1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh tác động kháng khối u giữa các chất đối kháng thụ thể cholecystokinin (CCK) trên dòng tế bào ung thư phổi biểu mô C38 và ung thư ruột kết MAC16

6 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 686,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm so sánh hiệu quả của các chất đối kháng chọn lọc trên thụ thể CCK-A, CCK-B, các chất đối kháng không chọn lọc thụ thể CCK trên dòng tế bào ung thư phổi C38 và ung thư ruột kết MAC16.

Trang 1

SO SÁNH TÁC ĐỘNG KHÁNG KHỐI U GIỮA CÁC CHẤT ĐỐI KHÁNG

THỤ THỂ CHOLECYSTOKININ (CCK) TRÊN DÒNG TẾ BÀO

UNG THƯ PHỔI BIỂU MÔ C38 VÀ UNG THƯ RUỘT KẾT MAC16

Nguyễn Thị Thùy Anh * , Eric Lattmann **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Cholecystokinin (CCK) được biết đến như một hormon đường ruột giúp điều hoà sự tiết enzym

trong tuyến tụy CCK gây tăng sinh nhiều dòng tế bào ung thư (dạ dày, đại tràng, tụy, phổi, não) Vì vậy, nhiều nghiên cứu riêng lẻ về tác động chống ung thư của các chất đối kháng CCK đã được thực hiện Tuy nhiên, một bức tranh toàn cảnh về hiệu quả tác động của các chất đối kháng CCK trên các dòng tế bào ung thư khác nhau

vẫn chưa được hoàn thiện

Mục tiêu: Nghiên cứu này được tiến hành nhằm so sánh hiệu quả của các chất đối kháng chọn lọc trên thụ

thể CCK-A, CCK-B, các chất đối kháng không chọn lọc thụ thể CCK trên dòng tế bào ung thư phổi C38 và ung thư ruột kết MAC16

Phương pháp: Tỉ lệ tế bào sống được đánh giá bằng thử nghiệm MTT Chuột được cấy ghép khối u MAC16

và được uống các chất thử nghiệm Kích thước khối u được đo mỗi ngày trong 6 ngày

Kết quả: Thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào ung thư phổi C38 cho thấy các giá trị IC 50 của chất đối kháng chọn lọc thụ thể CCK-B (PNB-001) và không chọn lọc thụ thể CCK (Bz) không khác biệt nhau về mặt thống kê Đồng thời các giá trị này thấp hơn 3,3 lần so với chất chuẩn 5-fluorouracil Thử nghiệm in vivo cho thấy tính ức chế tăng trưởng khối u của chất đối kháng thụ thể CCK không chọn lọc (F-Bz) cao hơn các chất còn lại trên dòng

tế bào ung thư ruột kết MAC16

Kết luận: Các chất kháng CCK-B và chất kháng CCK không chọn lọc gây độc tế bào ung thư phổi C38 nhưng

chỉ có chất kháng CCK không chọn lọc có tác dụng ức chế sự phát triển của khối u ruột kết MAC16 in vivo

Từ khoá: cholecystokinin, ung thư phổi, ung thư ruột kết

ABSTRACT

COMPARISON OF THE ANTI-TUMOR EFFECT AMONG CHOLECYSTOKININ RECEPTOR ANTAGONISTS (CCK) ON C38 LUNG CANCER CELL LINE AND MAC16 COLON CANCER CELL LINE

Nguyen Thi Thuy Anh, Eric Lattmann

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 3 - 2020: 79 - 84

Background: Cholecystokinin (CCK) is known as an intestinal hormone that helps regulate pancreatic

enzyme secretion CCK induces the proliferation of cancer cell lines (stomach, colon, pancreas, lung, brain) Therefore, various individual studies on the anti-neoplastic effect of CCK antagonists have been conducted However, a comprehensive picture of the effect of CCK antagonists on different cancer cell

lines has not been completed

Objectives: The aim of this study was to compare the effectiveness of selective CCK-A, CCK-B receptor

antagonist, non-selective CCK receptor antagonist on C38 lung cancer cell line and MAC16 colon cancer cell line

