1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát tình hình điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân bệnh thận mạn chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu

9 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 775,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh thận mạn (BTM) là vấn đề sức khỏe quan trọng đặc biệt khi bệnh tiến triển đến giai đoạn cuối phải chạy thận nhân tạo do tăng nguy cơ bệnh tim mạch và tử vong. Tăng huyết áp không được kiểm soát được xem là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm chức năng thận. Bài viết trình bày khảo sát tình hình sử dụng thuốc hạ áp và xác định một số yếu tố liên quan đến kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân BTM mới có chỉ định chạy thận nhân tạo.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN CHẠY THẬN NHÂN TẠO

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BẠC LIÊU

Hồ Hải Đăng *, Nguyễn Như Hồ **

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh thận mạn (BTM) là vấn đề sức khỏe quan trọng đặc biệt khi bệnh tiến triển đến giai đoạn

cuối phải chạy thận nhân tạo do tăng nguy cơ bệnh tim mạch và tử vong Tăng huyết áp không được kiểm soát được xem là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm chức năng thận

Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc hạ áp và xác định một số yếu tố liên quan đến kiếm soát huyết

áp trên bệnh nhân BTM mới có chỉ định chạy thận nhân tạo

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện trên hồ sơ bệnh án

(HSBA) của bệnh nhân ngoại trú bị BTM mới có chỉ định chạy thận nhân tạo tại khoa Đơn nguyên thận nhân tạo - Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu trong khoảng thời gian từ 01/12/2018 đến 31/05/2019 Lựa chọn những bệnh nhân có bệnh kèm là tăng huyết áp và thu thập các thông tin liên quan đến việc điều trị

Kết quả: Trên 133 HSBA khảo sát có 70% BN đang sử dụng từ 3 nhóm thuốc hạ áp trở lên 48,9%

(65/133) BN có huyết áp < 140/90 mmHg Nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất là chẹn kênh calci (85,7%), kháng giao cảm (63,2%), lợi tiểu (60,9%) và chẹn thụ thể angiotensin (52,6%) Chưa phát hiện mối liên quan có

ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ kiểm soát huyết áp và các yếu tố gồm tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể, bệnh đái tháo đường, số nhóm thuốc hạ áp và một số nhóm thuốc cụ thể

Kết luận: Mặc dù tăng huyết áp là bệnh kèm thường gặp và có thể làm tăng nguy cơ tiến triển của BTM,

ngay cả khi sử dụng nhiều nhóm thuốc hạ áp để điều trị, huyết áp khảo sát tại thời điểm bệnh nhân mới có chỉ định chạy thận nhân tạo chưa được kiểm soát hiệu quả

Từ khóa: thuốc trị tăng huyết áp, kiểm soát huyết áp, bệnh thận mạn, chạy thận nhân tạo

ABSTRACT

BLOOD PRESSURE CONTROL IN PATIENTS WITH CHRONIC KIDNEY DISEASE

REQUIRING HEMODIALYSIS AT BAC LIEU GENERAL HOSPITAL

Ho Hai Dang, Nguyen Nhu Ho

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 3 - 2020: 54 - 62

Introduction: Chronic kidney disease (CKD) is an important health care issue, especially at advanced stage

requiring hemodialysis because it can increase the risk of cardiovascular disease and mortality Inadequate control

of hypertension is considered a major risk factor for progression of CKD

Objective: To investigate the drug use pattern for hypertension treatment and to identify factors associated

with hypertension control in CKD patients newly indicated for hemodialysis

Materials and methods: A descriptive cross-sectional study was performed on medical records of CKD

outpatients newly indicated for hemodialysis at the Artifical Kidney Unit of Bac Lieu General Hospital from December 1 st of 2018 to May 31 st of 2019 We selected patients with hypertension as comorbidity and collected

**Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

information related to hypertensive drug therapy

Results: Of 133 medical records, 70% were prescribed at least 3 blood pressure lowering agents Only

48.9% (65/133) patients had blood pressures < 140/90 mmHg The most commonly prescribed hypertensive drug classes were calcium channel blockers (85.7%), centrally acting antiadrenergics (63.2%), diuretics (60.9%) and angiotensin receptor blockers (52.6%) No statistically significant association was found between blood pressure control and patient characteristics including gender, age, body mass index, diabetes status; number of drugs used and particular drug class

