Kết quả đề tài đã chỉ ra được vai trò quan trọng của xỉ than và vôi hoặc xi măng trong việc hình thành cường độ của hỗn hợp đất-xỉ-vôi, đất-xỉ-xi măng ngoài ra tính chất cơ lý của bản th
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
Mã số: 8580205
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN TRUNG VIỆT
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Trần Trung Việt
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tên đề tài: 1
2 Lý do chọn đề tài 1
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Mục tiêu nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIA CỐ ĐẤT BẰNG CHẤT LIÊN KẾT VÔ CƠ5 1.1 Mở đầu 5
1.2 Tổng quan về gia cố vật liệu xây dựng bằng chất liên kết vô cơ 5
1.2.1 Gia cố đất bằng vôi 5
1.2.2 Gia cố đất bằng xi măng 6
1.2.3 Gia cố đất bằng tro bay 7
1.2.4 Xỉ than gia cố vôi 8
1.2.5 Gia cố đất bằng tro bay với xi măng hoặc vôi 8
1.2.6 Kết luận 8
1.3 Giới thiệu về vật liệu nghiên cứu: 9
1.3.1 Nguồn vật liệu 9
1.3.2 Thành phần hóa học của vật liệu 10
1.4 Nguyên lý hình thành cường độ 11
1.4.1 Tác dụng của vôi và xi măng khi gia cố với đất 11
1.4.2 Quá trình tương tác đất - vôi, đất –xi măng 12
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến gia cố đất với vôi và xi măng 13
1.4.4 Nguyên lý hình thành cường độ của đất gia cố xỉ than, đất gia cố xỉ than và vôi, đất gia cố xỉ than và xi măng 14
1.4.5 Kết luận 14
1.5 Một số nghiên cứu gia cố đất trong và ngoài nước 15
1.5.1 Nghiên cứu trên thế giới 15
1.5.2 Nghiên cứu trong nước 15
Trang 51.5.3 Kết luận 16
1.6 Kết luận chương 1 16
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG PHƯƠNG TRÌNH THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ CỦA HỖN HỢP GIA CỐ 17
2.1 Mở đầu 17
2.2 Quy hoạch mẫu thí nghiệm và thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của đất gia cố.17 2.2.1 Quy hoạch số lượng mẫu thí nghiệm 17
2.2.2 Thí nghiệm xác định thành phần hạt của đất 19
2.2.3 Thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn của đất gia cố 21
2.2.4 Thí nghiệm cường độ chịu nén của đất gia cố 25
2.2.5 Thí nghiệm mô đun đàn hồi của đất gia cố 28
2.2.6 Thí nghiệm xác định sức chống cắt của đất tự nhiên ở máy cắt phẳng 32
2.3 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên và các tính chất cơ lý của đất đến kết quả thí nghiệm 35
2.3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng vôi và xỉ, hàm lượng xi măng và xỉ đến độ ẩm tốt nhất và dung trọng khô lớn nhất của đất gia cố 35
2.3.2 Ảnh hưởng của tính chất cơ lý của đất và hàm lượng %xỉ , %vôi, %xi măng đến cường độ nén và mô đun đàn hồi của đất gia cố 37
2.4 Xây dựng phương trình thực nghiệm 45
2.4.1 Mô hình ứng xử “ Response Surface” 45
2.4.2 Xây dựng phương trình thực nghiệm xác định cường độ nén và mô đun đàn hồi của đất gia cố 46
2.4.3 Xây dựng phương trình thực nghiệm xác định cường độ nén và mô đun đàn hồi của đất gia cố xỉ - Xi măng - CPTN 51
2.5 Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PHÓNG XẠ TRONG HỖN HỢP GIA CỐ ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ 55
3.1 Mở đầu 55
3.2 Chế bị mẫu và thí nghiệm xác định hàm lượng phóng xạ trong môi trường nước 55
Trang 63.2.1 Chế bị mẫu 55
3.2.2 Thí nghiệm kiểm tra độ phóng xạ 58
3.3 Phân tích ảnh hưởng của hàm lượng vôi, xi măng đến khả năng lan truyền phóng xạ trong nước của hỗn hợp gia cố 62
3.3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng vôi và xỉ đến khả năng lan truyền phóng xạ trong nước của hỗn hợp gia cố 63
3.3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng xi măng và xỉ đến khả năng lan truyền phóng xạ trong nước 64
3.3.3 Kết luận 66
3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế 66
3.4.1 Phân tích bài toán kỹ thuật 66
3.4.2 Phân tích bài toán kinh tế 69
3.4.3 Kết luận 70
3.5 Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 72
KẾT LUẬN 73
KIẾN NGHỊ 74
NHỮNG TỒN TẠI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 79
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Wb : Độ ẩm của đất lúc lấy mẫu
P : Tải trọng khi phá hoại mẫu
F : Tiết diện ngang trung bình của mẫu
L : Biến dạng đàn hồi của mẫu vật liệu
ai : Phần trăm khối lượng sót trên sàng i
Gi : Khối lượng sót trên sàng i
Gm : Khối lượng ban đầu của mẫu
Aj : Phần trăm lượng lọt qua sàng j
R : Số đọc đồng hồ đo biến dạng trên vòng đo lực ngang
Rn : Cường độ chịu nén của mẫu vật liệu
Eđh : Mô đun đàn hồi
Trang 8NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG XỈ THAN NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN NÔNG SƠN LÀM VẬT LIỆU GIA CỐ LỚP MÓNG TRONG XÂY DỰNG
ĐƯỜNG Ở TP TAM KỲ
Học viên: Lê Phú Lộc Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình giao thông
Mã số: 8580205 Khóa: 20016 – 2018 Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN
Tóm tắt – Đề tài giới thiệu phương pháp xây dựng mô hình thực nghiệm xác định R n và
E đh của vật liệu đất trộn xỉ than gia cố vôi hoặc xi măng dựa trên mô hình Response Surface (RSM) Kết quả đề tài đã chỉ ra được vai trò quan trọng của xỉ than và vôi hoặc xi măng trong việc hình thành cường độ của hỗn hợp đất-xỉ-vôi, đất-xỉ-xi măng ngoài ra tính
chất cơ lý của bản thân đất (lực dính C và góc nội ma sát ) cũng đóng vai trò rất lớn Từ
kết quả nghiên cứu, mô hình xác định R n và E đh ở tuổi 14, 28, 56, 90 ngày của hỗn hợp
đất-xỉ-vôi, R n và E đh ở tuổi 14, 28 ngày của hỗn hợp đất-xỉ-xi măng được đề xuất: với đất được lấy tại TP Tam Kỳ, xỉ than tại nhà máy nhiệt điện Nông Sơn và vôi sống được lấy từ Thanh Hóa, xi măng PCB 40 Sông Gianh Với mô hình đề xuất có thể giúp các kỹ sư nhanh chóng xác định sơ bộ được cường độ của hỗn hợp vật liệu khi biết được tính chất cơ
lý của đất (lực dính C và góc nội ma sát ) Kết quả nghiên cứu cho thấy khi gia cố bằng vôi và xỉ than, xi măng và xỉ than, các giá trị đặc trưng cơ học của đất gia cố như cường độ chịu nén, mô đun đàn hồi tăng lên đáng kể, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng vật liệu sử
dụng làm móng đường theo TCVN 10379-2014 Đồng thời khi sử dụng nguồn xỉ than tại
nhà máy Nhiệt điện Nông Sơn để gia cố thì nồng độ hàm lượng chất phóng xạ (tia gamma) giảm xuống khoảng 0.2-0.25 Sv/h dưới ngưỡng cho phép của Bộ Y tế (1 Sv/h) và của Nhật (0.4 Sv/h)
Từ khóa – đất gia cố xỉ than và vôi; đất gia cố xỉ than và xi măng; vật liệu mặt đường;
cường độ chịu nén; môđun đàn hồi; mô hình thực nghiệm
STUDYING TO ASSESSMENT USE OF SLAGS FROM NONG SON THERMAL
POWER STATION REINFORCED MATERIALS FOR HIGHWAY
CONSTRUCTION IN TAM KY CYTY Abstract - The subject introduces the method of empirical model building identify Rn and
Eđh of soil materials mixed lime or cement reinforced slags based on Response Surface model (RSM) Results the subject pointed out the important role of coal slag and lime or cement in the form of joint strength of soil-slag-lime, soil-slag-cement the physical properties of the soil (stick force c and angle of internal friction ) also played a very big role From the results of research, the model determines the Rn and Eđh at the age of 14,
28, 56, 90 days of composite soil-slag-lime, the Rn and Eđh at the age of 14, 28 days of composite soil-slag- cement was proposed: to soil taken in Tam Ky city, coal slag at Nong Son thermal power plants and quicklime are taken from Thanh Hoa With the proposed model can help engineers quickly identify preliminarily magnitude of composite materials when know the physical properties of the soil (stick force c and the angle of internal
Trang 9friction ) The research results show that when reinforced with lime and coal slag, cement and coal slag values characteristic of reinforced soil mechanics as compression resistant strength, elastic modulus increased significantly, to meet the requirements of the quality materials used road foundation according to TCVN 10379-2014 standard The study show that when using slag at the Nong Son Thermal Power for reinforcement, the concentration
of radioactive (gamma ray) decreases to about 0.2-0.25 Sv / h below the level permitted
by the Ministry of Health (1 Sv / h) and Japan (0.4 Sv / h)
Key words – Soil reinforcement and lime, coal slag; Soil reinforcement and lime, cement;
pavement material; compressive strength; elastic modulus; empirical model
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.3 Kết quả thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn của đất gia cố vôi-xỉ 23 2.4 Kết quả thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn của đất gia cố Xi măng-xỉ 23
2.7 Kết quả đo mô đun đàn hồi ở 14, 28, 56, 90 ngày tuổi của Vôi 31 2.8 Kết quả mô đun đàn hồi ở 14, 28 ngày tuổi của Xi măng 32
2.11 Đánh giá cường độ và E theo thang phân loại độ bền theo
TCVN 10379-2014 của đất gia cố vôi ở 14 và 28 ngày tuổi
43
2.12 Đánh giá cường độ và E theo thang phân loại độ bền theo
TCVN 10379-2014 của đất gia cố xi măng ở 14, 28 ngày tuổi 44
3.3 Kết quả đo hàm lượng phóng xạ (liều bức xạ tích lũy) của mẫu
3.4 Kết quả đo hàm lượng phóng xạ (liều bức xạ tích lũy) của mẫu
gia cố xi măng sau khi bảo dưỡng mẫu 7 ngày
59
Trang 11Số hiệu
3.8 Tính toán cường độ theo tiêu chuẩn đảm bảo ổn định trượt của
nền đất
69
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.14 Máy cắt ứng biến và thí nghiệm sức chống cắt của đất tự nhiên 35 2.15 Ảnh hưởng hàm lượng vôi, xỉ đến độ ẩm tốt nhất của đất gia cố 35 2.16 Ảnh hưởng hàm lượng vôi, xỉ đến độ dụng trọng khô lớn nhất của đất
2.21 Kết quả thí nghiệm cường độ nén và mô đun đàn hồi
2.22 Kết quả thí nghiệm cường độ nén và mô đun đàn hồi
của đất gia cố vôi và xỉ than ở tuổi 28 ngày
39
2.23 Kết quả thí nghiệm cường độ nén và mô đun đàn hồi của đất gia
2.24 kết quả thí nghiệm cường độ nén và mô đun đàn hồi của đất gia
Trang 13Số hiệu
2.25 kết quả thí nghiệm cường độ nén và mô đun đàn hồi của đất gia
2.26 Mô hình Response Surface xác định phương trình tương quan 47
2.28 So sánh kết quả mô hình đề xuất và kết quả thí nghiệm Cường độ
2.29 So sánh kết quả mô hình và thí nghiệm Cường độ chịu nén 14
2.30 So sánh kết quả mô hình đề xuất và kết quả thí nghiệm mô đun
2.31 So sánh kết quả mô hình và thí nghiệm mô đun đàn hồi 14 ngày
2.32 So sánh kết quả mô hình đề xuất và kết quả thí nghiệm Cường độ
2.33 So sánh kết quả mô hình và thí nghiệm Cường độ chịu nén 56
2.34 So sánh kết quả mô hình đề xuất và kết quả thí nghiệm mô đun
2.35 So sánh kết quả mô hình và thí nghiệm mô đun đàn hồi 56 ngày
2.36 So sánh kết quả của mô hình và thí nghiệm cho R14 khi gia cố
3.2 Đo hàm lượng phóng xạ trên mẫu gia cố chưa ngâm nước và mẫu
3.3 Đo hàm lượng phóng xạ trên mẫu ngâm nước và hàm lượng
phóng xạ lan truyền trong nước theo thời gian (7, 14, 21, 28) 60 3.4
Đo hàm lượng phóng xạ trên mẫu gia cố vôi ngâm nước theo thời
3.5 Đo hàm lượng phóng xạ lan truyền trong nước theo thời gian (7,
Trang 14Số hiệu
3.6 Đo hàm lượng phóng xạ trên mẫu gia cố xi măng ngâm nước theo
3.7 Đo hàm lượng phóng xạ lan truyền trong nước theo thời gian (7,
3.8
Ảnh hàm lượng vôi, xỉ đến hàm lượng bức xạ tích lũy trong mẫu
3.9 Ảnh hưởng hàm lượng vôi, xỉ đến hàm lượng bức xạ tích lũy lan
3.10 Ảnh hàm lượng xi măng, xỉ đến hàm lượng bức xạ tích lũy trong
3.11 Ảnh hưởng hàm lượng xi măng, xỉ đến hàm lượng bức xạ tích lũy
3.12
Biểu đồ so sánh hàm lượng bức xạ tích lũy trong mẫu GCV (mẫu
bảo dưỡng 7 ngày, ngâm nước 28 ngày) và hàm lượng cho phép
theo tiêu chuẩn
65
3.13
Biểu đồ so sánh hàm lượng bức xạ tích lũy trong mẫu GCXM
(mẫu bảo dưỡng 7 ngày, ngâm nước 28 ngày) và hàm lượng cho
phép theo tiêu chuẩn
65
Trang 15MỞ ĐẦU
1 TÊN ĐỀ TÀI:
“Nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng xỉ than nhà máy nhiệt điện Nông Sơn làm
vật liệu gia cố lớp móng trong xây dựng đường ô tô ở TP Tam Kỳ”
2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với chiến lượt phát triển đến năm 2020, Việt Nam trở thành nước công
nghiệp, chúng ta đang dốc toàn bộ sức lực, tiền của và trí tuệ để xây dựng cơ sở hạ
tầng cho một đất nước công nghiệp văn minh, dân giàu nước mạnh Trong công cuộc
kiến thiết đó, bên cạnh xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp thì nước ta đã đầu tư
xây dựng rất nhiều nhà máy nhiệt điện để đấu nói vào lưới điện quốc gia, giảm phụ
thuộc vào nguồn thủy điện
Tùy thuộc vào nguồn nhiên liệu và công nghệ đốt mà khối lượng và thành phần
tro khác nhau, nếu không có giải pháp xử lý triệt để thì ngoài việc cần đến hàng ngàn
hecta đất để chôn lấp, tro xỉ còn là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không
khí Hiện nay, vấn đề xử lý vật liệu phế thải từ các nhà máy nhiệt điện đang là đề tài
cấp thiết Theo số liệu thống kê, hiện nay cả nước có khoảng 19 nhà máy nhiệt điện
đang vận hành với tổng công suất phát điện 14.480MW và thải ra khoảng 15 triệu tấn
tro, xỉ hằng năm Trong đó, lượng tro bay chiếm khoảng 75%,còn lại là xỉ than [Bộ
xây dựng, 2016] Dự kiến sau năm 2020, con số này sẽ là 43 nhà máy với tổng công
suất 39.020 MW, lượng tro xỉ thải ra dụ kiến hơn 30 triệu tấn/năm Theo quyết định
1696/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23 tháng 9 năm 2014 quy định thời hạn
sử dụng bãi thãi là 2 năm đối với các nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất
Tại tỉnh Quảng Nam cũng được đầu tư xây dựng dự án nhà máy nhiệt điện
Nông Sơn đã đưa vào quá trình vận hành năm 2015 có công suất 30MW, lượng than
tiêu thụ 110.000 tấn than/năm Như vậy, khi vận hành sẽ thải ra lượng tro, xỉ rất lớn, là
một trong những chất thải rắn sinh ra trong quá trình đốt than trong các nhà máy nhiệt
điện: mỗi ngày thải ra 140 tấn xỉ than [vtv.vn, 2015].
Trong khi đó, hiện nay, lượng xỉ đáy lò được tái sử dụng trong sản xuất vật liệu
xây dựng với khối lượng không lớn Theo thống kê cho thấy mới chỉ khoảng 10%
lượng tro thải ra hằng năm được thu gom, sử dụng, còn lại 90% vẫn thực hiện chôn
lấp Khối lượng này quá nhỏ so với khối lượng cần được xử lý
Việc một lượng lớn xỉ than, tro bay thải ra từ các nhà máy nhiệt điện đang là
vấn đề gây bức xúc không chỉ cho các nhà quản lý, người dân và đặc biệt là vấn đề
môi trường Với nguồn xỉ thải lớn như hiện nay, việc nghiên cứu tận dụng để làm các
Trang 16vật liệu thay thế trong xây dựng là cần thiết Nhận thấy được vấn đề, năm 2015 Phó
thủ tướng đã có thông báo 279/TB-VPCP về các giải pháp để xử lý và tận dụng nguồn
xỉ than, tro bay Và từ đó hàng loạt các nghiên cứu trong nước được tiến hành để tận
dụng nguồn tro bay và xỉ than trong việc chế tạo các loại vật liệu xây dựng [4], [14]
các nghiên cứu này đều chỉ ra việc tận dụng nguồn phế thải này trong việc chế tạo các
loại vật liệu phục vụ trong xây dựng là khả thi và mang lại hiệu quả kinh tế
Trên thế giới, việc sử dụng tro bay và xỉ than như một loại phụ gia trong việc
chế tạo vật liệu xây dựng đã được nghiên cứu từ rất lâu: Sử dụng tro bay trong chế tạo
bê tông, xử lý gia cố đất trong các công trình xây dựng, vật liệu mặt đường Các
nghiên cứu đã chỉ ra được những ưu điểm nhất định trong việc sử dụng tro bay để tăng
cường khả năng làm việc của vật liệu
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trên hầu như chỉ tập trung vào việc phân tích
ảnh hưởng thành phần của tro bay, xỉ than và hàm lượng của chúng trong việc gia cố
vật liệu đến cường độ của vật liệu gia cố (mô dun đàn hồi E và cường độ chịu nén R n),
chứ chưa tập trung đánh giá thêm tác động của mẫu vật liệu gia cố sử dụng xỉ than, tro
bay đến môi trường trong quá trình khai thác Trong khi đó, một trong những nguyên
nhân khiến cho việc ứng dụng xỉ than, tro bay vào xây dựng ở Việt Nam chưa phổ
biến là do tâm lý lo sợ sự lan truyền của các thành phần kim loại nặng trong xỉ than
vào nguồn nước khi sử dụng, và chưa có nghiên cứu cụ thể nào về đánh giá tác động
này được công bố, hay giải đáp vấn đề trên
Ngoài ra, trong các nghiên cứu hiện nay quan niệm các tính chất cơ lý của vật
liệu gia cố (bê tông, đất) được xem như là đồng nhất và không thay đổi Tuy nhiên
trong thực tế xây dựng, các tính chất này thay đổi rất nhiều, đặc biệt là khi lấy đất tại
một mỏ lớn để làm vật liệu gia cố, sự không đồng nhất này sẽ làm ảnh hưởng lớn đến
cường độ của vật liệu gia cố Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra tính chất cơ lý của
đất thay đổi rất lớn và là vật liệu không đồng nhất, phạm vi thay đổi từ 10-50%
Từ những phân tích trên, việc nghiên cứu đánh giá cường độ của vật liệu đất gia
cố sử dụng xỉ than và tro bay có xét đến sự thay đổi ngẫu nhiên các tính chất cơ lý của
đất cũng như sự ảnh hưởng của hàm lượng kim loại nặng trong xỉ than tro bay sau khi
gia cố đến môi trường là cần thiết Đề tài “NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ
DỤNG XỈ THAN NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN NÔNG SƠN LÀM VẬT LIỆU GIA CỐ
LỚP MÓNG TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ở TP TAM KỲ” được thực hiện nhằm góp
một phần nhỏ vào việc đề xuất thêm giải pháp tận dụng nguồn vật liệu địa phương trong xây
dựng đường ô tô tại khu vực Tỉnh Quảng Nam và TP Tam Kỳ
Trang 173 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Với đề tài đặt ra, đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vôi, xi
măng, tính chất cơ lý của đất và thành phần xỉ than đến định cường độ của đất-xỉ
than-vôi, đất-xỉ than-xi măng cũng như khả năng gây ô nhiễm môi trường nước
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vôi, xi măng, xỉ than và tính chất cơ lý
của đất (c, ) đến định cường độ chịu nén (R n ) và mô đun đàn hồi (E đh) của đất-xỉ
than-vôi, đất-xỉ than-xi măng
- Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng kim loại nặng trong xỉ than, tro bay của hỗn
hợp gia cố đến môi trường (nước ngầm)
- Đất được lấy từ mỏ đất trên địa bàn huyện Phú Ninh và TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam, vôi sống được lấy từ Thanh Hóa và xỉ than lấy từ nhà máy nhiệt điện Nông Sơn,
tỉnh Quảng Nam
5 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
a Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu, đánh giá khả năng sử dụng xỉ than nhà máy Nhiệt điện Nông Sơn để
thay thế thành phần CPTN trong thi công các lớp móng KCAD tại Tỉnh Quảng Nam
b Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng phương trình tương quan xác định cường độ hỗn hợp gia cố (R n và
E đh ) với hàm lượng vôi, xi măng, xỉ than và tính chất cơ lý của đất (c, )
- Đánh giá tác động đến môi trường nước của hàm lượng kim loại nặng trong hỗn
hợp gia cố
- So sánh bài toán kinh tế và kỹ thuật khi áp dụng hỗn hợp gia cố này làm lớp
móng nền đường
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để xây dựng được mô hình thực nghiệm và đánh giá được ảnh hưởng các yếu tố
đã nêu đến cường độ của hỗn hợp gia cố cũng như đánh giá tác động môi trường, để
tài tiến hành nghiên cứu về lý thuyết hình thành cường độ của đất gia cố vôi, từ đó
phát triển cho chuổi phản ứng khi có trộn thêm xỉ than Từ lý thuyết trên, đề tài tiến
hành bài toán quy hoạch thực nghiệm, chế bị các mẫu để xác định cường độ chịu nén
(R n ) và mô đun đàn hồi (E đh) với các thành phần khác nhau của xỉ than, vôi tính chất
cơ lý của đất (c, ) Phần cuối của đề tài là dựa trên kết quả thí nghiệm trong phòng,
mô hình Response Surface (RSM) được sử dụng để xây dựng mô hình thực nghiệm
xác định R n và E đh Bước tiếp theo, để đánh giá tác động môi trường, đề tài sử dụng
Trang 18thiết bị quan trắc cầm tay (Máy đo bức xạ Soeks – 1M) kết hợp với kết quả thí nghiệm tại
phòng Lab QUATEC 2
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn thực hiện với 3 chương, phần mở đầu và phần kết luận
Chương 1 Tổng quan về gia cố đất bằng chất liên kết vô cơ
Chương 2 Xây dựng phương trình thực nghiệm xác định cường độ của hỗn hợp
gia cố
Chương 3 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng phóng xạ trong hỗn hợp gia cố
đến môi trường nước và phân tích hiệu quả kinh tế
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIA CỐ ĐẤT BẰNG CHẤT LIÊN KẾT
VÔ CƠ
1.1 Mở đầu
Việc khai thác các nguồn tài nguyên như đá, cấp phối thiên nhiên trong
những năm qua để phục vụ cho các công trình xây dựng đang ngày càng có xu hướng
gia tăng Điều đó đẫn đến các nguồn tài nguyên này trở nên khan hiếm, điều kiện khai
thác ngày càng khó khăn Vì thế, xu hướng cải tạo đất xây dựng tại chỗ làm nền móng
đường thay thế các vật liệu truyền thống bằng các chất vô cơ đó là một việc làm có ý
nghĩa rất quan trọng
Chất kết dính vô cơ là loại vật liệu thường ở dạng bột, khi nhào trộn với nước
hoặc các dung môi khác thì tạo thành loại hồ dẻo, dưới tác dụng của quá trình lý hóa tự
nó có thể rắn chắc và chuyển sang trạng thái đá Do khả năng này của chất kết dính vô
cơ mà người ta sử dụng chúng để gắn kết các loại vật liệu như đất đá thành một khối
đồng nhất
Để đáp ứng yêu cầu cao về cường độ và độ ổn định hoặc để tận dụng được các
loại vật liệu hạt sẵn có tại chỗ rẻ tiền (nhất là đất tại chỗ) thì cần phải biến các chất rời
rạc, phân tán thành các vật liệu toàn khối có cường độ liên kết giữa các hạt tăng lên và
không nhạy cảm với nước bằng cách gia cố chúng với các loại chất liên kết khác nhau
Đó là mục tiêu của việc gia cố đất hoặc các loại vật liệu hạt khác bằng các chất liên
kết Gia cố các loại vật liệu hạt (đất) thuộc dạng này gồm có xi măng, vôi hoặc xi
măng kết hợp tro bay, vôi kết hợp với xỉ than, các phụ gia khác
Các quá trình hóa học và hóa lý xảy ra khi trộn chất liên kết vô cơ với đất, cụ
thể là các quá trình thủy phân, thủy hóa các chất liên kết khoáng vật hoặc quá trình
trao đổi ion giữa các chất liên kết với đất sẽ dẫn đến sự hình thành những chất liên kết
hoặc keo kết mới không hòa tan trong nước, nhờ đó mà đất sau khi gia cố chất liên kết
vô cơ sẽ có cấu trúc kết tinh, có tính toàn khối, có cường độ và tính ổn định đối với
nước được nâng cao
1.2 Tổng quan về gia cố vật liệu xây dựng bằng chất liên kết vô cơ
Các phản ứng này là trao đổi cation, keo tụ, phản ứng cacbonat, và phản ứng
pozzolanic Trao đổi cation và phản ứng keo tụ xảy ra ngay sau khi trộn hỗn hợp và
Trang 20các phản ứng này gây ra thay đổi ngay lập tức cường độ, chỉ số dẻo và độ tơi xốp của
đất Cacbonat hóa là phản ứng của khí carbon dioxide trong pha khí của đất với vôi,
tính gắn kết tương đối yếu Kết quả về lâu dài của phản ứng pozzolanic là tăng cường
độ của đất
Sau khi biến cứng đất xây dựng trong điều kiện bảo dưỡng, đất gia cố có độ bền
và các chỉ tiêu cơ lý thỏa mãn các trị số yêu cầu theo Bảng 1.1:
Bảng 1 1 Chỉ tiêu cơ lý của đất gia cố [TCVN 10379-2014]
Độ bền khi nén(Mpa)
Đối với mẫu 28 ngày ở độ
Đối với mẫu 7 ngày ở độ
Cấp độ bền của vật liệu gia cố được quy định theo trị số mô đun đàn hồi tính
toán tương ứng 3 cấp độ bền:
+ Độ bền cấp I khi mô đun đàn hồi đạt 400 Mpa
+ Độ bền cấp II khi mô đun đàn hồi đạt 350 Mpa
+ Độ bền cấp III khi mô đun đàn hồi đạt 200 Mpa
Riêng đất gia cố vôi với giới hạn cấp độ bền (theo mô đun đàn hồi) có trị số nhỏ
hơn 350 Mpa
1.2.2 Gia cố đất bằng xi măng
Xi măng có các thành phần hóa học tương tự vôi nên sử dụng xi măng để gia cố
đất xây dựng, cát, cấp phối đá dăm, cấp phối thiên nhiên cũng là một giải pháp truyền
thống được áp dụng
Quá trình phản ứng lý- hóa của việc gia cố đất bằng xi măng khác với nguyên
lý đóng rắn của bê tông Đóng rắn của bê tông chủ yếu là xi măng thực hiện tác dụng
thủy hóa và thủy giải trong cốt liệu thô và cốt liệu nhỏ, do đó tốc độ đóng rắn nhanh
Khi dùng xi măng gia cố đất, do lượng xi măng trộn vào đất ít, phản ứng thủy hóa và
thủy giải của xi măng hoàn toàn thực hiện trong môi trường có hoạt tính nhất định – sự
quay kín của đất, do đó tốc độ đóng rắn rất chậm và tác dụng phức tạp, cho nên quá
trình tăng trưởng cường độ xi măng gia cố đất cũng chậm hơn bê tông
Trang 21Đối với cát gia cố xi măng, yêu cầu cường độ hỗn hợp cát gia cố phải thỏa mãn
hai chỉ tiêu là cường độ chịu nén giới hạn và cường độ ép chẻ giới hạn theo bảng 1.2 :
Bảng 1 2 Yêu cầu cường độ cát gia cố xi măng [22TCN 246 – 1998]
Vị trí lớp cấp phối gia cố xi măng Cường độ giới hạn yêu cầu(daN/cm 2 )
Chịu nén (sau 28 ngày tuổi)
1.2.3 Gia cố đất bằng tro bay
Tro bay là phụ phẩm của các nhà máy nhiệt điện đốt nhiên liệu khoáng (than
đá) Công nghệ đốt than ở các nhà máy nhiệt điện phổ biến nhất là đốt bằng lò kiểu
tầng sôi Phần hạt tro mịn bay theo dòng khí thải bị lắng lại trong thiết bị lọc bụi tĩnh
điện gọi là “tro bay” Tro bay có chứa silic oxid, nhôm ô xít, và canxi oxit, magie oxit
và lưu huỳnh oxit là những tinh cầu tròn, siêu mịn, được cấu thành từ các hạt silic Có
cỡ hạt trung bình 9-25µm
Tro bay được phân thành 2 loại là F và C Tro bay loại C có chứa một phần lớn
oxit canxi(CaO ≥ 5% và thường bằng 15 – 35%) và có khả năng tự kết dính nhanh khi
trộn với nước Tro bay loại F (CaO ≤ 5% ) thường không có khả năng tự dính kết và
thông thường sử dụng với vôi hoặc các chất phụ gia khác để cải tạo và ổn định đất Do
đặc tính kết dính của nó mà phần lớn lượng tro bay loại C được sử dụng để gia cố cho
đất yếu
Việc sử dụng phụ gia tro bay trong xây dựng đường đã được nghiên cứu bước
đầu và chưa được ứng dụng nhiều trong sản xuất Tro bay được ứng dụng trong công
trình như:
- Tro bay – vật liệu làm bê tông xây dựng: Tro bay có thể làm tăng hoặc giảm
độ dẻo tức là giảm hoặc tăng lượng nước yêu cầu của hỗn hợp bê tông, điều đó tùy
thuộc vào hàm lượng than chưa cháy và độ mịn của tro bay Việc làm tăng lượng nước
yêu cầu được giải thích bằng việc hút nước của các phần tử cacbon (than chưa cháy),
sự cản trở giữa các hạt tro bay lớn, cũng như cốt liệu làm cho hồ có độ nhớt cao
- Tro bay - ứng dụng trong xây dựng đường ô tô và sân bay:
+ Trong việc xây dựng các loại mặt đường cứng (đường ô tô và mặt đường sân
bay), cũng có các yêu cầu như đối với các loại công trình khác sử dụng bê tông
Trang 22Nhưng vấn đề cơ bản ở đây là: Yêu cầu về cường độ, về khống chế phát sinh nhiệt
chống nứt, về công tác đầm lèn bê tông vv Nếu nghiên cứu sử dụng phụ gia tro bay
chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao
+ Với tính chất của tro bay, nếu chúng chiếm 1 tỷ lệ hợp lý trong chất kết dính
của cấp phối đá dăm sẽ tăng độ dính kết, giảm cường độ phân tầng cho cấp phối đá
dăm, tăng cường độ cho vật liệu
+ Trong bê tông nhựa, theo các tài liệu của Mỹ, tro bay còn làm phụ gia cho bê
tông nhựa, giảm lượng nhựa đồng thời tăng ổn định dính bám giữa các cốt liệu, chống
hóa già cho bê tông nhựa
+ Trong gia cố đất, nếu dùng đất gia cố với tro bay sẽ có cường độ khá cao, loại
vật liệu này hoàn toàn có thể sánh với gia cố vôi và một số hóa chất khác Loại đất gia
cố này dùng làm móng đường hoặc gia cố lề, mái dốc taluy sẽ có hiệu quả cao vì độ ổn
định và tính dính kết của nó
1.2.4 Xỉ than gia cố vôi
Xỉ than nên có thành phần cấp phối tương đối tốt và có cỡ hạt lớn nhất dưới
30mm Tỷ lệ vôi-xỉ than thường sử dụng trong khoảng 20 : 80 đến 15 : 85 theo khối
lượng (vôi từ 20 – 15%)
Tương tự như với tro bay, xỉ than – vôi cũng có thể thêm vào đất đá ( cấp phối
đá dăm hoặc sỏi cuội) để tạo ra đất gia cố vôi – xỉ than hoặc đá gia cố vôi – xỉ than
Đất gia cố vôi – xỉ than làm móng áo đường thường sử dụng vôi – xỉ theo tỷ lệ
trong khoảng 1 : 1 đến 1 : 4 theo khối lượng khô(1 vôi 1 xỉ hoặc 1 vôi 4 xỉ) Còn đối
với đá gia cố vôi – xỉ than thì tỷ lệ vôi – xỉ - cấp phối đá thường áp dụng trong khoảng
(7 ÷ 9%) : (26 ÷ 33%) : (67 ÷58%)
1.2.5 Gia cố đất bằng tro bay với xi măng hoặc vôi
Tro bay là một loại puzzolan nhân tạo, puzzolan chứa nhiều Oxyd silic vô định hình
có hoạt tính, tức là có tác dụng ở nhiệt độ thường với Ca(OH)2 sinh ra khi xi măng
thủy hóa để tạo thành CaO.SiO2.nH2O [5] bền vững ngay cả khi ẩm ướt và ở trong
nước Với tro bay loại F thì không sử dụng riêng để gia cố vì nó không tự phản ứng tạo
liên kết mà cần phải có chất hoạt hóa là xi măng hoặc vôi để tạo ra sản phẩm có tính
chất kết dính Loại hỗn hợp này được gọi là hỗn hợp gia cố pozzolanic(PSMs) Là loại
vật liệu không tự kết dính, nhưng khi ở dạng mịn và trong điều kiện độ ẩm phù hợp, sẽ
phản ứng với Ca(OH)2 – Canxi Hydroxyd (vôi) ở nhiệt độ bình thường tạo ra các sản
phẩm kết dính như xi măng
1.2.6 Kết luận
Như vậy, thực tế ta có thể gia cố vật liệu xây dựng bằng các chất liên kết vô cơ như
vôi, xi măng, tro bay, xỉ than để nâng cao khả năng chịu lực và chịu tác động của môi
Trang 23trường đem lại hiệu quả trong xây dựng
1.3 Giới thiệu về vật liệu nghiên cứu:
1.3.1 Nguồn vật liệu
1.3.1.1 Mỏ đất
Mỏ đất chọn làm thí nghiệm của nhóm nghiên cứu thuộc thôn Đàn Trung, xã
Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Hình 1 1 Mỏ đất huyện Phú Ninh, Quảng Nam
Với diện tích rộng hơn 7 hécta, đất ở là đất đồi lẫn sỏi sạn và mới đưa vào khai
thác, mỏ đất rất phù hợp để ứng dụng sau khi nghiên cứu thành công
1.3.1.2 Xỉ than nhà máy nhiệt điện Nông Sơn – Quảng Nam
Nhà máy Nhiệt – Điện Nông Sơn thuộc Xã Quế Trung, Huyện Quế Sơn, Tỉnh
Quảng Nam do Công ty CP Than điện Nông Sơn – Vinacomin làm chủ đầu tư với
công suất thiết kế là 30MW được đưa vào hoạt đông 5/2/2015 Lượng than tiêu thụ
110.000 tấn than/năm Do vậy, mỗi năm lượng tro xỉ than thải ra môi trường khá lớn
Trang 24Đây là nguồn tài nguyên dồi dào cho trong việc sử dụng nó kết hợp với các chất liên
kết vô cơ để gia cố cho đất nền
Hình 1 2 Nhà máy nhiệt điện Nông Sơn
Hình 1 3 Bãi thải tro xỉ than của nhà máy nhiệt điện Nông Sơn
1.3.1.3 Vôi
Vôi đươc sử dụng trong đề tài nghiên cứu là vôi bột CaO có hàm lượng CaO
trên 90% xuất xứ từ Thanh Hóa
1.3.1.4 Xi măng
Vôi đươc sử dụng trong đề tài nghiên cứu là xi măng Kim Đỉnh PCB 30
1.3.2 Thành phần hóa học của vật liệu
1.3.2.1 Các thành phần hóa chất của xỉ than:
Trang 255 Potassium oxide (K2O) 0,63
7 Magnesium oxide (MgO) 0,57
1.3.2.2 Thành phần hóa học của vôi:
Vôi sống còn có tên gọi khác là vôi nung hay vôi, Vôi sống được tạo ra từ quá
trình nung đá vôi ở nhiệt độ cao trên 900 0C Các sản phẩm vôi sồng mang tính phản
ứng hóa học cao, thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp luyện kim, xử lý
nước thải, môi trường, gia cố nền đất, điều chỉnh độ pH, chất ăn da, hấp thụ khí a xít…
Công thức hóa học của vôi sống: CaO
Tên gọi: Vôi sống hoặc vôi tôi
Các thành phần hóa chất của vôi sống:
Bảng 1 4 Thành phần hóa học của vôi
1.4.1 Tác dụng của vôi và xi măng khi gia cố với đất
Đất là vật liệu cấp phối thiên nhiên, nên các tính chất cơ, lý không đồng đều, đất tự
nhiên thường không đạt về cường độ, chịu nước kém Khi gia cố vôi, xi măng; sẽ làm
tăng cường độ, tăng khả năng chịu môi trường nước cho đất phục vụ mục đích xây dựng
Trang 261.4.2 Quá trình tương tác đất - vôi, đất –xi măng
1.4.2.1 Quá trình tương tác đất- vôi: Với vôi sống: xảy ra theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Quá trình lý hóa- keo hóa, trong đó xảy ra sự trao đổi ion và đông
tụ các hạt
- Bột vôi sống khi gặp nước tạo ra Ca(OH)2 làm cho nồng độ ion Ca2+ trong
dung dịch đất- vôi tăng lên Do phản ứng của vôi tỏa nhiệt nên một phần nước trong
đất bị bốc hơi, một phần bị vôi hút nên dung dịch trở nên quá bão hòa ion Ca2+
- Do hiện tượng quá bão hòa xảy ra nhanh và mạnh mà các Ca(OH)2tạo thành
gồm những hạt có kích thước gần giống hạt keo Các hạt keo Ca(OH)2 sẽ nhanh chóng
đông ụ lại thành các gen Hydro Các gen Hydro sẽ làm dính kết các hạt đất lại với
nhau
- Có sự trao đổi ion+ hóa trị một X+ vốn có ở lớp khuếch tán các hạt đất lấy các
ion Ca++ có trong vôi
CaO + 2H2O t0 Ca(OH)2 + H2
Ca(OH)2 Ca2+ + 2(OH)
2
2X +Ca(OH) Ca +2XOH, với X+: H+, K+, v.v…
Các phương trình lý hóa nói trên sẽ diễn ra theo chiều thuận nếu trộn vào hỗn
hợp một lượng CaO đủ nhiều và đủ hoạt tính Kết quả là bề dày lớp khuếch tán của các
hạt đất sẽ giảm đi, hiện tượng kết hạt xảy ra, đất giảm tính dẻo, tăng cường độ và độ
ổn định nước
Giai đoạn 2: Quá trình hóa rắn của các hạt đất sau khi được dính kết
- Nước trong dung dịch vôi- đất tiếp tục bay hơi do các lớp phía trong của các
hạt CaO và của các vi kết thể đất hút vào và một phần bị bay hơi đi, làm cho các gen
Hydro bị nén chặt lại và do đó vôi sẽ hóa rắn hơn
- Nhận xét: Hai quá trình trên xảy ra lâu dài, do đó cường độ của đất gia cố vôi
được hình thành chậm hơn so với mặt đường gia cố xi măng Để quá trình hóa rắn
được thực hiện tốt, cần chú ý trong khi các hạt CaO được tôi và các sản phẩm hydrat
hóa rắn thì sự thoát nhiệt phải nhanh và đều
- Do quá trình cácbônnát hóa vôi khi hút CO2 trong không khí và có trong lỗ
CaCO là chất kết tinh rắn chắc, tạo ra tác dụng gia cố đất
- Do quá trình tự kết tinh của Ca(OH)2 bão hòa trong nước theo phương trình
phản ứng hóa học dưới đây:
Ca(OH) +nH OCa(OH) nH O
Trang 27Theo phản ứng nói trên, vôi trong nước sẽ từ thể keo chuyển dần sang thể kết
tinh rồi cùng đất kết hợp lại và làm cho đất trở thành vật liệu có tính toàn khối Sau khi
vôi kết tinh, độ hòa lẫn trong nước của chúng giảm đi một nửa so với phân tử vôi chưa
định hình, do đó tăng tính ổn định nước cho đất gia cố
Tác dụng hóa học giữa vôi và các hợp chất silicat có trong đất, từ đó tạo ra các
chất kết dính mới biến cứng trong môi trường ẩm giống như CaO.SiO2.nH2O (hidro
silicat canxi) hoặc 3CaO.Al2O3.6H2O ( hidro aluminat canxi) :
xCa(OH)2 + SiO2 + (n-1)H2O xCaO.SiO2.nH2O xCa(OH)2 + Al2O3 + (n-1)H2O xCaO.Al2O3.nH2O Các hợp chất mới tạo ra này chính là các sản phẩm thu được sau khi xi măng phân giải
