Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam .... Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Bùi Thị Thanh Hương 2 PGS.TS Trần Đăng Sinh
HÀ NỘI - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Đào tạo, Khoa Triết học của Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Bùi Thị Thanh Hương và PGS.TS Trần Đăng Sinh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 3
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 4
7 Kết cấu của luận án 4
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 5
1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích Việt Nam 5
1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý 5
1.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh 6
1.3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến truyện cổ tích Việt Nam 8
2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của người Việt 14
3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam 18
3.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ 18
3.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam 23
4 Giá trị các công trình đã tổng quan, những vấn đề đặt ra và cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 26
4.1 Giá trị các công trình đã tổng quan 26
4.2 Những vấn đề đặt ra và cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 27
Trang 5Chương 1: TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN 29
1.1 Một số khái niệm cơ bản 29
1.1.1 Triết lý 29
1.1.2 Triết lý nhân sinh 34
1.1.3 Truyện cổ tích Việt Nam 38
1.1.4 Triết lý nhân sinh người Việt trong truyện cổ tích Việt Nam 47
1.2 Cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam 50
1.2.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên và kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ 51
1.2.2 Cơ sở văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ 55
1.2.3 Cơ sở nhận thức và tâm lý ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ 61
Tiểu kết chương 1 67
Chương 2: NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM 68
2.1 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên 68
2.1.1 Triết lý sống hài hòa với tự nhiên 68
2.1.2 Triết lý cải tạo, chinh phục tự nhiên 70
2.2 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với gia đình, xã hội 73
2.2.1 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với gia đình 73
2.2.2 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với xã hội 81
2.3 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với chính bản thân mình 88
2.3.1 Triết lý về cuộc đời của con người 88
2.3.2 Triết lý nhận thức của con người về chính mình 94
Trang 62.4 Một số đặc trưng của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam 100
2.4.1 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam phản ánh tồn tại xã hội một cách phong phú và chân thật 1002.4.2 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam chịu ảnh hưởng của triết lý Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo 1022.4.3 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ là hình thức phản kháng chống lại sự bất công trong xã hội 111
ánh cái hài, cái bi, cái cao cả trong xã hội 113
Tiểu kết chương 2 118 Chương 3: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA
CƯ DÂN ĐỒNG BẮC BỘ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 119 3.1 Giá trị của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam 119
3.1.1 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam thể hiện tinh thần nhân văn và nhân đạo sâu sắc 1193.1.2 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam có tính biện chứng, mềm dẻo, linh hoạt 1223.1.3 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam đề cao vai trò của người phụ nữ 129
3.2 Hạn chế của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam 130
3.2.1 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam còn chứa đựng yếu tố duy tâm 1303.2.2 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam thể hiện nhận thức kinh nghiệm của người nông dân Bắc bộ 133
Trang 73.2.3 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam thể hiện tư duy tiểu nông 134
3.3 Ý nghĩa của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay 137
3.3.1 Những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay 1373.3.2 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện
cổ tích Việt Nam góp phần giáo dục quan niệm sống tốt đẹp và lối sống nhân văn 1403.3.3 Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện
cổ tích Việt Nam góp phần giáo dục giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc 146
Tiểu kết chương 3 152 KẾT LUẬN 153 DANH SÁCH TRUYỆN CỔ TÍCH SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 155 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 157 TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học dân gian Việt Nam, truyện cổ tích là thể loại văn học rất gần gũi và có vị trí quan trọng với đời sống tinh thần của nhân dân Thông qua truyện cổ tích, người đọc, người nghe không chỉ khám phá được cái hay, cái đẹp của một loại hình văn học dân gian mà còn hiểu hơn về văn hóa truyền thống, phong tục tập quán và đặc biệt là triết lý nhân sinh của người Việt chứa đựng trong đó
Đồng bằng Bắc bộ là vùng đất có lịch sử tồn tại và phát triển lâu đời của người Việt Đây là cái nôi hình thành văn hóa người Việt ngay từ buổi ban đầu và hiện tại cũng là vùng văn hóa bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống Truyện cổ tích là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn học dân gian, nó ra đời từ chính cuộc sống của con người, đồng thời là tấm gương phản ánh cuộc sống của người Việt nói chung và cư dân đồng bằng Bắc bộ nói riêng Nghiên cứu kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam, chúng ta sẽ thấy được những nét đặc trưng trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ
Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam là tinh hoa trong triết lý sống của người Việt, được lưu truyền và bảo tồn qua nhiều thế hệ Đây chính là những kinh nghiệm sống mà cha ông đã truyền lại cho con cháu được đúc kết từ hoạt động lao động sản xuất, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, từ cách ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội Bằng ngôn từ mộc mạc, dung dị, gần gũi, triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam đã trở thành những chỉ dẫn quý giá, định hướng cho người Việt và cư dân đồng bằng Bắc bộ trong sinh hoạt, lao động, học tập
Mặc dù những tri thức chứa đựng trong truyện cổ tích Việt Nam là những tri thức dân gian, là kết quả của sự phản ánh những cái cụ thể, kinh nghiệm, lẽ phải thông thường, nhưng nó lại chứa đựng trong đó những giá trị tinh thần to lớn Mấy nghìn năm tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam là mấy nghìn năm triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ được hình thành, bồi đắp
Trang 9cũng như thực hiện chức năng định hướng của mình Thông qua truyện cổ tích,
cư dân đồng bằng Bắc bộ đã gửi gắm những ước mơ, khát vọng, kinh nghiệm sống quý báu cho các thế hệ sau Vì vậy, triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam cần phải được nghiên cứu, bảo tồn và tiếp tục phát triển
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, giao lưu, hội nhập và phát triển Nhiều mặt của đời sống văn hóa, xã hội đã có những thay đổi tích cực Tuy nhiên bên cạnh đó, lối sống của con người trong xã hội lại đang có những biểu hiện xuống cấp, nhiều giá trị đạo đức truyền thống dần mai một Từ thực trạng đạo đức và lối sống của xã hội Việt Nam đương thời, vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho người Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ đã trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết Việc nghiên cứu triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong việc khẳng định những giá trị tinh thần quý báu của nền văn hóa dân tộc, đồng thời giúp giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống, từ đó củng cố niềm tin, lý tưởng sống cho mỗi người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Mặc dù chứa đựng nhiều giá trị to lớn nhưng hiện nay việc nghiên cứu, tìm hiểu về triết lý nhân sinh của người Việt cũng như triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam vẫn còn hạn chế, chưa có nhiều tài liệu chuyên sâu về vấn đề này Do đó, nghiên cứu triết lý nhân sinh của
cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam là rất cần thiết Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam” cho luận án của mình, nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về triết lý nhân sinh của người Việt, đặc biệt là triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam, những giá trị, hạn chế của triết lý nhân sinh và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay Từ đó, góp phần bổ sung, hoàn thiện kho tàng tư tưởng triết học Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú và có hệ thống hơn
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc
bộ trong truyện cổ tích Việt Nam, đánh giá các giá trị, hạn chế và rút ra ý nghĩa của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của
cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về triết lý, triết lý nhân sinh, triết lý nhân sinh người Việt trong truyện cổ tích Việt Nam
- Phân tích nội dung cơ bản trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
- Chỉ ra những giá trị, hạn chế và ý nghĩa của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Một số truyện cổ tích tiêu biểu (của người Kinh) trong cuốn Kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam của tác giả Nguyễn Đổng Chi (có danh sách kèm theo)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, văn hóa; đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong tình hình mới
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp cụ thể như phương pháp, quy nạp – diễn dịch, tổng hợp- phân tích, logic - lịch sử, so sánh- đối chiếu…
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án đã xác định được những nội dung cơ bản trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
- Luận án đã chỉ ra những nét đặc trưng cơ bản trong triết lý nhân sinh của
cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
- Luận án đã phân tích và đánh giá một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích, từ đó rút ra
ý nghĩa của triết lý đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận án góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận chung và nội dung cơ bản
về triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
- Luận án giúp chỉ ra ý nghĩa của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu và danh mục tài liệu tham khảo, các công trình đã công bố, nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương, 9 tiết
Trang 12TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý
Cuốn Từ điển và danh từ triết học (1966) của tác giả Trần Văn Hiến Minh
[73] Đây là cuốn từ điển rất phong phú bao gồm cả thuật ngữ của triết học cổ, triết học kinh viện, triết học cận đại, hiện đại và đặc biệt trong phần từ điển, tác giả đã cắt nghĩa rất nhiều danh từ triết học phương Đông Trong cuốn sách này,
có các khái niệm quan trọng đối với luận án như khái niệm triết lý, nhân sinh Triết lý là “Cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay của một sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ” [73, tr.280], khái niệm nhân sinh là “đời
người” [73, tr.167]
Bài viết Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý của Hồ Sĩ Quý đăng trên tạp
chí Triết học số 3/1998 đã có sự so sánh giữa hai khái niệm triết học và triết lý
“Nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ thống độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy Nói một cách khác, nếu không phải là tất cả thì cũng là trong đa số các trường hợp, triết lý thường thiếu chặt chẽ hơn, phiến diện hơn và có nhiều khả năng chứa đựng mâu thuẫn hơn so với triết học"[95]
Bài viết của Tô Duy Hợp, Giá trị bền vững của triết lý dân gian trong
toàn cầu hóa [53] trong hội thảo quốc tế tại Viện Triết học năm 2005: “sức
mạnh của triết lý được thể hiện không chỉ thông qua quá trình ứng dụng triết lý
đó vào đời sống … mà có ngay trong nội dung của nó Có điều là phải nhờ công
Trang 13cụ của triết học và khoa học hiện đại mới sáng tỏ được sức mạnh tiềm ẩn đó… Chắc chắn là sẽ còn nhiều thách thức có thể còn to lớn hơn so với những thách thức trong lịch sử Nhưng sức sống và giá trị của triết lý dân gian sẽ bền vững trong tiến trình đẩy mạnh quốc tế hoá và toàn cầu hoá”
Trong bài viết Văn hóa, triết lý và triết học (2008) [33] của Lương Đình
Hải đã làm rõ được nội hàm khái niệm về triết lý Tác giả cho rằng, trong các triết lý đã thể hiện những quan niệm khác nhau về các yếu tố cơ bản và các mặt hoạt động sống của con người: vị trí con người, các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần và các giá trị của cuộc sống con người Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các nội dung, chương trình phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể hóa bằng những quan niệm cụ thể hơn, định hướng cho hoạt động của các cá nhân và cộng đồng
Vũ Minh Tâm với bài viết Triết lý truyền thống ở Việt Nam về vũ trụ (2009)
[113] đã chỉ rõ vai trò của triết lý đối với đời sống của con người Tác giả đã cho rằng, đối với người xưa, triết lý là phương thức, công cụ hữu dụng, hiệu nghiệm để nắm bắt thế giới hiện thực, đưa dẫn nhận thức có tính bách khoa, tổng hợp, khái quát, trừu tượng và dự báo vào đời sống thực tiễn và giáo dục con người
Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm khác nhau của các tác giả về khái niệm “triết lý”, là cơ sở lý luận cho nghiên cứu sinh tham khảo trong luận án của mình
1.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh
Tìm hiểu về vấn đề triết lý nhân sinh đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như:
Cuốn Những hiểu biết về cuộc đời [32] (2001) của Trịnh Hiếu Giang và
Nguyễn An đã cung cấp cho người đọc trí tuệ phong phú của các nhà hiền triết trong lịch sử nhân loại về bản chất sinh mệnh, nội dung của đời người, trạng thái sinh tồn, các kỹ xảo cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc Đặc biệt các tác giả đi sâu phân tích cuộc đời của các nhà hiền triết Trung Quốc thời xưa, từ đó liên hệ các trạng thái đời người hiện đại
Trang 14Trong cuốn Mạn đàm nhân sinh (2008) [127] của Nguyễn Thế Trắc,
những vấn đề nhân sinh quan như mối quan hệ: Thiên – Địa – Nhân với kiếp người, quan niệm về họa, phúc với đời người; quan niệm tu thân, tích đức, hoàn thiện nhân cách đã được trình bày khá rõ nét Tác giả đã phân tích một cách sâu sắc những triết lý sống cần thiết cho con người hiện nay, cũng như hướng con người tới những giá trị của cuộc đời
Cuốn sách Triết lý nhân sinh cuộc đời (2009) [78] của Nguyễn Gia Linh,
Duyên Hải, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội có cách trình bày logic và khoa học, các vấn đề nhân sinh, ý nghĩa nhân sinh trên các bình diện khác nhau, qua đó người đọc có thể rút ra những suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề của bản thân một cách hiệu quả “Triết lý nhân sinh của cuộc đời chính là cây đèn soi sáng để bạn đi đến lý tưởng, thành công”
Cuốn Hành trình nhân sinh quan: Phản tính trên đường trải nghiệm (2011) [122] của tác giả Nguyễn Tất Thịnh đã đề cập nhiều vấn đề của cuộc
sống Nhằm chia sẻ những trải nghiệm sống, giúp người đọc tìm cho mình những bài học quý giá của nhân sinh, những kỹ năng sống, cách ứng xử chân – thiện – mỹ để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn và luôn có cái nhìn lạc quan vào cuộc sống
Trong cuốn Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam (2016) [134] của tập
thể khoa Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trần Đăng Sinh đã đưa ra khái niệm về triết lý nhân sinh “Triết lý nhân sinh là quan điểm, quan niệm của con người và cuộc sống của họ, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người, là sự định hướng, phương trâm hành xử của con người trong cuộc sống” [134, tr.275] Cũng trong cuốn sách này, Lê Văn Đoán cũng đưa
ra một quan niệm khác về triết lý nhân sinh “triết lý nhân sinh là quan niệm chung sâu sắc của con người về cuộc sống, về mối quan hệ và cách ứng xử giữa người với người trong đời sống từ gia đình cho đến ngoài xã hội Về thực chất thì triết lý nhân sinh là một bộ phận thuộc nhân sinh quan, trong đó bao gồm những quan niệm về cuộc sống của con người, nó trả lời cho các câu hỏi: Lẽ sống của con
Trang 15người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? [134, tr.285]
Luận án tiến sĩ của Ngô Gia Tuệ (2018) [117] về“Triết lý nhân sinh của Đạo
gia và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII”
Trong quá trình nghiên cứu triết lý nhân sinh của Đạo gia, tác giả cũng đã đưa ra những nhận định về khái niệm triết lý nhân sinh: “nhân sinh là đời người, mà đời người là những vấn đề về con người, về đời sống con người, bao gồm đời sống vật chất và tinh thần, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển con người và xã hội…Triết lý nhân sinh là cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu về đời người, được con người rút ra từ hoạt động thực tiễn của mình và chỉ dẫn, định hướng cho cách ứng xử, hành động của
mỗi cá nhân hoặc cộng đồng”[117, tr.61]
Các công trình nêu trên đã đưa ra những cách hiểu khác nhau về khái niệm triết lý nhân sinh Đây là những tư liệu quý giá để từ đó giúp nghiên cứu sinh có thể định nghĩa về khái niệm triết lý nhân sinh cũng như tạo cơ sở để phân tích được nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
1.3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến truyện cổ tích Việt Nam
Do đóng vai trò là một bộ phận quan trọng trong hệ thống văn học dân gian nên truyện cổ tích giành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước Những công trình này hầu hết đều nghiên cứu về truyện cổ tích dưới góc độ văn học Bằng cách đưa ra khái niệm, đặc trưng, nguồn gốc hình thành, phân loại truyện cổ tích và bước đầu phân tích những nội dung cơ bản của truyện
cổ tích Việt Nam Có thể kể đến các công trình:
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi [12] Công trình
này gồm 5 tập được công bố lần lượt trong vòng 25 năm, từ năm 1958 đến 1982, được nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội in và tái bản năm 2000 Công trình đã nghiên cứu tỉ mỉ về khái niệm, đặc trưng, phân loại truyện cổ tích Việt Nam
Trong Phần thứ Nhất (in ở Tập I) nhan đề “Nghiên cứu truyện cổ tích nói
chung và truyện cổ tích Việt Nam”, tác giả đã đưa ra những nghiên cứu của ông về
Trang 16bản chất của truyện cổ tích, những vấn đề về truyện cổ tích nói chung cũng như truyện cổ tích Việt Nam nói riêng Để nhận dạng thế nào là một truyện cổ tích, Nguyễn Đổng Chi nêu lên 3 tiêu chí sau đây: 1.Phải có phong cách cổ; 2 Phải gần gũi với bản sắc dân tộc; 3 Phải có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao Đồng thời ông cũng đã đưa ra những quan điểm của mình về việc phân loại truyện cổ tích Áp dụng cho cổ tích, ông đưa ra một bảng phân loại mới gồm 3 loại như sau: 1 Cổ tích thần kỳ (trong lần in thứ nhất, 1957, ông gọi là cổ tích hoang đường; lần in thứ 5,
1972, mới đổi là cổ tích thần kỳ); 2 Cổ tích thế sự; 3 Cổ tích lịch sử Ông đã dựa vào nội dung những truyện cổ tích tiêu biểu và những tài liệu sưu tầm ghi chép quen thuộc trong thư tịch về truyện cổ Việt Nam, phác họa nên một bức tranh
“Truyện cổ Việt Nam qua các thời kỳ”, từ “Thần thoại, truyền thuyết, loại truyện xưa nhất của người Việt” qua “Truyện cổ tích thời phong kiến tự chủ” tới “Thời kỳ suy tàn của truyện cổ tích Việt Nam”
Trong Phần thứ Ba (in ở Tập V) nhan đề “Nhận định tổng quát về truyện
cổ tích Việt Nam”, tác giả cung cấp cho người đọc một sự khảo sát đặc sắc và những kết luận quan trọng về “đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam” Nguyễn Đổng Chi còn tiếp tục đào sâu vào đặc điểm tư duy của người Việt, lấy đó làm chỗ dựa chính để khái quát các đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam Cách khái quát của ông thoạt nhìn không có gì đao to búa lớn, nhưng lại được đặt trên một nền tảng tri thức rộng và sâu, nên chứa đựng trong đó nhiều điều mới mẻ Ông cho rằng, truyện cổ tích thần kỳ của người Việt chiếm một số lượng có phần ít ỏi, quy mô phóng đại của hình tượng thần kỳ không lớn và tần số phóng đại cũng không nhiều Để có được kết luận này, ông đã phải làm nhiều bảng thống kê tỷ
mỷ, về số lượng truyện thần kỳ và về các kiểu loại môtíp thần kỳ Không những thế, ông còn đặt truyện cổ tích thần kỳ dân tộc với sắc thái riêng của nó như đã tìm thấy trong tương quan so sánh với các biểu hiện tư duy của con người Việt Nam:
"ít khi xa rời lý trí thế tục" [12, tr.2426], "chịu sự ràng buộc của tâm lý thực tiễn " [12, tr.2428], "ít chứa đựng cảm quan tôn giáo" [12, tr.2428] và vạch ra biểu đồ
về sự chi phối của các dấu ấn tư duy nói trên đối với quá trình hình thành "tâm lý
Trang 17sáng tạo nghệ thuật dân tộc" [12, tr.2428], nhất là "con đường vận hành của truyện
cổ tích , trong đó sự thanh lọc các yếu tố siêu nhiên đã diễn ra thường xuyên và gần như vô thức để đồ thị phát triển của cổ tích ngày càng gần tới trục biểu hiện nhân tính" [12, tr.2428] Đó là một kiến giải thật sâu sắc và thỏa đáng Ông cũng đưa ra những nhận định về truyện cổ tích Việt Nam: "Tóm lại, sức hấp dẫn của hầu hết các truyện cổ tích Việt Nam không phải là ở cấp độ phi lý của bản thân câu chuyện, mà ở khả năng phối hợp và hoán chuyển tài tình cái huyền ảo và cái hiện thực Cái hiện thực bị nhầm ra cái phi lý, cái phi lý nằm ngay trong cái hợp lý" [12, tr.2439 – 2440] Những nghiên cứu của Nguyễn Đổng Chi về truyện cổ tích có ý nghĩa rất to lớn đối với nghiên cứu sinh trong việc tìm hiểu truyện cổ tích cũng như triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam
Báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 316 năm 1994 có đăng bài viết
của Nguyễn Tấn Phát và Bùi Mạnh Nhị [92], trong đó có đoạn viết: “Không có một truyện cổ tích thần kỳ nào lại có tuổi trẻ hơn tuổi ông bà chúng ta và cũng không có một truyện cổ tích nào già nua trong ngàn vạn đôi mắt trẻ thơ của biết bao thế hệ” [92] Như vậy, các tác giả khẳng định truyện cổ tích đã có từ rất lâu nên tựa đầu của mỗi câu chuyện đều bắt đầu từ câu “Ngày xửa, ngày xưa” như là lời nhắn về khoảng thời gian mà chính tác giả chưa xác định được Bởi các câu chuyện cổ tích là các sáng tác dân gian, do nhân dân lao động trong quá trình sản xuất đã tạo ra qua lời kể truyền lại trong dân gian Với bài viết này, các tác giả đã góp phần ca ngợi sự hấp dẫn của truyện cổ tích trong lòng bạn đọc, nâng cao vị trí
và vai trò của truyện cổ tích trong việc định hướng về mặt tư tưởng cùng với việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ
Cuốn sách Văn học dân gian Việt Nam của nhà xuất bản Giáo dục do
Đinh Gia Khánh chủ biên xuất bản năm 2010 [57] đã giới thiệu về các thể loại của văn học dân gian Việt Nam trong đó có truyện cổ tích Việt Nam Tác giả đã chỉ ra rằng: “truyện cổ tích là bộ phận quan trọng nhất trong các thể loại tự sự dân gian” [57, tr.294] Tác giả cũng phân biệt truyện cổ tích với các thể loại văn học dân gian khác như là thần thoại, truyện ngụ ngôn, truyện cười Tác giả đã
Trang 18chia truyện cổ tích ra thành hai loại là truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế
sự Trong cuốn sách tác giả còn chỉ ra nguồn gốc hình thành của truyện cổ tích Việt Nam “nguồn gốc chính của truyện cổ tích Việt Nam là cuộc sống xã hội Việt Nam ngày xưa, là những sự kiện vô cùng phong phú của cuộc sống ấy Thường thì cốt truyện đầu tiên bắt nguồn từ một sự việc xảy ra ở một địa phương nào đó và có liên quan đến những nhân vật có thực Sự việc hấp dẫn sự chú ý của nhân dân vì nhưng lý do nào đó, rồi vì thế mà được lưu truyền từ đời này qua đời khác…” [57, tr.301] Trong cuốn sách này tác giả cũng đưa ra nhiều đánh giá, phân tích và nhận định cá nhân về đặc điểm và nội dung của truyện cổ tích Việt Nam như “truyện cổ tích Việt Nam là tấm gương phản chiếu một cách phong phú và chân thực đời sống dân tộc, rất phong phú mặc dầu những hạn chế trong quan điểm của nhân dân ngày trước, rất chân thật ngay cả trong những sự tưởng tượng đầy tính chất lãng mạn” [57, tr.312] “Truyện cổ tích trước hết phản ánh phong cảnh thiên nhiên của nước ta…Lại có nhiều truyện phản ánh một cách phong phú và kì thú lối sống của dân tộc ta ngày trước Từ tập quán canh tác, chăn nuôi của người nông dân cho đến khoán ước, luật lệ, tổ chức của làng quê
từ những nét sinh hoạt liên quan đến những vật nhỏ mọn như cái chổi, ông đầu rau, cho đến hội hè đình đám, cúng lễ, từ những thị hiếu về ăn, mặc, ở cho đến tín ngưỡng, tôn giáo lưu hành trong xã hội ngày trước…” [57, tr313]
Cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam [115] của nhà xuất bản Giáo
dục, xuất bản năm 2012 do Vũ Anh Tuấn chủ biên Trong cuốn giáo trình này có chương 3, trình bày rất chi tiết về chuyện cổ tích với ba vấn đề lớn là:
I) Những vấn đề chung về thể loại
II) Đặc trưng của truyện cổ tích
III) Nội dung và nghệ thuật của các tiểu loại cổ tích
Trong Phần I tác giả đã trình bày khá chi tiết về thời đại ra đời của truyện
cổ tích: “Truyện cổ tích ra đời ngay trong thời kì thần thoại hưng thịnh (loại truyện cổ tích thần kì), tuy nhiên phần lớn truyện cổ tích ra đời sau thời kì thần thoại, khi chế độ công xã thị tộc tan rã được thay thế bằng gia đình riêng lẻ…” [115, tr.112]
Trang 19Cuốn sách cũng đưa ra những quan niệm khác nhau về truyện cổ tích, bản thân tác giả cũng rút ra những nhận định của chính mình về truyện cổ tích:
“Truyện cổ tích là những sáng tác dân gian thuộc thể loại tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kì ảo để thể hiện cái nhìn hiện thực của nhân dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như công lí xã hội và ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động” [115, tr 116]
Trong phần II tác giả đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích
và chứng minh những đặc trưng này thông qua việc phân tích một số truyện cổ tích tiêu biểu
- Truyện cổ tích xây dựng một thế giới hư cấu, kì ảo
- Truyện cổ tích là câu truyện đã hoàn tất trong quá khứ, đã trọn vẹn về cốt truyện, nhưng đồng thời cũng mang tính mở đặc trưng của văn bản văn học dân gian ở cấp độ chi tiết, môtip
- Truyện cổ tích mang tính giáo huấn cao, mỗi câu truyện là một bài học
về đạo đức, ứng xử, công bằng, thưởng phạt công minh
Trong phần III nội dung và nghệ thuật của các tiểu loại cổ tích, tác giả đã
đề cập đến nội dung cũng như nghệ thuật của ba tiểu loại cổ tích đó là truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích thần kì Bước đầu có những phân tích sâu hơn về những tư tưởng, triết lý của người Việt thông qua một số truyện cổ tích tiêu biểu Đây là những tư liệu quý giá để nghiên cứu sinh
có thể tìm hiểu sâu hơn về triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam
Cuốn sách Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại [47] xuất bản năm
2012, của Kiều Thu Hoạch đã giới thiệu một số tiểu luận, chuyên khảo, bài viết ngắn của về văn học dân gian người Việt theo hướng nghiên cứu thể loại Trong cuốn sách này cũng có những bài viết về truyện cổ tích Việt Nam