Conclusions: Although hypertension is common and can lead to CKD progression, even with high number

of antihypertensive drug classes for treatement, blood pressures measured in patients newly indicated for hemodialysis were not adequatedly controlled

Key words: antihypertensive therapy, blood pressure control, chronic kidney disease, hypertension, hemodialysis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh thận mạn (BTM) là vấn đề sức khỏe có

tính toàn cầu, là một trong những bệnh lý nội

khoa có nhiều biến chứng trầm trọng, có tỷ lệ tử

vong cao khi bệnh tiến triển đến giai đoạn cuối

buộc phải điều trị bằng phương pháp chạy thận

nhân tạo hoặc ghép thận với chi phí vô cùng tốn

kém Hiện nay trên thế giới có khoảng 1,5 triệu

người bệnh thận giai đoạn cuối đang được điều

trị và số lượng người này ước đoán sẽ tăng gấp

đôi vào năm 2020(1) Tăng huyết áp (THA) là yếu

tố nguy cơ chính của tổn thương tim mạch và

bệnh thận Ngược lại, BTM là nguyên nhân

thường gặp nhất gây THA thứ phát và là yếu tố

nguy cơ độc lập đối với tình trạng bệnh lý và tử

vong do nguyên nhân tim mạch Trên bệnh

nhân (BN) bệnh thận mạn có THA, thuốc điều

trị THA đã được chứng minh có vai trò quan

trọng trong việc kiểm soát huyết áp, làm chậm

tiến triển bệnh thận và giảm các nguy cơ tim

mạch(2,3) Việc lựa chọn các thuốc trị THA cũng

như việc phối hợp các thuốc với nhau cần được

quan tâm để đảm bảo tính an toàn, hiệu quả,

góp phần cải thiện tình trạng bệnh, nâng cao

chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, kết quả từ các

nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ kiểm soát

huyết áp thường kém trong đa số các trường

hợp bệnh nhân BTM chạy thận nhân tạo bị

THA(3,4) Trong nước, thông tin về tỷ lệ BN kiểm

soát được huyết áp, loại phương pháp điều trị và

việc kiểm soát huyết áp còn thiếu Trên cơ sở đó,

chúng tôi tiến hành đề tài với mục tiêu: 1) Khảo

sát đặc điểm sử dụng của các thuốc điều trị tăng huyết áp 2) Xác định các yếu tố liên quan tới sự kiểm soát huyết áp của BN bệnh thận mạn mới

có chỉ định chạy thận nhân tạo

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Hồ sơ bệnh án (HSBA) của bệnh nhân bị BTM mới có chỉ định chạy thận nhân tạo tại khoa Đơn nguyên thận nhân tạo - Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu trong khoảng thời gian từ 01/12/2018 đến 31/05/2019

Tiêu chuẩn chọn lựa: BN có chẩn đoán bệnh kèm là THA đang điều trị bằng thuốc hạ áp

Tiêu chuẩn loại trừ: BN nhiễm HIV-AIDS, ung thư; BN đang điều trị nội trú vì đặc điểm sử dụng thuốc có thể khác với đối tượng nghiên cứu chung

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Thu thập thông tin từ HSBA của bệnh nhân gồm thông tin cá nhân như tuổi, giới, BMI, bệnh kèm, tần suất chạy thận, các xét nghiệm chức năng thận và điện giải, huyết áp và đặc điểm về thuốc hạ áp như loại thuốc, số lượng thuốc hạ áp trong một đơn, cách phối hợp thuốc

Phương pháp lấy mẫu và cỡ mẫu

Phương pháp lấy mẫu thuận tiện, chọn toàn

bộ HSBA thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong khoảng thời gian nghiên cứu

Trang 3

Phương pháp xử lý số liệu

Tất cả các phép kiểm thống kê được thực

hiện với phần mềm SPSS 20 và Excel 2010 Sử

dụng thống kê mô tả để trình bày đặc điểm của

mẫu nghiên cứu Các biến liên tục được biểu

diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (TB

± SD) Các biến không liên tục được mô tả theo

tỷ lệ phần trăm

Huyết áp kiểm soát được nếu < 140/90 theo

khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị THA của

Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam năm

2018(5) Phân tích hồi quy logistic đa biến được sử

dụng để xác định mối liên quan giữa việc kiểm

soát huyết áp và các biến độc lập Các giá trị

đươc coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Đặc điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu

Có 133 bệnh nhân với HSBA thỏa điều kiện

chọn mẫu Đặc điểm của bệnh nhân trong

nghiên cứu được thể hiện trong Bảng 1 Mẫu

nghiên cứu có tỷ lệ nam và nữ tương tự nhau

Tuổi trung bình là 49,7 ± 15,1 Đa số bệnh nhân

được chỉ định chạy thận 3 lần/tuần Toàn bộ

mẫu nghiên cứu đều bị thiếu máu, đang điều trị

với erythropoietin Ngoài ra, tỷ lệ bệnh kèm

thiếu máu cục bộ cơ tim cao (40,6%) Các chỉ số

đánh giá chức năng thận gồm nồng độ creatinin

và ure huyết đều ở mức cao đối với đa số BN

(Bảng 1)

Đặc điểm sử dụng thuốc hạ áp

Các nhóm thuốc điều chỉnh huyết áp được

sử dụng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo được

trình bày trong Bảng 2

Nhóm thuốc chẹn kênh calci (CCB) được sử dụng nhiều nhất (85,7%), các nhóm thuốc như kháng giao cảm (metyldopa), lợi tiểu (LT) quai, chẹn thụ thể angiotensin (ARB) đều được sử dụng trên hơn 50% số BN Mặc dù isosorbid mononitrat (ISMN) có chỉ định được chấp thuận

là dự phòng đau thắt ngực, do thuốc có cơ chế hạ áp nên chúng tôi vẫn trình bày dữ liệu bao gồm ISMN Tỷ lệ hiện đang sử dụng ISMN là 36,8%

Số lượng các nhóm thuốc hạ áp phối hợp được biểu diễn trong Hình 1 với trung bình là 3 (± 1) thuốc trong một đơn Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng 1, 2, 3, 4, ≥5 thuốc (bao gồm nhóm nitrat) lần lượt là 4,5%, 25,6%, 30,1%, 24,8% và 15% Trong trường hợp loại trừ những BN có sử dụng ISMN, tổng số BN là 84 người Tỷ lệ bệnh nhân

sử dụng 1, 2, 3, 4, 5 thuốc lần lượt là 7,1%, 33,3%,

36,9%, 17,8% và 4,9% (Hình 1)

Các cách phối hợp nhóm thuốc trong một đơn giữa 6 nhóm thuốc được trình bày trong

Bảng 3

■ Số lượng BN có sử dụng ISMN trong đơn thuốc

□ Số lượng BN không sử dụng ISMN trong đơn thuốc

Hình 1 Số lượngthuốc hạ áp sử dụng trong một đơn thuốc

Trang 4

Đặc điểm kiểm soát huyết áp

Giá trị huyết áp tâm thu (SBP) trung bình là

145,8 ± 7,5 mmHg và huyết áp tâm trương (DBP)

trung bình là 86,8 ± 5,0 mmHg Tỷ lệ kiểm soát

huyết áp theo ngưỡng < 140/90 mmHg là 48,9%

Kết quả phân tích từ mô hình hồi quy logistic đa biến chưa tìm thấy các mối liên quan

có ý nghĩa thống kê giữa việc kiểm soát huyết áp

và các biến độc lập (Bảng 4)

Bảng 1 Đặc điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu (n=133)

Nhóm tuổi

Nhóm BMI (kg/m 2 )

Số lần chạy thận trong tuần

Bệnh kèm theo (tổng số không bằng 100%)

Thiếu máu cục bộ cơ tim mạn 54 40,6 Viêm loét dạ dày - tá tràng 38 28,6 Đái tháo đường (ĐTĐ) 27 20,3 Rối loạn lipid máu 15 11,3

Nhóm nồng độ ure huyết (mmol/L) Bình thường (2,5 - 7,5) 2 1,5

Nồng độ creatinine huyết (µmol/L) (TB

Nhóm nồng độ creatinine huyết

(µmol/L)

Bình thường (nam: ≤ 120; nữ: ≤ 100) 3 2,3 Cao (nam > 120; nữ > 100) 130 97,7 Nồng độ natri huyết (mEq/L)

Nhóm nồng độ natri huyết (mEq/L)