trong nước Chính chúng là các chất kết dính biến cứng được trong nước và nhờ có
chúng đất gia cố vôi không những có tính chất ổn định nước tốt mà còn có thể càng
tăng cường độ trong môi trường ẩm
1.4.2.2 Quá trình tương tác đất - xi măng:
Hạt xi măng Portland là một hợp chất bao gồm Tricalcium Silicate (C3S),
Dicalcium Silicate (C2S), Tricalcium Aluminate (C3A) và các chất rắn hòa tan như
Tetracalcium Alumino-Ferrit (C4A) Bốn phân tử chính này tạo nên sản phẩm hỗn hợp
tạo độ bền chủ yếu Khi nước lỗ rỗng của đất gặp xi măng, thủy hóa xi măng xảy ra
nhanh chóng và sản phẩm sự thủy hóa chính yếu ban đầu này là Hydrated Calcium
Silicate (C3SHx, C3S2HX), Hydrated Calcium Aluminate (C3SAX, C3S2Ax) và Hidrocid
Calcium Ca(OH)2 Hai sản phẩm kết dính xi măng chính được hình thành và thủy hóa
được sử dụng như pha tinh thể rắn tách biệt
Xi măng + nước = CSH-gel + Hidrocid Calcium
Những phần tử xi măng này kết hợp các hạt xi măng nằm kế bên với nhau trong
suốt quá trình hóa cứng dễ tạo thành hỗn hợp bộ khung xương đá xi măng bao quanh
các hạt đất nguyên vẹn, tự thân nó trực tiếp nó đóng rắn
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến gia cố đất với vôi và xi măng
- Thời gian: cường độ của đất gia cố vôi tăng theo thời gian hóa rắn Trong
những tuần đầu cường độ không tăng nhiều so với cuối tuần thứ nhất, nhưng sau 16
tuần và một thời gian lâu nữa thì cường độ tăng nhiều
- Nhiệt độ môi trường: nhiệt độ càng cao, quá trình hóa rắn xảy ra càng nhanh(
ở nhiệt độ 40÷500C , cường độ cao gấp 2÷2,5 lần ở nhiệt độ 150C)
- Thành phần hóa khoáng và quá trình hình thành của đất:
+ Đất á sét nặng và đất sét khi gia cố với vôi sẽ cho hiệu quả lớn
+ Đất có chứa cacbonat canxi khi gia cố với vôi sẽ cho cường độ cao hơn rất
nhiều so với đất không chứa cacbonat canxi
+ Đất càng chứa nhiều hạt sét khi gia cố với vôi càng hiệu quả
Trang 28+ Đất có tính axit, đất chứa nhiều mùn khi gia cố vôi sẽ cho hiệu quả cao hơn
so với gia cố xi măng nếu hàm lượng chất liên kết là như nhau( <10%)
1.4.4 Nguyên lý hình thành cường độ của đất gia cố xỉ than, đất gia cố xỉ than và
vôi, đất gia cố xỉ than và xi măng
1.4.4.1 Tác dụng của xỉ than khi gia cố với đất:
- Có khả năng kháng Sunfat;
- Phản ứng với Canxi Oxide;
- Cải thiện đặc tính thi công: chống thấm tốt, tăng cường độ
1.4.4.2 Quá trình tương tác xỉ than với đất:
- Xỉ than trộn với đất sẽ tạo ra cấp phối mới;
- Xỉ than hầu như không trực tiếp phản ứng với nước, không là chất kết dính mà
cần có chất hoạt hóa xi măng hoặc vôi Do đó sử dụng kết hợp tro xỉ than với vôi hoặc
xi măng để gia cố đất sẽ mang lại hiệu quả cao
1.4.4.3 Tác dụng của xỉ than khi gia cố với đất và vôi:
Trong chất thải công nghiệp như bột tro bay, đá bìa, cặn lò đều chứa thành phần
SiO2, Al2O3, Fe2O3, sau khi nguyên vật liệu được trộn đều, được hidrat hóa hình thành
thể kính Silic và nhôm, thể kính này sau khi được hydrat hóa và hợp với CaO sản sinh
ra phản ứng hóa học, phương trình hóa học của nó là:
Ca(OH)2+XSiO2+nH2O→XcaO.SiO2.H2O.Ca(OH)2+XAL3O2+nH2O→XcaO.AL2O3.H2O
Hydrat hóa chất hoạt tính nước phản ứng hóa học CaSiO3 (Al2O3, CaO) là một
thể kính dạng keo, thể kính dạng keo này không ổn định, phản ứng kéo dài theo thời
gian, dần dần cứng chắc, hình thành kết cấu hình mạng với cường độ cao, điều chỉnh
phối hợp nguyên vật liệu hợp lý và dưỡng hộ từ đó mà hình thành cường độ
1.4.4.4 Tác dụng của xỉ than khi gia cố với đất và Xi măng:
Nguyên lý cơ bản của việc gia cố xi măng đất là xi măng sau khi trộn với đất sẽ
sinh ra một loạt phản ứng hóa học rồi dần dần đóng rắn lại, các phản ứng chủ yếu của
chúng là các phản ứng của xi măng, tạo bộ khung để gắn kết các hạt đất và các hạt xỉ
than làm cho hỗn hợp bền hơn
1.4.5 Kết luận
- Như vậy việc hình thành cường độ của đất gia cố vôi là nhờ phản ứng của vôi
với nước và CO2 tạo thành lớp màng bao bọc liên kết các hạt đất; cường độ của đất gia
cố xi măng sản phẩm kết dính xi măng tạo ra bộ khung giữ cho kết cấu bền và cường
độ cao hơn
- Phản ứng pozzolanic giữa SiO2, Al2O3 có trong đất và xỉ với Ca(OH)2tạo
thành các chất kết tinh giúp tăng cường độ cho đất gia cố
- Ngoài ra, chính các yếu tố (thành phần hạt, c, ϕ) của đất tự nhiên cũng ảnh
hưởng lớn đến cường độ cho đất gia cố
Trang 291.5 Một số nghiên cứu gia cố đất trong và ngoài nước
1.5.1 Nghiên cứu trên thế giới
- Mishra [24] đã nổ lực để cải thiện độ ổn định của đất sét bằng việc tận dụng
vật liệu có sẵn tại địa phương như tro bay (FA) làn chất độn cho vôi vào gia cố đất
Đất được gia cố với hàm lượng tro bay tăng từ 10% đến 30% với sự kết hợp với vôi
2% và 3% Nó cho thấy rằng chỉ số CBR của hỗn hợp gia cố đất - tro bay - vôi lần lượt
là 70: 30: 3 cao đến 55% so với chỉ số CBR của đất chưa gia cố là 2,3% Tác giả
khuyến cáo việc sử dụng sự kết hợp này để ổn định cho nền đường vì nó liên quan đến
việc sử dụng tối đa hàm lượng tro bay trong khi giá trị CBR cao đáng kể
- Kolay et al [25] đã nghiên cứu ảnh hưởng việc bổ sung vôi, xi măng, và tro
bay vào gia cố cho đất than bùn từ vùng Sarawak của Indonesia Mẫu đất được thu
thập từ 6 địa điểm khác nhau Sarawak và đã được gia cố bằng cách sử dụng các chất
gia cố vôi, xi măng với hàm lượng nằm trong khoảng 5-20%, ngoại trừ tro bay hàm
lượng của nó nằm trong khoảng 2 – 8% Các tác giả cũng nghiên cứu sự kết hợp của
tro bay và vôi chưa tôi để nghiên cứu sự kết hợp có hiệu quả của gia cố Quét kính
hiển vi điện tử (SEM) đã được sử dụng để thực hiện phân tích vi mô để hiểu được sự
thay đổi cấu trúc của đất gia cố Các mẫu bảo dưỡng trong thời gian 7, 14, và 28 ngày
Nghiên cứu kết luận rằng sự kết hợp của vôi chưa tôi và tro bay tạo ra cường độ cao
hơn của đất than bùn gia cố khi so sánh với đất than bùn chưa gia cố vôi hoặc cũng
như khi chưa gia cố tro bay Người ta nhận thấy rằng xi măng đã tạo ra kết quả tốt nhất
trong việc gia cố đất than bùn nhưng 80% của cường độ đã được tạo ra bởi sự kết hợp
20% xi măng Portland, 15% tro bay và 6% vôi chưa tôi Do đó, cho thấy hiệu quả của
việc kết hợp các chất thải công nghiệp với các chất gia cố thông thường
- Wildetal [26] đã cố gắng để mở rộng các ứng dụng có ích của xỉ lò cao, cụ thể
là tăng cường cường độ, khả năng xuyên thấm clorua, chống ăn mòn sulphate và bảo
vệ chống lại phản ứng silic kiềm đối với vỉa hè và các ứng dụng đất nền khác bằng
cách thay thế một phần vôi trong quá trình gia cố đất bằng xỉ lò cao Các mẫu được
trộn ở độ ẩm tốt nhất và dung trọng khô lớn nhất bằng cách trộn đất, vôi và xỉ lò cao