Trần Hoàng với cuốn Giáo trình văn học dân gian Việt Nam [50], do nhà
xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản năm 2013, tác giả đã nói khá nhiều về cuộc đời của các nhân vật trong truyện cổ tích, song cũng chỉ ra đặc điểm chung giữa các nhân vật: “ Phần lớn là những người trẻ tuổi đói nghèo, có số phận của người
Trang 20bị áp bức bóc lột: trẻ mồ côi (Thạch Sanh truyện Thạch Sanh ), người con riêng (cô Tấm truyện Tấm Cám), người em ( truyện Cây khế), người làm thuê (anh nông dân truyện Cây tre trăm đốt),…” [50, tr.39] Thông qua đó tác giả cũng rút ra
những tư tưởng cơ bản trong triết lý về con người trong truyện cổ tích Việt Nam
Cuốn Đề cương bài giảng đại cương văn học dân gian [91] của Nguyễn
Hằng Phương và Ngô Thanh Thúy, được phát hành năm 2014, trong đó các tác giả đưa ra nhận định: “Để định vị các biến thể của thể loại và các tác phẩm của thể loại truyện cổ tích trong tiến trình văn học dân gian, người ta căn cứ vào đề tài và tính chất xung đột xã hội trong truyện Nói chung, những truyện mà xung đột diễn
ra trong cuộc sống sinh hoạt gia đình, mà sự lý giải (bằng hư cấu nghệ thuật) mọi bất hòa, bất hạnh Những truyện vỡ ra từ hình thức phôi thai của sử thi anh hùng
Việt cổ và được cổ tích hóa (Sự tích trầu cau, Chử Đồng Tử, Sự tích dưa hấu,…)
cũng mang tiêu chí nói trên” [91, tr47-48] Mặc dù không đi sâu vào nghiên cứu thể loại truyện cổ tích, nhưng nhóm tác giả đã chỉ cho người đọc thấy rõ nguồn gốc sản sinh ra truyện cổ tích Việt Nam
Ngoài ra cũng có một số các cuốn sách khác như cuốn sách Các vùng văn
hóa Việt Nam [59] do Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận (chủ biên) năm 1995 ; nhà
xuất bản Văn học Hà Nội xuất bản, Văn học dân gian Việt Nam của các tác giả
Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Vũ Quang Nhơn được nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2003 cũng đều đề cập đến truyện cổ tích Việt Nam, chỉ ra những khái niệm, nội dung, kết cấu của những câu truyện cổ tích
Ngoài ra cũng có một số công trình nghiên cứu về truyện cổ tích Việt Nam qua những câu truyện cụ thể, chủ đề cụ thể Có thể kể đến như:
Năm 1999, Nguyễn Thị Huế đã xuất bản cuốn Nhân vật xấu xí mà tài ba
trong truyện cổ tích Việt Nam [45] Trong cuốn sách tác giả đi sâu vào tìm hiểu
các motip đặc trưng cấu tạo nên nhân vật xấu xí, các nhân vật xấu xí kiểu như anh Trương Chi, xấu về ngoại hình nhưng lại có tài năng Qua đó khẳng định, thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình và tài năng là một thủ pháp xây dựng nhân vật đặc trưng trong truyện cổ tích Việt Nam
Trang 21Công trình Sơ bộ tìm những vấn đề trong truyện cổ tích qua truyện Tấm
Cám [58] năm 2009 của tác giả Đinh Gia Khánh Đây là công trình đi sâu tìm hiểu
truyện cổ tích Tấm Cám trên nhiều bình diện, tác giả một mặt, đã có sự bổ sung thêm nhiều dị bản có cùng kiểu truyện Tấm Cám ở Việt Nam Từ đó tác giả khái quát những đặc trưng về nội dung, nghệ thuật và quy luật lưu truyền truyện cổ tích Tác giả cũng đã phân tích những chủ đề cơ bản của truyện cổ tích Tấm Cám, như là chủ đề đấu tranh xã hội và chủ đề phong tục tập quán
Cuốn sách Khảo sát nhóm truyện cổ tích thần kỳ "Người - Tiên" của
người Việt [43] của Đặng Thị Thu Hiền, Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2009 đã
trình bày một số khái niệm: truyện cổ tích, kiểu truyện, típ, môtíp, nhóm truyện, khảo sát diện mạo nhóm truyện cổ tích thần kỳ "Người-Tiên" của người Việt Tìm hiểu một vài phương diện cơ bản về nghệ thuật, nội dung ý nghĩa của nhóm truyện cổ tích thần kỳ "Người-Tiên" của người Việt qua đó thấy được ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng dân gian tới nhóm truyện cổ tích thần kỳ "Người-Tiên" của người Việt nói riêng và truyện cổ tích thần kỳ nói chung
Truyện cổ tích Việt Nam - một trong những thể loại văn học dân gian Việt Nam, được rất nhiều các tài liệu nghiên cứu bàn đến Nhưng các tài liệu nghiên cứu vẫn còn mang tính chung chung nặng về liệt kê, thiếu tính thống nhất về mặt quan điểm Chủ yếu là nghiên cứu truyện cổ tích dưới góc độ văn học Vì vậy, cần phải có công trình nghiên cứu sâu hơn, đưa ra được một khái niệm cụ thể nói
rõ về thể loại truyện cổ tích cũng như sự ra đời của nó, đặc biệt là chỉ ra được triết lý nhân sinh chứa đựng trong những câu truyện cổ tích này Đây chính là cơ hội cho tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa về vấn đề này
2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của người Việt
Bên cạnh các công trình nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu về triết lý nhân sinh nói chung còn phải kể đến các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến triết
lý nhân sinh của người Việt được thể hiện trong các hình thức văn hóa dân gian Việt Nam Tiêu biểu như văn học dân gian Việt Nam (cao dao, tục ngữ, hò, vè,
Trang 22truyền thuyết, thần thoại, cổ tích…), các tín ngưỡng dân gian, trò chơi dân gian Những hình thức văn hóa dân gian này này đều chứa đựng trong đó những triết lý nhân sinh sâu sắc mà các tác giả dân gian muốn gửi gắm Đây là những tài liệu tham khảo rất cần thiết đối với nghiên cứu sinh để có thể khái quát được về triết lý nhân sinh của người Việt, từ đó có sự liên hệ với triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam Có thể kể đến một số các công trình như sau:
Cuốn sách Tiếng cười dân gian Việt Nam [17] của Trương Chính, Phong
Châu năm 1986 Tác phẩm không chỉ là tập hợp những cuốn truyện cười dân gian của Việt Nam mà còn chỉ ra giá trị triết lý nhân sinh chứa đựng trong những câu truyện cười Đó là triết lý đấu tranh bảo vệ lẽ phải và sự tiến bộ xã hội Đồng thời
đả kích, hạ bệ các đối tượng gian ác, lừa mị, bài trừ các thói hư tật xấu của con người Thông qua những câu truyện cười, tác giả dân gian hướng con người đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống
Bên cạnh đó còn có những tài liệu nghiên cứu về vai trò của triết lý nhân sinh trong văn học dân gian đối với xã hội Việt Nam hiện nay Có thể kể đến cuốn
Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam [56] của Đinh
Gia Khánh đã cung cấp một cách có hệ thống những giá trị truyền thống và những ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với sự phát triển của xã hội trong giai đoạn mới Cuốn sách khẳng định văn hóa dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hóa luôn trường tồn cùng lịch sử, giúp dân tộc ta trụ vững qua bao cuộc xâm lăng, bao biến thiên của xã hội Với những truyền thống tốt đẹp của mình văn hóa dân gian đã đóng vai trò tích cực trong sự phát triển của xã hội Việt Nam, đồng thời đang phát huy ảnh hưởng rộng lớn với toàn xã hội trên bước đường xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Bài báo Triết lý dân gian về hạnh phúc trong tục ngữ, thơ ca dân gian
Việt Nam [111] của tác giả Lê Huy Thực đăng trên tạp chí triết học số 2, tháng 2
năm 2004 cũng đã đưa ra những quan điểm chỉ ra triết lý nhân sinh về tình yêu đôi lứa, về hôn nhân, hạnh phúc gia đình trong tục ngữ và cao dao Việt Nam Bài
Trang 23báo cũng chỉ ra trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, việc bảo vệ, giữ gìn hạnh phúc, hôn nhân còn được thực hiện bằng cách ứng xử, hành động đúng mức, hợp lý của con người
Bài báo Văn hóa dân gian trong di sản văn hóa dân tộc [123] của Ngô
Đức Thịnh trên tạp chí Di sản văn hóa năm 2005 đã chỉ ra những giá trị và ý nghĩa của văn hóa dân gian Việt Nam Tác giả đã chỉ ra văn hóa dân gian chính
là khởi nguồn, sản sinh và nuôi dưỡng các hình thức khác của văn hóa dân tộc Văn hóa dân gian là văn hóa của quần chúng lao động do quần chúng sáng tạo ra nên chúng mang tính cộng đồng rất cao Vì vậy mà văn hóa dân gian chứa đựng những giá trị phổ quát của dân tộc như lòng yêu nước, tính cộng đồng, tính cần
cù và sáng tạo trong lao động Tác giả cũng chỉ ra văn hóa dân gian mang giá trị thẩm mỹ cao và thể hiện tâm hồn dân tộc
Luận án “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên Huế” [52]
năm 2011 của tác giả Cao Thị Hoa đã đi sâu phân tích và làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn
về quan niệm sống (nhân sinh quan, thế giới quan) của con người Việt Nam ở tỉnh Thừa Thiên Huế, vận dụng nó ở góc độ kế thừa, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, phạm
vi nghiên cứu của đề tài mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế, mà chưa đi sang được các vùng miền khác hoặc các thể loại khác trong đó có truyện cổ tích Việt Nam
Cuốn sách Một nhận thức về văn học dân gian Việt Nam [64] của tác giả
Nguyễn Xuân Kính xuất bản năm 2012 đã khái quát tính triết lý của văn học dân gian Việt Nam “ phản ánh nhận thức của các cư dân về thiên nhiên, đất nước, ca ngợi quê hương, tổ quốc, ghi nhận và lưu truyền những tri thức về lao động sản xuất, đánh bắt, chăn nuôi và buôn bán, về đối nhân xử thế, cất tiếng cười chế giễu thói hư, tật xấu, phản kháng lại áp bức, bất công, ca ngợi điều thiện, thể hiện những cung bậc tình cảm trong tình yêu đôi lứa, phản ánh những mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình và xã hội.”
Cuốn Văn học dân gian, cái hay, vẻ đẹp [72] của tác giả Lê Xuân Mậu
Trang 24xuất bản năm 2012 đã chỉ ra những vẻ đẹp của một tư duy logic sắc sảo của những người bình dân cùng những triết lý sâu sắc đậm đà màu sắc minh triết Việt qua ca dao, tục ngữ, câu đố dân gian Tác giả còn phát hiện giá trị tạo hình đặc sắc ở nhiều câu tục ngữ phản ánh một tư duy hình tượng mạnh mẽ của
những người bình dân ít học
Luận án tiến sĩ Nhân sinh quan người Việt qua Folklore Việt Nam [80]
của Phùng Thị An Na đã làm rõ nhân sinh quan của người Việt thể hiện qua Folklore Việt Nam, cụ thể là qua lễ hội và tín ngưỡng dân gian, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực, khắc phục những hạn chế trong nhân sinh quan đó
Cuốn Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam [74] của Hoàng
Thúc Lân (chủ biên) xuất bản năm 2017 Cuốn sách đã tiếp cận một cách khoa học, hệ thống triết lý nhân sinh của người Việt trong ca dao, tục ngữ Đó là vấn
đề về mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, con người với con người và con người với chính bản thân mình Từ đó giúp cho người đọc hiểu được yếu tố triết học thâm thúy, sâu sắc trong tục ngữ, ca dao mà ông cha ta đã tạo dựng từ ngàn đời
Luận án tiến sĩ triết học Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay [106] của nghiên
cứu sinh Nguyễn Thị Tình (2018) Luận án đã làm rõ những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Từ đó khẳng định giá trị trường tồn của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Luận án cũng
đã lý giải vì sao cần phải vận dụng những triết lý nhân sinh trong văn hóa truyền thống vào góp phần định hướng giá trị cho xã hội Tác giả luận án cũng đã đưa
ra những ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
Nội dung triết lý nhân sinh của người Việt được thể hiện trong các hình thức văn hóa dân gian được các nhà nghiên cứu đưa ra chính là tài liệu tham khảo quý giá để nghiên cứu sinh có thể tiếp thu và vận dụng trong việc tìm hiểu triết lý
Trang 25nhân sinh của người Việt cũng như triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc
bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của cƣ dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
3.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cƣ dân đồng bằng Bắc bộ
Đồng bằng Bắc bộ là một trong những vùng văn hóa lớn của cả nước có truyền thống và lịch sử lâu đời Chính vì vậy đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu
về các điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí, điều kiện kinh tế- xã hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng – tôn giáo cũng như những đặc trưng về văn hóa của vùng Đây
là những tài liệu giá trị cung cấp cho tác giả những kiến thức tổng quan về vùng đất này để từ đó nghiên cứu cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân Đồng bằng Bắc bộ
Cuốn sách Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng [76] do Vũ Tự Lập
chủ biên được nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội ấn hành năm 1991 Đây là công trình nghiên cứu về đồng bằng sông Hồng dưới góc độ địa lý văn hóa Tìm hiểu văn hóa đồng bằng sông Hồng như một vùng văn hóa đặc thù của đất nước,
có những đặc trưng mà các vùng khác của đất nước không có hoặc không đậm nét Từ việc phân tích khung cảnh môi trường tự nhiên và đặc trưng của cư dân đồng bằng sông Hồng, các tác giả tập trung phân tích những vấn đề về văn hóa đồng bằng sông Hồng, cần kế thừa, gìn giữ tinh hoa văn hóa truyền thống khi xây dựng một nền văn hóa mới
Cuốn sách Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam [123] của
Ngô Đức Thịnh, xuất bản năm 1993, tại nhà xuất bản Trẻ đã phác thảo phân vùng và giới thiệu một số vùng văn hóa ở Việt Nam như vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ, vùng văn hóa xứ Lạng, xứ Huế Đồng thời với việc phân vùng tác giả còn chỉ ra những nét văn hóa, đặc trưng văn hóa của từng vùng trong đó có những đặc trưng văn hóa của đồng bằng Bắc bộ Tác giả cũng chỉ ra được văn hóa người Việt ở đồng bằng Bắc bộ là văn hóa lâu đời và tiêu biểu nhất của văn
Trang 26hóa truyền thống của người Việt Được thể hiện qua đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tiêu biểu nhất là qua lễ hội, qua các hoạt động văn hóa nghệ thuật như hệ thống truyền thuyết lịch sử, truyện kể dân gian, ca dao tục ngữ, phương ngôn, các loại dân ca tiêu biểu, hình thức diễn sướng và sân khấu cổ truyền
Công trình của Trần Đăng Sinh Những khía cạnh triết học trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay [96]
Trong công trình này Trần Đăng Sinh đã phân tích và chỉ ra những quan niệm của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ về không gian, thời gian và con người trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến những quan niệm nhân sinh trong loại hình tín ngưỡng này như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ thể hiện đạo hiếu, đạo làm người, thể hiện ý thức nhớ về nguồn cội, là nét đẹp văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng Ngoài những quan niệm về vũ trụ, những quan niệm về nhân sinh, tác giả cũng phân tích và chỉ ra thực trạng và khuynh hướng biến đổi tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ
Cuốn sách Tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội dân gian người Việt ở châu thổ
Bắc bộ (2010) [107] của Vũ Anh Tú được xây dựng trên một khung lý thuyết hiện
đại của văn hóa dân gian gắn liền với một hệ thống tư liệu đậm đặc chất phồn thực Tác giả đi sâu vào lý giải nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng phồn thực, coi
đó là một hoạt động mang “tính thiêng” của con người với những biểu hiện phối ngẫu để cầu mong sự sinh sôi, nảy nở cho cây trồng và vật nuôi Nội dung cuốn sách
đi sâu phân tích nguồn gốc hình thành, những biểu hiện, sự phân bố, đặc điểm… của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa của người Việt ở đồng bằng châu thổ Bắc bộ nói riêng Bên cạnh đó, tác giả đề xuất một
số giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển loại hình tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa Việt Nam đương đại
Bài báo Truyện cổ tích xứ Bắc và dấu ấn địa phương hóa [9] của Nguyễn
Huy Bỉnh đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số tháng 3 năm 2011 Bài báo đề
Trang 27cập đến một tính chất của các truyện cổ tích xứ Bắc hay khu vực đồng bằng Bắc bộ
đó là dấu ấn địa phương hóa Truyện cổ tích gắn với tên ngọn núi, dòng sông diễn
ra khá phổ biến ở xứ Bắc Địa danh chính là môi trường để câu truyện ra đời hoặc là gắn vào đó Tiêu biểu như truyện cổ tích Tấm Cám thì gắn với ngọn núi Dạm, truyện Vương Chất gặp tiên và Từ Thức gắn với núi Phật Tích, truyện Trương Chi trên dòng sông Tiêu Tương Tác giả bài viết cũng khẳng định rằng, khi truyện cổ tích được địa danh hóa thì chúng sẽ trở nên sống động và tăng thêm niềm tin cho nhân dân vào sự thần kì Chính việc địa danh hóa các câu truyện cổ tích của xứ Bắc
đã góp phần để lại dấu vết trong việc lưu truyền và tồn tại của các câu truyện cổ tích trong đời sống của con người
Luận án Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
vùng đồng bằng Bắc bộ [120] năm 2013 của Nguyễn Hữu Thụ đã phân tích khía
cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ Luận án đã chỉ ra những cơ sở ảnh hưởng đến sự hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ, khái lược lịch sử phát triển, nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ Luận án cũng đã khái quát những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị
Cuốn sách Truyện kể dân gian trong không gian văn hóa xứ Bắc của
Nguyễn Huy Bỉnh, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2015 [8] Tác phẩm đi sâu vào phân tích nội dung và hình thức của các truyện kể như truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười để từ đó phục dựng lại đời sống văn hóa tinh thần cổ truyền của cư dân đồng bằng Bắc bộ Tác giả đã dành chương 3 để phân tích về truyện cổ tích của xứ Bắc bộ Tác giả đã phân tích truyện cổ tích xứ Bắc trên hai thể loại là truyện cổ tích thần kì xứ Bắc và truyện cổ tích sinh hoạt xứ Bắc Trên
cơ sở khảo sát các văn bản truyện cổ tích lưu truyền ở xứ Bắc tác giả đã rút ra kết luận: “truyện cổ tích thần kì phản ánh vấn đề rộng lớn của xã hội như bi kịch gia đình từ quần hôn đến hôn nhân một vợ một chồng, từ chế độ mẫu quyền sang phụ quyền, từ chế độ chưa có giai cấp sang chế độ có giai cấp” [8, tr.33] Bên
Trang 28cạnh đó tác giả cũng phân tích một số những truyện cổ tích sinh hoạt xứ Bắc và chỉ ra rằng “các câu truyện đã phần nào nói lên được hiện thực cuộc sống văn hóa của người dân xứ Bắc” [8, tr.34] “Có thể nói truyện cổ tích sinh hoạt xứ Bắc đã gắn với đời sống tinh thần của người dân xứ Bắc từ bao đời nay” [8, tr.35] Cũng trong cuốn sách này tác giả còn cho ta thấy được truyện cổ tích xứ Bắc được lưu truyền rộng rãi trong dân gian từ bao đời nay và trong quá trình lưu truyền đó nó không chỉ gắn với những địa danh, những vùng đất cụ thể của
xứ Bắc mà nó còn gắn với đời sống sinh hoạt văn hóa tâm linh của con người nơi đây
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thuý Hằng “Ảnh hưởng của nhân sinh
quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay”
[38] (2015) Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề về nhân sinh quan Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng, cùng với đời sống tinh thần của cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay, luận án phân tích thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay, từ đó đưa ra quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay
Luận án tiến sĩ “Không gian văn hóa người Việt đồng bằng Bắc bộ qua tư
liệu của ca dao tục ngữ” [2] của Nguyễn Thị Phương Anh tại đại học Quốc Gia
Hà Nội Luận án đã khai thác trực tiếp nội dung của các câu ca dao, tục ngữ theo
cả nghĩa đen và nghĩa bóng từ đó góp phần nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn những nét đặc trưng văn hóa và tinh thần của cư dân vùng đồng bằng Bắc
bộ, từ đó góp phần lưu giữ lại những đặc điểm, tư duy, lối sống và những tri thức văn hóa dân gian truyền thống của con người nơi đây
Bài báo Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc bộ [37] của tác giả Thân Thị
Hạnh đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 1(98) năm 2016 đã nghiên cứu một nét đặc trưng trong đời sống văn hóa người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ
Trang 29đó là văn hóa làng Tác giả bài viết đã đưa ra những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa làng của người Việt khu vực đồng bằng Bắc bộ, đó là tính cộng đồng, tính tự trị, tính dung hợp trong tư duy Đồng thời cũng chỉ ra những giá trị và hạn chế của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc bộ đó là, văn hóa làng có vai trò to lớn đối với việc hun đúc nên tâm hồn Việt, các giá trị đạo đức, nhân văn Tuy nhiên, văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc bộ cũng có những hạn chế, không phù hợp với yêu cầu của việc xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Bài báo Các yếu tố ảnh hưởng đến tín ngưỡng dân gian của người Việt
vùng đồng bằng Bắc bộ [25] của hai tác giả Bùi Văn Dũng và Nguyễn Thị Cẩm
Tú đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 6 (115) năm 2017 đã phân tích những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử và văn hóa tới việc hình thành tín ngưỡng dân gian của người Việt ở đồng bằng Bắc
bộ Ngoài ra, bài viết còn chỉ ra ba tôn giáo ngoại lai là Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo cũng có những vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng này
Cuốn sách Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Quốc Vượng năm 1998
[136] đã khái quát một cách đầy đủ và chi tiết về vùng văn hóa châu thổ Bắc bộ về đặc điểm tự nhiên và môi trường xã hội Những nét đặc trưng về văn hóa của vùng đất này Lối ứng xử với tự nhiên, văn hóa ăn, mặc, ở của người Bắc bộ Những đặc điểm về kho tàng văn hóa vô thể và hữu thể ở vùng đất này Cuốn sách còn chỉ ra những đặc điểm trong tín ngưỡng cũng như tôn giáo của người dân nơi đây
Tất cả các công trình nghiên cứu có liên quan đến sự hình thành triết lý
nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ đã cung cấp cho nghiên cứu sinh những
tư liệu phong phú và đầy đủ về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, đặc điểm nổi bật về mặt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân đồng bằng Bắc bộ Đây là những tư liệu hết sức quý giá để nghiên cứu sinh có thể tìm hiểu và nghiên cứu về
cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ Từ đó khái quát lên được những nét đặc trưng riêng biệt trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ so với cư dân các vùng đất khác ở Việt Nam
Trang 303.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh của cƣ dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
Cuốn sách Việt Nam truyện cổ, triết lý và tình thương xuất bản năm 1991
của tác giả Bùi Văn Nguyên [84], nghiên cứu về văn học dân gian trong đó có truyện cổ tích dưới góc độ triết học Phương Đông Trên cơ sở phân tích một số truyện cổ dân gian để lý giải tình thương và tính ghen ghét, hận thù, Bùi Văn Nguyên đã viết: “Cái gọi là “đạo” là nguyên tố ban đầu của Mẹ Đất và Mẹ
Người cội nguồn của Tình thương loài người Oái ăm thay, trong quá trình sinh
thành, có âm dương, như cả bốn chương tập chuyên luận này đã minh chứng,
thì Tình thương mới chỉ là mặt thuận, chiều thuận, bên cạnh mặt nghịch, chiều
nghịch của nó, là tính ghen ghét, tính hận thù… Bởi vì cuộc sống bao giờ cũng
có hai mặt: tương sinh và tương khắc” [84, tr.182]
Luận án “Những tư tưởng triết học trong truyện kể dân gian Việt Nam” [39]
(2006) của tác giả Phạm Thị Thúy Hằng cũng đã trình bày một số tư tưởng triết học
về thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam Đề cập đến những ảnh hưởng của truyện kể dân gian đối với việc xây dựng nền văn hóa của dân tộc
Văn học dân gian những công trình nghiên cứu [87] của Bùi Mạnh Nhị
(chủ biên), Hồ Quốc Hùng và Nguyễn Thị Ngọc Diệp, nhà xuất bản Giáo dục năm
2012 Cuốn sách đã tổng hợp những công trình nghiên cứu về thể loại văn học dân gian, trong đó có truyện cổ tích Tác giả cho rằng, cuộc đời của các nhân vật “đều sống lẻ loi, không tài sản, không nơi nương tựa, có địa vị thấp kém, bị thua thiệt
và bị ức hiếp Nhân vật thiếu một cuộc sống gia đình bình thường, bị ruồng bỏ và
bị đẩy vào cảnh sống côi cút Những mụ dì ghẻ, những người anh, những lão phú ông tham lam, xảo quyệt đã lừa dối, bóc lột sức lao động, tài sản của các nhân vật
và dè bỉu, khinh miệt, hắt hủi, tìm mọi cách giết hại họ”[87, tr.209] Cuốn sách đã đưa ra những nhận định về số phận, cuộc đời của con người qua các nhân vật trong truyện cổ tích Những nghiên cứu và phân tích chi tiết của tác giả rất có ý nghĩa đối với nghiên cứu sinh trong việc nghiên cứu triết lý nhân sinh về con người trong truyện cổ tích
Trang 31Cuốn sách Tư tưởng tiến bộ - triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân và
vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian của Vũ Tố Hảo và Hà Châu
[49] Trong chương III của cuốn sách tác giả đã phân tích những triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân ta thông qua việc phân tích một số truyện cổ tích tiêu biểu “Từ xa xưa dân tộc Việt Nam đã có một lẽ sống riêng, một bản lĩnh riêng,
đó là tính cách không khuất phục trước kẻ thù, trước quyền hành và bạo lực” [49, tr.44] “Với một triết lý nhân sinh thực tiễn mang tính nhân văn sâu sắc, nhân dân đã phủ định triết lý siêu hình, hư vô chủ nghĩa ấy của đạo Phật Với họ cuộc sống hiện tại mới là đáng quý, đáng trân trọng Hạnh phúc phải được đền
bù ở kiếp này, tội ác cũng phải bị trừng trị ở ngay cõi đời này” [49, tr.49]
“Truyện cổ tích là một giấc mơ, là sự mong mỏi về một xã hội công bằng, bác ái được xây dựng trên cuộc sống có thực của con người chứ không phải ở thế giới siêu thực bên kia” [49, tr.49]
Cuốn sách Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam của tập thể khoa Triết
học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhà xuất bản Lý luận Chính trị Hà Nội năm
2016 [134] Cuốn sách có những bài viết đề cập khá chi tiết về triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam Tiêu biểu như bài viết của Nguyễn Thị Vân và
Nguyễn Diệu Hoa về Triết lý về mối quan hệ của con người với gia đình trong
truyện cổ tích Việt Nam Bài viết chỉ ra triết lý về tình cảm gia đình trong truyện
cổ tích được thể hiện ở tình yêu đôi lứa, bất chấp những quan niệm cổ hủ như môn đăng hộ đối để bảo vệ tình yêu của mình Hay triết lý về tình cảm vợ chồng thủy chung, son sắt, tình anh em ruột thịt keo sơn… Tác giả còn đưa ra triết lý về các loại mâu thuẫn cách giải quyết mâu thuẫn trong truyện cổ tích bằng việc phân tích các loại mâu thuẫn trong một số truyện cổ tích tiêu biểu: “truyện cổ tích Việt Nam rất ít nói về thế giới bên kia mà tập trung vào giải quyết mẫu thuẫn xung đột, những mâu thuẫn ở cuộc sống hiện tại dương gian” [134] Cuốn sách còn có bài
viết của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hương và Nguyễn Thị Diệp Triết lý về mối
quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong truyện cổ tích Việt Nam Bài viết
đã lý giải nguồn gốc, đặc điểm của các sự vật, hiện tượng, các loài sinh vật trong thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong truyện cổ tích
Trang 32Luận án tiến sĩ “Nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam”
( 2018) của Phạm Thị Oanh đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam, từ đó làm rõ các giá trị và hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam Luận án đã góp phần làm rõ một số nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam về cuộc đời con người, về nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ và con đường giải thoát Về truyện cổ tích, luận án cũng làm rõ khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm, nội dung, vai trò của truyện cổ tích Phân tích làm rõ nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo trong một số truyện cổ tích Việt Nam Trên cơ sở đó, chỉ ra những giá trị và hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam Những kết quả nghiên cứu đã đạt được trong luận án này là tài liệu tham khảo giúp nghiên cứu sinh hoàn thiện hơn hướng nghiên cứu của mình