Methods: Cell viability was determined by MTT test The mice were injected with MAC 16 tumor and were

administered test substances Tumor size was measured every day for 6 days

*Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Khoa Dược lý, Đại học Aston, Anh

Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Thị Thùy Anh ĐT: 0917934957 Email: thuyanh@ump.edu.vn

Trang 2

Key words: cholecystokinin, lung cancer, colon cancer

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cholecystokinin (CCK) được phát hiện lần

đầu như một tác nhân gây co thắt túi mật vào

năm 1928 CCK không chỉ hoạt động như một

hormon đường ruột giúp điều hoà sự tiết enzym

trong tuyến tụy mà còn là yếu tố tăng trưởng và

chất điều biến thần kinh(1) CCK gây tăng sinh

nhiều dòng tế bào ung thư như ung thư dạ dày,

đại tràng, tụy, phổi, não(2,3) Vì vậy, các chất đối

kháng thụ thể CCK được xem như tác nhân

chống ung thư có triển vọng

Thụ thể CCK được phân loại do tập trung

chủ yếu ở đường tiêu hóa (CCK-A) và não

(CCK-B) Cả hai thụ thể CCK-A và B đều thuộc

họ G-Protein Coupled Receptor (GPCR) Các

GPCR tham gia vào nhiều quá trình khác nhau

trong ung thư như: tạo mạch máu, viêm và tăng

sinh tế bào Đáng chú ý hơn, GPCR còn là cầu

nối giữa ung thư và viêm Thật vậy, sự tăng biểu

hiện của COX-2 và viêm mạn tính liên quan chặt

chẽ đến sự tiến triển của khối u Ví dụ, chất ức

chế COX-2 có thể làm giảm nguy cơ và tỷ lệ mắc

bệnh ung thư đại tràng(4) Các chất đối kháng

CCK được sử dụng trong nghiên cứu này cũng

có tác động chống viêm, có thể đóng góp vào tác

dụng chống ung thư của chúng(5) Ding và cộng

sự (2002) đã phát hiện ra một biến thể quan

trọng của thụ thể CCK-B chỉ có trong mô ác tính,

không có trong mô bình thường Những thụ thể

này được gọi là thụ thể CCK-C/ cancer receptor,

sự hiện diện của chúng được tìm thấy trong mô

ung thư như đại tràng, tuỵ(6)

Liệu pháp kép sử dụng platinum và 5-fluorouracil

lần lượt là các liệu pháp hoá trị tiêu chuẩn cho

ung thư phổi và ruột kết Tuy nhiên, các liệu pháp này đều gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng(7) Gastrin là một yếu tố tăng trưởng có tác dụng sinh học tương tự với CCK và được phát hiện với nồng độ tăng cao trên cả ung thư phổi

và ung thư đại trực tràng Các thụ thể CCK-B được tìm thấy trong hầu hết các mẫu ung thư phổi nhưng không phát hiện được trong sinh thiết phổi khỏe mạnh Ngược lại, thụ thể CCK-A được tìm thấy nhiều trong ung thư ruột kết(8) Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh tác động chống khối u của các chất đối kháng chọn lọc thụ thể CCK-A, CCK-B hoặc không chọn lọc thụ thể CCK trên dòng tế bào ung thư phổi C38 và ung thư ruột kết MAC16 hỗ trợ việc xác định mục tiêu nghiên cứu của thuốc

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các chất thử nghiệm

Các hợp chất với vòng pyrazolon giúp cải thiện khả dụng sinh học đường uống với trọng lượng phân tử thấp (xấp xỉ 300 Da) và log P khoảng 3, bao gồm IB là chất đối kháng chọn lọc thụ thể CCK-A, PNB-001 là chất đối kháng chọn lọc thụ thể CCK-B, Bz và F-Bz là các chất đối kháng không chọn lọc thụ thể CCK F-Bz và Bz đều đang được nghiên cứu trong quá trình tối

ưu hoá mối liên quan cấu trúc tác động Trong

đó, khi thêm nhóm halogen (F, Cl) lên vòng (Tại

vị trí X ở Hình 1) giúp tăng ái lực liên kết, có lẽ

do tăng tính thân dầu(9) Công thức của 4 hợp

chất này được trình bày ở Hình 1 Các chất này

được pha loãng từ dung dịch mẹ có nồng độ 10

mM trong DMSO/H2O (3:1) Chất đối chứng sử dụng là 5-fluorouracil

Trang 3

IB PNB-001 Bz (X = H) hoặc F-Bz (X = F)

Hình 1 Các hợp chất vòng pyrazolon dùng trong thử nghiệm

Hoá chất – Dung môi

Môi trường Dulbecco's Modified Eagle's

Medium (DMEM) và Fetal Bovine Serum

(FBS), môi trường RPMI-1640, thuốc thử

3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium

bromua (MTT), dimethyl sulfoxide (DMSO),

5-fluorouracil (5-FU) từ Sigma-Aldrich, Hoa Kỳ

NaCl 0,9%, penicilin, streptomycin, dầu ô liu

được cung cấp bởi phòng thí nghiệm Sinh học và

Dược lý, Bộ môn Dược lý, Đại học Aston, Anh

Dòng tế bào

Dòng tế bào ung thư phổi biểu mô C38

(ATCC CRL-2779), là một dòng tế bào ổn

định có nguồn gốc từ các tế bào IB3-1, mua

từ American Type Culture Collection (ATCC)

Dòng tế bào này được nuôi cấy trong môi

trường DMEM bổ sung 10% (v/v) FBS, 1%

(Sigma-Aldrich, Hoa Kỳ) trong bình 75 cm2, 250 mlở

37°C, 5% CO2 và được cấy chuyền khi đạt độ bão

hòa 80%

Dòng tế bào MAC16 được nhận từ Tiến sĩ

Eric Lattmann (Bộ môn Dược lý, Đại học

Aston, Anh)

Động vật thử nghiệm

Chuột nhắt Naval Medical Research Institute

(NMRI) thuần chủng (6 - 8 tuần tuổi) được nuôi

và cho lai cùng dòng tại phòng thí nghiệm dược

lý thuộc đại học Aston, Anh Chuột được nuôi

ổn định ở điều kiện bình thường với chu kỳ

sáng/tối = 12 giờ/12 giờ, nhiệt độ từ 18-23 oC, cho

ăn theo chế độ RM3E (Lillco-Anh) và uống nước

tự do

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khả năng ức chế tăng sinh tế bào ung thư in vitro bằng thử nghiệm MTT

Đánh giá khả năng ức chế tăng sinh tế bào ung thư in vitro bằng thử nghiệm MTT

Thí nghiệm được thực hiện trên đĩa 24 giếng Cho 1 ml dịch chứa tế bào (10.000 tế bào) vào mỗi giếng và ủ trong 48 giờ Sau đó, thêm vào giếng các hợp chất thử nghiệm với nồng độ tăng dần (1 – 100 µM) và mẫu chứng với dung môi pha chất thử nghiệm (DMSO/H2O = 3/1) Mỗi nồng độ thực hiện trên 2 giếng Các tế bào trong giếng được ủ trong 24 giờ để đánh giá độc tính

tế bào của các hợp chất thử nghiệm Thuốc thử MTT 50 µL được bơm vào mỗi giếng và ủ trong

4 giờ Tiếp đó, 500 µL DMSO được cho vào từng giếng và ủ ít nhất 2 giờ Độ hấp thu mỗi giếng được đo ở bước sóng 570 nm bằng máy Elisa Plate Reader với đĩa 96 giếng(10)