Bình thường (135-145) 85 63,9

Nồng độ kali huyết (mEq/L)

Nhóm nồng độ kali huyết (mEq/L)

Bình thường (3,5 -5) 79 59,4

Nồng độ calci huyết (mEq/L)

Nhóm nồng độ calcium huyết (mEq/L)

Bình thường (1,17-1,29) 51 38,3

Huyết áp (mmHg) (TB ± SD) Huyết áp tâm thu 145,8 ± 7,5

Huyết áp tâm trương 86,8 ± 5,0

Trang 5

Bảng 2 Thuốc hạ áp được sử dụng trong mẫu nghiên cứu (n = 133)

Nifedipin (dạng phóng thích kéo dài) 107 80,5

Bảng 3 Cách phối hợp thuốc hạ áp trong đơn (n = 133)

Phối hợp Thuốc phối hợp Số trường hợp sử dụng

CCB

LT

CCB + MD

CCB + MD + LT

Trang 6

ACEI: ức chế men chuyển, ARB: chẹn thụ thể

angiotensin, BB: chẹn beta, CCB: chẹn kênh calci,

MD: metyldopa, ISMN: isosorbid mononitrat,

LT: lợi tiểu

Bảng 4 Mối liên quan giữa việc kiểm soát huyết áp

và các biến độc lập

OR 95% CI Giá trị P

Giới tính (Nam) 1,2 0,6 2,5 0,66

Tuổi 1,0 0,99 1,1 0,07

BMI 1,0 0,99 1,001 0,94

ĐTĐ (Có) 0,6 0,3 1,6 0,35

ARB (Có sử dụng) 2,3 0,9 6,0 0,09

CCB (Có sử dụng) 1,6 0,5 5,7 0,45

Methyldopa (Có sử

dụng) 0,9 0,3 2,5 0,79

Bisoprolol (Có sử

dụng) 1,1 0,4 3,2 0,80

ISMN (Có sử dụng) 0,8 1,1 0,4 3,2

Số lượng thuốc

trong đơn 0,7 0,4 1,5 0,4

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của bệnh nhân

Bệnh nhân có tuổi trung bình khoảng 50, hơi

trẻ hơn so với dân số trong các nghiên cứu trên

thế giới như nghiên cứu của Rahman (1999) với

trung bình là 56 tuổi, nghiên cứu của Unni (2015)

với trung bình là 72 tuổi, nghiên cứu CRIC

(2010) với trung bình là 58 tuổi(3,4,6) Tuy nhiên độ

tuổi của mẫu dân số tương đồng với nghiên cứu

trong nước của Nguyễn Thị Anh Thi (2016) với

43,6% BN dưới 50 tuổi(7)

