Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện các phương pháp quan trắc thực nghiệm và phương pháp phần tử hữu hạn để xác định áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét. Mục đích là để phân tích kết quả của các phương pháp thực nghiệm với nhau cũng như so sánh với phương pháp phần tử hữu hạn (PLAXIS). Để từ đó khẳng định sự tồn tại áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét tại Quận 2, TP. Hồ Chí Minh, làm cơ sở để có phương án thiết kế kết cấu hợp lý cho sàn hầm trong khu vực này.
Trang 1PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ÁP LỰC NƯỚC ĐẨY NỔI TRONG ĐẤT BÙN SÉT TẠI QUẬN 2, TP HỒ CHÍ MINH
LÊ BÁ VINH * HOÀNG LONG HẢI HOÀNG THẾ THAO
Analysis of methods to determine buoyancy pressure in soft soils in District 2, Ho Chi Minh City
Abstract: The East Saigon area, especially District 2, is currently a highly
developed area of the real estate market in Ho Chi Minh City in terms of both transport infrastructure and new residential areas However, according to many geotechnical investigations, the geological structure in District 2 has a thick layer of soft soil on average 15-30m The monitoring results using Piezometer and Standpipe method showed that there was buoyancy force in soft soil This observation data is consistent with the results of the analysis using a finite element method Research results show that from the start of water rebound, the buoyancy pressure will increase over time, along with the dissipation of the excess pore pressure This process is positively correlated with each other The buoyancy force increased rapidly in the beginning and tended to increase slowly in the following years
1 ĐẶT VẤN ĐỀ *
Quan điểm thiết kế kết cấu hiện nay đối
với các dự án có tầng hầm được xây dựng
trong vùng đất bùn sét, chia làm 2 hướng:
Một là xem cao độ mực nước ngầm nằm bên
dưới lớp đất bùn sét, tức bỏ qua tác động của
áp lực nước đẩy nổi lên sàn hầm Quan điểm
này gây ra thiếu an toàn trong thiết kế, dẫn
đến thực tế đã xảy ra các sự cố nứt sàn hầm
do áp lực nước đẩy nổi làm phát sinh ứng
suất kéo ở thớ trên của sàn Hai là xem cao
độ mực nước ngầm nằm ngay tại mặt đất, tức
kể đến ảnh hưởng của áp lực lỗ rỗng lên sàn
hầm Quan điểm này quá thiên về an toàn
trong thiết kế, dẫn đến chi phí xây dựng tăng,
gây phí phạm
*
Bộ môn Địa cơ - Nền móng, khoa K Thuật Xây
Dựng, Trường Đại Học Bách Khoa - Đại Học Quốc
Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Email: lebavinh@hcmut.edu.vn
H B Seed, I M Idriss, and I Arango (1983)
đã nghiên cứu về tác động của hóa lỏng đến áp lực nước lỗ rỗng trong đất cát Theo đó, áp lực nước lỗ rỗng gia tăng đột ngột khi xảy ra hiện tượng hóa lỏng trong đất cát
Ji-wen Zhang et al (2019) đã đưa ra mô hình thí nghiệm trong phòng để khảo sát lực đẩy nổi tác động lên kết cấu ngầm trong điều kiện xuất hiện dòng chảy Kết quả nghiên cứu cho thấy lực đẩy nổi khi xuất hiện dòng chảy lớn hơn trường hợp nước tĩnh
Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện các phương pháp quan trắc thực nghiệm và phương pháp phần tử hữu hạn để xác định
áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét Mục đích là để phân tích kết quả của các phương pháp thực nghiệm với nhau cũng như so sánh với phương pháp phần tử hữu hạn (PLAXIS) Để từ đó khẳng định sự tồn tại
áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét tại
Trang 2Quận 2, TP Hồ Chí Minh, làm cơ sở để có
phương án thiết kế kết cấu hợp lý cho sàn
hầm trong khu vực này
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC
PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ÁP LỰC
NƯỚC ĐẨY NỔI
2.1 Phương pháp Piezometer
Phương pháp quan trắc bằng đầu đo
Piezometer nhằm xác định trực tiếp áp lực đẩy
nổi của nước tự do trong lớp đất bùn sét tại vị trí
thí nghiệm
Hình 1: Đầu đo Piezometer (GK-4500S)
Đầu đo sử dụng một màng chắn áp lực
(diaphragm) gắn với một dây rung (vibrating
wire) Áp lực nước tác động vào mặt ngoài
của màng chắn này gây nên dịch chuyển của
tấm màng và làm thay đổi sức căng cũng
như tần số của dây rung Sự thay đổi này sẽ
được truyền đến đầu đọc để ghi nhận thông
tin Một lớp đá thấm được gắn vào đầu đầu
đo để chỉ cho phép dòng nước đi qua và
ngăn cản các hạt đất đi vào bên trong Khi
đầu đo được hạ xuống nước, áp lực nước sẽ
ép vào bộ lọc ở đầu đầu đo, nén không khí
trong không gian giữa đá lọc và màng ngăn
Sau một thời gian, không khí này sẽ hòa tan
vào nước, làm đầy bộ lọc và không gian bên
trên hoàn toàn bằng nước Do đó, để có được
kế quả chính xác, cần bảo hòa đầu đo trước
khi lắp đặt
Hình 2: Giếng quan trắc bằng phương pháp Piezometer
Hãng Geokon đưa ra công thức xác định áp lực nước đẩy nổi khi sử dụng thiết bị GK-4500S như sau:
P = G(R1-R0)+K(T1-T0), kPa (1) Trong đó:
G - hệ số hiệu chuẩn tuyến tính (Linear Gage Factor) của thiết bị trên 1 đơn vị đo tính bằng (kPa/digit);
K - hệ số điều chỉnh nhiệt độ (Thermal Factor) tính bằng kPa/0C;
R0 - số đọc ―Initial Zero Reading‖ được cung cấp trong giấy Certificate of Quality & Conformity bởi nhà sản xuất;
K0 - số đọc ―Initial Zero Temperature‖ được cung cấp trong giấy Certificate of Quality & Conformity bởi nhà sản xuất;
R1 - số đọc tần số trên đầu đọc GK – 404 tại thời điểm đo;
K1 - số đọc nhiệt độ trên đầu đọc GK – 404 tại thời điểm đo
2.2 Phương pháp Standpipe
Phương pháp quan trắc bằng giếng Standpipe nhằm xác định cao độ mực nước tự nhiên trong
Trang 3đất bùn sét để từ đó xác định áp lực đẩy nổi
thông qua việc tính toán áp lực do độ chênh cột
nước gây ra thế năng thủy tĩnh
Hình 3: Thước đo mực nước ngầm
Yamayo WL50
Khoan, lắp đặt 01 giếng quan trắc SP2 có độ
sâu 9,5m Sử dụng thước đo mực nước ngầm
Yamayo WL50 - Nhật Bản, độ chia mặt thước
1cm, sử dụng đầu đo Stainless đường kính 19mm
Hình 4: Giếng quan trắc bằng
phương pháp Standpipe
Áp lực nước đẩy nổi trong trường hợp không
xuất hiện dòng chảy, xác định theo công thức:
P = w(hw – hz), kPa (2) Trong đó:
w - là trọng lượng riêng của nước (10kN/m3);
hw - là cao độ mực nước ngầm (m);
hz - là cao độ tại vị trí thí nghiệm (m);
2.3 Phương pháp phần tử hữu hạn
Phương pháp phần tử hữu hạn nhằm xác định
áp lực nước đẩy nổi thông qua mô phỏng tổng thể công trình, gồm nền đất và kết cấu bằng phần mềm PLAXIS PLAXIS sử dụng lý thuyết
―groundwater flow‖ làm nền tảng cho các công thức phần tử hữu hạn liên quan đến dòng chảy của nước trong đất Áp lực nước đẩy nổi được định nghĩa:
Pactive = Seff.Pwater (3)
Pwater = Psteady + Pexcess (4) Trong đó:
Psteady - là áp lực thủy tĩnh;
Pexcess - là áp lực thặng dư bị ảnh hưởng bởi
sự thay đổi ứng suất do gia tải hoặc dở tải, do sự thay đổi của điều kiện thủy lực cũng như quá trình cố kết
Seff – là độ bão hòa có hiệu trong mô hình Van Genuchten (1980)
3 XÁC ĐỊNH ÁP LỰC NƯỚC ĐẨY NỔI TRONG ĐẤT BÙN SÉT TẠI QUẬN 2,
TP HỒ CHÍ MINH
Công trình được sử dụng trong quan trắc tọa lạc tại phường An Lợi Đông, Quận 2, TP.HCM Quy mô xây dựng gồm 2 tầng hầm, 4 tầng lầu, tầng kỹ thuật và tầng mái Hoàn thành phần thô vào cuối năm 2015
Hình 1: Mặt bằng tổng thể hầm 2
Trang 4Hình 2: Mặt cắt tổng thể công trình
Hình 3: Mặt cắt địa chất điển hình
Trong đó, lớp 1: Đất san lấp; lớp 2a: Bùn sét
màu xám xanh, xám đen, trạng thái chảy; lớp
2c: Cát pha sét màu xám xanh, trạng thái rời;
lớp 2b: Bùn sét xánh xanh, xám đen, trạng thái
chảy – dẻo chảy; lớp 4: Cát pha bụi sét màu
xám xanh, xám đen, trạng thái chặt vừa; lớp 5:
Sét dẻo cao màu nâu vàng, trạng thái cứng
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng
nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Cũng như các
tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời
tiết TP.HCM là nhiệt độ cao đều trong năm và
có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi
phối môi trường cảnh quan sâu sắc, đặc biệt là
mực nước dưới đất Mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau Do đó, để có đánh giá về áp lực nước trong
trường hợp bất lợi nhất, tác giả lựa chọn mùa
mưa để thực hiện công tác quan trắc
3.1 Xác định áp lực nước đẩy nổi bằng
phương pháp Piezometer
Căn cứ vào bản vẽ của công trình, tác giả lựa
chọn 04 vị trí đo áp lực nước lỗ rỗng tại đáy sàn
hầm 2 (cao độ -8,2m so với sàn Trệt) như sau:
Hình 4: Mặt bằng bố trí 04 vị trí quan trắc áp
lực nước đẩy nổi tại tầng hầm 2
Hình 5: Mặt cắt chi tiết giếng quan trắc
Piezometer
Thời gian quan trắc diễn ra vào mùa mưa từ tháng 09÷12/2019 Trích lượt kết quả quan trắc được trình bày trong bảng 1
Bảng 1: Trích lượt kết quả quan trắc theo phương pháp Piezometer
Vị trí
Thời gian quan trắc
Số đọc tần số (R1)
Số đọc nhiệt
độ (T1)
Áp lực nước lỗ rỗng P (kPa)
2 13-Sep 8354,4 27,2 43,4
4 13-Sep 8644,3 27,3 43,5
4 2-Oct 8651,3 27,2 42,4
2 7-Oct 8354 27 43,4
4 7-Oct 8644,6 26,9 43,4
1
4
Trang 5Vị
trí
Thời
gian
quan
trắc
Số đọc tần số (R1)
Số đọc nhiệt
độ (T1)
Áp lực nước lỗ rỗng P (kPa)
1 9-Oct 8400,9 27,2 38,3
4 9-Oct 8680,1 27,1 38,0
1 12-Oct 8407,3 27,3 37,6
4 12-Oct 8685 27,2 37,2
3 21-Oct 8694,5 27,4 35,8
1 23-Oct 8442,2 27,1 33,8
3 23-Oct 8712,5 27,6 33,1
1 25-Oct 8445,9 27,2 33,4
3 25-Oct 8715,4 27,6 32,6
1 28-Oct 8450,5 27,2 32,9
3 28-Oct 8718,6 27,6 32,1
1 30-Oct 8393,2 27 39,1
3 30-Oct 8677,1 27,6 38,5
1 31-Oct 8391,1 26,9 39,4
3 31-Oct 8674,5 27,5 38,9
2 9-Nov 8453,1 27,3 32,6
3 9-Nov 8717,6 26,7 32,3
2 3-Dec 8370,2 26,5 41,7
3 3-Dec 8657,4 26,5 41,4
2 5-Dec 8369 26,6 41,8
3 5-Dec 8656,2 26,6 41,6
2 7-Dec 8368,1 26,7 41,9
3 7-Dec 8655,3 26,7 41,8
Hình 10: Áp lực nước đẩy nổi theo phương
pháp Piezometer tại cao độ thí nghiệm (-8,2m)
Kết luận: Với phương pháp Piezometer, áp lực nước đẩy nổi bên trong tường hầm có giá trị dao động từ 30,4 kPa đến 46,8 kPa, trung bình đạt 39.1kPa tại độ sâu thí nghiệm
3.2 Xác định áp lực nước đẩy nổi bằng phương pháp Standpipe
Tác giả lựa chọn vị trí trên mặt bằng xung quanh ranh tầng hầm để tiến hành quan trắc cao
độ mực nước ngầm bằng giếng Standpipe (SP2) Những vị trí này nằm gần 04 vị trí quan trắc áp lực đẩy nổi bằng đầu đo Piezometer
Hình 11: Mặt bằng bố trí giếng Standpipe
quan trắc mực nước ngầm
Sau khi quá trình lắp đặt giếng SP2 hoàn tất, tiến hành công tác xác định chênh cao giữa đỉnh ống và sàn tầng Trệt bằng phương pháp đo cao hình học từ giữa, sử dụng máy thủy bình đặt khoảng giữa 2 điểm, mia dựng tại 2 điểm Quy ước cao độ sàn Trệt là ±0.000m Chênh cao giữa đỉnh giếng SP2 với sàn Trệt là -0,300m
Thời gian quan trắc diễn ra vào mùa mưa từ tháng 10÷12/2019 Kết quả quan trắc được trình bày trong bảng 2
Bảng 2: Kết quả quan trắc theo phương pháp Standpipe
Thời gian quan trắc
Cao độ mực nước so với cao độ đỉnh giếng (m)
Áp lực nước tại cao độ thí nghiệm P (kPa)
Chu
kỳ
Trang 6Thời
gian
quan
trắc
Cao độ mực
nước so với
cao độ đỉnh
giếng (m)
Áp lực nước tại cao độ thí nghiệm P (kPa)
Chu
kỳ
Hình 12: Cao độ mực nước ngầm theo chu kỳ
Hình 13: Áp lực nước đẩy nổi theo phương pháp Standpipe tại cao độ thí nghiệm (-8,2m)
Kết luận: Với phương pháp Standpipe, áp lực nước đẩy nổi bên ngoài tường hầm có giá trị dao động từ 49,8 kPa đến 53,0 kPa, trung bình đạt 50,7 kPa tại độ sâu thí nghiệm
3.3 Phân tích kết quả quan trắc của 02 phương pháp thực nghiệm
Xác định áp lực đẩy nổi bằng đầu đo Piezometer là phương pháp cho kết quả trực tiếp ngay tại vị trí thí nghiệm Xác định áp lực đẩy nổi bằng cao độ mực nước ngầm thông qua công tác quan trắc mực nước dưới đất sử dụng giếng Standpipe là phương pháp cho kết quả bán gián tiếp thông qua việc tính toán áp lực do độ chênh cột áp nước gây ra thế năng
h
Hình 14: Sơ đồ bố trí 02 phương pháp quan trắc áp lực nước tại hiện trường
Có thể thấy, giá trị áp lực nước đo được từ phương pháp Piezometer nhỏ hơn phương pháp
Trang 7Standpipe Điều này được lý giải như sau:
Trong quá trình thi công phần ngầm, các giếng
bơm giữ vai trò hạ thấp cao độ mực nước ngầm,
phục vụ công tác đào đất và thi công kết cấu
tầng hầm Khi thi công xong, các giếng bơm
này sẽ ngừng hoạt động, nước được trả về trạng
thái tự nhiên, điều này gây ra sự chuyển dịch
nước tự do trong lỗ rỗng của đất từ nơi có áp lực
cao hơn (bên ngoài tường hầm) đến nơi có áp
lực thấp hơn (bên trong tường hầm), sự thấm
này kết thúc khi áp lực nước được trả về trạng
thái cân bằng Vì hệ số thấm trong lớp bùn sét là
rất nhỏ nên cần một khoảng thời gian rất dài cho
quá trình thấm xảy ra hoàn tất để đạt đến trạng
thái cân bằng áp lực nước lỗ rỗng bên trong và
ngoài tường hầm công trình
3.4 Xác định áp lực nước đẩy nổi bằng
phương pháp phần tử hữu hạn
Cao độ mực nước ngầm vào mùa mưa được
tác giả quan trắc từ tháng 10-12.2019 tại mục
3.2, giá trị trung bình là -2.000m so với mặt đất
tự nhiên
Áp lực nước đo được bằng phương pháp
Piezometer là áp lực nước tổng, nghĩa là tổng
của áp lực nước thủy tĩnh (Psteady) và áp lực
nước thặng dư (Pexcess) Theo công thức (3 và
(4) thì PLAXIS gọi áp lực này là Pactive Áp
lực nước thủy tĩnh xác định theo wh, áp lực
nước thặng dư xác định từ Kwv/n (v là
biến dạng thể tích)
Công trình được thi công hoàn tất vào cuối
năm 2015, do đó thời gian chạy bài toán cố kết
đến thời điểm hiện tại là 4 năm (1460 ngày) Trình
tự khai báo các Phase trong PLAXIS như sau:
Phase 1: Thi công cọc và tường vây (Plastic
analysic)
Phase 2: Hạ mực nước ngầm, đào đất và thi
công phần ngầm công trình (Plastic analysic)
Phase 3: Cố kết cho giai đoạn thi công phần
ngầm: 6 tháng (Consolidation analysic)
Phase 4: Trả nước về cao độ ban đầu, thi
công phần thân, cố kết 4 năm (Consolidation
analysic)
Bảng 3: Bảng thống số vật liệu sử dụng
trong PLAXIS
Hardening
Hardening
Hardening
Drained Undrained (A) Drained Undrained (A) Drained Undrained (A)
E oed
E ur
k x,y (m/day) 1 0.00126 0.108 0.001996 0.5996 0.000431
Lớp đất Thông số
Mô hình Ứng xử
Phân tích với PLAXIS 3D:
Hình 15: Mô phỏng trong PLAXIS 3D
Hình 16: Áp lực nước Pactive sau 4 năm
cố kết (bên ngoài tường hầm: 50 kPa, bên trong tường hầm trung bình đạt 44 kPa)
Trang 8Phân tích với PLAXIS 2D:
Vì công trình sử dụng móng cọc, đáy đài và
sàn hầm đặt trong tầng đất bùn sét có sức chịu
tải rất nhỏ, nên có thể xem toàn bộ tải trọng
công trình truyền xuống cọc đi vào lớp đất tốt
bên dưới Do đó, về cơ bản có thể bỏ qua ảnh
hưởng của tải trọng công trình trong mô hình
PLAXIS 2D
Hình 17: Mô phỏng trong PLAXIS 2D
Xét mặt cắt A-A đi qua đáy sàn hầm 2, tại
cao độ -7.000m so với mặt đất tự nhiên
Hình 18: Áp lực nước Pexcess sau 4 năm
cố kết tại mặt cắt A-A
Như vậy, sau 4 năm cố kết, tồn tại áp lực
nước lỗ rỗng thặng dư (Pexcess) có chiều có
chiều ngược với áp lực thủy tĩnh (Psteady), cùng với đó cũng cho thấy có sự tương giao giữa độ gia tăng áp lực đẩy nổi và độ tiêu tán áp lực thặng dư theo thời gian Khi áp lực thặng dư
bị tiêu tán hết, áp lực đẩy nổi (Pactive) sẽ bằng
áp lực thủy tĩnh
Hình 19: Áp lực nước Pactive sau 4 năm cố kết tại mặt cắt A-A (bên ngoài tường hầm: 50 kPa, bên trong tường hầm trung bình đạt 41.45 kPa)
Kết luận: Với phương pháp phần tử hữu hạn, áp lực nước đẩy nổi bên trong tường hầm
có giá trị dao động từ 41.45 kPa (PLAXIS 2D) đến 44 kPa (PLAXIS 3D), bên ngoài tường hầm là 50 kPa
3.5 Nhận xét và thảo luận
Phương pháp xác định áp lực nước đẩy nổi bằng PLAXIS cho kết quả tương đối phù hợp với 02 phương pháp thực nghiệm (Piezometer
và Standpipe) Khi phân tích bằng phương pháp phần tử hữu hạn, có thể giải thích thêm cho sự khác biệt giữa kết quả của hai phương pháp thực nghiệm như sau: phương pháp Standpipe cho kết quả là áp lực thủy tĩnh (Psteady) Trong khi