Đánh giá tác động ức chế phát triển khối u in vivo

Tiêm khối u

Khối u MAC16 được lấy ra từ chuột cho, chia thành nhiều mảnh lập phương có kích thước khoảng 2 mm rồi nhúng vào NaCl 0,9% bổ sung streptomycin (2 mg/ml) và penicillin (2000 U/ml) Những mảnh này được cấy dưới da vào vùng bẹn bên phải của chuột thử nghiệm bằng tiêm trocar với thể tích 0,2 ml Tỉ lệ chuột mang khối u đạt 100% trên tổng số chuột được tiêm Tác dụng phụ thường gặp của cấy ghép khối u MAC16 là suy giảm trí nhớ và giảm cân dần ở chuột dù không giảm lượng thức ăn, hiện tượng loét khối u ít gặp hơn(11)

Trang 4

nhóm 7 chuột) gồm nhóm chứng bệnh và các

nhóm được điều trị bằng các chất thử nghiệm

lần lượt như sau: F-Bz, IB, PNB-001 Các chất thử

nghiệm được phân tán đồng đều trong dầu ô liu

và cho chuột uống liều 200 mg/kg Chuột được

cân trọng lượng và đo kích thước khối u mỗi

ngày trong 6 ngày bằng thước kẹp điện tử Thể

tích khối u được suy ra từ công thức: (chiều dài ×

chiều rộng2)/ 2 Tác động chống khối u được xác

định bởi sự gia tăng về thể tích khối u theo thời

gian thử nghiệm giữa các nhóm điều trị bằng các

chất thử nghiệm so với nhóm chứng bệnh Thử

nghiệm được chấp thuận bởi Uỷ ban Đạo đức

sinh học của Đại học Aston

KẾT QUẢ

Độc tính tế bào của các chất đối kháng CCK trên dòng tế bào C38

Tất cả các hợp chất thử nghiệm đều gây độc

tế bào phụ thuộc liều, đặc biệt là PNB-001 và Bz

Tỉ lệ sống sót các tế bào tỉ lệ thuận với độ hấp thu Độc tính tế bào cao nhất của các hợp chất này đạt được tại nồng độ 100 µM với độ hấp thu thấp nhất (khoảng 0,3) và thấp hơn đáng kể so

với nhóm đối chứng (p < 0,05) (Hình 2)

Các giá trị IC50 của PNB-001 và Bz thấp hơn đáng kể so với 5-FU (3,3 lần) (p<0,05) Giá trị IC50

của PNB-001 và Bz không khác biệt nhau về mặt thống kê IC50 của IB không khác biệt về mặt

thống kê so với 5-FU (p > 0,05) (Bảng 1)

Hình 2 Độ hấp thu theo nồng độ các chất đối kháng CCK khảo sát Bảng 1 Các giá trị IC 50 cho các chất khảo sát sử dụng thử nghiệm MTT

IC 50 (μM, Khoảng tin cậy 95%) 60,1 ± 18,6 18,3 ± 7,4 18,3 ± 9,1 65,7 (KTC 95% rất rộng)

Thử nghiệm in vivo trên dòng tế bào ung thư

ruột kết MAC16

Trong thời gian 6 ngày, nhóm chuột điều trị

bằng chất đối kháng CCK-A chọn lọc (IB) không

gây bất kỳ sự ức chế rõ ràng nào về tỷ lệ tăng

trưởng khối u so với nhóm chứng bệnh Ngoài ra,

độc tính của thuốc có thể làm trầm trọng thêm sự

mất cân của chuột mang khối u (Hình 3)

Việc điều trị bằng chất đối kháng chọn lọc CCK-B (PNB-001) không có bất kỳ tác dụng ức chế nào trên sự tăng trưởng thể tích khối u mà còn làm giảm đáng kể trọng lượng cơ thể của chuột thử nghiệm Ngược lại, tỷ lệ tăng thể tích khối u của nhóm điều trị bằng chất đối kháng không chọn lọc (F-Bz) thấp hơn so với nhóm chứng bệnh cũng như nhóm PNB-001 và IB Đồng thời, sự mất cân ở chuột thử nghiệm trong

nhóm này cũng ít hơn các nhóm còn lại (Hình 3)