Đặc điểm sử dụng thuốc hạ áp

Để điều trị THA cho bệnh nhân BTM, số

lượng thuốc trung bình trong một đơn khoảng 3

thuốc (2-4 thuốc) cho thấy tình trạng THA kháng

trị khá phổ biến tại thời điểm được chẩn đoán

cần phải chạy thận nhân tạo Trong nghiên cứu

của Nguyễn Thị Anh Thi (2016) tại bệnh viện

quận Bình Thạnh, TPHCM, tỷ lệ BN được điều

trị với phác đồ đơn trị chiếm tỷ lệ cao hơn

(23,6%), tuy nhiên phác đồ phối hợp 3 thuốc vẫn

chiếm tỷ lệ cao nhất (27,3%)(7) Các nghiên cứu

khác cũng ghi nhận đa số BN dùng 2-4 thuốc

như nghiên cứu CRIC (2010), với tỷ lệ tương ứng

là 25, 26, 32%(3) hoặc nghiên cứu của Rahman

1999, Agarwal 2003trên dân số Mỹ, số lượng thuốc trung bình là 2(6,8) Các kết quả vừa nêu cho thấy việc kiểm soát huyết áp có thể khó khăn, càng nhiều nhóm thuốc phối hợp thì các vấn đề bất lợi về tuân thủ điều trị, tác dụng phụ và tương tác giữa các nhóm thuốc dễ xảy ra hơn Lựa chọn thuốc điều trị tăng huyết áp trong điều trị BTM đặc biệt giai đoạn cuối bao gồm gần như tất cả các nhóm thuốc Nhóm thuốc được kê đơn nhiều nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là CCB, các nhóm kháng giao cảm (methyldopa), LT quai, ARB đều được sử dụng với tỷ lệ trên 50% Kết quả từ các nghiên cứu trước cũng cho thấy các nhóm thuốc được kê đơn nhiều nhất là CCB và thuốc tác động hệ renin-angiotensin-aldosteron Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thi (2016), nhóm thuốc ACEI được sử dụng nhiều nhất (82,72%), tiếp theo là nhóm CCB, nhóm thuốc ức chế adrenergic, nhóm LT, nhóm ARB và nhóm thuốc giãn mạch trực tiếp được sử dụng ít nhất(7) Nghiên cứu của Rahman (1999) khảo sát 2 nhóm

BN, nhóm không kiểm soát được theo mức huyết áp mục tiêu, CCB được chỉ định lên đến 80%, ACEI 41%, ARB 2%, BB 19%, kháng giao cảm 24% Ở nhóm kiểm soát được huyết áp, CCB chiếm 67%, ACEI 67%, BB 31%, kháng giao cảm 17%, ARB 0% (6)

Đối với BN bị BTM, ACEI và ARB là các lựa chọn đầu tay trong nhiều hướng dẫn điều trị, đặc biệt khi protein niệu > 300 mg/ngày (JNC8

2014, ACC/AHA 2017)(9) ACEI và ARB làm giảm tiết aldosterone, giảm kháng lực mạch máu ngoại biên, giảm huyết áp hệ thống một cách hiệu quả ACEI và ARB cũng gây giãn tiểu động mạch đến thận, làm giảm áp lực cầu thận và là

cơ chế đề nghị trong việc bảo vệ chức năng thận Trường hợp BTM không bị protein niệu, các dữ liệu chưa thống nhất Một phân tích gộp 11 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên trên 1860 BN không tìm thấy lợi ích của ACEI cho người BTM

có protein niệu < 500 mg/ngày(10) Tuy nhiên trong thực tế, BN thường được chẩn đoán BTM khi protein niệu hoặc creatinin huyết cao từ giai

Trang 7

đoạn 3 trở lên nên cần phải phối hợp nhiều

nhóm thuốc điều trị huyết áp trong đó có các

thuốc tác động hệ renin

angiotensin-aldosteron(2) Với nghiên cứu hiện tại, nhóm ARB

có khuynh hướng được ưa chuộng hơn ACEI,

chỉ có 4 BN được kê đơn ACEI Ngoài ra, chúng

tôi không ghi nhận sự phối hợp 2 nhóm ACEI và

ARB Trước đây có ý kiến đề nghị phối hợp

thuốc để tăng tác dụng bảo vệ thận Hiện nay

việc phối hợp 2 nhóm vừa nêu không được

khuyến cáo do tăng nguy cơ bị tăng kali máu và

suy thận cấp trong khi hiệu quả phối hợp không

đầy đủ(10)

Kết quả cũng cho thấy CCB cấu trúc

dihydropyridin (DHP) được chỉ định nhiều

nhất, nhóm cấu trúc không DHP không được sử

dụng Điều này phù hợp vì các thuốc trong

nhóm hiệu quả và dễ dung nạp thuốc, ít phải

chỉnh liều khi chức năng thận thay đổi và giảm

huyết áp tốt khi phối hợp với ACEI hoặc ARB

Nhóm CCB là một trong các thuốc điều trị đầu

tay trong điều trị THA không biến chứng(10,11)

Các thuốc chẹn beta tác động chủ yếu là

chẹn thụ thể beta-1 adrenergic trên cơ tim, làm

giảm nhịp tim và co bóp cơ tim giúp hạ huyết

áp Nhóm thuốc này không phải là khuyến cáo

đầu tay trong điều trị THA cho dân số chung

Tuy nhiên đối với người BTM, do tăng hoạt tính

giao cảm là một nguyên nhân chính gây THA,

đặc biệt rõ ở giai đoạn cuối, thuốc chẹn beta hiện

được xem như một lựa chọn ưu thế hơn ACEI

cho bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo(10)

Nhóm dân số nghiên cứu của chúng tôi là bệnh

nhân BTM mới bắt đầu có chỉ định chạy thận

nhân tạo, tỷ lệ BN đang dùng BB chỉ chiếm

khoảng 20% Tuy nhiên, với các bằng chứng

mới, BB có thể được cân nhắc sử dụng nhiều hơn

khi BN phải lọc máu mạn

Lợi ích của nhóm lợi tiểu thiazide không rõ

ràng cho BN suy thận Hướng dẫn điều trị JNC7

khuyến cáo chuyển sang sử dụng lợi tiểu quai

khi GFR dưới 30 ml/phút/1,73 m2 trong khi JNC8

và AHA/ACC 2016 không đề cập đến Hướng

dẫn KDIGO 2012 ít cứng nhắc hơn và cho rằng

tác dụng hạ áp của thiazide vẫn còn ở mức GFR thấp(10) Trong nghiên cứu của chúng tôi, BN không được chỉ định LT thiazide Đối với BTM giai đoạn cuối, vai trò của thiazide không rõ ràng vì việc giảm thể tích dịch có thể đạt được thông qua lọc thận Ngược lại, LT quai chiếm tỷ

lệ 60,9% tổng số các chỉ định thuốc trong nghiên cứu hiện tại Thuốc LT quai được sử dụng phổ biến vì có lợi cho BN bị quá tải dịch kháng trị trong các trường hợp như BTM tiến triển, suy tim sung huyết, suy gan giai đoạn cuối Tuy nhiên, việc sử dụng nên giới hạn cho BTM giai đoạn cuối còn chức năng thận vì LT quai không hiệu quả ở người vô niệu đang chạy thận ngay cả ở liều cao trên 250 mg(10) Ngoài ra, nếu cân nhắc về tình trạng polypharmacy, có thể sử dụng thuốc LT khi mới bắt đầu lọc thận để giúp giảm quá tải dịch nhưng sau đó nên ngưng thuốc

Nhóm thuốc tác động chủ vận trên thụ thể alpha 2 (methyldopa) được chỉ định phổ biến 63,2% Đây là nhóm thuốc chỉ định điều trị THA cho BTM và BTM giai đoạn cuối, nhưng thường được để dành phối hợp trong trường hợp kháng trị do các tác dụng phụ của thuốc cũng như ít hiệu quả bảo vệ ngừa biến cố tim mạch

Đặc điểm kiểm soát huyết áp

Gần một nửa mẫu nghiên cứu có huyết

áp không kiểm soát được theo mức mục tiêu

là < 140/90 mmHg Các nghiên cứu khác trong nước cũng cho kết quả tương tự Tỷ lệ kiểm soát huyết áp < 130/80 trên bệnh nhân BTM khoảng 30% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thi (2015)(7) Tỷ lệ kiểm soát huyết áp < 140/90 là 43,7% theo Nguyễn Ngọc Thanh Vân (2014)(12) Tương tự tỷ lệ là 30% theo Nguyễn Thị Ngọc Linh (2007)(13) Cho đến hiện tại, các bằng chứng không đủ để kết luận rõ về huyết áp mục tiêu tối

ưu cho BN bị BTM và do đó không tương đồng giữa các hướng dẫn điều trị ACC 2017 dựa trên kết quả nghiên cứu SPRINT và thiên

về hướng điều trị tích cực với mức mục tiêu là huyết áp < 130/80 mmHg bất kể mức protein niệu Tuy nhiên, ESC/ESH 2018 đề nghị SBP mục

Trang 8

tiêu < 140 mmHg không phụ thuộc protein

niệu(14) Tác giả Pugh (2019) cho rằng hướng dẫn

điều trị của Mỹ ưu tiên tác dụng bảo vệ tim

mạch hơn trong khi hướng dẫn châu Âu theo

hướng ưu tiên bảo vệ thận(2) Ngoài ra, huyết áp

trong nghiên cứu SPRINT được đo trong điều

kiện BN phải ở trong phòng yên tĩnh không bị

xao nhãng ít nhất 5 phút nên giá trị đo được có

thể thấp hơn thực tế phòng khám trong nghiên

cứu của chúng tôi Hướng dẫn điều trị THA cho

người bệnh thận mạn của Hội tim mạch học

quốc gia Việt Nam 2018 khá sát với ESC/ESH

2018(5) Vì vậy chúng tôi lựa chọn ngưỡng 140/90

để đánh giá Mặc dù phần lớn được điều trị với

thuốc hạ áp, tỷ lệ BN kiểm soát huyết áp theo

ngưỡng 140/90 chưa tối ưu

Tăng huyết áp, đặc biệt là huyết áp tâm thu

khá phổ biến ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

với tỷ lệ khoảng 60-90% tuỳ thuộc vào giai đoạn

của bệnh thận mạn và nguyên nhân(8,9) THA là

yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến biến cố

tim mạch và tử vong do bệnh tim mạch đối với

dân số chung và cũng là nguyên nhân chính gây

tử vong ở người chạy thận mạn tính Tuy nhiên,

việc kiểm soát ở người bị BTM có thể khó khăn

hơn so với dân số THA chung, ngay cả khi BN

có nhận thức tốt về việc điều trị(2,3)

Các yếu tố liên quan với việc kiểm soát được

huyết áp theo mục tiêu

Nghiên cứu của chúng tôi chưa tìm thấy mối

liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đặc điểm của

bệnh nhân và việc sử dụng thuốc với tỷ lệ kiểm

soát huyết áp So với nghiên cứu trước, các yếu

tố như tuổi, giới, thể trạng không có mối liên

quan với việc kiểm soát huyết áp(3,4,6) Có thể do

trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, số lượng

bệnh nhân dưới 50 tuổi chiếm khoảng 50% nên

chưa thấy được ảnh hưởng của tuổi Về mối liên

quan giữa số lượng thuốc với tỷ lệ BN kiểm soát

được huyết áp, các dữ liệu thu được từ các

nghiên cứu trước không thống nhất Một số

nghiên cứu kết luận khả năng kiểm soát huyết

áp cải thiện theo số lượng thuốc theo thời gian(13)

Nghiên cứu khác như của Unni (2015), số lượng

thuốc chỉ được ghi nhận có liên quan có ý nghĩa thống kê ở BN BTM giai đoạn 2 và 3, nhưng không liên quan ở giai đoạn muộn của BTM ngay cả khi áp dụng các mức mục tiêu khác nhau như KDOQI, NICE, KDIGO 2012(4)

Trong nghiên cứu, việc sử dụng nhóm ARB

có liên quan đến việc kiểm soát huyết áp tốt hơn, bằng khoảng 2 lần so với nhóm không dùng ARB nhưng chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,09) Nghiên cứu của Rahman (1999) cũng nhận thấy BN kiểm soát huyết áp tốt hơn với ACEI hoặc BB so với CCB(6) Tuy nhiên nghiên cứu khác không thấy có sự khác biệt(3,4) Với nghiên cứu quan sát như của chúng tôi, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc

kê đơn một nhóm thuốc cụ thể, các bác sĩ lại có khuynh hướng chọn thuốc theo kinh nghiệm, do

đó khó có thể cho kết luận chính xác về hiệu quả tương đối giữa các nhóm thuốc

Do đề tài tiến hành khảo sát hồi cứu trên HSBA, thông tin chưa được ghi nhận đầy đủ, chúng tôi chưa phân tích được mối liên quan giữa việc kiểm soát huyết áp và một số yếu tố khác như tuân thủ dùng thuốc, tiền sử bệnh Tuân thủ dùng thuốc đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả dùng thuốc, nhất là đối với các bệnh mạn tính Mặc dù BN có thể đến tái khám định kì nhưng không chắc chắn BN dùng thuốc đúng theo chỉ định ví dụ như số lần dùng, cách dùng Trong nghiên cứu, hơn 50% BN được chỉ định từ 3 thuốc trở lên Nguy cơ không dung nạp với tác dụng phụ của nhiều thuốc sẽ cao hơn hoặc các rào cản về chi phí có thể dẫn đến không tuân thủ và làm cho việc kiểm soát huyết

áp chưa được tối ưu Ngoài ra, chúng tôi không

có thông tin về thời gian mắc bệnh THA và bệnh thận Nếu suy thận mạn nặng hơn do THA lâu năm, huyết áp có thể sẽ cao và khó đạt mục tiêu hơn Việc điều trị với erythropoietin cũng có thể

là yếu tố liên quan với khả năng kiểm soát huyết

áp nhưng chưa được hiệu chỉnh vì tất cả bệnh nhân đều thiếu máu và đang dùng erythropoietin Erythropoietin và các thuốc kích thích tạo erythropoietin có thể gây co mạch cấp