trong máy trộn và nén chúng trong cái khuôn có kích thước 50mm x 100mm và được
bảo dưỡng trong túi nhựa đặt trong buồng được duy trì ở nhiệt độ 300C và 100% độ
ẩm tương đối Các mẫu được bảo dưỡng trong cát trong thời gian 7 ngày và 28 ngày và
chúng được thí nghiệm nén không nở hông Các mẫu được chọn lọc đã được sử dụng
cho nghiên cứu khoáng vật thông qua phân tích nhiễu xạ X-ray Nghiên cứu đã cho
thấy sự thay thế một phần của vôi và xỉ lò cao đã làm tăng cường độ cho mẫu gia cố ở
7 ngày cũng như 28 ngày tuổi
1.5.2 Nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu sử dụng tro bay nhà máy nhiệt điện Phả Lại để cải tạo đất xám
bạc màu ở xã Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội của Th.s Nguyễn Thị Bích
Trang 30Ngọc [16]
- Nghiên cứu tro bay và ứng dụng trong xây dựng đường ô tô và sân bay trong
điều kiện Việt Nam của PGS.TS Phạm Huy Khang [4] đã chỉ cho chúng ta thấy rằng,
tro bay vốn là phế liệu của các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than cám lúc này đây đã
trở thành một mặt hàng vật liệu xây dựng được nhiều người quan tâm Tro bay được
ứng dụng nhiều trong xây dựng công trình Nó là vật liệu làm bê tông xây dựng, ứng
dụng trong xây dựng đường ô tô và sân bay Trong bài nghiên cứu, tác giả đã đề xuất
ra một số hướng nghiên cứu về việc sử dụng phụ gia tro bay trong xây dựng đường
- Nghiên cứu ứng dụng xỉ than của nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 làm vật
liệu đắp cho tường chắn có cốt của tác giả Hồ Ngọc Thành Trung và Nguyễn Thanh
Ninh [17]
- Nghiên cứu sử dụng xỉ than từ nhà máy nhiệt điện Duyên Hải làm cọc xỉ than
gia cố nền đường dẫn đầu cầu dự án nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long,
tiểu dự án TP Trà Vinh của nhóm tác giả Đoàn Ngọc Quận và Nguyễn Thị Mỹ Linh [18]
1.5.3 Kết luận
Sử dụng xỉ than đã được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới và ở trong nước Các
nghiên cứu cho thấy việc sử dụng xỉ than trong việc nâng cao cường độ và độ bền
trong nước là hoàn toàn có cơ sở khoa học
1.6 Kết luận chương 1
Trong các nghiên cứu ở trên giới thiệu ở trên đã chỉ ra việc tận dụng nguồn phế thải
công nghiệp (xỉ than, tro bay) trong việc gia cố đất để làm vật liệu trong xây dựng là
có khả thi và mang lại hiệu quả kinh tế Các nghiên cứu cũng chỉ ra được hàm lượng
vôi tốt nhất sử dụng trong gia cố là khoảng 4-10% và hàm lượng xỉ than không quá
40%, hàm lượng xi măng tốt nhất sử dụng trong gia cố 4-12% Hàm lượng này ảnh
hưởng rất lớn đến cường độ của đất gia cố Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này chỉ
quan niệm vật liệu đem gia cố (đất, bê tông) là vật liệu đồng nhất và chưa chỉ ra sự ảnh
hưởng của bản thân tính chất cơ lý của đất gia cố đến cường độ hỗn hợp đất sau gia cố
Trong khi đó, thực tế xây dựng, tính chất cơ lý này thay đổi khá nhiều [Phoon and
Kulhway, 1999] Do đó việc nghiên cứu ảnh hưởng của tính chất cơ lý của đất đến
cường độ của hỗn hợp gia cố là cần thiết
Trang 31CHƯƠNG II: XÂY DỰNG PHƯƠNG TRÌNH THỰC NGHIỆM XÁC
ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ CỦA HỖN HỢP GIA CỐ
2.1 Mở đầu
Để chỉ ra sự ảnh hưởng của bản thân tính chất cơ lý của đất gia cố đến cường độ
hỗn hợp đất sau gia cố Đồng thời, để xây dựng phương trình tương quan xét cộng
hưởng của các yếu tố (c, ) và Rn, Edh cần phải tiến hành thí nghiệm xác định các
thông số đầu vào trên và hàm lượng vôi, xi măng, xỉ than
Hiện nay chưa có tiêu chuẩn, quy trình về thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của hỗn
hợp đất gia cố xỉ than, vôi Do đó, nghiên cứu sử dụng các tiêu chuẩn thí nghiệm của
các vật liệu tương đồng về tính chất để xác định các chỉ tiêu cơ lý của hỗn hợp đất gia
cố xỉ than và vôi
Nguồn vật liệu đất thí nghiệm được lấy từ mỏ đất thuộc thôn Đàn Trung, xã
Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam Xỉ than được lấy từ bãi thải Nhà máy
nhiệt điện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí
nghiệm đường và phòng thí nghiệm cơ đất, khoa Xây dựng cầu đường, trường Đại
Học Bách Khoa Đà nẵng
2.2 Quy hoạch mẫu thí nghiệm và thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của đất gia cố
2.2.1 Quy hoạch số lượng mẫu thí nghiệm
Tham khảo theo kết luận từ bài nghiên cứu của [27],[28] cho thấy rằng sử dụng
xỉ than để gia cố đất với hàm lượng xỉ than 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30%, hàm
lượng vôi, xi măng thay đổi từ 2%, 4%, 6%, 8%, 10% đạt hiệu quả trong quá trình gia
cố bằng xỉ than với chất hoạt hóa là vôi
Từ đó ta định hướng cho hàm lượng xỉ than gia cố vào vật liệu thực nghiệm là
10%, 15%, 20%, 25%, 30%, 35% với hàm lượng vôi là 2%, 4%, 6%, 8%, 10% với
hàm lượng biến đổi như vậy ta tiến hành thí nghiệm các chỉ tiêu như sau: Dung trọng
và độ ẩm, cường độ chịu nén, mô đun đàn hồi Eđh và thí nghiệm sức chống cắt của đất
tự nhiên Tiến hành thí nghiệm các chỉ tiêu ở các tuổi 14, 28,56, 90 ngày cho mẫu gia
cố vôi, thí nghiệm các chỉ tiêu ở các tuổi 14, 28 ngày cho mẫu gia cố xi măng
Bảng 2 1 Số lượng mẫu tiến hành thí nghiệm
Vị trí Kí hiệu tổ
Số mẫu thí nghiệm Vôi, Rn và Eđh Ghi Chú
Trang 32Vị trí Kí hiệu tổ
Số mẫu thí nghiệm Vôi, Rn và Eđh Ghi Chú
Mẫu đất gia cố xỉ than, xi măng
Vị trí Kí hiệu tổ mẫu % Xỉ măng % Xi Số mẫu thí nghiệm xi măng
Trang 33Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
2.2.2 Thí nghiệm xác định thành phần hạt của đất
Áp dụng tiêu chuẩn (TCVN 4198-2014) [7]để xác định thành phần hạt của đất
Thí nghiệm phân tích các cỡ hạt đất bằng phương pháp rây sàng dùng tách rời các cỡ
hạt của đất qua những mắt lưới có kích thước đã biết để:
+ Xác định độ lớn cỡ hạt;
+ Tính được sự phân bố cỡ hạt;
+ Xếp hạng đất theo cỡ hạt
2.2.2.1 Định nghĩa
Thành phần hạt của đất là hàm lượng các nhóm hạt có độ lớn khác nhau ở trong
đất so với khối lượng của mẫu đất khô tuyệt đối đã lấy để phân tích, được biểu diễn
bằng tỷ lệ phần trăm
Xác định thành phần hạt là phân chia đất thành từng nhóm các cỡ hạt gần nhau
về độ lớn và xác định hàm lượng phần trăm của chúng
2.2.2.2 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm
Cân kỹ thuật có độ chính xác đến 1g;
Bộ rây theo tiêu chuẩn;
Chảo, khay đựng mẫu
2.2.2.3 Chuẩn bị mẫu thí nghiệm
Mẫu đất thí nghiệm đã được hong khô gió, rải thành một lớp mỏng lên tấm cao
su đã lau sạch, dùng dụng cụ bằng gỗ nghiền sơ bộ cho đất tơi vụn ra; trộn đều rồi rút
Trang 34gọn mẫu bằng phương pháp chia tư (dàn mỏng mẫu đất rồi xẻ hai đường vuông góc
với nhau đi qua tâm đống đất, sau đó lấy hai phần đối diện nhau làm thành một mẫu)
