1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Phân tích các phương pháp xác định áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét tại quận 2, Tp. Hồ Chí Minh

9 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện các phương pháp quan trắc thực nghiệm và phương pháp phần tử hữu hạn để xác định áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét. Mục đích là để phân tích kết quả của các phương pháp thực nghiệm với nhau cũng như so sánh với phương pháp phần tử hữu hạn (PLAXIS). Để từ đó khẳng định sự tồn tại áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét tại Quận 2, TP. Hồ Chí Minh, làm cơ sở để có phương án thiết kế kết cấu hợp lý cho sàn hầm trong khu vực này.

Trang 1

PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ÁP LỰC NƯỚC ĐẨY NỔI TRONG ĐẤT BÙN SÉT TẠI QUẬN 2, TP HỒ CHÍ MINH

LÊ BÁ VINH * HOÀNG LONG HẢI HOÀNG THẾ THAO

Analysis of methods to determine buoyancy pressure in soft soils in District 2, Ho Chi Minh City

Abstract: The East Saigon area, especially District 2, is currently a highly

developed area of the real estate market in Ho Chi Minh City in terms of both transport infrastructure and new residential areas However, according to many geotechnical investigations, the geological structure in District 2 has a thick layer of soft soil on average 15-30m The monitoring results using Piezometer and Standpipe method showed that there was buoyancy force in soft soil This observation data is consistent with the results of the analysis using a finite element method Research results show that from the start of water rebound, the buoyancy pressure will increase over time, along with the dissipation of the excess pore pressure This process is positively correlated with each other The buoyancy force increased rapidly in the beginning and tended to increase slowly in the following years

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Quan điểm thiết kế kết cấu hiện nay đối

với các dự án có tầng hầm được xây dựng

trong vùng đất bùn sét, chia làm 2 hướng:

Một là xem cao độ mực nước ngầm nằm bên

dưới lớp đất bùn sét, tức bỏ qua tác động của

áp lực nước đẩy nổi lên sàn hầm Quan điểm

này gây ra thiếu an toàn trong thiết kế, dẫn

đến thực tế đã xảy ra các sự cố nứt sàn hầm

do áp lực nước đẩy nổi làm phát sinh ứng

suất kéo ở thớ trên của sàn Hai là xem cao

độ mực nước ngầm nằm ngay tại mặt đất, tức

kể đến ảnh hưởng của áp lực lỗ rỗng lên sàn

hầm Quan điểm này quá thiên về an toàn

trong thiết kế, dẫn đến chi phí xây dựng tăng,

gây phí phạm

*

Bộ môn Địa cơ - Nền móng, khoa K Thuật Xây

Dựng, Trường Đại Học Bách Khoa - Đại Học Quốc

Gia Thành Phố Hồ Chí Minh

Email: lebavinh@hcmut.edu.vn

H B Seed, I M Idriss, and I Arango (1983)

đã nghiên cứu về tác động của hóa lỏng đến áp lực nước lỗ rỗng trong đất cát Theo đó, áp lực nước lỗ rỗng gia tăng đột ngột khi xảy ra hiện tượng hóa lỏng trong đất cát

Ji-wen Zhang et al (2019) đã đưa ra mô hình thí nghiệm trong phòng để khảo sát lực đẩy nổi tác động lên kết cấu ngầm trong điều kiện xuất hiện dòng chảy Kết quả nghiên cứu cho thấy lực đẩy nổi khi xuất hiện dòng chảy lớn hơn trường hợp nước tĩnh

Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện các phương pháp quan trắc thực nghiệm và phương pháp phần tử hữu hạn để xác định

áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét Mục đích là để phân tích kết quả của các phương pháp thực nghiệm với nhau cũng như so sánh với phương pháp phần tử hữu hạn (PLAXIS) Để từ đó khẳng định sự tồn tại

áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét tại

Trang 2

Quận 2, TP Hồ Chí Minh, làm cơ sở để có

phương án thiết kế kết cấu hợp lý cho sàn

hầm trong khu vực này

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ÁP LỰC

NƯỚC ĐẨY NỔI

2.1 Phương pháp Piezometer

Phương pháp quan trắc bằng đầu đo

Piezometer nhằm xác định trực tiếp áp lực đẩy

nổi của nước tự do trong lớp đất bùn sét tại vị trí

thí nghiệm

Hình 1: Đầu đo Piezometer (GK-4500S)

Đầu đo sử dụng một màng chắn áp lực

(diaphragm) gắn với một dây rung (vibrating

wire) Áp lực nước tác động vào mặt ngoài

của màng chắn này gây nên dịch chuyển của

tấm màng và làm thay đổi sức căng cũng

như tần số của dây rung Sự thay đổi này sẽ

được truyền đến đầu đọc để ghi nhận thông

tin Một lớp đá thấm được gắn vào đầu đầu

đo để chỉ cho phép dòng nước đi qua và

ngăn cản các hạt đất đi vào bên trong Khi

đầu đo được hạ xuống nước, áp lực nước sẽ

ép vào bộ lọc ở đầu đầu đo, nén không khí

trong không gian giữa đá lọc và màng ngăn

Sau một thời gian, không khí này sẽ hòa tan

vào nước, làm đầy bộ lọc và không gian bên

trên hoàn toàn bằng nước Do đó, để có được

kế quả chính xác, cần bảo hòa đầu đo trước

khi lắp đặt

Hình 2: Giếng quan trắc bằng phương pháp Piezometer

Hãng Geokon đưa ra công thức xác định áp lực nước đẩy nổi khi sử dụng thiết bị GK-4500S như sau:

P = G(R1-R0)+K(T1-T0), kPa (1) Trong đó:

G - hệ số hiệu chuẩn tuyến tính (Linear Gage Factor) của thiết bị trên 1 đơn vị đo tính bằng (kPa/digit);

K - hệ số điều chỉnh nhiệt độ (Thermal Factor) tính bằng kPa/0C;

R0 - số đọc ―Initial Zero Reading‖ được cung cấp trong giấy Certificate of Quality & Conformity bởi nhà sản xuất;

K0 - số đọc ―Initial Zero Temperature‖ được cung cấp trong giấy Certificate of Quality & Conformity bởi nhà sản xuất;

R1 - số đọc tần số trên đầu đọc GK – 404 tại thời điểm đo;

K1 - số đọc nhiệt độ trên đầu đọc GK – 404 tại thời điểm đo

2.2 Phương pháp Standpipe

Phương pháp quan trắc bằng giếng Standpipe nhằm xác định cao độ mực nước tự nhiên trong

Trang 3

đất bùn sét để từ đó xác định áp lực đẩy nổi

thông qua việc tính toán áp lực do độ chênh cột

nước gây ra thế năng thủy tĩnh

Hình 3: Thước đo mực nước ngầm

Yamayo WL50

Khoan, lắp đặt 01 giếng quan trắc SP2 có độ

sâu 9,5m Sử dụng thước đo mực nước ngầm

Yamayo WL50 - Nhật Bản, độ chia mặt thước

1cm, sử dụng đầu đo Stainless đường kính 19mm

Hình 4: Giếng quan trắc bằng

phương pháp Standpipe

Áp lực nước đẩy nổi trong trường hợp không

xuất hiện dòng chảy, xác định theo công thức:

P = w(hw – hz), kPa (2) Trong đó:

w - là trọng lượng riêng của nước (10kN/m3);

hw - là cao độ mực nước ngầm (m);

hz - là cao độ tại vị trí thí nghiệm (m);

2.3 Phương pháp phần tử hữu hạn

Phương pháp phần tử hữu hạn nhằm xác định

áp lực nước đẩy nổi thông qua mô phỏng tổng thể công trình, gồm nền đất và kết cấu bằng phần mềm PLAXIS PLAXIS sử dụng lý thuyết

―groundwater flow‖ làm nền tảng cho các công thức phần tử hữu hạn liên quan đến dòng chảy của nước trong đất Áp lực nước đẩy nổi được định nghĩa:

Pactive = Seff.Pwater (3)

Pwater = Psteady + Pexcess (4) Trong đó:

Psteady - là áp lực thủy tĩnh;

Pexcess - là áp lực thặng dư bị ảnh hưởng bởi

sự thay đổi ứng suất do gia tải hoặc dở tải, do sự thay đổi của điều kiện thủy lực cũng như quá trình cố kết

Seff – là độ bão hòa có hiệu trong mô hình Van Genuchten (1980)

3 XÁC ĐỊNH ÁP LỰC NƯỚC ĐẨY NỔI TRONG ĐẤT BÙN SÉT TẠI QUẬN 2,

TP HỒ CHÍ MINH

Công trình được sử dụng trong quan trắc tọa lạc tại phường An Lợi Đông, Quận 2, TP.HCM Quy mô xây dựng gồm 2 tầng hầm, 4 tầng lầu, tầng kỹ thuật và tầng mái Hoàn thành phần thô vào cuối năm 2015

Hình 1: Mặt bằng tổng thể hầm 2

Trang 4

Hình 2: Mặt cắt tổng thể công trình

Hình 3: Mặt cắt địa chất điển hình

Trong đó, lớp 1: Đất san lấp; lớp 2a: Bùn sét

màu xám xanh, xám đen, trạng thái chảy; lớp

2c: Cát pha sét màu xám xanh, trạng thái rời;

lớp 2b: Bùn sét xánh xanh, xám đen, trạng thái

chảy – dẻo chảy; lớp 4: Cát pha bụi sét màu

xám xanh, xám đen, trạng thái chặt vừa; lớp 5:

Sét dẻo cao màu nâu vàng, trạng thái cứng

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng

nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Cũng như các

tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời

tiết TP.HCM là nhiệt độ cao đều trong năm và

có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi

phối môi trường cảnh quan sâu sắc, đặc biệt là

mực nước dưới đất Mùa mưa từ tháng 5 đến

tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm

sau Do đó, để có đánh giá về áp lực nước trong

trường hợp bất lợi nhất, tác giả lựa chọn mùa

mưa để thực hiện công tác quan trắc

3.1 Xác định áp lực nước đẩy nổi bằng

phương pháp Piezometer

Căn cứ vào bản vẽ của công trình, tác giả lựa

chọn 04 vị trí đo áp lực nước lỗ rỗng tại đáy sàn

hầm 2 (cao độ -8,2m so với sàn Trệt) như sau:

Hình 4: Mặt bằng bố trí 04 vị trí quan trắc áp

lực nước đẩy nổi tại tầng hầm 2

Hình 5: Mặt cắt chi tiết giếng quan trắc

Piezometer

Thời gian quan trắc diễn ra vào mùa mưa từ tháng 09÷12/2019 Trích lượt kết quả quan trắc được trình bày trong bảng 1

Bảng 1: Trích lượt kết quả quan trắc theo phương pháp Piezometer

Vị trí

Thời gian quan trắc

Số đọc tần số (R1)

Số đọc nhiệt

độ (T1)

Áp lực nước lỗ rỗng P (kPa)

2 13-Sep 8354,4 27,2 43,4

4 13-Sep 8644,3 27,3 43,5

4 2-Oct 8651,3 27,2 42,4

2 7-Oct 8354 27 43,4

4 7-Oct 8644,6 26,9 43,4

1

4

Trang 5

Vị

trí

Thời

gian

quan

trắc

Số đọc tần số (R1)

Số đọc nhiệt

độ (T1)

Áp lực nước lỗ rỗng P (kPa)

1 9-Oct 8400,9 27,2 38,3

4 9-Oct 8680,1 27,1 38,0

1 12-Oct 8407,3 27,3 37,6

4 12-Oct 8685 27,2 37,2

3 21-Oct 8694,5 27,4 35,8

1 23-Oct 8442,2 27,1 33,8

3 23-Oct 8712,5 27,6 33,1

1 25-Oct 8445,9 27,2 33,4

3 25-Oct 8715,4 27,6 32,6

1 28-Oct 8450,5 27,2 32,9

3 28-Oct 8718,6 27,6 32,1

1 30-Oct 8393,2 27 39,1

3 30-Oct 8677,1 27,6 38,5

1 31-Oct 8391,1 26,9 39,4

3 31-Oct 8674,5 27,5 38,9

2 9-Nov 8453,1 27,3 32,6

3 9-Nov 8717,6 26,7 32,3

2 3-Dec 8370,2 26,5 41,7

3 3-Dec 8657,4 26,5 41,4

2 5-Dec 8369 26,6 41,8

3 5-Dec 8656,2 26,6 41,6

2 7-Dec 8368,1 26,7 41,9

3 7-Dec 8655,3 26,7 41,8

Hình 10: Áp lực nước đẩy nổi theo phương

pháp Piezometer tại cao độ thí nghiệm (-8,2m)

Kết luận: Với phương pháp Piezometer, áp lực nước đẩy nổi bên trong tường hầm có giá trị dao động từ 30,4 kPa đến 46,8 kPa, trung bình đạt 39.1kPa tại độ sâu thí nghiệm

3.2 Xác định áp lực nước đẩy nổi bằng phương pháp Standpipe

Tác giả lựa chọn vị trí trên mặt bằng xung quanh ranh tầng hầm để tiến hành quan trắc cao

độ mực nước ngầm bằng giếng Standpipe (SP2) Những vị trí này nằm gần 04 vị trí quan trắc áp lực đẩy nổi bằng đầu đo Piezometer

Hình 11: Mặt bằng bố trí giếng Standpipe

quan trắc mực nước ngầm

Sau khi quá trình lắp đặt giếng SP2 hoàn tất, tiến hành công tác xác định chênh cao giữa đỉnh ống và sàn tầng Trệt bằng phương pháp đo cao hình học từ giữa, sử dụng máy thủy bình đặt khoảng giữa 2 điểm, mia dựng tại 2 điểm Quy ước cao độ sàn Trệt là ±0.000m Chênh cao giữa đỉnh giếng SP2 với sàn Trệt là -0,300m

Thời gian quan trắc diễn ra vào mùa mưa từ tháng 10÷12/2019 Kết quả quan trắc được trình bày trong bảng 2

Bảng 2: Kết quả quan trắc theo phương pháp Standpipe

Thời gian quan trắc

Cao độ mực nước so với cao độ đỉnh giếng (m)

Áp lực nước tại cao độ thí nghiệm P (kPa)

Chu

kỳ

Trang 6

Thời

gian

quan

trắc

Cao độ mực

nước so với

cao độ đỉnh

giếng (m)

Áp lực nước tại cao độ thí nghiệm P (kPa)

Chu

kỳ

Hình 12: Cao độ mực nước ngầm theo chu kỳ

Hình 13: Áp lực nước đẩy nổi theo phương pháp Standpipe tại cao độ thí nghiệm (-8,2m)

Kết luận: Với phương pháp Standpipe, áp lực nước đẩy nổi bên ngoài tường hầm có giá trị dao động từ 49,8 kPa đến 53,0 kPa, trung bình đạt 50,7 kPa tại độ sâu thí nghiệm

3.3 Phân tích kết quả quan trắc của 02 phương pháp thực nghiệm

Xác định áp lực đẩy nổi bằng đầu đo Piezometer là phương pháp cho kết quả trực tiếp ngay tại vị trí thí nghiệm Xác định áp lực đẩy nổi bằng cao độ mực nước ngầm thông qua công tác quan trắc mực nước dưới đất sử dụng giếng Standpipe là phương pháp cho kết quả bán gián tiếp thông qua việc tính toán áp lực do độ chênh cột áp nước gây ra thế năng

h

Hình 14: Sơ đồ bố trí 02 phương pháp quan trắc áp lực nước tại hiện trường

Có thể thấy, giá trị áp lực nước đo được từ phương pháp Piezometer nhỏ hơn phương pháp

Trang 7

Standpipe Điều này được lý giải như sau:

Trong quá trình thi công phần ngầm, các giếng

bơm giữ vai trò hạ thấp cao độ mực nước ngầm,

phục vụ công tác đào đất và thi công kết cấu

tầng hầm Khi thi công xong, các giếng bơm

này sẽ ngừng hoạt động, nước được trả về trạng

thái tự nhiên, điều này gây ra sự chuyển dịch

nước tự do trong lỗ rỗng của đất từ nơi có áp lực

cao hơn (bên ngoài tường hầm) đến nơi có áp

lực thấp hơn (bên trong tường hầm), sự thấm

này kết thúc khi áp lực nước được trả về trạng

thái cân bằng Vì hệ số thấm trong lớp bùn sét là

rất nhỏ nên cần một khoảng thời gian rất dài cho

quá trình thấm xảy ra hoàn tất để đạt đến trạng

thái cân bằng áp lực nước lỗ rỗng bên trong và

ngoài tường hầm công trình

3.4 Xác định áp lực nước đẩy nổi bằng

phương pháp phần tử hữu hạn

Cao độ mực nước ngầm vào mùa mưa được

tác giả quan trắc từ tháng 10-12.2019 tại mục

3.2, giá trị trung bình là -2.000m so với mặt đất

tự nhiên

Áp lực nước đo được bằng phương pháp

Piezometer là áp lực nước tổng, nghĩa là tổng

của áp lực nước thủy tĩnh (Psteady) và áp lực

nước thặng dư (Pexcess) Theo công thức (3 và

(4) thì PLAXIS gọi áp lực này là Pactive Áp

lực nước thủy tĩnh xác định theo wh, áp lực

nước thặng dư xác định từ Kwv/n (v là

biến dạng thể tích)

Công trình được thi công hoàn tất vào cuối

năm 2015, do đó thời gian chạy bài toán cố kết

đến thời điểm hiện tại là 4 năm (1460 ngày) Trình

tự khai báo các Phase trong PLAXIS như sau:

Phase 1: Thi công cọc và tường vây (Plastic

analysic)

Phase 2: Hạ mực nước ngầm, đào đất và thi

công phần ngầm công trình (Plastic analysic)

Phase 3: Cố kết cho giai đoạn thi công phần

ngầm: 6 tháng (Consolidation analysic)

Phase 4: Trả nước về cao độ ban đầu, thi

công phần thân, cố kết 4 năm (Consolidation

analysic)

Bảng 3: Bảng thống số vật liệu sử dụng

trong PLAXIS

Hardening

Hardening

Hardening

Drained Undrained (A) Drained Undrained (A) Drained Undrained (A)

E oed

E ur

k x,y (m/day) 1 0.00126 0.108 0.001996 0.5996 0.000431

Lớp đất Thông số

Mô hình Ứng xử

Phân tích với PLAXIS 3D:

Hình 15: Mô phỏng trong PLAXIS 3D

Hình 16: Áp lực nước Pactive sau 4 năm

cố kết (bên ngoài tường hầm: 50 kPa, bên trong tường hầm trung bình đạt 44 kPa)

Trang 8

Phân tích với PLAXIS 2D:

Vì công trình sử dụng móng cọc, đáy đài và

sàn hầm đặt trong tầng đất bùn sét có sức chịu

tải rất nhỏ, nên có thể xem toàn bộ tải trọng

công trình truyền xuống cọc đi vào lớp đất tốt

bên dưới Do đó, về cơ bản có thể bỏ qua ảnh

hưởng của tải trọng công trình trong mô hình

PLAXIS 2D

Hình 17: Mô phỏng trong PLAXIS 2D

Xét mặt cắt A-A đi qua đáy sàn hầm 2, tại

cao độ -7.000m so với mặt đất tự nhiên

Hình 18: Áp lực nước Pexcess sau 4 năm

cố kết tại mặt cắt A-A

Như vậy, sau 4 năm cố kết, tồn tại áp lực

nước lỗ rỗng thặng dư (Pexcess) có chiều có

chiều ngược với áp lực thủy tĩnh (Psteady), cùng với đó cũng cho thấy có sự tương giao giữa độ gia tăng áp lực đẩy nổi và độ tiêu tán áp lực thặng dư theo thời gian Khi áp lực thặng dư

bị tiêu tán hết, áp lực đẩy nổi (Pactive) sẽ bằng

áp lực thủy tĩnh

Hình 19: Áp lực nước Pactive sau 4 năm cố kết tại mặt cắt A-A (bên ngoài tường hầm: 50 kPa, bên trong tường hầm trung bình đạt 41.45 kPa)

Kết luận: Với phương pháp phần tử hữu hạn, áp lực nước đẩy nổi bên trong tường hầm

có giá trị dao động từ 41.45 kPa (PLAXIS 2D) đến 44 kPa (PLAXIS 3D), bên ngoài tường hầm là 50 kPa

3.5 Nhận xét và thảo luận

Phương pháp xác định áp lực nước đẩy nổi bằng PLAXIS cho kết quả tương đối phù hợp với 02 phương pháp thực nghiệm (Piezometer

và Standpipe) Khi phân tích bằng phương pháp phần tử hữu hạn, có thể giải thích thêm cho sự khác biệt giữa kết quả của hai phương pháp thực nghiệm như sau: phương pháp Standpipe cho kết quả là áp lực thủy tĩnh (Psteady) Trong khi

Trang 9

đó phương pháp Piezometer là áp lực nước tổng

(Pactive), có xét đến giá trị thặng dư chưa được

tiêu tán hết tại thời điểm quan trắc (sau 4 năm)

Trình tự thi công phần ngầm, đặc biệt là quá

trình trả nước như đã phân tích ở trên, gây ra áp

lực nước thặng dư có chiều ngược với áp lực

thủy tĩnh Điều này đã được chứng minh thông

qua mô phỏng PLAXIS ở trên Vì vậy, áp lực

nước đo được từ phương pháp Piezometer có

phần nhỏ hơn phương pháp Standpipe vì áp lực

nước thặng dư tại thời điểm đo chưa được tiêu

tán hết

4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Phương pháp xác định áp lực nước đẩy nổi

bằng đầu đo Piezometer cho kết quả trực tiếp

ngay tại vị trí thí nghiệm, giá trị thu được là áp

lực nước tổng (bao gồm áp lực nước thủy tĩnh

và áp lực nước thặng dư) Phương pháp xác

định áp lực nước đẩy nổi bằng giếng Standpipe

cho kết quả bán gián tiếp thông qua việc tính

toán áp lực do độ chênh cột áp nước gây ra thế

năng thủy tĩnh h, giá trị thu được là áp lực

thủy tĩnh Phương pháp xác định áp lực nước

đẩy nổi bằng PLAXIS cho kết quả tương đối

phù hợp với 02 phương pháp thực nghiệm

(Piezometer và Standpipe)

Đối với các công trình có tầng hầm thi công

trong đất bùn sét, biện pháp thi công thường sử

dụng giếng bơm để hạ mực nước ngầm bên

trong hố đào nhằm phục vụ cho công tác đào

đất, sau khi thi công xong phần ngầm các giếng

bơm này sẽ ngừng hoạt động Khi ấy áp lực

nước đẩy nổi sẽ tăng trở lại Trong đất dính đặc

biệt là bùn sét, quá trình gia tăng áp lực nước

đẩy nổi cần một khoảng thời gian tương đối dài

Tính từ thời điểm bắt đầu trả nước (giếng

bơm ngừng hoạt động), áp lực nước đẩy nổi sẽ gia tăng theo thời gian, cùng với đó là sự tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng thặng dư Qúa trình này

có sự tương quan đồng biến với nhau Nói cách khác, quá trình trả nước hình thành chênh lệch

áp lực nước giữa trong và ngoài tường hầm gây

ra sự chuyển dịch nước tự do trong lỗ rỗng của đất từ nơi có áp lực cao hơn đến nới có áp lực thấp hơn, sự thấm này kết thúc khi áp lực nước trong và ngoài tường hầm được trả về trạng thái cân bằng

Tóm lại, thông qua các phương pháp thực nghiệm cũng như mô phỏng, khẳng định rằng tồn tại áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét tại khu vực Quận 2, TP Hồ Chí Minh Tác động của áp lực đẩy nổi đối với dầm sàn tầng hầm vô cùng nguy hiểm vì làm đổi thớ căng của moment, do đó phải được xét đến trong thiết kế kết cấu để tính toán bố trí cốt thép hợp lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Châu Ngọc Ẩn, ―Cơ học đất‖, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2016 [2] H B Seed, I M Idriss, and I Arango,

―Evaluation of liquefaction potential using feld performance data,‖ Journal of Geotechnical Engineering, 1983

[3] Ji-wen Zhang et al, ―Buoyancy Force Acting on Underground Structures considering Seepage of Confined Water‖, Hindawi, 2019 [4] Instruction Manual Model 4500 series Vabrating Wire Piezometer, Geokon, 2019 [5] PLAXIS 2D Reference Manual 2019 [6] PLAXIS 3D Reference Manual 2019

Người phản biện: PGS,TS ĐẬU VĂN NGỌ

Ngày đăng: 10/12/2020, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w