Trang 9

tính, ngay cả trước khi tình trạng thiếu máu

được cải thiện và làm THA(15) Mặc dù vậy, kết

quả thu được đã cung cấp những dữ liệu thực tế

về tình hình sử dụng thuốc cũng như mức độ

quản lý bệnh THA ở những BN bệnh thận mạn

mới có chỉ định chạy thận nhân tạo Đây là cơ sở

để đơn vị điều trị cân nhắc các cách tiếp cận phù

hợp nhằm ngăn ngừa biến chứng trên thận ở

giai đoạn sớm hơn

KẾT LUẬN

Tăng huyết áp là bệnh kèm thường gặp và

có thể làm tăng nguy cơ tiến triển bệnh thận

dẫn đến chạy thận nhân tạo Việc kiểm soát

tốt huyết áp có thể mang lại lợi ích cho người

BTM Tuy nhiên vẫn còn khoảng phân nửa

bệnh nhân chưa kiểm soát được huyết áp

dưới ngưỡng <140/90 mmHg Cần có các nghiên

cứu tiến cứu, có đối chứng làm rõ các nguyên

nhân và các yếu tố ảnh hưởng cũng như các biện

pháp giúp kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân BTM

tốt hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

về thận - tiết niệu Ban hành kèm theo Quyết định số

3931/QĐ-BYT ngày 21/9/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, pp.129-145, Hà Nội

URL:

https://kcb.vn/vanban/huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-cac-benh-than-tiet-nieu (access on 10/4/2020)

Hypertension in Chronic Kidney Disease Drugs, 79(4):365-379

3 Munter P, Anderson A, Charleston J, et al (2010) Hypertension

awareness, treatment, and control in adults with CKD: Results

from the Chronic Renal Insufficiency Cohort (CRIC) study Am

J Kidney Dis, 55(3):441-451

4 Unni S, White K, Goodman M, et al (2015) Hypertension

control and antihypertensive therapy in patients with CKD

Am J Hyper, 28(6):814-822

5 Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam (2018) Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị THA URL: http://vnha.org.vn/data/Khuyen-Cao-THA-2018.pdf (access on 24/4/ 2020)

Ogundipe A, Weigel K, Smith MC (1999) Factors associated with inadequate blood pressure control in hypertensive

hemodialysis patients Am J Kidney Dis, 33(3):498-506

7 Nguyễn Thị Anh Thi, Nguyễn Văn Tập (2016) Tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết

áp kèm suy thận mạn tại khoa Nội thận- lọc máu bệnh viện

quận Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh năm 2014 Y Học Thành Phố

Hồ Chí Minh, 20(S5):525-531

8 Agarwal R, Nissenson AR, Batlle D, Coyne DW, Trout JR, Warnock DG (2003) Prevalence, treatment and control of hypertension in chronic hemodialysis patients in the United

States Am J Med, 115(4):291-297

9 Ku E, Lee BJ, Wei J, Weir MR (2019) Hypertension in CKD:

core curriculum 2019 Am J Kidney Dis, 74(1):120-131

10 Sinha AD, Agarwal R (2019) Clinical pharmacology of antihypertensive therapy for the treatment of hypertension in

CKD Clin J Am Soc Nephrol, 14(5):757-764

11 Agarwai A, Henrich WL (2019) Hypertension in dialysis patients URL: https://www.uptodate.com/contents/hypertension-in-dialysis-patients (access on 6/4/2020)

12 Nguyễn Ngọc Thanh Vân, Châu Ngọc Hoa (2014) Khảo sát tình hình thực hiện các xét nghiện cận lâm sàng và tần suất

kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 18(1):145-149

13 Văn Công Chỉnh (2016) Khảo sát tần suất bệnh thận mạn ở

bệnh nhân tăng huyết áp Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh,

20(1):117-121

14 Agarwal R, Lewis RR (2001) Prediction of hypertension in

chronic hemodialysis patients Kidney Int, 60:1982–1989

15 Mazzuchi N, Carbonell E, Fernández-Cean J (2000) Importance of blood pressure control in hemodialysis patient

survival Kidney International, 58(5):2147-2154

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/04/2020 Ngày bài báo được đăng: 20/07/2020

Ngày đăng: 10/12/2020, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm