1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát các yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang

7 195 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 623,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát kiến thức về bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bước đầu tiên quan trọng để đo lường hiệu quả và tối ưu các chương trình giáo dục bệnh nhân (BN) ĐTĐ type 2. Bài viết trình bày khảo sát kiến thức về bệnh và một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh ở BN ĐTĐ type 2.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC

VỀ BỆNH Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẬU GIANG

Trần Thị Thanh Tâm * , Nguyễn Thắng ** , Nguyễn Hương Thảo *

TÓM TẮT

Mở đầu: Khảo sát kiến thức về bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bước đầu tiên quan trọng để đo lường hiệu

quả và tối ưu các chương trình giáo dục bệnh nhân (BN) ĐTĐ type 2

Mục tiêu: Khảo sát kiến thức về bệnh và một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh ở BN ĐTĐ type 2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên BN ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú

tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang từ 02/01/2020 đến 29/02/2020 Đặc điểm BN và thông tin điều trị được thu thập từ sổ khám bệnh Kiến thức về bệnh ĐTĐ được đo lường bằng bộ câu hỏi Diabetes Knowledge Questionnaire (DKQ) Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan với kiến thức

về bệnh của BN

Kết quả: Có 87 BN tham gia nghiên cứu (tuổi trung bình 66,87±9,93) Điểm trung bình kiến thức về bệnh

ĐTĐ là 12,99±5,62 BN có trình độ học vấn THPT trở lên có kiến thức về bệnh tốt hơn (B = 6,695; 95% CI: 5,877 – 7,514; p < 0,001) so với BN có trình độ học vấn thấp hơn Chúng tôi chưa ghi nhận được mối liên quan giữa giới tính, việc mắc các bệnh mắc kèm hay thời gian mắc bệnh ĐTĐ, việc có hay không sử dụng insulin với kiến thức về bệnh của BN

Kết luận: Điểm trung bình kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN ĐTĐ type 2 còn khá thấp Trình độ học vấn có

vai trò quan trọng đối với kiến thức về bệnh của bệnh nhân

Từ khóa: kiến thức về bệnh, đái tháo đường, DKQ

ABSTRACT

AN INVESTIGATION OF THE DIABETES KNOWLEDGE AND ITS RELATED FACTORS

IN OUTPATIENTS WITH TYPE 2 DIABETES AT HAU GIANG GENERAL HOSPITAL

Tran Thi Thanh Tam, Nguyen Thang, Nguyen Huong Thao

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 3 - 2020: 137 - 143

Background: Investigating knowledge about diabetes is an important step to evaluate and optimize

education programs for type 2 diabetes patients

Objectives: To investigate knowledge about diabetes and its related factors in outpatients with type 2 diabetes Methods: A cross-sectional study on outpatients with type 2 diabetes was conducted from January 2 nd to February 29 th , 2020, at Hau Giang General Hospital Patients’ sociodemographic characteristics and indicated medications were obtained from outpatients’ medical records Data on diabetes knowledge was evaluated using the Diabetes Knowledge Questionnaire (DKQ) Multiple linear regression was used to identify factors associated with knowledge about diabetes

Results: There were 87 patients included in the study The mean age of the patients was 66.87±9.93 The

*Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Khoa Dược, Trường Đại học Y Dược Thành phố Cần Thơ

Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Hương Thảo ĐT: 0918177254 Email: thao.nh@ump.edu.vn

Trang 2

average score of the patients’ diabetes knowledge was 12.99±5.62 Education level was positively associated with

diabetes knowledge (B = 6.695; 95% CI: 5.877 – 7.514; p < 0.001) We have not found any relationships between

patient’s diabetes knowledge and other factors (gender, co-morbidity, duration of diabetes or insulin usage)

Conclusions: The average score of knowledge about diabetes of patients with type 2 diabetes was quite

low Education level played a significant role in patient’s knowledge about diabetes

Key words: knowledge about diabetes, diabetes, DKQ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những

bệnh mạn tính không lây nhiễm phổ biến nhất

trên toàn thế giới(1) Theo Hiệp hội đái tháo

đường Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có

415 triệu người chung sống với bệnh ĐTĐ, dự

kiến đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu(2)

Trong đó, Việt Nam với 3,53 triệu bệnh nhân

(BN) trong độ tuổi từ 20-79 mắc đái tháo đường

và ước tính sẽ tăng lên đến 6,3 triệu người mắc

bệnh vào năm 2045(3) ĐTĐ là nguyên nhân gây

tử vong cao thứ ba tại Việt Nam (sau xơ vữa

động mạch và ung thư), chỉ tính riêng trong năm

2017 cả nước có gần 29.000 người trưởng thành

tử vong do các nguyên nhân liên quan đến

ĐTĐ(4) Bệnh ĐTĐ nếu không được quản lý và

kiểm soát tốt sẽ dẫn đến xuất hiện các biến

chứng và các nguy cơ tiềm ẩn trên nhiều hệ

thống và cơ quan trong cơ thể(5) Kiểm soát

đường huyết vẫn là một trọng tâm chính của

việc điều trị BN ĐTĐ type 2 Điều này phụ thuộc

vào nhiều yếu tố, bên cạnh việc kê đơn thuốc

hợp lý, thì kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN, tuân

thủ dùng thuốc, chế độ ăn uống và luyện tập của

BN đều đóng vai trò quan trọng trong việc đạt

được hiệu quả điều trị ĐTĐ type 2 Vì thế, việc

đánh giá kiến thức về bệnh ĐTĐ là bước đầu

tiên quan trọng để đo lường hiệu quả và tối ưu

hóa các chương trình giáo dục BN(6) Trên cơ sở

đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu (NC) với

mục tiêu khảo sát kiến thức và các yếu tố liên

quan đến kiến thức về bệnh ở BN ĐTĐ type 2

điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh

Hậu Giang

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Chúng tôi chọn các BN (≥ 18 tuổi) đến khám tại phòng khám nội của khoa Khám bệnh - Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang trong khoảng thời gian từ 02/01/2020 đến 29/02/2020 có chẩn đoán ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú với ít nhất một thuốc ĐTĐ đường uống từ ít nhất 6 tháng trước Chúng tôi loại trừ các BN có ít nhất một trong các tiêu chí sau: phụ nữ có thai, không sử dụng tiếng Việt (BN là người nước ngoài), không đồng

ý tham gia NC, không sử dụng điện thoại

Cỡ mẫu

Chúng tôi muốn ước tính điểm trung bình kiến thức về bệnh ĐTĐ theo bộ câu hỏi DKQ ở người Việt Nam, và chấp nhận sai số trong vòng

2 điểm (d=2) với khoảng tin cậy 0,95 (tức α = 0,05)

và power = 0,80 (hay β = 0,20) Trong NC của Hu (2012), độ lệch chuẩn của điểm trung bình của bộ câu hỏi DKQ là 5,86 điểm(7) Như vậy, hệ số ảnh hưởng là: ES = d/s = 0,34 và hằng số C = 7,85 Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cần thiết cho NC: n = C/(ES)2 = 68 BN Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu là 68 BN

Phương pháp tiến hành

Các thông tin về đặc điểm BN bao gồm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh (tính từ lúc phát hiện bệnh đến thời điểm khảo sát) được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp BN tại bệnh viện Các thông tin về bệnh mạn tính mắc kèm và các thuốc ĐTĐ BN đang sử dụng được ghi nhận từ sổ khám bệnh/đơn thuốc Kiến thức về bệnh ĐTĐ của

BN được đo lường bằng bộ câu hỏi Diabetes Knowledge Questionnaire (DKQ)(6), gồm 24 câu hỏi Với mỗi câu hỏi, BN có 3 lựa chọn: Đúng, Sai hoặc Không biết Mỗi câu trả lời chính xác sẽ được tính 1 điểm và không có điểm nào cho lựa chọn không chính xác hoặc

Trang 3

không biết Kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN

được đánh giá qua tổng điểm của tất cả các

câu trả lời chính xác Điểm cao hơn cho biết

BN có kiến thức về bệnh ĐTĐ tốt hơn

Bộ câu hỏi DKQ chưa được dịch và thẩm

định trong điều kiện NC tại Việt Nam Vì

vậy, chúng tôi đã xin phép tác giả bộ câu hỏi

DKQ (Garcia và cộng sự) tiến hành chuyển

ngữ và đánh giá bộ câu hỏi DKQ (trước khi

phỏng vấn bệnh nhân) Quá trình chuyển

ngữ bao gồm các bước sau: dịch thuận, tổng

hợp và dịch ngược để tạo thành các bản dịch

(lần lượt T1, T2, T12, BT1, BT2); các phiên

bản dịch trên sẽ được hội đồng chuyên gia

(gồm 8 thành viên: 5 dịch giả, 1 chuyên gia

về phương pháp NC, 2 bác sĩ có chuyên môn

về lĩnh vực NC) so sánh với phiên bản gốc

để đạt được sự đồng thuận và tạo thành

phiên bản tiếng Việt hoàn chỉnh

Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20

và Excel 2013 Thống kê mô tả được sử dụng để

xác định tần số, tỷ lệ % và trung bình ± độ lệch

chuẩn Việc so sánh giá trị trung bình của 2

nhóm độc lập với biến có phân phối không

chuẩn được thực hiện bằng phép kiểm Mann -

Whitney, so sánh giá trị trung bình của 3 nhóm

trở lên với biến có phân phối không chuẩn bằng

phép kiểm Kruskal - Wallis Tính nhất quán

được đánh giá qua hệ số Cronbach’s alpha, giá

trị Cronbach’s alpha > 0,7 được cho là bộ câu hỏi

có tính nhất quán tốt(8) Hồi quy tuyến tính đa

biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan

giữa các yếu tố khảo sát với kiến thức về bệnh

của BN Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa

thống kê

Y Đức

Nghiên cứu đã được chấp thuận của hội

đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y Dược

Thành phố Hồ Chí Minh và hội đồng khoa học

Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang

KẾT QUẢ

Có 87 bệnh nhân tham gia NC Các đặc điểm của BN về tuổi, giới tính, bệnh mắc kèm, thời gian mắc bệnh, trình độ học vấn, việc có hay không sử dụng insulin và điểm số trung bình

DKQ được trình bày trong Bảng 1 Tuổi trung

bình của mẫu NC là 66,87±9,93 tuổi, trong đó số

BN trên 65 tuổi chiếm 62,1% mẫu NC Nữ giới chiếm 51,7% Số lượng BN có 1 bệnh mắc kèm chiếm tỷ lệ cao (65,5%) Hơn một nửa BN mắc bệnh ĐTĐ trên 10 năm (57,5%) Tỷ lệ BN được

sử dụng insulin chiếm 33,3% Trình độ học vấn chiếm tỷ lệ cao là tiểu học (43,7%) BN có trình

độ học vấn THPT trở lên có kiến thức về bệnh tốt hơn so với BN có trình độ học vấn thấp hơn

(p<0,001) Có sự khác biệt về điểm kiến thức giữa

2 giới, BN nam có điểm kiến thức cao hơn BN nữ

(p=0,008) (Bảng 1)

Bảng 1 Đặc điểm chung của bệnh nhân tham gia

nghiên cứu và điểm số trung bình DKQ

(N=87)

Tỷ lệ (%)

Điểm trung

Nhóm tuổi

0,105

Giới tính

0,008

Bệnh mắc kèm

0,175

Thời gian mắc bệnh

0,552

Trình độ học vấn

<0,001

Trung học cơ

Trung học phổ thông (THPT) trở lên

Sử dụng insulin

0,255

Chú thích: *Trung bình ± độ lệch chuẩn

Kết quả trả lời bộ câu hỏi DKQ phiên bản

tiếng Việt của BN được trình bày trong Bảng 2

Trang 4

Bảng 2 Kết quả trả lời bộ câu hỏi DKQ (N = 87)

Câu

Trả lời đúng

Số

BN

Tỷ lệ (%)

Điểm trung bình kiến thức về bệnh ĐTĐ

của các bệnh nhân trong NC là 12,99±5,62

điểm Các câu có tỷ lệ % BN trả lời đúng cao

nhất lần lượt là câu 11, 15 và 19 (tương ứng với

tỷ lệ 88,5%, 90,8% và 88,5%) Các BN mất trung

bình 9,43±1,79 phút để hoàn thành bộ câu hỏi

(nhanh nhất là 5 phút và lâu nhất là 12 phút)

Hệ số Cronbach’s alpha cho cả 24 câu hỏi là

0,898 (Bảng 3)

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy có sự liên quan giữa điểm trả lời câu hỏi và trình độ học vấn của BN (p < 0,001)

(Bảng 4)

Bảng 3 Giá trị Cronbach’s alpha của bộ câu hỏi (N = 87)

Câu hỏi Hệ số Cronbach’s alpha nếu loại bỏ câu hỏi Câu hỏi Hệ số Cronbach’s alpha nếu loại bỏ câu hỏi

Trang 5

Bảng 4 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến

về mối liên quan giữa các yếu tố khảo sát và kết quả

trả lời bộ câu hỏi DKQ (N = 87)

BÀN LUẬN

Đặc điểm của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Trong NC này, tuổi trung bình của mẫu NC

là 66,87±9,93 tuổi, đặc điểm này tương đồng với

kết quả NC của Menino (2017) (68,0±9,7)(9) Tỷ lệ

BN nam và nữ gần như tương đương nhau

(48,3% vs 51,7%) Số lượng BN có 1 bệnh mắc

kèm chiếm tỷ lệ cao (65,5%), có thể là do đa

phần BN trong NC là người cao tuổi (BN có

tuổi từ 65 trở lên chiếm 62,1%) Tuổi cao là yếu

tố nguy cơ của nhiều bệnh, ví dụ BN từ 45 tuổi

trở lên là có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2(10) Thời

gian mắc bệnh ĐTĐ trên 10 năm chiếm tỷ lệ

cao (57,5%) Tỷ lệ BN được chỉ định sử dụng

insulin chiếm 33,3% Kết quả này tương đồng

với NC của Garcia (2001)(6)

Kiến thức của BN về bệnh ĐTĐ type 2

Trong NC của chúng tôi, về điểm tổng của cả

bộ câu hỏi, trung bình các bệnh nhân trong NC

của chúng tôi đạt 12,99±5,62 điểm, kết quả này

tương đồng với NC của Hu (2012) (12,71±5,86

điểm)(7) Có thể do có sự tương đồng về trình độ

học vấn giữa NC của chúng tôi với NC của Hu

(2012) – trình độ tiểu học chiếm tỷ lệ khá cao

(43,7% vs 36,1%)(7) Điểm trung bình bộ câu hỏi

trong NC của chúng tôi lại thấp hơn trong NC

của Garcia (2001) (13,66±3,82 điểm)(6) Có thể giải

thích điều này bởi 2 nguyên nhân Thứ nhất, NC

của Garcia (2001) tiến hành trên nhóm BN đang

tham gia chương trình giáo dục bệnh ĐTĐ của

quận Starr, nội dung chương trình này có giáo

dục BN những kiến thức về bệnh, như chế độ ăn

uống, tự theo dõi glucose huyết, hoạt động thể

chất và tuân thủ dùng thuốc(6) Thứ hai, BN

trong NC của Garcia (2001) có trình độ học vấn cao hơn NC của chúng tôi Kết quả từ NC của Garcia (2001) cũng cho thấy trình độ học vấn càng cao thì điểm kiến thức càng tốt Đồng thời, trình độ dân trí (có thể khác nhau giữa 2 quốc gia, NC của chúng tôi ở Việt Nam còn NC của Garcia (2001) tại Hoa Kỳ) cũng liên quan đến kiến thức về bệnh của BN.Các câu đạt tỷ lệ %

BN trả lời đúng cao nhất, lần lượt là câu 11, 15 và

19 (tương ứng 88,5%, 90,8% và 88,5%) Kết quả này khá tương đồng so với NC của Garcia (2001) (lần lượt là 79,0%, 95,0% và 91,0%)(6) Trong đó, câu 11 trong NC của chúng tôi có tỷ lệ BN trả lời đúng cao hơn NC của Garcia (2001) Điều này có thể được giải thích là do thời gian mắc bệnh ĐTĐ của BN trong NC này đa phần là trên 10 năm (57,5%), nên câu hỏi 11 (Bệnh đái tháo đường có 2 type chính: type 1 (phụ thuộc insulin) và type 2 (không phụ thuộc insulin)) là một thông tin khá quen thuộc với

BN Ngược lại, một số câu hỏi trong NC của chúng tôi lại có tỷ lệ % BN trả lời đúng thấp hơn

so với NC của Garcia (2001) như câu 3 (Bệnh đái tháo đường là do khả năng giữ lại đường của thận bị giảm (làm cho đường vào nước tiểu)) (14,9% so với 17%) và câu 12 (Insulin được tiết ra sau khi ăn quá nhiều) (10,3% so với 20%) Sự khác biệt này có thể được giải thích là do sự khác nhau về đặc điểm của BN tham gia NC Đầu tiên, có thể do các bệnh nhân trong NC sống chủ yếu tại nông thôn, các BN này ít quan tâm đến nguyên nhân gây ra bệnh hoặc cơ chế tiết insulin

là do ít được tiếp cận thông tin này Thêm nữa,

tỷ lệ BN có trình độ học vấn tiểu học trong NC của chúng tôi khá cao (43,7%), mà điều này lại tương quan thuận với kiến thức của BN

Đặc điểm của bộ câu hỏi DKQ – Phiên bản tiếng Việt

Với thời gian trung bình 9,43±1,79 phút để hoàn thành bộ câu hỏi (nhanh nhất là 5 phút và lâu nhất là 12 phút), bộ câu hỏi DKQ - Phiên bản tiếng Việt có thể được xem là công cụ nhanh chóng và khả thi để khảo sát về kiến thức bệnh ĐTĐ của BN Về tính nhất quán, hệ số

Trang 6

Cronbach’s alpha cho cả 24 câu hỏi là 0,898, giá

trị này nằm trong khoảng 0,70 đến 0,90 cho thấy

bộ câu hỏi đạt tính nhất quán tốt, thể hiện được

việc đo lường cùng một vấn đề(8) NC gốc của

Garcia (2001) có kết quả Cronbach’s alpha thấp

hơn NC của chúng tôi (hệ số Cronbach’s alpha

cho cả 24 câu hỏi là 0,780)(6) Điều này có thể

được giải thích bởi lý do, Cronbach’s alpha là giá

trị đặc trưng cho mẫu dân số khảo sát NC của

Garcia (2001) tiến hành trên 502 người Mỹ gốc

Mexico tham gia chương trình giáo dục BN mắc

bệnh ĐTĐ tại quận Starr ở Hoa Kỳ, còn NC của

chúng tôi thực hiện trên 87 BN tại Việt Nam Do

đó, đặc điểm BN như tuổi, trình độ học vấn, tỷ lệ

các bệnh kèm có sự khác biệt giữa 2 NC nên có

thể ảnh hưởng đến kết quả trả lời câu hỏi của

BN Nhiều NC dịch và điều chỉnh bộ câu hỏi

cũng cho kết quả Cronbach’s alpha không giống

bản gốc NC của Bukhsh (2017) dịch và điều

chỉnh bộ câu hỏi DKQ sang tiếng Urdu có giá trị

Cronbach’s alpha là 0,702 trong khi giá trị

Cronbach’s alpha của bộ câu hỏi gốc trong NC

của Garcia (2001) là 0,780(6,11) Bên cạnh đó, trong

NC dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi DKQ

của Qamar (2019) sang tiếng Mã lai, của Menino

(2017) sang tiếng Bồ Đào Nha kết quả cho thấy

giá trị Cronbach’s alpha (0,86) (0,863) tốt hơn bản

gốc (0,702)(6,9,12)

Các yếu tố liên quan với kiến thức về bệnh

ĐTĐ type 2

Có sự liên quan giữa điểm trả lời câu hỏi và

trình độ học vấn của BN (p < 0,001) Kết quả này

tương tự với nhiều NC khác về kiến thức về

bệnh của BN mắc ĐTĐ, như Garcia (2001),

Bukhsh (2017), Menino (2017)(6,9,11) Những NC

này đều cho thấy trình độ học vấn của BN càng

cao thì điểm kiến thức càng tốt Nếu kiến thức về

bệnh tốt thì có thể giúp BN tuân thủ dùng thuốc

cũng như ăn uống/vận động tốt hơn, từ đó giúp

cải thiện kết cục lâm sàng(13) Kết quả này gợi ý,

trong thực hành lâm sàng cần cân nhắc cung cấp

các thông tin về bệnh nhằm nâng cao kiến thức

cho BN mắc ĐTĐ type 2, đặc biệt là nhóm BN có

trình độ học vấn thấp Trong NC của chúng tôi,

có sự khác biệt về điểm số giữa 2 giới, BN nam

có điểm kiến thức cao hơn BN nữ (p = 0,008)

(Bảng 1) Kết quả này có sự khác biệt với NC của

Bukhsh (2017) (điểm số của 2 nhóm BN không khác biệt có ý nghĩa thống kê, p = 0,11)(11), có thể

do sự khác biệt về dân số khảo sát giữa các NC Đồng thời, kết quả này có thể bị ảnh hưởng bởi trình độ học vấn giữa nhóm BN nam và nữ Nhìn chung, BN nam trong NC của chúng tôi có trình độ học vấn cao hơn so với BN nữ Cụ thể là

có 66,7% (28/42) BN nam có trình độ học vấn từ THCS trở lên so với 46,7% (21/45) ở BN nữ Trong khi đó, trình độ học vấn của BN (trong

NC của chúng tôi) lại có mối liên quan với điểm kiến thức Vì vậy, sự khác biệt của điểm số theo giới tính thể bị ảnh hưởng bởi trình độ học vấn

Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu

NC sử dụng bộ câu hỏi về kiến thức bệnh đái tháo đường (DKQ), đã được chúng tôi tiến hành dịch thuật và điều chỉnh sang tiếng Việt, với từ ngữ đơn giản, dễ hiểu và phù hợp với bệnh nhân Việt Nam NC của chúng tôi đã phần nào tìm hiểu được kiến thức về bệnh ĐTĐ của

BN ĐTĐ type 2 và các yếu tố liên quan Tuy nhiên, NC cũng có mặt hạn chế, chẳng hạn như chưa đánh giá được mối liên quan giữa kiến thức và hiệu quả điều trị của BN (ví dụ: HbA1c mục tiêu, do rất ít BN được chỉ định xét nghiệm này) NC chỉ khảo sát kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN tại một cơ sở y tế nên không thể ngoại suy cho tất cả BN ĐTĐ type 2 tại Việt Nam

KẾT LUẬN

Bộ câu hỏi DKQ phiên bản tiếng Việt có thể được xem như là một công cụ để khảo sát kiến thức của BN về bệnh ĐTĐ type 2 tại Việt Nam Kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN ĐTĐ type 2 còn khá thấp, cơ chế tiết insulin là câu hỏi còn khá xa

lạ với hầu hết BN Trình độ học vấn liên quan có

ý nghĩa với kiến thức về bệnh của bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Raaijmakers LG, Martens MK, Bagchus C, et al (2015) Correlates of perceived self-care activities and diabetes control

among Dutch type 1 and type 2 diabetics Journal of Behavioral

Medicine, 38(3):450-9

Trang 7

2 International Diabetes Federation (2017) IDF Diabetes Atlas 8th ed,

pp.1-150 International Diabetes Federation, United Kingdom UK

3 Davidson MB, Peters AL (1997) An overview of metformin in

the treatment of type 2 diabetes mellitus The American Journal

of Medicine, 102(1):99-110

4 Bộ Y Tế - Cục Y Tế Dự Phòng (2015) Điều tra quốc gia: Yếu tố

nguy cơ bệnh không lây nhiễm (STEPS) Quyết định số

346/QĐ-BYT ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y Tế

5 Inzucchi SE, Bergenstal RM, Buse JB, et al (2015) Management

of hyperglycemia in type 2 diabetes, 2015: a patient-centered

approach: update to a position statement of the american

diabetes association and the european association for the study

of diabetes Diabetes Care 38(1): 140-149

6 Garcia AA, Villagomez ET, Brown SA, et al (2001) The starr

county diabetes education study development of the

Spanish-Language Diabetes Knowledge Questionnaire Diabetes Care,

24(1):16-21

7 Hu J, Gruber JK, Liu H, et al (2012) Diebetes knowledge

among older adults with diabetes in Beijing, China Journal of

Clinical Nursing, 22(1-2):51-60

8 Tavakol M, et al (2011) Making sense of Cronbach’s alpha

International journal of medical education, 2:53-55

9 Menino GE, Dos ADM, Clarisse ALM (2017) Validation of

Diabetes Knowledge Questionnaire (DKQ) in the Portuguese

Population Diabetes and Obesity International Journal,

2(S1):000S1-002

10 American Diabetes Association (2018) Standards of medical

care in diabetes - 2018 Diabetes Care 2018, 41(1):850-858

11 Bukhsh A, Lee HWS, Pusparajah P, Khan AH, et al (2017) Psychometric properties of The Urdu Version of Diabetes

Knowledge Questionnaire Frontiers in public Health, 139(5)

DOI: 10.3389

12 Qamar M, Iqubal RM, Ahmad S (2019) Psychometric Analysis of the newly translated Malaysian version of Diabetes Knowledge Questionnaire by Rasch analysis

Frontiers in Pharmacology URL: https://www frontiersin.org/10.3389%2Fconf.fphar.2018.63.00077/event_a bstract (access on 10/5/2020)

13 Sweileh WM, et al (2014) Influence of Patients’ Disease

Knowledge and Beliefs about Medicines on Medication Adherence: Findings from a Cross-Sectional Survey Among

Patients with type 2 Diabetes Mellitus in Palestine BMC Public

Health, 14:94 DOI: 10.1186/1471-2458-14-94

Ngày nhận bài báo: 25/05/2020 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/06/2020 Ngày bài báo được đăng: 20/07/2020

Ngày đăng: 10/12/2020, 09:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w