Trang 5

Hình 3 Tỉ lệ % tăng trưởng thể tích khối u MAC16 và % giảm trọng lượng so với ban đầu dưới tác

động của các chất khảo sát

BÀN LUẬN

Độc tính tế bào của các chất đối kháng CCK

trên dòng tế bào C38

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố tăng

trưởng hoặc chất đối kháng hormon có thể trực

tiếp gây ra tác dụng gây độc tế bào trên các tế

bào ung thư hoặc tác động hiệp đồng với các

thuốc chống ung thư khác Ở đây, chúng tôi chỉ

ra rằng tất cả các chất đối kháng CCK có thể gây

độc trực tiếp trên dòng tế bào ung thư phổi C38

phụ thuộc vào nồng độ (khoảng 1-100 µM) Hơn

nữa, giá trị IC50 của chất đối kháng CCK-B chọn

lọc (PNB-001) và không chọn lọc (Bz) thấp hơn

đáng kể so với 5-FU và chất đối kháng CCK-A

chọn lọc (IB) Do đó, hiệu ứng độc tế bào của

PNB-001 và Bz cao hơn so với 5-FU và IB Bên

cạnh đó, các thí nghiệm này được thực hiện

trong 24 giờ ủ với thuốc Do đó, tác động gây

độc trên các tế bào C38 có thể đến từ tác động

đối kháng CCK trên các thụ thể tương ứng của

chúng Thật vậy, chỉ có thụ thể CCK-B được tìm

thấy trên ung thư phổi(11) Hơn nữa, tác dụng

chống tăng sinh của PNB-001 và Bz cần được

nghiên cứu thêm vì trong nghiên cứu trước đó

Moody và Jensen (2001) đã chỉ ra rằng chất đối

kháng CCK-B chọn lọc (CI-988) có thể gây tác

dụng chống tăng sinh trên dòng tế bào ung thư

phổi tế bào nhỏ NCI-H209 cũng như tác dụng

chống khối u trên ghép ngoại lai NCI-H209(12)

Viêm có thể bảo vệ phổi khỏi các chất độc

bên ngoài Tuy nhiên, sự xâm nhập thường

xuyên của mầm bệnh có thể dẫn đến viêm mạn tính cùng với sự tăng sản xuất các gốc tự do oxy hóa cao Các tác nhân này sẽ ngăn chặn quá trình

tự gây chết tế bào, tăng cường phá hủy DNA và kích hoạt gen tiền ung thư dẫn đến ung thư phổi(13) PNB-001 không chỉ là tác nhân chống tăng sinh, mà còn là tác nhân kháng viêm hiệu quả có thể góp phần giải quyết các triệu chứng viêm của ung thư phổi(5)

Tóm lại, trong vòng 24 giờ, cả chất đối kháng CCK-B chọn lọc và đối kháng CCK không chọn lọc có tác dụng gây độc tế bào cao hơn so với chất đối kháng chọn lọc CCK-A trên dòng tế bào ung thư phổi C38

Thử nghiệm in vivo trên dòng tế bào ung thư

ruột kết MAC16

Kết quả của thí nghiệm này về tác động của chất đối kháng CCK-A chọn lọc (IB) trên dòng MAC16 không tương thích với các nghiên cứu trước đó Lattmann và cộng sự (2016) thực hiện thí nghiệm trên chuột ghép khối u MAC16 được điều trị bằng IB (Pyrolon 9) và cho thấy sự giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng khối u trong giai đoạn 2-3 tuần so với nhóm chứng bệnh(10) Vì vậy, cần lặp lại thí nghiệm với IB và kéo dài thời gian ghi nhận kết quả trên chuột để có kết luận chính xác

