Bài viết trình bày mô tả tình trạng tăng huyết áp, tình trạng mất ngủ, tuân thủ điều trị của người bệnh, đánh giá kết quả điều trị, tư vấn liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh và một số yếu tố khác.
Trang 1
VIN
C KH EC NG
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TĂNG HUYẾT ÁP, MẤT NGỦ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ, CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
TÓM TẮT
Nghiên cứu thực hiện trên 200 người bệnh tăng huyết
áp đang điều trị tại Bệnh viện huyện U Minh Thượng,
Kiên Giang từ tháng 01/2020 đến 6/2020 Mục tiêu: (1)
Mô tả tình trạng tăng huyết áp, tình trạng mất ngủ, tuân
thủ điều trị của người bệnh (2) Đánh giá kết quả điều trị,
tư vấn liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh và
một số yếu tố khác Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế
nghiên cứu mô tả cắt ngang Số liệu về biểu hiện lâm sàng
(LS), cận lâm sàng (CLS), hoạt động theo dõi chăm sóc
người bệnh (NB) của điều dưỡng (ĐD) từ bệnh án nghiên
cứu; phỏng vấn đối tượng về tình trạng mất ngủ theo thang
đo mất ngủ Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI), tình
trạng tuân thủ điều trị sử dụng thang Morisky - MMAS-8
thu thập Kết quả: Các triệu chứng LS trong nhóm đối
tượng nghiên cứu gồm đau đầu, chóng mặt chiếm tỷ lệ
gần như tuyệt đối 97 -100% Các triệu chứng khác như
hoa mắt, ù tai cũng chiếm tỷ lệ cao: 81-94,5% NB có HA
tối đa trung bình 163,9±9,4 mmHg, HA tối thiểu 84,4±5,6
mmHg Có 60% đối tượng mức Cholesterol và glucose
máu trên giới hạn bình thường Tỷ lệ có mất ngủ trước
điều trị 100%, chất lượng giấc ngủ kém chiếm tỷ lệ rất
cao: 97,5% ở mức độ nặng Yếu tố liên quan đến chất
lượng giấc ngủ là tăng huyết áp, chủ yếu đến thành tố
ngủ không ngon giấc (OR=9,4; KTC95% 1,1-79,9); tự
nhận thấy chất lượng giấc ngủ kém (OR= 3,7; KTC 95%
2,02 – 6,77) và giảm hứng thú trong công việc và giải trí
(OR= 4,9; KTC95% 2,7 – 8,9) Có 90,5% số đối tượng đã
tuân thủ điều trị tốt Kết quả điều trị, tư vấn liên quan đến
tuân thủ điều trị (TTĐT) của NB và một số yếu tố khác,
chất lượng giấc ngủ tổng thể (7 thành tố) sau điều trị vẫn
rất kém (92%) và cũng như các yếu tố khác chưa rõ mối
liên quan đến TTĐT Sau khi được tư vấn thì không bệnh
nhân nào bị mất ngủ nặng và 100% bệnh nhân bị mất ngủ
ở mức độ vừa, sự khác nhau có ý nghĩa (p<0,001) HA
tối đa và HA tối thiểu sau 1 tháng được cải thiện rất rõ,
HA tối đa giảm 39 mmHg và HA tối thiểu giảm ít hơn, chỉ giảm 2,9mmHg nhưng có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Kết luận: Trên người bệnh tăng huyết áp (THA),
chất lượng giấc ngủ rất kém và liên quan đến tình trạng lâm sàng của THA Cho dù TTĐT sử dụng thuốc của người bệnh khá tốt, sau thời gian 1 tháng, tỷ lệ trở về huyết
áp mục tiêu cao nhưng tình trạng mất ngủ chỉ thuyên giảm
về mức độ trầm trọng
Từ khóa: Tăng huyết áp, mất ngủ, chăm sóc tư vấn
bệnh nhân
SUMMARY:
STUDY ON HYPERTENTION, INSOMNIA
IN THE RELATION TO TREATHMENT, NURSING CARE, ADHERENCE AND OTHER RELATED FACTORS AT UMINHTHUONG HEALTH CENTTER, KIEN GIANG PROVICE
The study performed on 200 hypertensive patients who are being treated at U Minh Thuong district Hospital, Kien Giang province, Vietnam from January 2020 to June
2020 Objectives (1) Describe the patient’s hypertension, insomnia, and adherence to treatment (2) Evaluation of treatment results, counseling related to patient adherence
to treatment and some other factors
Research method: cross-section descriptive research design Data on clinical and subclinical manifestations, monitoring and care of nursing patients from the Health records; interviewed subjects on insomnia according to the Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI), and treatment compliance status using the Morisky - MMAS-8 scale
Research results:The clinical symptoms including:
headache, dizziness accounted for almost absolute 97-100% Other symptoms such as dizziness, tinnitus also accounted for a high percentage: 81-94.5% Patients with
1 Trường ĐH Thăng Long
Chịu trách nhiệm chính: Dương Thị Ngọc Vàng
ĐT: 0948966834; Email:d.ngocvang84@gmail.com
Trang 2JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
average BPmax of 163.9 ± 9.4 mmHg, BPmin of 84.4 ± 5.6
mmHg There are 60% of subjects with cholesterol and
blood glucose levels above the normal limit
The rate of insomnia before treatment is 100%, poor
sleep quality accounts for very high rate: 97.5% in severe
severity The factor related to sleep quality was increased
blood pressure, mainly to the subjective symtoms did not
sleep well (OR = 9.4; 95% CI 1.1 - 79.9); self-found poor
sleep quality (OR = 3.7; 95% CI 2.02 - 6.77) and reduced
interest in work and entertainment (OR = 4.9; 95% CI 2.7
- 8.9); 90.5% of subjects have adhered to good treatment
Treatment results, counseling related to
treatment adherence of the patient and some other
factors ware fonded:
The overall sleep quality (7 elements) after treatment
was still very poor (92%) and there were also unknown
factors regarding compliance with treatment
After being consulted, neither patient had severe
insomnia and 100% of patients had moderate insomnia,
the difference was statistical significant (p = 0.000)
BPmax and BPmin after 1 month improved significantly,
BPmax decreased 39 mmHg and BPmin decreased less,
only 2.9mmHg but statistically significant (p = 0.000)
Conclusion: In patients with hypertension, sleep quality is
very poor and related to the clinical status of hypertension
Although adherence to treatment and use of drugs is quite
good, after 1 month, the target blood pressure rate is high,
but the insomnia only relieves in severity
Keywords: Hypertension, insomnia, patient care.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với bệnh THA, thì mất ngủ cũng là bệnh lý
song hành với bệnh tim mạch Cũng đang là vấn đề xã
hội quan tâm và mang tính toàn cầu trở thành nguyên
nhân, gây áp lực trong quá trình điều trị THA Mỗi năm
có trên năm triệu lược khám ở hoa kỳ, tỷ lệ mất ngủ tăng
theo độ tuổi, lên đến 57% Ở Việt Nam, THA và mất
ngủ ngày càng phổ biến Đa số các trường hợp THA âm
thầm, không có biểu hiện gì rõ ràng kể cả người còn trẻ
và người cao tuổi, một số người THA, đặc biệt là người
tuổi cao gây ra các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, khó
chịu, bồn chồn khiến NB hay trằn trọc lo âu khó đi vào
giấc ngủ hoặc ngủ ít, không sâu, hay thức giấc mỗi một
đêm (gọi là rối loạn giấc ngủ) và hậu quả là thiếu ngủ,
mất ngủ Như vậy, mất ngủ và chất lượng giấc ngủ kém
dẫn đến các bệnh tim và THA, ngược lại THA cũng làm
bệnh tăng tình trạng mất ngủ [3] [4] [5] Do THA và mất
ngủ khá phổ biến, dễ bị NB coi thường, không tuân thủ
nghiên cứu về THA kết hợp với mất ngủ, chủ yếu nghiên cứu riêng lẻ về THA và mất ngủ [1] [2] [6] Để góp phần vào việc nâng cao chất lượng điều trị của bệnh viện đặc biệt là trên đối tượng NB THA kèm mất ngủ, chúng tôi đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như: biểu hiện LS và CLS của NB như thế nào? Giữa THA và tình trạng rối loạn giấc ngủ liên quan với nhau ra sao? Mức độ liên quan trên người bệnh ở khu vực nông thôn U minh Thượng như thế nào? Sự TTĐT của người bệnh có vấn đề gì? Việc điều trị, kết hợp với tư vấn TTĐT có kết quả hay không? Yếu tố ảnh hưởng tới kết quả đó như thế nào …? Với các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:
1 Mô tả tình trạng tăng huyết áp, tình trạng mất
ngủ, tuân thủ điều trị của người bệnh điều trị ngoại trú, tại Trung tâm y tế huyện U Minh Thượng
2 Đánh giá kết quả điều trị, tư vấn liên quan đến
tuân thủ điều trị của người bệnh và một số yếu tố khác
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn: NB THA điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang
- Tiêu chuẩn loại trừ: Thân nhân – bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 01/2020 đến 6/2020
2.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang trước và sau 1 tháng điều trị và chăm sóc (có tư vấn cho đối tượng về TTĐT)
2.3 Cỡ mẫu: Tổng số 200 NB THA với cách chọn
mẫu theo tiêu chí và chọn thuận tiện
2.4 Biến số NC: Tuổi, giới, địa dư, nghề nghiệp,
uống rượu bia, hút thuốc lá, bệnh lý kèm theo, dấu hiệu sinh tồn, buồn nôn, nôn, ù tai, ngủ ít, đau đầu, chóng mặt, thiếu ngủ
2.5 Xử lý số liệu: Phân tích, xử lý bằng phần mềm
SPSS 20.0 để tính tỷ lệ phần trăm, phân tích đơn biến các yếu tố có nguy cơ, khác biệt có ý nghĩa thống kê chấp nhận ở mức α=0,05
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân (BN) có giới tính nam chiếm 37,5%, nữ 62,5% Thấp nhất là độ tuổi từ 30 đến 39, chỉ có 4,0%, cao nhất là tuổi 50 – 59 tuổi chiếm 48% BN có trình độ học vấn cấp 2 chiếm cao nhất với 39,5%, cấp 3 trở lên chiếm 36,5% Về kinh tế gia đình, BN là hộ cận nghèo chiếm
Trang 3
VIN
C KH EC NG
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 1 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng NC
Đâu đầu
Hoa mắt
Ù tai
Chóng mặt
Cận lâm sàng
Nhận xét:
Về TCLS: BN có triệu chứng đau đầu ở mức độ
vừa chiếm tỷ lệ cao nhất với 63,5%, không có BN nào
không đau đầu Triệu chứng hoa mắt nhẹ và vừa chiếm
92% và chóng mặt mức độ vừa và nhiều 62.5%, ù tai vừa
và nhiều 26% Tỉ lệ BN có Glucose máu cao hơn bình thường chiếm 40%, Cholesterol TP bất thường 38,5%, Triglyceridebất thường chiếm 65%
3.3 Tuân thủ điều trị của người bệnh với tình trạng THA và mất ngủ
Trang 4JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
Bảng 2 Liên quan giữa tuân thủ điều trị tới chất lường giấc ngủ tổng thể và tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu
sau 1 tháng điều trị và chăm sóc
(95%CI)
Chất lượng giấc ngủ
tổng thể sau ĐT
>0,05 ( 0,2 – 11,4)1,4
Huyết áp mục tiêu sau
ĐT
<0,03 (1,4 – 30,5)6,6
( 0,3 – 2,1)
-Nhận xét:
90,5% số đối tượng đã TTĐT tốt Sau 1 tháng điều
trị về mục tiêu nhiều hơn, nhóm chưa tuân thủ tốt một
cách có ý nghĩa thống kê (97,2% so với 84,2%, OR = 6,6;
p<0,05) Chất lượng giấc ngủ tổng thể (7 thành tố) sau
điều trị vẫn rất kém (92%) và cũng như các yếu tố khác chưa rõ mối liên quan đến TTĐT
3.4 Liên quan giữa triệu chứng THA với các rối loạn thành phần của giấc ngủ (Trước điều trị)
Bảng 3 Triệu chứng THA với các thành phần mất ngủ và mức chênh lệch HA
Chất lượng giấc ngủ tự
nhận định
0,000 (2,02 – 6,77)3,7
Thời gian ngủ được
trong đêm
Trang 5
VIN
C KH EC NG
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hứng thú trong công
việc và giải trí
0,000 (2,7 – 8,9)4,9
Mức chênh lệch
huyết áp*
=< 70 mmHg 29 51,8% 27 48,2%
>0,05 (0,3 -1,2)0,6
*Wilcoxon test ** test χ²
Nhận xét: Trước khi được điều trị và tư vấn TTĐT
có tới 97,5% BN bị mất ngủ nặng, sau khi được tư vấn thì
không BN nào bị mất ngủ nặng nữa và 100% BN bị mất
ngủ vừa, sự khác nhau có ý nghĩa TK (p=0,000)
Sự cải thiện HA tối đa và HA tối thiểu sau 1 tháng
rất rõ, HA tối đa giảm 39 mmHg và HA tối thiểu giảm
ít hơn, chỉ giảm 2,9mmHg nhưng có ý nghĩa thống kê
(p=0,000)
IV BÀN LUẬN
Trong 200 BN trong NC, đối tượng NC có BN có
giới tính nam chiếm 37,5%, giới tính nữ 62,5%, đối tượng
có tuổi trên 30, trong đó nhóm dưới 60 tuổi chiếm 61%
Biểu hiện LS trước điều trị: 100% số đối tượng có
nhức đầu, 97,5% có chóng mặt, các triệu chứng như ù tai, hoa mắt đa số mức độ nhẹ và vừa HA tối đa trung bình 163,9±9,4 mmHg, HA tối thiểu 84,4±5,6 mmHg Có 60% đối tượng mức Cholesterol và glucose máu trên giới hạn bình thường Nhìn chung đây là nhóm đối tượng được theo dõi sát sao tại khoa khám bệnh và điều trị ngoại trú của bệnh viện
Về tình trạng mất ngủ, các kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng giấc ngủ tổng hợp đầy đủ từ 7 thành tố trước điều trị rất thấp; 97,5% ở mức độ nặng, do tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém quá cao, mẫu nghiên cứu không
đủ để chia thành 2 nhóm để phân tích mối liên quan giữa chất lượng giác ngủ tổng thể, chúng tôi đã tiến hành phân tích từng thành tố của chất lượng giấc ngủ (theo thang Pittsburgh), kết quả trong bảng 3 cho thấy có liên quan
*Hiệu số của HA tối đa với HA tối thiểu
Nhận xét:
Trước điều trị, các thành tố của chất lượng giấc ngủ
có liên quan đến triệu chứng THA (chủ yếu là đau đầu,
chóng mặt) ở các mức độ khác nhau
Chất lượng giấc ngủ tự NB nhận xét chung ở mức kém và chưa rõ mối liên quan tới triệu chứng của THA (p>0,05)
4 Kết quả điều trị và tư vấn (sau 1 tháng) lên tình trạng mất ngủ và cải thiện huyết áp
Bảng 4 Mức độ mất ngủ của bệnh nhân trước và sau điều trị, chăm sóc
0,000**
Thay đổi huyết áp Trung bình,SD (mmHg )
Trang 6JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
đến triệu chứng THA (chủ yếu là đau đầu, chóng mặt) ở
các mức độ khác nhau Chất lượng giấc ngủ tự NB nhận
xét chung ở mức kém có triệu chứng THA với 71.2% so
với 40% mứcchất lượng giấc ngủ không kém (OR = 3,7,
p <0,000), kết quả này gần giống với nhận định của Sogol
và cộng về mối liên quan giữa mất và THA với OR, (3,75;
KTC 95%, 1,58-8,95) [3] Với tình trạng giảm hứng thú
trong công việc và giải trí (OR = 4,9, p<0,000) và nhất
là không ngon giấc (OR=9,4, p <0,000) Với các thành
tố khác của chất lượng giấc ngủ chưa rõ mối liên quan
tới triệu chứng của THA (p>0,05) Có lẽ nghiên cứu của
chúng tôi là nghiên cứu cắt ngang, không xác định được
THA là nguyên nhân hay mất ngủ là nguyên nhân Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với cách đánh giá
cũng như kết quả trong nghiên cứu gộp (meta) của Laura
Palagini và cộng sự (2013) [ 3] và gần đây hơn là nghiên
cứu của Sogol Javaheri và Susan Redline [5]
Về mối liên quan giữa TTĐT (chủ yếu là sử dụng
thuốc) kết quả trong bảng 2 cho thấy: 90.5% số đối tượng
đã TTĐT tốt Tuân thủ điều trị tốt dẫn đến kết quả HA sau
1 tháng điều trị về mục tiêu nhiều hơn nhóm tuân thủ chưa
tốt một cách có ý nghĩa thống kê (97,2% so với 84,2%,
OR = 6,6, p<0,05) Kết quả nghiên cứu của Wilson S và
cộng sự năm 2019 cũng cho thấy sử dụng thuốc cần có sự
hợp tác của người bệnh mới có hiệu quả [7]
Về kết quả điều trị và tác động của tăng cường tư
vấn tuân TTĐT sau 1 tháng, kết quả trong bảng 2 và 4 cho
thấy: Chất lượng giấc ngủ tổng thể (7 thành tố) sau điều
trị vẫn rất kém (92%) và cũng như các yếu tố khác chưa
rõ mối liên quan đến TTĐT
Trước khi được điều trị và tư vấn có tới 97,5% BN
bị mất ngủ nặng, sau khi được tư vấn thì không BN nào bị
mất ngủ nặng nữa và 100% BN bị mất ngủ ở mức độ vừa,
sự khác nhau có ý nghĩa (p=0.000)
Sự HA tối đa và HA tối thiểu sau 1 tháng được cải
thiện rất rõ, HA tối đa giảm 39 mmHg và HA tối thiểu
giảm ít hơn, chỉ giảm 2,9mmHg nhưng có ý nghĩa thống
kê (p=0,000) Có thể nhận thấy HA tối đa được cải thiện
rõ và nhiều hơn HA tối thiểu, có thể trong quá trình điều trị, việc sử dụng thuốc ngủ khá hạn chế (61% sử dụng không quá 3 lần/tuần) trong khi mất ngủ rất phổ biến Mặt khác, hướng dẫn TTĐT chủ yếu tập trung vào tuân thủ dùng thuốc điều trị THA Đây cũng là hạn chế của đề tài
V KẾT LUẬN
(1) Đặc điểm bệnh THA, tình trạng mất ngủ và tuân thủ điều trị:
Các triệu chứng LS trong nhóm đối tượng nghiên cứu gồm đau đầu, chóng mặt chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối 97 -100% Các triệu chứng khác như hoa mắt, ù tai cũng chiếm tỷ lệ cao: 81-94,5% NB có HA tối đa trung bình163,9±9,4 mmHg, HA tối thiểu 84,4±5,6 mmHg Có 60% đối tượng mức Cholesterol và glucose máu trên giới hạn bình thường Tỷ lệ có mất ngủ trước điều trị 100%, chất lượng giấc ngủ kém chiếm tỷ lệ rất cao: 97,5% ở mức
độ nặng Yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ là THA, chủ yếu đến thành tố ngủ không ngon giấc (OR=9,4; KTC 95% 1,1 - 79,9); tự nhận thấy chất lượng giấc ngủ kém (OR= 3,7 ; KTC 95% 2,02 – 6,77) và giảm hứng thú trong công việc và giải trí (OR= 4,9; KTC95% 2,7 – 8,9) Có 90,5% số đối tượng đã TTĐT tốt
(2) Kết quả điều trị, tư vấn liên quan đến TTĐT của
NB và một số yếu tố khác:
Chất lượng giấc ngủ tổng thể (7 thành tố) sau điều trị vẫn rất kém (92%) và cũng như các yếu tố khác chưa rõ mối liên quan đến TTĐT Sau khi được tư vấn thì không
BN nào bị mất ngủ nặng và 100% BN bị mất ngủ ở mức
độ vừa, sự khác nhau có ý nghĩa (p=0,000)
Sự HA tối đa và HA tối thiểu sau 1 tháng được cải thiện rất rõ, HA tối đa giảm 39 mmHg và HA tối thiểu giảm ít hơn, chỉ giảm 2,9mmHg nhưng có ý nghĩa thống
kê (p=0,000)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vũ Thị Thục Anh, Tô Mai Xuân Hồng, Nghiên cứu Y học TP Hồ Chí Minh Tập 18 Phụ bản của Số 6, 2014
664 Chuyên đề Y tế Công cộng “Tỉ lệ mất ngủ ở phụ nữ 50- 55 tuổi tại Bệnh viện Hùng Vương”
2 Lê Ngọc Cường và Đỗ Thái Hòa (2012), “Thực trạng rối loạn lipid máu và tăng huyết áp ở đối tượng thuộc diện Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe tỉnh Thanh Hóa quản lý”, Tạp chí Y học Việt Nam, 395 (1/2012), tr 94-97
3 Đinh Văn Thành (2015), “Thực trạng và hiệu quả mô hình quản lý tăng huyết áp tại tuyến y tế cơ sở tỉnh Bắc Giang”, Luận án Tiến sĩ Y khoa, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Trang 7
VIN
C KH EC NG
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
5 Laura Palagini, et all (2020) Expert Opinions and Consensus Recommendations for the Evaluation and Management of Insomnia in Clinical Practice: Joint Statements of Five Italian Scientific 2020; 11: 558
6 Sogol Javaheri and Susan Redline (2017) Insomnia and Risk of Cardiovascular Disease Chest 2017 Societies Front PsychiatryAug; 152(2): 435–444
7 Wilson S, Anderson K, Baldwin D, Dijk DJ, Espie CA, Gringras P, et al British Association for Psychopharmacology consensus statement on evidence-based treatment of insomnia, parasomnias and circadian rhythm disorders: An update J Psychopharmacol (2019) 33:923 – 47