệm cơ bản của môn học Ngoài ra, sinh viên cũng cần hiểu
và phân biệt được các loại thang đo trong thống kê, đặc điểm của từng loại cũng như liên
hệ được các loại thang đo đối với các đo lường trong thực tế Bên cạnh đó, sinh viên cần hiểu và phân biệt được các loại dữ liệu thống kê cũng như nguồn cung cấp dữ liệu đó Phân biệt được các loại điều tra thống kê nhằm thu thập dữ liệu và nhận biết được các nguyên nhân gây nên sai số trong điều tra thống kê
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu: Giáo trình Lý thuyết Thống kê, PGS TS Trần Thị Kim Thu chủ biên, NXB Đại học KTQD, 2012
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Bài này trình bày khái niệm về thống kê kinh doanh, đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh doanh cũng như các khái niệm thường dùng trong thống kê, trên cơ sở đó nhằm phân tích để xác định tổng thể thống kê, phân biệt tiêu thức thống kê và chỉ tiêu thống kê Ngoài
ra, bài học cũng giới thiệu các loại thang đo dùng để đo lường đối với các hiện tượng kinh
tế xã hội; các loại dữ liệu thống kê và một số vấn đề chung về điều tra thống kê
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
Trình bày được khái niệm về thống kê kinh doanh, đối tượng nghiên cứu của thống
kê kinh doanh
Xác định mục đích của việc xác định tổng thể thống kê, phân biệt các loại tổng thể thống kê
Phân biệt giữa tiêu thức thống kê và chỉ tiêu thống kê
Phân biệt được các loại thang đo, lấy ví dụ cho từng trường hợp
Phân biệt được các loại dữ liệu thống kê và các nguồn dữ liệu thống kê
Phân biệt được các loại điều tra thống kê
Phân biệt được các loại sai số trong điều tra thống kê
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Đánh giá mức độ hài lòng của người tiêu dùng với sản phẩm BB+cream
Trong năm qua, nhãn hàng Pond’s của Unilever đã tung ra sản phẩm mới là
kem dưỡng trắng da tạo nền BB+ cream giúp che phủ khuyết điểm, dưỡng
trắng dài lâu Sau một thời gian bán hàng rộng rãi trên nhiều kênh khác nhau,
nhãn hàng muốn thu thập thông tin về mức độ hài lòng cũng như mong muốn
của khách hàng với sản phẩm mới này nhằm có kế hoạch phát triển trong thời
gian tới
1 Hãng phải tìm thông tin đó ở đâu?
2 Thông tin cụ thể mà hãng muốn thu thập là gì?
3 Liệu hãng sẽ lựa chọn công cụ nào để đo lường các thông tin muốn thu thập?
4 Hãng phải dựa vào yếu tố nào để xây dựng kế hoạch phát triển cũng như ra các quyết định có liên quan?
Trang 3Thống kê là khoa học về thu thập, phân tích, trình bày và diễn giải dữ liệu Trong kinh
tế và quản trị kinh doanh những thông tin có được từ quá trình trên giúp cho nhà quản
lý và người ra quyết định có sự hiểu biết sâu sắc hơn về môi trường kinh tế và kinh doanh, từ đó đưa ra quyết định chính xác và tốt hơn Bài học này sẽ đề cập đến một số vấn đề chung về thống kê kinh doanh; nội dung và các khái niệm cơ bản thường dùng trong thống kê; các thang đo; các loại dữ liệu thống kê và một số vấn đề chung về điều tra thống kê
1.1 Một số vấn đề chung về thống kê kinh doanh
Thống kê đã được mô tả như là "khoa học về dữ liệu" Điều này bao gồm tất cả mọi hoạt động từ lập kế hoạch cho việc thu thập dữ liệu và quản lý dữ liệu cho đến đưa ra suy luận từ dữ liệu và trình bày kết quả
Thống kê kinh doanh là một môn học thuộc thống kê học, nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn trong lĩnh vực kinh doanh để tìm hiểu bản chất và tính qui luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Như vậy, có thể thấy, thống kê kinh doanh không phải
là khoa học nghiên cứu một phương pháp cụ thể nào
đó mà là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương
pháp được sử dụng để thu thập, xử lý và phân tích các
con số Những phương pháp này giúp cho chúng ta có
thể tìm ra những ý nghĩa thực tiễn ẩn đằng sau những
con số đó, làm cơ sở cho việc ra các quyết định nhất là
khi phải đối mặt với các tình huống không chắc chắn và được sử dụng trong nhiều ngành như phân tích tài chính, kiểm toán, quản lý chất lượng, nghiên cứu thị trường…
1.1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh doanh
Đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh doanh là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng số lớn thuộc lĩnh vực kinh doanh trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Xuất phát từ lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều có hai mặt chất và lượng Theo đó, mặt chất của hiện tượng là bản chất trừu tượng giúp ta phân biệt hiện tượng, sự vật đó với những hiện tượng, sự vật khác Mặt lượng là những biểu hiện bằng con số, nó cho biết bản chất cụ thể của của
sự vật, hiện tượng thông qua qui mô, khối lượng, trình độ phát triển và mối liên hệ giữa các bộ phận
Chẳng hạn, sau khi phân tích các thông tin về công ty A, bạn đánh giá là công ty A có tình hình tài chính tốt Ở đây, tốt là một biểu hiện về mặt chất, nó rất trừu tượng và chỉ được biểu hiện cụ thể qua các thông số của nó như doanh số, lợi nhuận, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn
Giữa hai mặt của hiện tượng bao giờ cũng tồn tại mối liên hệ mật thiết với nhau Bất
kỳ chất nào cũng được biểu hiện bằng một lượng cụ thể, lượng nào cũng là lượng của
Trang 4một chất xác định Chất của hiện tượng có tính ổn định tương đối còn lượng lại thường xuyên biến động Khi lượng thay đổi đến một mức nào đó thì chất sẽ thay đổi Chính vì vậy, thống kê chúng ta nghiên cứu mặt lượng nhưng không tách rời mặt chất
mà trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất
Tuy nhiên, mặt lượng, mặt chất ở đây không phải của một vài hiện tượng đơn lẻ mà phải của hiện tượng số lớn Vì theo qui luật số lớn, khi nghiên cứu một số đủ lớn các hiện tượng cá biệt thì các nhân tố ngẫu nhiên sẽ bị triệt tiêu làm bộc lộ nhân tố cơ bản, bản chất của hiện tượng
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của thống kê kinh
doanh là các hiện tượng số lớn trong lĩnh vực kinh
doanh, trong đó bao gồm nhiều đơn vị hoặc hiện tượng
cá biệt tạo thành Thông qua nghiên cứu một số đủ lớn
các đơn vị cá biệt này, chúng ta sẽ rút ra được kết luận
về bản chất, tính qui luật của sự vật, hiện tượng Kết
luận này có thể sẽ không đúng với từng hiện tượng cá
biệt, nhưng nó phản ánh đúng với toàn bộ hiện tượng
nghiên cứu
Nhưng liệu có phải thống kê chỉ nghiên cứu các hiện tượng số lớn hay không? Câu trả lời
là không Thống kê chủ yếu nghiên cứu hiện tượng số lớn, nhưng đôi khi thống kê còn nghiên cứu cả đơn vị, hiện tượng cá biệt, thường là những hiện tượng có tính chất điển hình tiên tiến hoặc điển hình lạc hậu nhằm rút ra bài học kinh nghiệm trong quản lý Trong điều kiện lịch sử khác nhau, các đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng của hiện tượng cũng khác nhau, nhất là với các hiện tượng kinh tế - xã hội Chẳng hạn, trình độ hiện đại hóa, một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động của người công nhân, thường rất khác nhau giữa các doanh nghiệp Ngay trong cùng một đơn vị, cũng có thể khác nhau giữa các giai đoạn, các thời kỳ Thậm chí, giữa các bộ phận trong cùng một đơn vị, nhiều khi cũng tồn tại những khác biệt đáng
kể Vì vậy, các con số về năng suất lao động của người công nhân trong từng doanh nghiệp, từng thời kỳ khác nhau cũng có ý nghĩa khác nhau Như vậy, khi sử dụng các
số liệu thống kê phải luôn gắn nó trong điều kiện thời gian, địa điểm cụ thể của hiện tượng mà số liệu phản ánh
Mục đích của việc nghiên cứu thống kê là nhằm tìm ra bản chất, tính qui luật của hiện tượng nghiên cứu Từ đó, chúng ta có nhận thức đúng đắn về hiện tượng được nghiên cứu để làm căn cứ cho các quyết định trong quản lý, đồng thời đề xuất được những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy hiện tượng phát triển theo đúng qui luật
Thống kê ra đời từ rất lâu và phát triển theo yêu cầu của xã hội Ngày nay, thống kê len lỏi trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời sống và thông tin thống kê trở thành một trong những nguồn lực vô giá để đánh giá bản chất và xu hướng phát triển của hiện tượng Thông tin thống kê cũng gợi mở cho người sử dụng các biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất tốt hơn hay dự kiến khả năng đạt được trong thời gian tới Bên cạnh đó, các con số thống kê có thể được sử dụng nhiều lần với nhiều mục tiêu khác nhau Chính vì tính chất khách quan, dễ gây ảnh hưởng và lan rộng của nó mà
Trang 5ngày nay, thống kê là một trong những công cụ quản lý quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin phục vụ quản lý ở cả tầm vĩ mô và vi mô
Trong thế giới kinh doanh và doanh nghiệp, thống kê là phương pháp định lượng được
sử dụng rộng rãi nhất với bốn ứng dụng quan trọng: 1) tóm tắt dữ liệu kinh doanh, 2) đưa ra kết luận sơ bộ về dữ liệu đó, 3) thực hiện các dự đoán tin cậy về các hoạt động kinh doanh và 4) cải thiện quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy, thống kê có liên quan tới việc đưa ra những thông tin từ dữ liệu tốt nhất có thể để hỗ trợ quá trình ra quyết định Nó thường được áp dụng để quản lý kinh doanh, quản lý tài chính, dự báo bán hàng, kiểm soát chất lượng và nghiên cứu thị trường Dữ liệu được sử dụng trong kinh doanh bao gồm các cuộc tổng điều tra dân số, các cuộc thăm dò dư luận, cơ sở dữ liệu của người tiêu dùng, doanh số bán hàng và dữ liệu nhu cầu Vai trò của các nhà thống kê là xác định xem những dữ liệu nào là cần thiết, cách nó phải được thu thập
và làm thế nào để phân tích dữ liệu đó một cách tốt nhất
Hình 1.1 Ba mặt của quá trình cải thiện chất lượng quản lý
1.1.3 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê
Có 3 khái niệm thường được sử dụng trong thống kê, đó là:
1.1.3.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể
Tổng thể thống kê là một tập hợp những đơn vị, hoặc phần tử cấu thành hiện tượng, cần được quan sát và phân tích Các đơn vị, phần tử cấu thành nên tổng thể được gọi
là các đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể là xuất phát điểm của việc nghiên cứu, bởi vì
mặt lượng của đơn vị tổng thể là các dữ liệu mà người nghiên cứu cần thu thập
Xác định tổng thể nhằm đưa ra giới hạn về phạm vi nghiên cứu cho người nghiên cứu Qua đó chúng ta biết được phải thu thập tài liệu từ những đơn vị nào và ở đâu Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu đặc điểm của nhóm khách hàng ưa thích sử dụng một loại sản phẩm nào đó trên địa bàn thành phố Hà Nội thì tổng thể thống kê sẽ là tổng thể các khách hàng ưa thích sử dụng loại sản phẩm đó trên địa bàn Hà Nội, mỗi khách hàng là một đơn vị tổng thể
Có một số cách phân loại tổng thể dựa trên những căn cứ khác nhau và đáp ứng những mục đích khác nhau Cụ thể:
Căn cứ vào sự nhận biết các đơn vị trong tổng thể, chia thành hai loại: tổng thể
bộc lộ và tổng thể tiềm ẩn
Triết lý quản lý
Công cụ hành động Phương pháp
thống kê
Trang 6Tổng thể bộc lộ là tổng thể có ranh giới rõ ràng, các đơn vị của tổng thể được biểu
hiện một cách rõ ràng, dễ xác định Ví dụ như số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn, số xe máy được cấp đăng ký trong một tháng tại một thành phố Ngược lại, một tổng thể mà các đơn vị của nó không được nhận biết một cách trực
tiếp, ranh giới của tổng thể không rõ ràng được gọi là tổng thể tiềm ẩn Chẳng
hạn, tổng thể những người ưa dùng một loại sản phẩm nào đó, hoặc tổng thể những người sẽ sử dụng dịch vụ của hãng hàng không quốc gia Việt Nam trong năm tới là tổng thể tiềm ẩn
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, có thể chia làm hai loại tổng thể: tổng thể đồng
chất và tổng thể không đồng chất
Tổng thể đồng chất bao gồm những đơn vị có cùng chung những đặc điểm chủ
yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu
Tổng thể không đồng chất bao gồm những đơn vị khác nhau về loại hình, khác
nhau về những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu Sự phân chia này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tính đại diện của các con số thống kê tính được
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, người ta còn phân biệt tổng thể chung bao gồm tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu; tổng thể bộ phận chỉ chứa đựng một
phần của tổng thể chung
Các đơn vị tổng thể thường có nhiều đặc điểm khác
nhau Ví dụ, mỗi khách hàng trong tổng thể khách
hàng ưa thích sử dụng một sản phẩm nào đó có các đặc
điểm như giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề
nghiệp, thu nhập… Tuy nhiên khi nghiên cứu thống
kê, căn cứ vào mục đích nghiên cứu cụ thể, người ta
chỉ chọn ra một số đặc điểm để nghiên cứu Những đặc
điểm này được gọi là tiêu thức thống kê Như vậy, tiêu
thức thống kê là đặc điểm của các đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên cứu
Trong nghiên cứu thống kê, mỗi tiêu thức thống kê còn được gọi là biến Ví dụ, khi nghiên cứu đặc điểm của khách hàng, có các biến: giới tính, tuổi, nghề nghiệp… Biểu hiện của những biến này đối với mỗi khách hàng là khác nhau Một khách hàng có thể
là nhân viên văn phòng, là nam giới, 28 tuổi, trong khi đó, một khách hàng khác lại là tổng giám đốc một doanh nghiệp, là nữ giới, 40 tuổi, có thu nhập hàng chục nghìn đô
la Mỹ một tháng Tiêu thức giúp xác định rõ từng đơn vị tổng thể, nhờ đó ta có thể phân biệt đơn vị này với đơn vị khác
Tiêu thức thống kê gồm các loại sau:
Tiêu thức thực thể là loại tiêu thức phản ánh đặc điểm về nội dung của đơn vị
tổng thể Tùy theo cách biểu hiện có hai loại:
Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức mà các biểu hiện của nó được dùng để phản ánh
các thuộc tính của đơn vị tổng thể và không có các biểu hiện trực tiếp bằng con
số Ví dụ: tiêu thức giới tính, nghề nghiệp, thành phần kinh tế, trình độ học vấn
Trang 7Tiêu thức số lượng là tiêu thức phản ánh các đặc điểm về lượng của đơn vị tổng
thể và có các biểu hiện trực tiếp bằng con số, mỗi con số này được gọi là một lượng biến Ví dụ: tuổi, thu nhập bình quân tháng, năng suất lao động
Trong trường hợp, tiêu thức (cả thuộc tính và số lượng) chỉ có hai biểu hiện không
trùng nhau trên một đơn vị tổng thể được gọi đó là tiêu thức thay phiên Ví dụ:
tiêu thức giới tính chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau là nam và nữ Loại tiêu thức này có đặc điểm quan trọng là nếu một đơn vị tổng thể nào đó đã nhận biểu hiện này thì không nhận biểu hiện kia Vì vậy, đây là loại tiêu thức có nhiều ứng dụng trong thực tế
Tiêu thức thời gian là loại tiêu thức phản ánh hiện tượng nghiên cứu theo sự xuất
hiện của nó ở thời gian nào Ví dụ: Có dữ liệu về số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo quý trong mười năm qua thì “quý” là tiêu thức thời gian
Tiêu thức không gian là loại tiêu thức phản ánh phạm vi lãnh thổ của hiện tượng
nghiên cứu Ví dụ tiêu thức “tỉnh/thành phố” trong dữ liệu phản ánh giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam theo tỉnh/thành
1.1.3.3 Chỉ tiêu thống kê
Nếu như tiêu thức thống kê phản ánh đặc điểm của đơn
vị tổng thể thì chỉ tiêu thống kê phản ánh đặc điểm của
số lớn đơn vị tổng thể hoặc cả tổng thể Chỉ tiêu thống
kê có được do việc tổng hợp các đặc điểm của nhiều
đơn vị, hiện tượng cá biệt thành những con số của một
số lớn hiện tượng trong điều kiện thời gian, không gian
cụ thể để biểu hiện rõ bản chất, quy luật của hiện
tượng nghiên cứu
Như vậy, chỉ tiêu thống kê phản ánh mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt
chất của hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể
Ví dụ: Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của ngân hàng A năm 2012 là 3200 tỷ đồng Chỉ tiêu thống kê bao gồm hai mặt: khái niệm và mức độ của chỉ tiêu Mặt khái niệm của chỉ tiêu bao gồm các định nghĩa và giới hạn về thực thể, thời gian và không gian Mức độ của chỉ tiêu là các trị số phản ánh quy mô, quan hệ so sánh hoặc cường độ của hiện tượng với đơn vị tính phù hợp
Tùy theo các tiêu thức phân loại khác nhau, chỉ tiêu thống kê có thể được phân thành các loại sau:
Theo hình thức biểu hiện, chia thành hai loại:
Chỉ tiêu hiện vật là chỉ tiêu có biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên hoặc đơn vị đo
lường quy ước Ví dụ: số dân (đơn vị "người"), sản lượng sản phẩm sản xuất (đơn
vị "mét", "tấn")
Chỉ tiêu giá trị là chỉ tiêu có biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ như đồng Việt Nam, đô
la Mỹ Ví dụ: GDP, giá trị sản xuất công nghiệp (đơn vị đồng Việt Nam), FDI (đơn vị đô la Mỹ)
Theo tính chất biểu hiện, chia thành hai loại:
Chỉ tiêu tuyệt đối là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng Ví dụ:
Tổng lợi nhuận trước thuế của ngân hàng A năm 2012 đạt 5764 tỷ đồng
Trang 8Chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ so sánh giữa các mức độ của hiện tượng
Ví dụ: tốc độ phát triển doanh thu của doanh nghiệp A năm 2012 so với năm 2011
là 110%
Theo đặc điểm về thời gian, chia thành hai loại:
Chỉ tiêu thời kỳ phản ánh mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu trong một khoảng
thời gian nhất định, phụ thuộc vào độ dài thời kỳ nghiên cứu
Chỉ tiêu thời điểm phản ánh mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu tại một thời
điểm nhất định, không phụ thuộc vào độ dài thời kỳ nghiên cứu Thông thường chỉ tiêu này phản ánh nguồn lực như lao động, vốn không thể cộng với nhau để tính chỉ tiêu trong thời kỳ dài hơn
Theo nội dung phản ánh, chia thành hai loại:
Chỉ tiêu số (khối) lượng phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu
theo thời gian và địa điểm cụ thể
Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện trình độ phổ biến và mối quan hệ so sánh trong tổng thể
Trong thống kê, mặt lượng bao giờ cũng đi liền với mặt chất của hiện tượng được nghiên cứu Tuy nhiên, không phải sự vật, hiện tượng nào cũng có thể lượng hoá được Do vậy, để lượng hoá, nhất là khi xử lý các tiêu thức thuộc tính, người ta phải dùng tới các thang đo
Tuỳ theo tính chất của dữ liệu thống kê mà ta có thể sử dụng các loại thang đo khác nhau Có 4 loại thang đo chủ yếu sau:
Thang đo định danh là đánh số các biểu hiện cùng loại của
tiêu thức, thường dùng với các tiêu thức thuộc tính mà các
biểu hiện của nó là một hệ thống các loại khác nhau không
theo một trật tự xác định nào như: giới tính, khu vực địa lý,
nghề nghiệp, tôn giáo
Ví dụ: Với tiêu thức giới tính chỉ có hai loại nam và nữ và
không có trật tự nào giữa hai loại này; vì vậy có thể đánh số
các biểu hiện nam là 1 và nữ là 2 hoặc ngược lại
Đặc điểm của loại thang đo này là các con số không có quan
hệ hơn kém, không thực hiện được tất cả các phép tính, chỉ
dùng để mã hóa và đếm tần số xuất hiện của từng biểu hiện
Thang đo thứ bậc là thang đo định danh và giữa các biểu hiện của tiêu thức có quan
hệ hơn kém Thang đo thứ bậc thường dùng để đo các tiêu thức thuộc tính mà các biểu
hiện có quan hệ thứ tự như đo thái độ đối với một hành vi nào đó (hoàn toàn đồng ý, đồng ý, hoàn toàn không đồng ý) hoặc thứ tự chất lượng sản phẩm, bậc thợ
Thang đo thứ bậc có đặc điểm là sự chênh lệch giữa các biểu hiện của tiêu thức không nhất thiết phải bằng nhau và chưa biết được khoảng cách giữa các số thứ tự đó gần hay xa bao nhiêu vì vậy không thực hiện được các phép tính cộng trừ nhân chia mà
Trang 9chỉ nói lên đặc trưng chung của tổng thể một cách tương đối căn cứ trên sự giải thích
"lớn hơn" hay "nhỏ hơn" mà thôi
Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có các khoảng cách đều nhau nhưng không có điểm gốc 0 tuyệt đối Ví dụ như nhiệt độ không khí, hoặc khi phải đánh giá về mức độ
hài lòng khi sử dụng một sản phẩm nào đó theo thang điểm từ 0 đến 10, nếu hoàn toàn không hài lòng, khách hàng cho điểm 0, còn nếu hoàn toàn hài lòng, khách hàng cho điểm 10
Nếu ở thang đo thứ bậc, ta chỉ có thể so sánh sự hơn kém về chất giữa các đơn vị theo một tiêu thức nào đó, thì thang đo khoảng, nhờ có tiêu chuẩn đo được quy định chính xác, ta có thể đánh giá được mức độ hơn kém cụ thể về mặt lượng Do vậy, thang đo này luôn có đơn vị đo và được sử dụng cho các tiêu thức số lượng Từ đó, ta có thể thực hiện các phép tính cộng, trừ, tính được các đặc trưng thống kê như trung bình, phương sai
Thang đo khoảng có hạn chế là không có điểm gốc 0 tuyệt đối trên thực tế, mà chỉ có những điểm xác định các khoảng theo trật tự nào đó, nếu có điểm 0 thì đó chỉ là quy ước
Ví dụ nhiệt độ không khí đo theo độ C, điểm 00C chỉ là điểm quy ước tại đó nước đóng băng Do chưa có điểm gốc là số 0, nên không so sánh được tỷ lệ giữa các trị số đo
Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng với một điểm gốc 0
tuyệt đối (một trị số thật) được coi như là điểm xuất
phát của độ dài đo lường trên thang đo Do có điểm
gốc 0, nên có thể giúp so sánh được tỷ lệ giữa các trị
số đo Ví dụ: các đơn vị đo lường vật lý thông thường
(kg, mét ), thu nhập, số lao động
Đây là loại thang đo định lượng chặt chẽ nhất (có đơn
vị đo và giá trị 0 tuyệt đối) Với thang đo này, ta có thể thực hiện được tất cả các công
cụ toán thống kê để tính toán và phân tích số liệu
Trong các thang đo trên, tuần tự thang đo sau có chất lượng đo lường cao hơn thang
đo trước, đồng thời việc xây dựng thang đo cũng phức tạp hơn Hai loại đầu được sử dụng để đo lường các dấu hiệu định tính và được gọi là thang định tính Hai loại sau là thang định lượng Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể sử dụng được thang đo hoàn hảo mà phải tuỳ thuộc vào đặc điểm của hiện tượng và tiêu thức nghiên cứu mà
sử dụng thang đo cho thích hợp
1.3 Dữ liệu thống kê
Dữ liệu thống kê là các sự kiện và số liệu được thu thập, tổng hợp và phân tích để trình bày và giải thích ý nghĩa của chúng Tất cả các dữ liệu được thu thập trong một nghiên
cứu cụ thể được gọi là bộ dữ liệu phục vụ cho cuộc nghiên cứu đó
Cấu tạo của một bộ dữ liệu bao gồm các đơn vị tổng thể, các biến và các giá trị quan sát
Các đơn vị tổng thể là các thực thể mà chúng ta cần phải quan sát, thu thập dữ liệu của
Trang 10chúng Một biến là một đặc điểm của đơn vị tổng thể cần được quan sát và phân tích
(tiêu thức thống kê) Những thông tin thu thập được trên mỗi biến của mỗi phần
tử trong một nghiên cứu cung cấp cho chúng ta dữ liệu Tập hợp những thông tin thu
được trên một đơn vị cá biệt được gọi là một quan sát
Dữ liệu thống kê được chia ra làm hai loại: dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng
Dữ liệu định tính bao gồm các nhãn (label) hay tên được sử dụng để xác định đặc
điểm của mỗi phần tử Dữ liệu định tính sử dụng thang đo định danh hoặc thang đo thứ bậc để đo lường, và có thể được ký hiệu bằng các con số hoặc các ký tự
Dữ liệu định lượng bao gồm các giá trị bằng con số cụ thể Dữ liệu định lượng được
đo lường bằng thang đo khoảng hoặc thang đo tỷ lệ
Trong phân tích thống kê, việc lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp phụ thuộc vào biến đó là biến định tính hay biến định lượng Nếu là biến định tính, các phương pháp phân tích thống kê được vận dụng khá hạn chế, chỉ là mô tả dữ liệu bằng cách đếm số quan sát của từng biểu hiện của biến hoặc tính tỷ lệ các quan sát của từng biểu hiện đó Với biến định lượng, có thể áp dụng nhiều phương pháp phân tích thống kê hơn do áp dụng được các phép tính số học
Gồm có hai nguồn như sau:
Dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn
Ví dụ, trong các công ty luôn có các cơ sở dữ liệu về
nhân viên, khách hàng và các hoạt động kinh doanh
của họ Dữ liệu về tiền lương của nhân viên, tuổi và số
năm kinh nghiệm thường có thể lấy được từ các bộ hồ
sơ cá nhân Ngày nay, với sự phát triển của mạng
Internet, đây là một nguồn quan trọng cung cấp những
dữ liệu thứ cấp cho nghiên cứu Hầu hết các công ty
đều có trang Web để cung cấp những thông tin chung
về công ty của mình như dữ liệu về doanh số, số nhân viên, số lượng sản phẩm, giá sản phẩm, và đặc điểm của sản phẩm Bên cạnh đó, một số công ty còn tổng hợp những dữ liệu thứ cấp trên Internet Ngoài ra, các cơ quan nhà nước cũng là một nguồn quan trọng khác để thu thập dữ liệu thứ cấp Ví dụ, Bộ Lao động - Thương binh
Xã hội có những dữ liệu liên quan đến tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ tiền lương, quy mô nguồn lao động, thành viên hiệp hội Hầu hết các cơ quan Nhà nước thu thập, xử lý
và cung cấp dữ liệu thứ cấp thông qua các trang Web
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu mới được thu thập từ các cuộc điều tra và nghiên cứu thực nghiệm
Trong nhiều trường hợp, dữ liệu cần cho phân tích không có sẵn qua nguồn dữ liệu thứ cấp Khi đó, để có được dữ liệu thì cần phải thông qua thực hiện các nghiên cứu thống kê Các nghiên cứu thống kê có thể được chia ra làm hai loại: nghiên cứu thực nghiệm và quan sát
Trong nghiên cứu thực nghiệm, việc đầu tiên là phải xác định một biến được quan tâm Sau đó, xác định và kiểm soát dữ liệu của một hoặc vài biến có ảnh hưởng tới biến được quan tâm Trong nghiên cứu phi thực nghiệm, hay quan sát, các nghiên cứu thống kê được thực hiện để cố gắng kiểm soát các biến được quan tâm Một cuộc điều tra khảo sát thường được tiến hành phổ biến trong nghiên cứu quan sát