Ngược lại, có sự tương thích về kết quả của thí nghiệm trên đối với chất đối kháng chọn lọc CCK-B (PNB-001) Gonza´lez-Puga và cộng sự (2005) cho thấy chất đối kháng CCK-B chọn lọc

Trang 6

người; trong khi con số này là 75% đối với thụ

thể CCK-C(13) Cũng từ thí nghiệm này, chúng tôi

tìm thấy tác động ức chế sự tăng trưởng khối u

của của chất đối kháng không chọn lọc F-Bz cao

hơn so với PNB-001 và IB có lẽ đến từ tác động

ức chế của hợp chất này trên thụ thể CCK-C với

mức độ biểu hiện cao trên u đại tràng(14) và thụ

thể CCK-C có thể trở thành đích trị liệu mới cho

loại ung thư này

KẾT LUẬN

Kết quả thu được cho thấy các chất kháng

CCK-B và chất kháng CCK không chọn lọc gây

độc tế bào ung thư phổi C38 nhưng chỉ có chất

kháng CCK không chọn lọc có tác dụng ức chế

sự phát triển của khối u ruột kết MAC16 in vivo

Nghiên cứu góp phần phát triển các hợp chất

mới có tác dụng kháng khối u cũng như gợi ý

thêm các đích tác động mới trong nghiên cứu

phát triển các thuốc kháng ung thư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Rehfeld JF (2004) Cholecystokinin Best Pract Res Clin

Endocrinol Metab 18(4):569-586

2 Lee HK, Lee HJ, Hur K, Lee HS, et al (2005) Growth effect

of gastrin on gastric cancer and its clinical implications for

gastric cancer surgery Oncol Rep, 14(2):383-388

3 Camby I, Salmon I, Danguy A, Pasteels JL, et al (1996)

Influence of gastrin on human astrocytic tumor cell

proliferation Journal of the National Cancer Institute

88(9):594-600

gastrin and CCK receptors in pancreatic cancer and other

malignancies Int J Biol Sci, 12(3):283-291

7 Socinski MA, Crowell R, Hensing TE, et al (2007) Treatment of non-small cell lung cancer, stage IV: ACCP evidence-based clinical practice guidelines (2 nd ed) Chest,

132(3S):277S-289S

8 Müerköster S, Isberner A, Arlt A,Witt M, Reimann B, et al (2005) Gastrin suppresses growth of CCK2 receptor

expressing colon cancer cells by inducing apoptosis in vitro and in vivo Gastroenterology, 129(3):952-968

9 Lattmann E, Russell ST, Schwalbe CH, Shortt A, et al (2016) Cholecystokinin-1 receptor antagonists:

5-hydroxy-5-aryl-pyrrol-2-ones as anticancer agents Med Chem Commun, 7(6):1138-1145

10 Reubi JC, Schaer JC, Waser B (1997) Cholecystokinin (CCK)-A and CCK-B gastrin receptors in human tumors

Cancer Research, 57(7):1377-1386

11 Bibby MC, Double JA, Ali SA, Fearon KC, et al (1987) Characterization of a transplantable adenocarcinoma of the

mouse colon producing cachexia in recipient animals J Natl Cancer Inst, 78(3):539-546

12 Moody TW, Jensen RT (2001) CI-988 inhibits growth of

small cell lung cancer cells J Pharmacol Exp Ther,

299(3):1154-1160

13 Azad N, Rojanasakul Y, Vallyathan V (2008) Inflammation

and lung cancer: roles of reactive oxygen/nitrogen species J Toxicol Environ Health B Crit Rev, 11(1):1-15

14 Imdahl A, Mantamadiotis T, Eggstein S, Farthmann EH, Baldwin GS (1995) Expression of gastrin, gastrin/CCK-B and gastrin/CCK-C receptors in human colorectal

carcinomas J Cancer Res Clin Oncol, 121(11):661-666

Ngày nhận bài báo: 15/05/2020 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/05/2020 Ngày bài báo được đăng: 20/07/2020

Ngày đăng: 10/12/2020, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm