1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện tây sơn, tỉnh bình định

72 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 111,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[10, tr.423] GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm rằng “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Phần chung Bộ luật hình sự với tính chất là tình tiết giảm

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THANH DIÊN

CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THANH DIÊN

CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trìnhxem xét, đánh giá và quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử đối với ngườiphạm tội trong mỗi vụ án cụ thể Việc lạm dụng hoặc thờ ơ đối với việc ápdụng chúng đều sẽ gây nên hậu quả nhất định Quyết định hình phạt quá nhẹdẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; còn quyết định hìnhphạt quá nghiêm khắc, dẫn đến phản tác dụng đối với quá trình cải tạo, giáodục người phạm tội

Trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung một sốquy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm, cáctình tiết giảm nhẹ TNHS tiếp tục được quy định trong một điều luật riêng biệt– Điều 51, với 22 tình tiết cụ thể được ghi nhận tại Khoản 1 và các tình tiếtkhác được xác định trên cơ sở quyết định của Tòa án theo quy định tại khoản

2 Điều 51 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng hình

sự đánh giá đúng tính chất vụ án, tính chất và mức độ nguy hiểm hành viphạm tội Từ đó đưa ra quyết định hình phạt phù hợp, đảm bảo vừa có tính răn

đe, nhưng cũng đồng thời có giá trị cải tạo, giáo dục người phạm tội

Chính sách khoan hồng trong chính sách hình sự của Việt Nam luônđược đặt lên hàng đầu, việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong giảiquyết các vụ án hình sự vì vậy có phạm vi tương đối rộng và tần suất lớn Tuynhiên, thực tế cho thấy, hiện nay hiệu quả, tính đúng đắn trong áp dụng cáctình tiết này vẫn tồn tại những điểm hạn chế nhất định

Từ thực tiễn tại địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, việc xét xử các

vụ án hình sự của Tòa án nhân dân huyện phần lớn đều được áp dụng các tìnhtiết giảm nhẹ TNHS theo đúng quy định của pháp luật Nhưng cá biệt vẫn cònnhững trường hợp, do cách hiểu chưa đúng, chưa đồng nhất, việc nhìn nhận,

Trang 5

đánh giá chưa đầy đủ, thiếu khách quan đã dẫn đến những bất cập trong thựctiễn áp dụng.

Chình vì vậy, việc lựa chọn đề tài luận văn “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định” trên cơ sở phân tích một cách khoa học các vấn đề lý

luận và dữ liệu thực tiễn từ địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định sẽ gópphần làm rõ những vấn đề còn vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn, để từ đóđưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng ápdụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong giải quyết các vụ án hình sự trên địabàn huyện Tây Sơn nói riêng và hệ thống Luật hình sự Việt Nam nói chung

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được nghiên cứu qua nhiều công trìnhkhoa học, các sách, báo, giáo trình với tư cách là một trong những căn cứquyết định hình phạt Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quantrực tiếp đến vấn đề được nghiên cứu trong luận văn, bao gồm: GS - TSKH

Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, quyển 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Giáo dục, Đại học Huế…

Ngoài ra, còn một số bài nghiên viết đăng trên các tạp chí khoa học cóliên quan đến đề tài các tình tiết giảm nhẹ TNHS như: Nguyễn Ngọc Kiện(2017) “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ

luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tr.31-37; Đinh

Văn Quế (2019) “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việc áp dụng

khi quyết định hình phạt”, Tạp chí Kiểm sát, số 6, tr.28-40; Đinh Văn Quế

(2019) “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việc áp dụng khi quyết

định hình phạt”, Tạp chí Kiểm sát, số 7, tr.34-43; Đinh Văn Quế (2018) “Một

Trang 6

số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự khi quyết định hình phạt”, Tạp chí Kiểm sát, số 14, tr.20-23; Nguyễn

Đức Hạnh (2018) “Những điểm mới về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách

nhiệm hình sự”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 4, tr.3-9….

Thông qua việc hệ thống các tài liệu trên đây có thể thấy dưới những góc

độ nghiên cứu khác nhau, các tác giả đã đưa ra những quan điểm và giải quyếtđược nhiều vấn đề của các tình tiết giảm nhẹ TNHS Tuy nhiên, một số nội dung,quan điểm của các nhà nghiên cứu chưa thống nhất, nhiều vấn đề chưa được giảiquyết thỏa đáng, cũng có một số trường hợp các tác giả chỉ đề cập đến nội dungcủa việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS, chưa đưa ra được hướng hoànthiện, nâng cao hiệu quả việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các số liệu thực tiễn từ địa bàn huyệnTây Sơn, tỉnh Bình Định, cùng với việc lý giải thêm về mặt lý luận theo quyđịnh của BLHS hiện hành về các tình tiết giảm nhẹ TNHS, tác giả chọn đề tài

“Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam

từ thực tiễn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định”.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích như trên, luận văn cần tập trung giải quyết được

Trang 7

- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các tình

tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, quy định của BLHShiện hành về các tình tiết giảm nhẹ TNHS và thực tiễn áp dụng những quyđịnh này trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở các tình tiết được quy định tạiĐiều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Đồng thời,kết hợp với việc nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng chế định này trongthực tiễn tại địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên cơ sở vận dụng phép duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước vàPháp luật, về tội phạm học, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nguyêntắc xử lý tội phạm Thông qua đó, việc nghiên cứu làm rõ những nét đặc thù

và giá trị kế thừa trong các quy định về những trường hợp giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự Từ đó trang bị cách tiếp cận biện chứng cho việc áp dụng

Trang 8

những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với pháp luật hình sựtrong thực tiễn.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp những vấn đề lýluận và pháp lý về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luậthình sự Việt Nam

Chương 2: Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích,tổng hợp nhận xét, đánh giá về thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp vớiđánh giá thực tiễn để đề ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụngcác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về cáctình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam Kếtquả nghiên cứu của luận văn trong một phạm vi nhất định góp phần phát triểnmột số lý luận về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trongBLHS Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả công tác áp dụng các tình tiếtgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thời gian tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn đưa ra một số luận cứ khoa học choviệc cụ thể hoá chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với việc xử lý tội phạmtrong pháp luật hình sự hiện hành Đồng thời đưa ra giải pháp giải quyết một

số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và nâng cao hiệuquả áp dụng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trang 9

Kết quả nghiên cứu đề tài có thể phục vụ cho việc trang bị một số kiến thức chuyên sâu đối với cán bộ pháp luật trong lĩnh vực hình sự.

7 Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu gồm 3 chương Cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về các tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Tình hình, đặc điểm có liên quan và thực trạng áp dụng cáctình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnhBình Định

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụngcác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thời gian tới

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Những vấn đề lý luận về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư

1.1.1.1 Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tuy những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có giá trị giảmnhẹ trách nhiệm hình sự đối với bất cứ tội phạm nào, nhưng chúng cũng cóthể có mặt ở trường hợp này mà không có mặt trong trường hợp phạm tộikhác Vì thế, những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không được sửdụng là dấu hiệu chung để xây dựng chế tài đối với một tội phạm cụ thể Lấychế tài làm gốc, việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng theo nhữngquy tắc nhất định trên cơ sở cân nhắc giá trị giảm nhẹ của mỗi trường hợphoặc của một tập hợp các trường hợp

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được sử dụng khá nhiều vàđóng vai trò quan trọng với tư cách là một trong những căn cứ để Tòa ánquyết định hình phạt Tuy nhiên, BLHS năm 2015 không đưa ra khái niệm màchỉ liệt kê các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Khoản 1 Điều 51

và quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trongKhoản 2 Điều 51

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Trường Đại học

Huế do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên có nêu: “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc khi quyết định hình phạt là những tình tiết khác

Trang 11

nhau về tội phạm đã thực hiện, về nhân thân người phạm tội được quy định

cụ thể trong luật hoặc không được quy định cụ thể trong luật nhưng được Tòa

án cân nhắc với ý nghĩa làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội” [10, tr.423]

GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm rằng “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Phần chung Bộ luật hình

sự với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và được ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là một trong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình

sự có thẩm quyền và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt” [8, tr.17]

Trong bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 phần chung, Thạc

sĩ Đinh Văn Quế cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết trong một vụ án cụ thể nó sẽ làm giảm trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong một khung hình phạt” [20, tr.228].

TS Trần Thị Quang Vinh lại cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết của vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự, có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của chúng chưa được ghi nhận trong chế tài.” [14, tr.9]

Hầu hết các tác giả đều cho rằng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự làtình tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chunghoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay

do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trongnhững căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với

Trang 12

Còn “Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” có thể được hiểu là việc hạn chế

sự tác động hình sự thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự Tại một mức độcao nhất, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bất kỳ tình tiết nào mà sựhiện diện của nó làm giảm bớt mức độ trách nhiệm hình sự Như vậy, ở cấp độnày, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết định tội giảmnhẹ, định khung giảm nhẹ, các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 và các điều luậtkhác tại phần chung Bộ luật hình sự, cũng như các tình tiết được áp dụng theokhoản 2 điều 51 Ở mức độ thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

là những tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đã cómột sự chuẩn mực xác định về trách nhiệm hình sự Như vậy, tình tiết giảmnhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết được quy định và áp dụng theo quyđịnh tại phần chung Bộ luật hình sự

Từ các quan điểm về khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự đã nêu trên, cũng như căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam

về tình tiết giảm nhẹ TNHS Tác giả qua nghiên cứu xem xét, đưa ra khái

niệm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết trong một vụ án cụ thể mà nó sẽ làm giảm trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong một khung hình phạt Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội chỉ có ý nghĩa giải nhẹ đối với cá nhân người phạm tội, còn các tình tiết giảm nhẹ khác nếu thuộc về người nào thì chỉ có người đó được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”.

Trang 13

1.1.1.2 Đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Căn cứ vào quy định của pháp luật, tác giả nhận thấy các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, được quy định cụ thể trong BLHS Những tình tiết được coi là

tình tiết giảm nhẹ hình sự khi được quy định cụ thể tại Điều 51 BLHS Cụ thể:

- Khoản 1 Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tộiphạm;

+ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

+ Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

+ Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự

gây ra;

+ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

+ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

+ Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

+ Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

+ Phạm tội do lạc hậu;

+ Người phạm tội là phụ nữ có thai;

Trang 14

+ Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt

10

Trang 15

+ Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặckhả năng điều khiển hành vi của mình;

+ Người phạm tội tự thú;

+ Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

+ Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

+ Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

+ Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

+ Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng

- Khoản 2 Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án

- Khoản 3 Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấuhiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trongkhi quyết định hình phạt”

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 còn được quyđịnh trong một số các văn bản khác như Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTPngày 04/08/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướngdẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999,Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình

sự Trong quá trình xét xử, Tòa án còn có thể xem xét, cân nhắc coi nhữngtình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều này phải ghi rõ

lý do trong bản án

Khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần lưu ý rằng,

Trang 16

những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được quy định với tính cách

là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt của một số tội phạm cụthể thì trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là tình tiếtgiảm nhẹ chung được quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS

Thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là căn cứ để Tòa án áp dụng hình

phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội

Thứ ba, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong những căn cứ để Tòa

án quyết định hình phạt.

Thứ tư, mức độ ảnh hưởng của mỗi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự đến việc quyết định hình phạt không giống nhau

1.1.2 Phân loại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư

Có nhiều cách để phân loại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,nhưng theo tác giả thì mỗi cách phân loại đều có yếu tố hợp lý và ý nghĩariêng khi áp dụng pháp luật nhưng lại tồn tại những vướng mắc nhất định.Nguyên nhân phát sinh khởi nguồn từ bản chất của các tình tiết giảm nhẹ lànhững biểu hiện riêng biệt của từng trường hợp phạm tội cụ thể vì vậy chúngrất đa dạng và phong phú Ngược lại tội phạm dù phát triển theo các điều kiệnkinh tế, chính trị xã hội nên rất đa dạng song vẫn là một thể thống nhất baogồm các yếu tố khách quan, chủ quan Chính sự bất đồng này khiến việc cốgắng chia tách rạch ròi các nhóm về nội dung của các tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự trở nên khó thực hiện

Theo đó, các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 51 BLHS năm

2015 được phân loại theo ba tiêu chí sau:

Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS có giá trị làm giảm mức độ nguy

hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định tại Khoản 1 (bao gồm các tình tiết tại điểm c, d, e, g, h, i, k).

Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo

Trang 17

của người phạm tội được quy định tại Khoản 1 (bao gồm các tình tiết tại điểm

a, b, m, r, s, t, u, v).

Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của

người phạm tội đáng được hưởng khoan hồng (bao gồm các tình tiết còn lại trong Khoản 1).

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư

Việc quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa tolớn về mặt pháp lý Bởi khi giải quyết một vụ án hình sự thì việc giải quyếttrách nhiệm hình sự là vô cùng quan trọng và cần phải cân nhắc đến các tìnhtiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có thể giải quyết một cách chính xác,đảm bảo công bằng Để đảm bảo sự tương xứng giữa tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của tội phạm với mức độ trách nhiệm hình sự, các quyđịnh về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được sử dụng như phương tiện

để phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật và cá thể hóa trách nhiệm hình sựkhi áp dụng Vì vậy mà các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có một sốvai trò, ý nghĩa như sau:

Thứ nhất, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một phương tiện

phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật

Mỗi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đều có giá trị giảm nhẹ nhấtđịnh Tuy nhiên, không thể đánh đồng giá trị của tất cả các tình tiết này làmột Các nhà làm luật Việt Nam dựa trên sự đánh giá về giá trị của các tìnhtiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này đã phân biệt các mức độ giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự khác nhau dưới sự ảnh hưởng của một hay một tập hợp các tìnhtiết giảm nhẹ trong toàn bộ quá trình giải quyết và thực hiện trách nhiệm hình

sự Thể hiện ở việc không phải mọi hành vi phạm tội đều bị áp dụng đến biệnpháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất là hình phạt, không phải mọi trường hợp bịkết án đều phải chấp hành hết thời hạn hình phạt tuyên hay không phải

Trang 18

mọi trường hợp đều phải chấp hành ngay hình phạt tù…Và căn cứ để có thểđưa ra các quyết định mang tính khoan hồng đó cơ bản được dựa trên các quyđịnh về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đóng vai trò là

phương tiện để cá thể hóa trách nhiệm hình sự

Mỗi cá nhân phạm tội lại có những đặc điểm nhân thân riêng biệt,những đặc điểm này khi có đầy đủ các yếu tố để trở thành tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sự thì sẽ mang lại những giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự cho cá nhân đó Với vai trò là một trong những căn cứ đó, các tình tiếtgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự được sử dụng như một phương tiện để cá thểhóa trách nhiệm hình sự Đối với mỗi tội phạm, trong khung hình phạt quyđịnh thì tùy vào từng trường hợp cụ thể để áp dụng các tình tiết đó để giảmnhẹ trách nhiệm hình sự một cách hợp lý và công bằng

Thứ ba, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những

điều kiện cần thiết để đạt được mục đích của hình phạt

Mục đích chính của hình phạt ngoài việc trừng trị thì quan trọng hơn

cả là cải tạo người phạm tội, khiến họ nhận ra sai lầm của mình và sửa chữa

nó Vì vậy, khi giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự, nếu không thỏa đánghoặc quá khắt khe sẽ tạo ra sự bất mãn và không đạt được mục đích của hìnhphạt Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với vai trò là căn cứ để quyếtđịnh hình phạt sẽ đem lại sự công bằng và thể hiện tính nhân đạo của phápluật Hay nói một cách khác, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽđem lại cho họ hy vọng và cảm giác họ vẫn là người có ích cho xã hội để họ

có thể nhận ra sai lầm và cải tạo bản thân Đây là một ý nghĩa quan trọng củacác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Ngoài các ý nghĩa pháp lý nêu trên, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmhình sự còn thể hiện ý nghĩa xã hội đó là thực hiện công bằng xã hội và thực

Trang 19

hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước trong lĩnh vực xử lý tội phạm Nó thểhiện ở chỗ từ ý nghĩa cá thể hóa trách nhiệm hình sự của mỗi cá nhân, các tìnhtiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đem lại sự công bằng đối với người phạmtội Đảm bảo việc xử đúng người đúng tội, làm cho phán quyết về trách nhiệmhình sự sát hơn với từng trường hợp cụ thể Điều này thể hiện ở việc khi đã cócác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì trách nhiệm hình sự của ngườiphạm tội sẽ được giảm đi đáng kể và hạn chế sử dụng những biện pháp cưỡngchế nghiêm khắc Như vậy, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ýnghĩa quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và thực hiện chínhsách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.

1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trên cơ sở kế thừa những quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi bổsung năm 2009), BLHS năm 2015 tiếp tục quy định tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự tại Điều 51, nhưng có sự sửa đổi, bổ sung những quy định mới

so với BLHS năm 1999 BLHS năm 2015 đã quy định 22 trường hợp cụ thểđược xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 51) vàcũng bổ sung thêm việc Tòa án khi quyết định hình phạt, có thể coi đầu thúhoặc các tình tiết khác là các tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảmnhẹ trong bản án Đây là một điểm mới so với 18 trường hợp tại điều 46 Bộluật hình sự năm 1999

So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm những tình

tiết giảm nhẹ TNHS mới là: “Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là cha,

mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng”.

Trang 20

1.2.1 Nội dung của những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sư năm 2015

Trong phần này, tác giả sẽ tập trung phân tích nội dung đồng thời lý giải các cơ sở giảm nhẹ TNHS của mỗi tình tiết giảm nhẹ TNHS như sau:

❖ Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm

Để áp dụng tình tiết giảm nhẹ này, người đã thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội bị coi là tội phạm sau khi phạm tội phải có hành vi tích cực

để ngăn chặn tác hại của tội phạm, hoặc làm giảm bớt các tác hại đó Hành vilàm giảm bớt tác hại của tội phạm được người phạm tội thực hiện khi tộiphạm mà họ gây ra trước đó đã bắt đầu phát sinh tác hại, tuy nhiên các tác hạinày đã được hạn chế, giảm bớt do hành động tích cực của người phạm tội.Việc ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm có thể do người phạmtội tự quyết định thực hiện hoặc do người khác khuyên bảo Pháp luật hình sựViệt Nam không đòi hỏi người phạm tội phải tự mình quyết định hành động,chỉ cần họ tự thực hiện việc ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm

mà họ gây ra và hành động này mang lại hiệu quả khiến tác hại của tội phạmthực sự được ngăn chặn hoặc giảm bớt

❖ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

Tình tiết này được hiêu là, trước khi người bị thiệt hại có yêu cầu đòi sửa chữa, bồi thường hoặc khắc phục hậu quả, người phạm tội đã tự nguyện thực hiện hoạt động này Đây là trường hợp hành vi của người phạm tội đã gây ra hậu quả của tội phạm thể hiện dưới dạng thiệt hại cụ thể hoặc những hậu quả khác Người phạm tội sau đó đã tự mình quyết định việc và thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả của tội phạm mà mình gây ra mà không phải do người bị thiệt hại hoặc người khác yêu cầu, ép buộc Ví dụ: A có hành vi dùng gậy đập vỡ yếm chiếc xe máy mới mua của B, sau đó, A đã chủ

Trang 21

động tự nguyện mang xe của B đi hàn lại yếm Bồi thường thiệt hại được hiểu

là dùng tiền hoặc tài sản của mình đưa cho người bị thiệt hại để bù đắp lại những thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra bao gồm cả những thiệt hại về vật chất, thể chất hoặc những thiệt hại về tinh thần Ví dụ: M sau khi cố

ý gây thương tích cho T đã chủ động sang thăm hỏi, trả tiền viện phí và bồi thường cho T một khoản tiền cho những thiệt hại mà mình gây ra Khắc phục hậu quả là trường hợp hành vi phạm tội gây ra những hậu quả không phải dưới dạng thiệt hại về vật chất, không thể sửa chữa hay bồi thương được, buộc người phạm tội phải có những hành động tích cực nhằm khắc phục những hậu quả đó Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp này phụ thuộc vào thái độ cố gắng, tự nguyện muốn chuộc lỗi của người phạm tội và mức độ hậu quả được khắc phục trên thực tế.

❖ Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng là một trong những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 Khi chống trả lại một cách cần thiết người có hành vi xâm phạm các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức trong xã hội, người thực hiện quyền phòng vệ không phải chịu trách nhiệm hình sự vì phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

Tuy nhiên, nếu trong trường hợp người có hành vi bảo vệ các lợi ích chính đáng lại chống trả quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại và có căn cứ cho thấy việc chống trả rõ ràng

là quá mức thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá Sự chống trả quá mức ở đây phải được thể hiện rõ ràng và có lỗi của người thực hiện hành

vi chống trả, ví dụ như sử dụng công cụ, phương tiện quá nguy hiểm so với tình huống, đánh giá sai tình huống phòng vệ,…Mặc dù vậy trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi vượt giới hạn phòng vệ chính đáng không như những trường hợp bình thường vì động cơ phạm tội là động cơ tốt để bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tổ chức, quyền lợi và lợi ích chính đáng

Trang 22

của người phòng vệ hoặc người khác Vì thế, đây được coi là mộttrường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

Chính do đặc điểm này mà có ý kiến cho rằng không nên coi tình tiếtnày là tình tiết giảm nhẹ nữa vì nó đã là dấu hiệu định tội ở Điều 126 (tội giếtngười do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng) và Điều 136 (tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giớihạn phòng vệ chính đáng) Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cứ vượt quágiới hạn phòng vệ chính đáng đều được coi là trường hợp quy định tại Điều

126 hoặc Điều 136 BLHS mà không ít trường hợp, tuy có yếu tố phòng vệchính đáng nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm chưa đến mức áp dụngĐiều 126 hoặc 136 BLHS thì người phạm tội được coi là tình tiết giảm nhẹkhi quyết định hình phạt Do đó, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, ngườiphạm tội bị kết án về tội giết người quy định tại Điều 123 và tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều

134 BLHS vẫn có thể có tình tiết giảm nhẹ “do vượt quá giới hạn phòng vệchính đáng” Tuy nhiên trong bản án, Tòa án phải nêu rõ lý do vì sao họ chỉđược coi là tình tiết giảm nhẹ

❖ Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Trường hợp này quy định về trường hợp giảm nhẹ do hoàn cảnh kháchquan đặc biệt đem lại Việc thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội bịđặt trong hoàn cảnh do tác động từ bên ngoài nảy sinh hành vi phạm tội

Cơ sở giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này thể hiện ở chỗ,việc gây thiệt hại là do yêu cầu của một hoàn cảnh khách quan, đang diễn ramột tình trạng nguy hiểm, buộc phải hy sinh một lợi ích nhỏ hơn thiệt hại cầnngăn ngừa Trong hoàn cảnh đó người phạm tội đã xử sự rõ ràng là vượt quáyêu cầu cấp thiết

❖ Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người

Trang 23

phạm tội

Bộ luật hình sự năm 1999 chưa quy định tình tiết giảm nhẹ này Nếutrong thực tiễn xảy ra trường hợp trong khi bắt giữ người mà gây thiệt hại chongười bị bắt giữ thì vận dụng chế định phòng vệ chính đáng để xử lý Nếu gâythiệt hại rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác trong khithi hành công vụ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khi bắt người phạm tội,người bị bắt chỉ bỏ chạy, không có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũlực, nhưng để bắt được người phạm tội thì buộc phải gây thiệt hại cho họ.Thiệt hại gây ra cho người phạm tội chủ yếu là tính mạng, sức khỏe, còn thiệthại tài sản cũng có nhưng rất ít xảy ra

Nay BLHS năm 2015 quy định trường hợp gây thiệt hại trong khi bắtgiữ người phạm tội thành một chế định riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu đấutranh phòng chống tội phạm Người bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội

có thể là người có chức vụ, quyền hạn như: chiến sĩ công an, quân đội, hảiquan, kiểm lâm, cảnh sát biển, nhưng cũng có thể chỉ là người tham gia vàoviệc truy bắt người đang có hành vi phạm tội cũng như được hưởng chế địnhnày

Nếu trong khi bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà gây thiệthại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hạiphải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng được coi là tình tiết giảm nhẹ

Cũng như tình tiết giảm nhẹ phạm tội trong trường hợp vượt quá giớihạn phòng vệ chính đáng, tình tiết giảm nhẹ này chỉ áp dụng trong trường hợpngười phạm tội không bị truy cứu về các tội quy định tại các Điều 126 vàĐiều 136 BLHS

❖ Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra

Trang 24

Cần phải nhận thấy rằng, nội dung của tình tiết giảm nhẹ này khác vớitình tiết quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.

Nếu điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 quy định: “ do hành vitrái pháp luật của người bị hại hoặc của người khác” thì điểm e khoản 1 Điều

51 chỉ quy định: “ do hành vi trái pháp luật của nạn nhân”

Như vậy, tình tiết giảm nhẹ đã thu hẹp phạm vi áp dụng so với điểm đkhoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999

Tình tiết giảm nhẹ này cũng khác với tình tiết là yếu tố định tội tại Điều

125 (tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh) và Điều 135(tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh); người phạm tội trong trường hợp nàycần phải xác định là họ bị kích động chứ không phải là bị kích động mạnhnhư Điều 125 và Điều 135 BLHS

Đây là trường hợp được giảm nhẹ liên quan đến phản ứng do bị kíchđộng về tinh thần của người phạm tội Trạng thái tinh thần bị kích động củangười phạm tội là do nạn nhân đã có hành vi trái pháp luật trước đó, đây là lí

do khiến người phạm tội đã không làm chủ và kiểm soát hoàn toàn được hành

vi của mình Cơ sở giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phụthuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mức

độ bị kích động của người phạm tội

❖ Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự

gây ra

Tình tiết này được hiểu là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Hoàn cảnh nàykhông phải do họ tự gây ra mà là do khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, bệnhtật, tai nạn,…Hoàn cảnh này có thể là hoàn cảnh khó khăn đặc biệt của bảnthân người phạm tội hoặc của gia đình họ, có thể tạm thời nảy sinh, hoặc đã

Trang 25

tồn tại từ lâu,…Hoàn cảnh này phải là hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều so vớimức bình thường Chính sự đặc biệt khó khăn của hoàn cảnh đã khiến ngườiphạm tội không tự mình vượt qua được và đã chọn thực hiện hành vi phạmtội Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp này phụ thuộcvào mức độ khó khăn của hoàn cảnh và khả năng cố gắng tìm cách khắc phụcnhững khó khăn đó của người phạm tội trước khi họ thực hiện hành vi phạmtội.

❖ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn

Quy định về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tộinhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, trên cơ sở hậu quả củaphạm tội được hạn chế hoặc phạm tội lần đầu mà mức độ phạm tội ít nghiêmtrọng Đây đều là những căn cứ dựa trên tính chất thiệt hại, mức độ nguy hiểmtrong hành vi phạm tội giới hạn ở mức thấp Theo đó, thiệt hại thực tế theoquy định tại điểm g chưa xảy ra hoặc thiệt hại xảy ra không lớn Mặc dù lỗicủa người phạm tội làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự không thay đổinhưng do thiệt hại chưa xảy ra mà mức độ truy cứu cũng được Nhà nước giảmnhẹ, khoan hồng Giới hạn giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào mức

độ gây thiệt hại của hành vi phạm tội, hình thức lỗi, cách thức gây thiệt hại.Phạm tội trong trường hợp này là trường hợp phạm tội nhưng thiệt hại trênthực tế chưa xảy ra hoặc xảy ra không lớn Trong thực tiễn, tình tiết nàythường được áp dụng trong những trường hợp hành vi phạm tội bị phát giáckịp thời nên không phát sinh thiệt hại do đã có sự ngăn chặn từ phía nhữngngười khác, tài sản bị chiếm đoạt được trả lại ngay cho người bị hại Mức độgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự của trường hợp này phụ thuộc vào mức thiệt hại

mà người phạm tội đã gây ra cho nạn nhân

❖ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

Để áp dụng tình tiết này người phạm tội phải thỏa mãn hai điều

Trang 26

kiện: thứ nhất, trường hợp phạm tội lần này phải là lần đầu tiên họ thực hiện hành vi phạm tội; thứ hai, tội phạm mà họ thực hiện phải là tội ít nghiêm

trọng, hoặc nếu không thì trường hợp phạm tội của họ phải có nhiều yếu tốlàm cho trường hợp đó trở nên ít nghiêm trọng

Cần phân biệt trường hợp phạm tội này với một số trường hợp quy địnhtrong một số điều luật cũng có tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”nhưng lại là tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêmtrọng thì không coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Ví dụ, khoản 2Điều 110 đối với tội gián điệp có quy định “phạm tội trong trường hợp ítnghiêm trọng” nhưng khung hình phạt từ 05 năm đến 15 năm là tội rất nghiêmtrọng thì không coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì đây là dấuhiệu khách quan của cấu thành tội phạm (cấu thành giảm nhẹ), là dấu hiệuđịnh khung hình phạt

❖ Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức

Phạm tội do bị đe dọa, cưỡng bức là những trường hợp giảm nhẹ dựatrên những tác động khách quan dẫn đến động cơ thực hiện hành vi phạm tội.Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức là tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹtrách nhiệm hình sự vì người phạm tội thực hiện tội phạm trong một hoàncảnh bị hạn chế tự do ý chí do bị đe dọa, cưỡng bức, không thể hiện đầy đủ tự

do ý chí Đây chính là cơ sở giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết trên.Giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết phạm tội vì bị đe dọa,cưỡng bức phụ thuộc vào tính chất và mức độ của sự đe dọa Phạm tội do bị

đe dọa, cưỡng bức có hai mô tả trong trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự Phạm tội do bị đe dọa là trường hợp người phạm tội bị uy hiếp về mặt tinhthần bằng việc sử dụng vũ lực hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật gây nên.Hành vi đe dọa trong trường hợp này phải chứa đựng khả năng trở thành hiệnthực Phạm tội do bị cưỡng bức là trường hợp người phạm tội bị người khác

Trang 27

sử dụng bạo lực bức ép về mặt thể xác hoặc tinh thần nhằm buộc người đó thực hiện hành vi phạm tội.

❖ Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra

Đối với tình tiết này mặc dù chưa có hướng dẫn cụ thể nhưng có thểhiểu theo tinh thần của quy định này là một số trường hợp, người thực hiệnhành vi phạm tội trong khi bị hạn chế khả năng nhận thức do nguyên nhânkhách quan chẳng hạn như bị cưỡng ép, lừa gạt để sử dụng chất kích thíchmạnh

Vì vậy, khi xác định có cho người phạm tội hưởng tình tiết giảm nhẹnày hay không, không chỉ căn cứ vào sự hạn chế khả năng nhận thức củangười phạm tội mà phải xác định xem do đâu mà người phạm tội bị hạn chếkhả năng nhận thức đó Nếu đúng là bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức thìcần phải xem có phải do lỗi của họ hay không? Nếu không phải lỗi của họ thìđược coi là tình tiết giảm nhẹ

❖ Phạm tội do lạc hậu

Đây là một tình tiết được giữ nguyên từ BLHS năm 1999 và phản ánhmức độ lỗi của người phạm tội Trường hợp phạm tội này là do sự hạn chế vềmặt nhận thức do trình độ lạc hậu, thấp kém, đi chậm so với tiến trình pháttriển chung của xã hội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự lạc hậu như yếu tốđịa lý (sinh sống ở vùng xa xôi, hẻo lánh), yếu tố dân tộc (người dân tộc thiểusố), yếu tố văn hóa tín ngưỡng (mê tín, hủ tục),…Khi cân nhắc việc giảm nhẹđối với trường hợp này, Tòa án cần xem xét mức độ lạc hậu của người phạmtội trong mối quan hệ với các yếu tố ảnh hưởng đến sự lạc hậu

❖ Người phạm tội là phụ nữ có thai

Tình tiết này phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đó là việc họ thực hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai Một trong những yếu

Trang 28

tố ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của họ là sự thay đổi về tâm – sinh lýtrong thời kỳ mang thai dẫn đến trạng thái nóng nảy, dễ bị kích động, khókiểm soát hành vi.

Ngoài ra, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sựkhông phân biệt người phạm tội là phụ nữ có thai tại thời điểm phạm tội haytrong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự

❖ Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên

Theo BLHS năm 1999, trường hợp người phạm tội từ đủ 70 tuổi trở lên

là người già (người phạm tội là người già) Tuy nhiên, nếu quy định là ngườigià thì sẽ dẫn đến cách hiểu khác nhau Nay BLHS năm 2015 không gọi làngười già mà quy định độ tuổi đủ 70 tuổi trở lên mà phạm tội là tình tiết giảmnhẹ

Pháp luật quy định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người đủ 70 tuổi trởlên không phải vì hành vi của họ ít nguy hiểm hơn người dưới 70 tuổi mà chủyếu xuất phát từ tinh thần nhân đạo Căn cứ để xác định người phạm tội là người

đủ 70 tuổi trở lên, tuyệt nhiên không được căn cứ vào tình trạng sức khỏe

Quy định này xuất phát từ chính sách hình sự nhân đạo của nhà nước tađối với người cao tuổi Bên cạnh đó, yếu tố tâm – sinh lý lứa tuổi cũng đượccân nhắc vì vào độ tuổi này, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ

bị suy giảm, điều này phần nào ảnh hưởng đến tính chất mức độ nguy hiểmcủa hành vi phạm tội mà họ thực hiện Do đó, tình tiết liên quan đến hoàncảnh đặc biệt của người phạm tội vì họ là người già cần phải được xác định làtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trang 29

binh (người có công) mà họ chỉ là người bị tàn tật do bẩm sinh, do tai nạn laođộng Các Tòa án khi áp dụng hình phạt đối với những trường hợp này cũngchỉ áp dụng khoản 2 của Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 Nay Bộ luật hình

sự năm 2015 quy định là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 là xuất phát từyêu cầu của thực tiễn xét xử

Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng phải có chứngnhận của hội đồng giám định pháp y, nếu có tỷ lệ thương tật từ 61% đến 80%sức khỏe thì gọi là khuyết tật nặng, nếu có tỷ lệ thương tật từ 81% sức khỏetrở lên thì gọi là khuyết tật đặc biệt nặng (tương đương với tỷ lệ thương tật đốivới thương binh nặng và đặc biệt nặng)

Vấn đề đặt ra là, vậy đối với người phạm tội là thương binh, bệnh binh

có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên có được áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ làngười khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng và tình tiết giảm nhẹ làngười có công với cách mạng không? Có thể còn nhiều ý kiến khác nhaunhưng theo tác giả, người phạm tội được áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ, vìngười có công có thể là thương bệnh binh chỉ có tỷ lệ thương tật từ 21% sứckhỏe đã được công nhận là người có công rồi, nếu họ là thương, bệnh binhnặng hoặc đặc biệt nặng thì không có lý do gì lại không cho họ được hưởng 2tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p và điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhsự

❖ Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Lỗi của người phạm tội trong trường hợp này là lỗi hạn chế, do đó,trách nhiệm hình sự của họ cũng hạn chế, họ được giảm nhẹ so với nhữngtrường hợp phạm tội thông thường Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độảnh hưởng của bệnh tật tới khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiểnhành vi của họ

Trang 30

❖ Người phạm tội tự thú

Tự thú là tự nói ra tội lỗi của mình Tình tiết này phản ánh khả năng cảitạo của người phạm tội Để được coi là tự thú, người phạm tội phải chủ độngđến cơ quan có thẩm quyền trình diện và khai báo về hành vi của mình trướckhi tội phạm bị phát hiện

Nếu người phạm tội tự thú có đủ điều kiện quy định ở khoản 2 Điều 29BLHS thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự

Đặc biệt, cần phân biệt tự thú với đầu hàng Đầu hàng là chịu thua Vìvậy, trong trường hợp một người phạm tội bị bao vây, không còn đường nàokhác mà phải ra đầu hàng thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ Nếu họ còn

có khả năng trốn tránh, nhưng ra trình diện thì được coi là trường hợp tự thú(đầu thú) Đầu thú chỉ có thể được áp dụng tại khoản 2 Điều 51 BLHS

❖ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải

Thành khẩn khai báo được hiều là trường hợp người phạm tội đã tựnguyện khai báo rõ ràng, chính xác về toàn bộ hành vi phạm tội của mình vànhững người đồng phạm khác Ăn năn hối cải được hiểu là người phạm tộisau khi thực hiện hành vi cảm thấy day dứt, thể hiện thái độ hối hận của mình

vì đã thực hiện tội phạm, đồng thời thể hiện mong muốn cải tạo tốt để sửachữa lỗi lầm thông qua việc chấp hành pháp luật, tích cực lao động, sản xuất,

…Tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ phản ánh được khả năng cải tạo củangười phạm tội, cũng là tình tiết cụ thể hóa tinh thần của điểm d khoản 1 Điều

3 BLHS năm 2015 “Khoan hồng đối với người tự thú,…thành khẩn khai báo,

…ăn năn hối cải,…”

❖ Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án

Mặc dù không phải là tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng tình tiết này vẫnđược sửa đổi về mặt kỹ thuật, không làm thay đổi mà giúp diễn đạt rõ ràng

Trang 31

hơn nội dung của tình tiết, đồng thời thể hiện sự thống nhất, đồng bộ trongviệc sửa đổi các tình tiết giảm nhẹ trong BLHS năm 2015 Mức độ giảm nhẹphụ thuộc vào hiệu quả từ việc cung cấp thông tin, tài liệu trong việc pháthiện hoặc điều tra tội phạm.

Để áp dụng tình tiết này, người phạm tội sau khi thực hiện hành viphạm tội, đã có thành tích, hành động tích cực đáng hoan nghênh nhằm chuộclại phần nào lỗi lầm mà họ đã gây ra Thành tích có thể là việc cứu ngườitrong tình trạng nguy hiểm, cứu hỏa,…thể hiện sự hối lỗi và quyết tâm cải tạocủa người phạm tội Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào thành tích đạt được vàmức độ tích cực của người phạm tội

Mức độ giảm nhẹ của tình tiết này phụ thuộc vào công trạng của ngườiphạm tội lập được sau khi phạm tội, công càng lớn mức giảm nhẹ càng nhiều,thậm chí có thể miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự nếu như cócông mà tội phạm do họ gây ra chỉ là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêmtrọng do vô ý

❖ Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác

Tình tiết này được áp dụng trong trường hợp người phạm tội đã đượctặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen của Chính phủ hoặc nhiềunăm là chiến sĩ thi đua, được phong danh hiệu anh hùng, nghệ sĩ nhân dân,nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân,…hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn

Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của trường hợp này xuất phát từ đòihỏi công bằng thông qua việc cân nhắc hợp lý giữa công và tội, đồng thời có tínhđến khả năng cải hoá người phạm tội Do vậy, thực tiễn xét xử đã có đường lốivận dụng trường hợp này Khi xét xử, cố vấn để cân nhắc giữa công và tội nhất làngười trước đây có công nay đã sa đọa, mất hết phẩm chất cách mạng;

Trang 32

khi cần thiết, vẫn phải xử lý nghiêm khắc không loại trừ những hình phạt cao nhất như chung thân hoặc tử hình

❖ Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ

Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các Nghị quyết số01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luậthình sự năm 1999, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy địnhcủa Bộ luật hình sự Nay được luật hóa và quy định chính thức là tình tiếtgiảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS năm 2015

Quy định mới này đã bổ sung nhiều trường hợp được coi là tình tiếtgiảm nhẹ Tuy nhiên vẫn chưa đầy đủ và chồng chéo Liệt sĩ cũng là người cócông với cách mạng, nhưng điểm x khoản 1 Điều 51 không quy định ngườiphạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công với cách mạng mà chỉquy định cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ mới là tình tiết giảm nhẹ theođiểm x khoản 1 Điều 51, mà Tòa án chỉ có thể coi là tình tiết giảm nhẹ ởkhoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

1.2.2 Nội dung của những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình

sư theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sư năm 2015

Ngoài những tình tiết đã được quy định ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình

sự, theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thì khi quyết định hình phạt, Tòa án

có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõtrong bản án Điều 51 Bộ luật hình sự chỉ coi người phạm tội tự thú mới làtình tiết giảm nhẹ, nhưng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã quy định: “Tòa

án có thể coi đầu thú cũng là tình tiết giảm nhẹ” Đây cũng là quy định mớikhi Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 chỉ quy định “ tòa án còn có thể coi tình

Trang 33

tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”.

Theo điểm c Mục 5 Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có 08 tình tiết được xem là các tình tiếtgiảm nhẹ khác

Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thểcủa người phạm tội mà Hội đồng xét xử có thể xem xét thêm một số tình tiếtkhác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án

Việc xác định tình tiết giảm nhẹ khác cần cân nhắc đảm bảo điều kiệnthực sự giảm nhẹ tính chất tội phạm; nhân thân đặc biệt của bị cáo; bị cáothực sự còn khả năng cải tạo; để tránh áp dụng tuỳ tiện

Như vậy, có thể thấy tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có sự phânhoá rất đa dạng tuỳ theo từng vụ việc cụ thể Bộ luật hình sự không thể dự trù hếtđược nên việc bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ tại Nghị quyết này và các vănbản khác là rất cần thiết, góp phần việc xác định hình phạt vừa đảm bảo tính răn

đe vừa thể hiện tính nhân đạo, giáo dục người phạm tội của pháp luật

1.2.3 Nội dung của những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình

sư theo khoản 3 Điều 51 Bộ luật Hình sư năm 2015

Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu địnhtội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyếtđịnh hình phạt

Có thể hiểu tình tiết định tội là tình tiết mà trong cấu thành tội phạm đóbắt buộc phải có, nếu không có tình tiết đó thì sẽ không phạm tội đó Chẳnghạn, trong tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 51 quyđịnh “Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.Đây chính là tình tiết định tội của tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng quy định tại Điều 126 Bộ Luật này Nếu không có tình tiết vượtquá giới hạn phòng vệ chính đáng thì người thực hiện hành vi phạm tội sẽ

Trang 34

không phạm tội này mà là phạm vào một tội khác (như Tội giết người chẳng hạn).

Khi đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành một tội phạm (phạm tội gì) thì việctiếp theo là xác định mức phạt cụ thể đối với tội đó là bao nhiêu, khi này kháiniệm khung hình phạt bắt đầu được xem xét đến Thông thường một Điều luật

sẽ có 1 hoặc nhiều khung hình phạt và sắp xếp theo hướng khung hình phạtsau cao hơn khung hình phạt trước (thường khoản 2, 3, 4…trở đi mức phạt sẽcao hơn khoản 1) cá biệt có một số Điều luật được thiết kế theo hướng ngượclại (ví dụ như Điều 123 Tội giết người khoản 1 khung hình phạt là cao nhất –

tử hình, nhưng khoản 2 mức tối đa chỉ 15 năm)

Tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội sẽ thuộc vào một khungnhất định Khi đã thuộc vào một khung nào đó thì sẽ xem xét đến ý nghĩa củanhững tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Nếu một tội phạm được thực hiện màkhông có bất kỳ tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ nào thì mức án được tuyên

sẽ là khoảng giữa của khung Ví dụ: Khung hình phạt áp dụng là từ 03 nămđến 07 năm tù giam thì mức án sẽ là 05 năm tù giam ((03 + 07)/2 = 05) Nếu

có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức hình phạt có thể xuống dưới mức 05 nămnhưng không được thấp hơn 03 năm Trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặngthì mức phạt được tuyên có thể nhiều hơn 05 năm nhưng tối đa không quá 07năm

Do đó khi tình tiết giảm nhẹ nào đó đã được dùng để định tội (khá phổbiến) và dùng để định khung (rất hiếm gặp – nhưng nhà làm luật vẫn quy địnhphòng hờ) thì sẽ không áp dụng để xem xét định lượng hình phạt nữa vì nhưvậy 1 tình tiết giảm nhẹ lại áp dụng đến 02 lần Trở lại với ví dụ phạm tội dovượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì đó đã là tình tiết định tội tại Điều

126 rồi, không thể khi quyết định hình phạt lại nêu thêm 1 tình tiết giảm nhẹ

là do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 1 lần nữa

Trang 35

cả về mặt pháp lý lẫn chính trị.

Ngoài ra, chương 1 luận văn cũng đã đưa ra tiêu chí để phân loại theonhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS, đồng thời phân tích làm rõ những nộidung pháp lý cơ bản của mỗi tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều

51 BLHS hiện hành

Những nội dung lý luận về các tình tiết giảm nhẹ TNHS được đề cậptrong chương 1 là cở sở quan trọng để luận văn nghiên cứu, phân tích và làmsáng tỏ một số vấn đề thực tiễn đang diễn ra trên địa bàn huyện Tây Sơn, tìnhBình Định

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan của huyện Tây Sơn ảnh hưởng đến áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Những đặc điểm chính của địa phương: Tây Sơn là huyện trung du ởphía Tây tỉnh Bình Định, có diện tích 708 km2, dân số khoảng 125.000 người

Về địa hình, phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định) và thị xã AnKhê (tỉnh Gia Lai), Đông giáp thị xã An Nhơn, Nam giáp huyện Vân Canh,Bắc giáp huyện Phù Cát Hiện nay huyện Tây Sơn có 14 xã và 01 thị trấn.Dân cư chủ yếu đi làm ăn xa (ở Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Nguyên nhưGia Lai, Đăk Lăk, Buôn Mê Thuột,…) Số lượng các vụ án dân sự (gồm Dân

sự, Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động) trên địa bànhuyện hàng năm tăng về số lượng và các quan hệ tranh chấp ngày càng phứctạp hơn, đặc biệt các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất và các tài sản gắnliền với đất, ranh giới bất động sản liền kề, di sản thừa kế,… và các tranhchấp hợp đồng vay tài sản, tranh chấp về họ xảy ra theo đường dây có mốiliên kết với nhau, liên quan đến nhiều người và có dấu hiệu của tín dụng đen.Bên cạnh đó, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, số vụ án cóđông bị cáo tham gia ngày càng nhiều

Những đặc điểm chính của đơn vị: Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn có trụ

sở tại địa chỉ 02 Đô Đốc Bảo, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh BìnhĐịnh Đây là trụ sở làm việc mới của đơn vị ở vị trí có diện tích đất rộng hơn, tạomôi trường làm việc khoa học, hiện đại nhằm nâng cao chất lượng công tác giảiquyết, xét xử các loại vụ án, đảm bảo tính tôn nghiêm của cơ quan

Ngày đăng: 10/12/2020, 11:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w