Trang 9đó phương pháp Piezometer là áp lực nước tổng
(Pactive), có xét đến giá trị thặng dư chưa được
tiêu tán hết tại thời điểm quan trắc (sau 4 năm)
Trình tự thi công phần ngầm, đặc biệt là quá
trình trả nước như đã phân tích ở trên, gây ra áp
lực nước thặng dư có chiều ngược với áp lực
thủy tĩnh Điều này đã được chứng minh thông
qua mô phỏng PLAXIS ở trên Vì vậy, áp lực
nước đo được từ phương pháp Piezometer có
phần nhỏ hơn phương pháp Standpipe vì áp lực
nước thặng dư tại thời điểm đo chưa được tiêu
tán hết
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Phương pháp xác định áp lực nước đẩy nổi
bằng đầu đo Piezometer cho kết quả trực tiếp
ngay tại vị trí thí nghiệm, giá trị thu được là áp
lực nước tổng (bao gồm áp lực nước thủy tĩnh
và áp lực nước thặng dư) Phương pháp xác
định áp lực nước đẩy nổi bằng giếng Standpipe
cho kết quả bán gián tiếp thông qua việc tính
toán áp lực do độ chênh cột áp nước gây ra thế
năng thủy tĩnh h, giá trị thu được là áp lực
thủy tĩnh Phương pháp xác định áp lực nước
đẩy nổi bằng PLAXIS cho kết quả tương đối
phù hợp với 02 phương pháp thực nghiệm
(Piezometer và Standpipe)
Đối với các công trình có tầng hầm thi công
trong đất bùn sét, biện pháp thi công thường sử
dụng giếng bơm để hạ mực nước ngầm bên
trong hố đào nhằm phục vụ cho công tác đào
đất, sau khi thi công xong phần ngầm các giếng
bơm này sẽ ngừng hoạt động Khi ấy áp lực
nước đẩy nổi sẽ tăng trở lại Trong đất dính đặc
biệt là bùn sét, quá trình gia tăng áp lực nước
đẩy nổi cần một khoảng thời gian tương đối dài
Tính từ thời điểm bắt đầu trả nước (giếng
bơm ngừng hoạt động), áp lực nước đẩy nổi sẽ gia tăng theo thời gian, cùng với đó là sự tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng thặng dư Qúa trình này
có sự tương quan đồng biến với nhau Nói cách khác, quá trình trả nước hình thành chênh lệch
áp lực nước giữa trong và ngoài tường hầm gây
ra sự chuyển dịch nước tự do trong lỗ rỗng của đất từ nơi có áp lực cao hơn đến nới có áp lực thấp hơn, sự thấm này kết thúc khi áp lực nước trong và ngoài tường hầm được trả về trạng thái cân bằng
Tóm lại, thông qua các phương pháp thực nghiệm cũng như mô phỏng, khẳng định rằng tồn tại áp lực nước đẩy nổi trong đất bùn sét tại khu vực Quận 2, TP Hồ Chí Minh Tác động của áp lực đẩy nổi đối với dầm sàn tầng hầm vô cùng nguy hiểm vì làm đổi thớ căng của moment, do đó phải được xét đến trong thiết kế kết cấu để tính toán bố trí cốt thép hợp lý
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Châu Ngọc Ẩn, ―Cơ học đất‖, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2016 [2] H B Seed, I M Idriss, and I Arango,
―Evaluation of liquefaction potential using feld performance data,‖ Journal of Geotechnical Engineering, 1983
[3] Ji-wen Zhang et al, ―Buoyancy Force Acting on Underground Structures considering Seepage of Confined Water‖, Hindawi, 2019 [4] Instruction Manual Model 4500 series Vabrating Wire Piezometer, Geokon, 2019 [5] PLAXIS 2D Reference Manual 2019 [6] PLAXIS 3D Reference Manual 2019
Người phản biện: PGS,TS ĐẬU VĂN NGỌ