Ngoài ra còn có một số các bài viết đăng trên các tạp chí đã có những phân tích cụ thể về các câu truyện cổ tích để từ đó rút ra những triết lý nhân sinh chứa đựng trong đó Có thể kể đến các bài viết:
"Những nét độc đáo trong tư duy người Việt qua văn học dân gian", đăng
trên tạp chí Triết học, số 6 (169) năm 2005 của tác giả Đỗ Lan Hiền đã phân tích
một số truyện cổ tích Việt Nam như truyện Tấm Cám, Sự tích dưa hấu, để rút ra
những triết lý nhân sinh độc đáo trong tư duy của người Việt “chúng ta có thể
tìm thấy bản sắc tư duy Việt trong truyện Sự tích quả dưa hấu Mai An Tiêm
dám chống lại vua cha và cuối cùng, chiến thắng đã thuộc về chàng Điều đó có nghĩa rằng, quan hệ vua - tôi, cha - con hoàn toàn không tuân theo lý thuyết Tam cương, mà cụ thể là tư tưởng Trung quân/Quân - Thần nhất nhất của
Nho giáo” “Truyện Tấm Cám, là thể loại chuyện phổ biến có thể tìm thấy ở
nhiều dân tộc khác vì đều có chung một chủ đề: mâu thuẫn giữa dì ghẻ - con
chồng Song, điểm khác biệt trong truyện Tấm Cám của Việt Nam là tính đấu
tranh bền bỉ, quyết liệt của một cô Tấm nhỏ bé, thảo hiền với người mẹ kế độc
ác, gian manh Hình tượng đó phản ánh truyền thống của dân tộc ta, phản ánh
Trang 33tinh thần đấu tranh kiên cường, bền bỉ của một dân tộc nhỏ bé dám chống lại một
kẻ thù xâm lược hung hãn, lớn mạnh” [42] Những bài viết này đều là những tài liệu tham khảo quý giá giúp nghiên cứu sinh hoàn thiện hơn công tình nghiên cứu của mình
Bài viết Tư tưởng Phật giáo trong truyện Tấm Cám ( 2009) [46] của Lê Thị
Huệ trên tạp chí Tôn giáo Tác giả cho rằng, nguyên nhân dẫn đến cái chết của nhân vật là: “Cám do tham lam và ngu dốt đã tự giết mình” [46, tr.32] Tác giả bài viết cũng rút ra những triết lý nhân sinh từ câu truyện cổ tích Tấm Cám này: “ Truyện biểu dương, cổ vũ tất cả những cố gắng của con người hướng về cái đẹp, cái lẽ công bình của đạo lý dân tộc và có tác dụng đào luyện con người tạo nên sức mạnh, niềm tin vào bản thân để vượt qua những sóng gió trong cuộc đời, vững bước tiến về phía trước [46, tr.35]
Cùng chủ đề về truyện cổ tích Tấm Cám tác giả Lê Xuân Chiến có bài viết
Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám [18] được đăng trên tạp chí Văn
học, tháng 6 năm 2016 Ông cho rằng, mỗi câu chuyện cổ tích đều mang nặng ý nghĩa nhân sinh quan Phật giáo, và coi đó như là những bài học làm người, đồng thời khẳng định cần phải giáo dục cho thế hệ trẻ nhận thức được giá trị nhân văn sâu sắc, sự cần thiết phải vận dụng vào thực tiễn hiện nay
Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích của các tác giả đã trình bày được một số nội dung cơ bản của triết
lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam Mặc dù còn sơ lược và chưa thành
hệ thống nhưng những công trình này là tài liệu giá trị giúp cho nghiên cứu sinh tiếp tục tìm hiểu và hoàn thiện trong nghiên cứu triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
4 Giá trị các công trình đã tổng quan, những vấn đề đặt ra và cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
4.1 Giá trị các công trình đã tổng quan
Qua quá trình khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Triết
lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam” có thể nhận định khái quát về giá trị mà các công trình đã đạt được như sau:
Trang 34Vấn đề “triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích Việt Nam” đã được
nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm và có nhiều công trình khoa học trong nước khảo cứu vấn đề này Các tài liệu này đã đưa ra cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau đối với các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài như
“triết lý”, “triết lý nhân sinh”, “truyện cổ tích” Đây chính là những tiền đề lý luận quan trọng để nghiên cứu sinh có thể tiếp thu và vận dụng trong quá trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
Với vấn đề “triết lý nhân sinh của người Việt” các công trình được khảo
cứu đã đưa ra những nghiên cứu của nhiều tác giả về triết lý nhân sinh của người Việt thể hiện trong các hình thức văn hóa dân gian như: văn học dân gian, lễ hội dân gian, hay tín ngưỡng dân gian Các công trình này đã xây dựng được hệ thống nội dung phong phú về triết lý nhân sinh của người Việt Thông qua những nội dung này, nghiên cứu sinh có cơ sở để tìm hiểu sâu hơn về triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
Vấn đề “triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ
tích Việt Nam” hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể Hầu hết các công
trình mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các yếu tố có liên quan đến cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ như: tìm hiểu về vị trí địa
lý, địa hình, những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội, những đặc trưng về văn hóa, tín ngưỡng, đời sống tinh thần của cư dân nơi đây Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu này tác giả luận án sẽ có thể tham khảo để khái quát lên được cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ Ngoài ra cũng đã có những công trình nghiên cứu trình bày được một số nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam Đây là những tài liệu quan trọng, là tiền
đề để nghiên cứu sinh có thể phân tích và làm sáng tỏ nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
4.2 Những vấn đề đặt ra và cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Trên cơ sở kế thừa kết quả từ những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, luận án sẽ tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
Trang 35Thứ nhất: Luận án cần làm rõ một số vấn đề lý luận chung như các khái
niệm triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích, triết lý nhân sinh của người Việt và triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam Đồng thời luận án cũng cần làm sáng tỏ cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trên cơ sở phân tích những điều kiện tự nhiên, tiền đề kinh tế- xã hội, tiền đề văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng – tôn giáo nơi đây
Thứ hai: Luận án cần làm rõ nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng
Bắc bộ trên cơ sở phân tích những câu truyện cổ tích Việt Nam tiêu biểu gắn với vùng đồng bằng Bắc bộ mang đặc trưng của lối sống, cách tư duy của người Việt Từ
đó khái quát lại nội dung triết lý nhân sinh của cư dân Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam Đó là triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, triết lý về mối quan hệ giữa con người với gia đình, xã hội và triết lý về mối quan hệ giữa con người với chính mình Trên cơ sở đó luận án sẽ rút ra được những đặc trưng cơ bản trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
Thứ ba: Luận án cần chỉ ra những giá trị tích cực, những điểm còn hạn chế
trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam, đồng thời rút ra ý nghĩa của những triết lý này đối với đời sống xã hội nước
ta hiện nay
Trang 36Chương 1 TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Để làm rõ khái niệm triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam thì cần phải xác định nội hàm của các khái niệm triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích
1.1.1 Triết lý
Khái niệm triết lý rất gần với khái niệm triết học, trong nhiều trường hợp
chúng được dùng với nội hàm giống nhau Song, để hiểu một cách khoa học hai khái niệm này cần thấy được sự khác nhau nhất định giữa chúng
Triết học
Triết học được ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI trước công nguyên ở một số quốc gia được coi là cái nôi của nền văn minh nhân loại như Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp Ở Phương Đông, đối với người Trung Quốc cổ đại thì chữ “triết” xuất hiện trong Kinh Thi với nghĩa là “Trí” tức là sự hiểu biết sâu rộng Còn với người Ấn Độ triết học được hiểu là “Darshana” có nghĩa là
“chiêm ngưỡng” nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm dẫn dắt con người đến với lẽ phải Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy lạp là “Phylosophia”, nghĩa là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái Như vậy Phylosophia vừa mang tính định hướng lại vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người Tuy nhiên cho dù là ở phương Đông hay phương Tây, triết học luôn được xem là hình thái cao nhất của tri thức và những nhà triết học là những nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của thế giới sự vật, hiện tượng
Trong cuốn Từ điển từ và ngữ tiếng Việt thì triết học là “Khoa học nghiên
cứu những quy luật chung nhất của thế giới và sự nhận thức thế giới” [74,