2.2.2.4 Trình tự thí nghiệm
- Lấy mẫu đất đã được chuẩn bị, cân khối lượng mẫu đất m0 với độ chính xác
1g Rải đất lên tấm cao su đã lau sạch, dùng chày hoặc con lăn bằng gỗ nghiền làm tơi
vụn đất; đảm bảo các hạt to không còn hạt nhỏ bám dính ở ngoài và đất rời thành các
hạt đơn lẻ;
- Lắp bộ sàng có kích thước lỗ lớn nhất thích hợp với cỡ hạt to nhất có trong
mẫu đất thí nghiệm theo thứ tự kích thước lỗ nhỏ dần từ trên xuống vào ngăn đáy; đổ
mẫu đất vào sàng trên cùng, rồi sàng bằng tay, thời gian sàng lắc tối thiểu là 10 phút
- Cân khối lượng từng nhóm hạt trên các cỡ sàng và phần lọt xuống ngăn đáy
2.2.2.5 Tính toán kết quả
- Tính % lượng sót riêng biệt trên từng sàng:
100%
i i m
G a G
ai: là phần trăm khối lượng sót trên sàng i
Gi: là khối lượng sót trên sàng i
Gm: là khối lượng ban đầu của mẫu
Aj: là phần trăm lượng lọt qua sàng j
Trang 35Hình 2 2 Đường cong thành phần hạt của đất tự nhiên
2.2.2.7 Hình ảnh thí nghiệm
Hình 2 3 Bộ sàng tiêu chuẩn và quá trình thí nghiệm
2.2.3 Thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn của đất gia cố
Áp dụng tiêu chuẩn đầm nén đất, đá dăm trong phòng thí nghiệm (22TCN
333-06) [5] để xác định chỉ tiêu độ ẩm tốt nhất và dụng trọng khô lớn nhất của hỗn hợp đất
+ vôi +xỉ than, đất + xi măng + xỉ than
Sử dụng cối A4 theo phương pháp thí nghiệm IA
Trang 36Trước khi thí nghiệm cần phải trộn vật liệu đất với vôi cần phải ủ để giữ ẩm cho
hỗn hợp trong bình kín ít nhất là 2 giờ đến tối đa là 24 giờ rồi mới trộn với xỉ than, đối
với hỗn hợp gia cố xi măng không tiến hành ủ Sau đó tiến hành các bước sau:
1/ Cân khối lượng hỗn hợp Khoảng 5kg
2/ Xác định độ ẩm ban đầu của hỗn hợp bằng phương pháp sấy bằng tủ sấy
(Wb);
3/ Cân khối lượng chảo trộn (Gch – gam);
4/ Cho hỗn hợp vào chảo trộn, cân khối lượng chảo và hỗn hợp (Gch + hh) để
hỗn hợp trong chảo khoảng 5000g mẫu (Gw1);
5/ Tính lượng hỗn hợp khô trong chảo trộn: Gk1 = w1
(1 W )b
G
(gam) (2.3)
6/ Tính lượng nước trộn thêm vào mẫu (Gn1, ml) để độ ẩm (Wm1) đạt khoảng 8
- 10% theo công thức: Gn1 = Gk1(Wm1 – Wb) (gam); (2.4)
7/ Đong đủ lượng nước Gn1 bằng ống lường, trộn đều nước vào hỗn hợp trong
chảo trộn;
8/Xác định kích thước cối Cân khối lượng cối không có thân cối trên (Gc,
gam);
9/ Cho mẫu vào trong cối (Khoảng 1/2 thân cối dưới), đầm 25 chày, đầm xong
chiều cao lớp hỗn hợp đầu tiên trong cối đạt khoảng 1/3 thân cối dưới;
10/ Làm xờm bề mặt lớp thứ nhất bằng que sắt hoặc dao;
11/ Tiếp tục đầm lớp thứ 2 (cho mẫu vào khoảng 3/4 cối dưới), đầm 25 chày;
đầm xong chiều cao lớp hỗn hợp thứ 2 trong cối đạt khoảng 2/3 chiều cao thân cối
dưới;
12/ Làm xờm bề mặt lớp thứ 2 bằng que sắt hoặc dao;
13/ Lắp cối trên, tiếp tục đầm lớp thứ 3 (cho mẫu vào khoảng 2/3 thân cối
trên), đầm 25 chày; đầm xong chiều cao lớp hỗn hợp thứ 3 trong cối xấp xỉ chiều cao
thân cối trên (cao hơn mặt cối dưới không qua 5mm);
14/ Tháo cối trên, dùng dao hoặc thước gọt hỗn hợp bằng mặt cối dưới;
15/ Vệ sinh sạch hỗn hợp bám bên ngoài và đáy cối, cân khối lướng hỗn hợp
và cối đước Ghh+c, gam;
16/ Tháo khuôn cối, dùng dao cắt dọc mẫu hỗn hợp, lấy khoảng 150g mẫu giữa
cối đem đi xác định độ ẩm W1;
17/ Bẻ vụn mẫu hỗn hợp cho vào chảo trộn, cân khối lướng chảo và hỗn hợp
còn lại được G2, lượng hỗn hợp còn lại trong chảo trộn: Gw2 = (G2 – Gch); (2.5)
18/ Tính toán lượng nước trộn thêm để độ ẩm tăng w 2% 4% so với Wm1
G
; (2.6)
Trang 3719/ Lặp lại các bước từ 7 đến 16 cho đến khi khối lượng cối và đất không tăng
nữa thì làm khoảng 1 đến 2 lần nữa
2.2.3.3 Tính toán kết quả
g cm V
Bảng 2 3 Kết quả thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn của đất gia cố vôi
Tổ W0max γ kmax Tổ W0max γ kmax Tổ W0max γ kmax
Chi tiết thí nghiệm – xem phụ lục 3
Bảng 2 4 Kết quả thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn của đất gia cố xi măng
Trang 39Hình 2 7 Cân khối lượng đất và xác định độ ẩm
2.2.4 Thí nghiệm cường độ chịu nén của đất gia cố
Áp dụng tiêu chuẩn TCVN 9843:2013 [11] Xác định mô đun đàn hồi của vật
liệu đất đá gia cố chất kết dính vô cơ trong phòng thí nghiệm và
TCVN10379:2014[13] gia cố đất bằng chất két dính vô cơ, hóa chất hoặc gia cố tổng
hợp, sử dụng trong xây dựng đường bộ - thi công và nghiệm thu để xác định cường độ
chịu nén và mô đun đàn hồi của mẫu gia cố
Trước khi thí nghiệm cần phải trộn vật liệu đất với vôi cần phải ủ để giữ ẩm cho
hỗn hợp trong bình kín ít nhất là 2 giờ đến tối đa là 24 giờ rồi mới trộn với xỉ than Sau
đó tiến hành các bước chế tạo cho 1 tổ mẫu (12 mẫu) bao gồm mẫu xác định cường độ
chịu nén và mẫu xác định mô đun đàn hồi như sau:
1/ Cân khối lượng hỗn hợp Khoảng 24kg
2/ Xác định độ ẩm ban đầu của hỗn hợp bằng phương pháp sấy bằng tủ sấy (W1);
3/ Cân khối lượng chảo trộn (Gch – gam);
4/ Cho hỗn hợp vào chảo trộn, cân khối lượng chảo và hỗn hợp (Gch+ hh) để hỗn hợp
trong chảo khoảng 24kg mẫu (Gw1);
Trang 405/ Tính lượng nước trộn thêm vào mẫu (Gn1, ml) để độ ẩm (Wm1) đạt độ ẩm tốt nhất
theo công thức: w1
1 1
(W W )(1 W )
7/ Cho mẫu vào trong cối (Khoảng 1/2 thân cối dưới), đầm 25 chày, đầm xong chiều
cao lớp hỗn hợp đầu tiên trong cối đạt khoảng 1/3 thân cối dưới;
8/ Làm xờm bề mặt lớp thứ nhất bằng que sắt hoặc dao;
9/ Tiếp tục đầm lớp thứ 2 (cho mẫu vào khoảng 3/4 cối dưới), đầm 25 chày; đầm xong
chiều cao lớp hỗn hợp thứ 2 trong cối đạt khoảng 2/3 chiều cao thân cối dưới;
10/ Làm xờm bề mặt lớp thứ 2 bằng que sắt hoặc dao;
11/ Lắp cối trên, tiếp tục đầm lớp thứ 3 (cho mẫu vào khoảng 2/3 thân cối trên), đầm
25 chày; đầm xong chiều cao lớp hỗn hợp thứ 3 trong cối xấp xỉ chiều cao thân cối
trên (cao hơn mặt cối dưới không qua 5mm);
14/ Tháo cối trên, dùng dao hoặc thước gọt hỗn hợp bằng mặt cối dưới;
15/ Dùng kích để lấy mẫu ra khỏi cối
16/ Lặp lại các bước từ 7 đến 14 cho các mẫu tiếp theo
2.2.4.3 Bảo dưỡng
Mẫu được bảo dưỡng bằng cách phủ lên mẫu một lớp cát dày từ 4 cm đến 5 cm
và tưới nước thường xuyên để làm ẩm Mẫu được bảo dưỡng ở 7 ngày tuổi và ngâm 7
ngày đối với mẫu đo ở 14 ngày tuổi, mẫu 28 ngày tuổi thì bảo dưỡng trong 21 ngày và
ngâm trong nước 7 ngày, mẫu 56 ngày tuổi thì bảo dưỡng trong 49 ngày và ngâm
trong nước 7 ngày, mẫu 90 ngày tuổi thì bảo dưỡng trong 81 ngày và ngâm trong nước
7 ngày
Hình 2 8 Bảo dưỡng và ngâm mẫu 2.2.4.4 Nén mẫu
Lấy các mẫu thí nghiệm ra khỏi nước, lau khô, đo lại kích thước mẫu, và sau đó
tiến hành thí nghiệm ngay để tránh thay đổi độ ẩm
Đặt mẫu vào giữa tâm bàn nén dưới của máy nén Khi bàn nén trên tiếp gần
mẫu, điều chỉnh bệ hình cầu để cho tiếp xúc đều;