tr.1899] Còn cuốn Từ điển và danh từ triết học thì triết học được định nghĩa là
Trang 37“khoa học về các quy luật chung nhất mà cả tồn tại (tức giới tự nhiên và xã hội) lẫn tư duy của con người, quá trình nhận thức phải phục tùng” [74]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về triết học nhưng hầu hết những định nghĩa này đều thể hiện rằng, triết học nghiên cứu toàn bộ vũ trụ và con người ( thế giới, con người, xã hội và tư duy) trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó, giải thích tất cả các quan hệ trong và ngoài chỉnh thể đó, chỉ ra những quy luật phổ biến nhất chi phối quy định sự vận động của các sự vật, hiện tượng, quá trình…trong thế giới, bao gồm cả xã hội, con người và tư duy Triết học thể hiện toàn bộ sự hiểu biết của con người dưới dạng tri thức hệ thống Triết học hình thành thế giới quan và nhân sinh quan định hướng cho con người trong nhận thức và hành động Mỗi định nghĩa tùy theo cách tiếp cận ở từng góc độ khác nhau mà nhấn mạnh chức năng, đối tượng, nhiệm vụ của triết học khác nhau, nhưng bao hàm những nội dung giống nhau đó là: triết học nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Khái quát lại ta có thể hiểu: “Triết học là hệ thống tri thức
lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò và vị trí của con người trong thế giới đó” [10, tr.35]
Triết lý
Trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây, nói đến lĩnh vực tư tưởng là nói tới khái niệm triết học như triết học chính trị, triết học tôn giáo, triết học đạo đức…Ngược lại ở phương Đông, khái niệm triết lý lại được sử dụng một cách phổ biến, rộng rãi, phản ánh những tư tưởng, quan niệm về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như triết lý nhân sinh, triết lý đạo đức, triết lý sống…Cho đến nay thì việc định nghĩa triết lý đã được đưa ra trong từ điển và một số công trình khoa
học Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê (chủ biên) thì: “Triết lý được hiểu
theo nghĩa thứ hai; thứ nhất là lý luận triết học, thứ hai là quan niệm chung và sâu
sắc của con người về vấn đề nhân sinh và xã hội” [89, tr.1035] Theo Từ điển từ và
ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân triết lý được định nghĩa như sau: “triết là sự sáng
suốt; lý là lẽ; triết lý là lý luận về triết học” [74, tr.1899]
Trang 38Một số công trình nghiên cứu gần đây cũng đưa ra những quan niệm về
triết lý Theo tác giả Phạm Xuân Nam, trong cuốn sách Triết lý phát triển Việt
Nam mấy vấn đề cốt yếu “triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và
đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất
về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn đa dạng của con người trong xã hội, chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn đa dạng ấy” [81, tr.31] Nguyễn Văn Huyên trong bài
viết Triết lý phát triển của C.Mác và Ph.Ănghen, V.I Lênin và Hồ Chí Minh cho
rằng: “Triết lý có thể hiện bằng một mệnh đề hàm súc những ý nghĩa về nhân tình thế thái, về tự nhiên và xã hội, nó cũng có thể là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết (…) triết lý đúng và khoa học thì nó trở thành
cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống quan điểm học thuyết, nó làm công cụ
lý thuyết cho hành động hiệu quả của con người [44, tr.9] Trong Đối thoại văn
hóa tác giả Hoàng Trinh viết: “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những tư
tưởng cơ bản được dùng để làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người
về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày…Có những dân tộc đã có những triết lý từ lâu mặc dầu chưa có triết học với hệ thống khái niệm của nó”[130, tr.8] Còn Nguyễn Minh Đức trong bài viết
Triết lý quân sự truyền thống Việt Nam lại cho rằng: “so với triết học, triết lý có
thể được hiểu ở một trình độ thấp hơn, chỉ là cơ sở lý luận của một hệ thống quan điểm, một học thuyết và theo nghĩa ở mức độ cao, nó chính là những quan
niệm, tư tưởng sâu sắc nhất của con người về các lĩnh vực đời sống, xã hội” [29]
Các công trình nghiên cứu và khảo sát ở trên đã mang lại nghĩa tường minh cho khái niệm triết lý Bản thân nghiên cứu sinh nhận thấy rằng, nếu như triết học thường được thể hiện một cách có hệ thống, có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa cao qua các nguyên lý, quy luật, phạm trù thì triết lý lại là những tư tưởng giản đơn, bình dị, được khái quát lên từ những sinh hoạt hoạt vật chất đời thường và hoạt động lao động sản xuất hàng ngày của con người Ở mỗi giai
Trang 39đoạn phát triển của lịch sử, triết lý đều là sự suy ngẫm, đúc kết, tổng kết những điều cơ bản nhất về các mối quan hệ kinh tế, xã hội trong đời sống của mỗi cá nhân và đời sống của cộng đồng Trên cơ sở sự chiêm nghiệm đó rút ra những
quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội để phục vụ cho thực tiễn của đời sống
Triết lý còn là những tư tưởng, quan điểm phản ánh bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống sinh hoạt mọi mặt của cá nhân hay cộng đồng theo hướng khẳng định niềm tin, giá trị, đạo lý có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng
xử, phương châm sống, suy nghĩ hành động của con người trong những hoàn cảnh nhất định Nói cách khác, triết lý là kết quả của sự suy ngẫm chiêm nghiệm
và đúc kết thành những quan điểm và luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như những hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội
Triết lý có vai trò định hướng trực tiếp trở lại đối với cuộc sống cũng như hoạt động thực tiễn Triết lý được thể hiện qua ngôn ngữ, nói lên những suy nghĩ của con người, niềm tin, thái độ, cách nhìn nhận của họ về bản thân hay thế giới
là như thế nào Triết lý là nỗ lực xây dựng một thế giới quan thống nhất làm cơ
sở cho suy nghĩ, hành động Sự hình thành một triết lý thường có ý thức, nhưng cũng có thể vô thức Nếu triết học lấy tiêu chuẩn khách quan để đánh giá thì triết
lý lại là cái chủ quan của cá nhân, của nhóm, tầng lớp…thậm chí của cả dân tộc
Triết lý được hình thành tùy vào từng khu vực, từng địa phương sẽ có những đặc điểm và tính chất riêng biệt Triết lý cũng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, có triết lý nhân sinh, triết lý vũ trụ, triết lý lịch sử, triết lý kinh tế, triết lý đạo đức, triết lý pháp luật Triết lý rất đa dạng, đủ cỡ, đủ mức, nếu triết học được hình thành do nghiên cứu thì triết lý lại do trải nghiệm trong cuộc sống nhằm ứng phó với một thực tiễn Tùy góc độ, một thực tiễn có thể sản sinh nhiều triết lý, triết lý có thể thay đổi khi thực tiễn thay đổi
Như vậy, Triết lý là những quan điểm, quan niệm được rút ra thông qua
trình suy ngẫm, chiêm nghiệm của con người về giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình nhằm giải quyết những vấn đề được đặt ra trong thực tiễn cuộc
Trang 40sống Với nghĩa đó triết lý đóng vai trò là cơ sở giúp định hướng, chỉ đạo cho
hoạt động thực tiễn của con người Giúp cho con người có cách ứng xử phù hợp với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình
Phân biệt triết học với triết lý
Từ những căn cứ về nội hàm hai khái niệm triết học và triết lý đã tìm hiểu phía trên, chúng ta cần xác định rõ hai khái niệm này dùng để biểu đạt và phản ánh những đối tượng hoàn toàn khác nhau Ở Việt Nam chúng ta vẫn có sự phân biệt giữa triết học và triết lý, tuy nhiên tài liệu phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm này chưa nhiều, vẫn có những tranh luận xung quanh hai khái niệm này
Làm rõ sự khác biệt và mối quan hệ giữa triết học và triết lý nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nam đã viết: “khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học … nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học, bởi từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một số triết thuyết nhất định, người ta có thể rút ra những triết lý về cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó tin theo”[81, tr.31]
Phân biệt giữa triết lý và triết học, trong bài viết Giá trị bền vững của triết
lý dân gian trong toàn cầu hóa (hội thảo quốc tế toàn cầu hóa: Những vấn đề
triết học ở Châu Á – Thái Bình Dương do Viện Triết học tổ chức tại Hà Nội, tháng 11 năm 2005) tác giả Tô Duy hợp cho rằng: “Triết lý và triết học đều cùng một phạm trù, đó là thế giới quan và nhân sinh quan Những triết lý là thế giới quan kinh nghiệm nó khác với triết học là thế giới quan lý luận” [53] Trong bài
viết Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý trên tạp chí Triết học số 3/1998, theo Hồ
Sỹ Quý: “Mặc dù ở nước ta có một số người dịch Philosophy là triết lý nhưng trong tiếng việt, chúng ta đều biết triết lý và triết học là các khái niệm khác nhau, dùng để biểu đạt phản ánh những đối tượng khác nhau Nếu như trong đời sống
xã hội thuật ngữ triết học chỉ được sử dụng như một danh từ và đôi khi được sử dụng như một tính từ, thì triết lý thường xuyên được sử dụng với cả ba tư cách danh từ, tính từ, động từ” [95]
Qua một số nghiên cứu và nhận định của các nhà khoa học chúng ta có