1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) báo chí với việc tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên khảo sát trên các báo sức khỏe và đời sống, gia đình và xã hộivà phụ nữ việt nam

147 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 45,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu không được thông tin chính xác, đầy đủ về nhũng vấn đề liên quan đến sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục sẽ là nguyên nhân cơ bản dẫn tới những hậu quả đáng tiếc đối với sức khoẻ củ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯÒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ■ ■ ■ ■

Trần Thanh Huyền

SỨ C KHOẺ SIN H SẢN VỊ THÀNH NIÊN

(Khảo sát trên các báo “Sức klioe' và Đời sông ”, "Gia đình và Xã hội ” và

“Phụ nữ Việt Nam ” trong ba năm 2002- 2004)

C h u y ê n n g à n h : B á o c h í h ọ c

M ã số : 5 0 4 3 0 _ _

Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G IA H À N Ộ I TRUNG TÂM T H Ô N G TIN THƯ VIỆN

LUẬN VĂN THẠC S Ỹ KHOA HỌC BÁO CHÍ

NGƯÒI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Duơng Xuân Sơn

Trang 2

Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Báo chí Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân vãn- Đại học Quốc gia Hà Nội

về lòng nhiệt tình truyền thụ tri thức của các Thầy, Cô cho chúng em trong những năm qua

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Dương Xuân Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn này

Xin cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm góp ý và động viên người viết Luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2005

Trần Thanh Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nơhiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong Luận vãn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

lế ic ỷ v A Líxáị*

Trần Thanh Huyền

Trang 4

M Ụ C L Ụ C

Trang

SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN ỏ NƯỚC TA- THỰC TRẠNG VÀ VẤN

ĐỂ

dục sức khoẻ sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên

VẤN ĐỂ TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC s ứ c KHOẺ SINH SẢN CHO VỊ THÀNH

NIÊN TRÊN BÁO CHÍ NƯỚC TA HIỆN NAY

khảo sát trên ba tờ báo “Gia đình và Xã hội”, “Sức khoẻ và Đòi sống”

và “Phụ nữ Việt Nam”

Trang 5

2.1.2 Kết quả khảo sát trên ba tờ báo 41

trên các tờ báo

thông tin, tuyên truyền của báo chí qua phiếu điều tra xã hội học

89

CHƯƠNG BA

M Ộ T S Ố N H Ậ N X É T , Đ Á N H G I Á Q U A K H Ả O S Á T V Ể T Ì N H H ÌN H T U Y Ê N

T R U Y Ề N , G I Á O D Ụ C sức K H O Ẻ S I N H S Ả N V Ị T H À N H N IÊ N T R Ê N B Á O C H Í

khoẻ sinh sản vị thành niên trên báo chí

sức khoẻ sinh sản cho tuổi vị thành niên trên báo chí

KẾT LUÂN

T Ả I L Ĩ Ẻ U T H A M K H Ả O

P H U L U C

Trang 7

Vị thành niên và thanh niên trẻ ở nước ta là một lực lượng xã hội to lớn, chiếm khoảng 1/3 dân số Nếu không được thông tin chính xác, đầy đủ về nhũng vấn đề liên quan đến sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục sẽ là nguyên nhân cơ bản dẫn tới những hậu quả đáng tiếc đối với sức khoẻ của các em và ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toàn xã hội Chính vì vậy, giáo dục sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên, thanh niên trẻ là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cần được các cấp, các ngành quan tâm Trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, sự phối hợp thực hiện của các ban ngành đoàn thể trong toàn xã hội, công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên đã có những kết quả Một trong những biện pháp được đánh giá cao trong công tác tuyên truyền, giáo dục, thông tin kiến thức nhanh, sâu rộng đến đông đảo vị thành niên trong cả nước là sự đóng góp rất tích cực của hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng.

1 L ịch sử nghiên cứu đề tài:

Trong những năm gần đây, nhiều cơ quan, ban ngành, các tổ chức đoàn thể

xã hội, các tổ chức phi chính phủ đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến sức khoẻ sinh sản vị thành niên Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này mới chỉ phản ánh được một phần trong nội dung sức khoẻ sinh sản Các vấn đề chính

Trang 8

đã được nghiên cứu là: Nghiên cứu về mại dâm, tình dục và phá thai trước hôn nhân; hiểu biết của vị thành niên về các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; giáo dục giới tính, tình bạn, tình yêu cho vị thành niên trong và ngoài nhà trường; nhu cầu tiếp nhận thông tin của vị thành niên về vấn đề sức khoẻ sinh sản; các kênh truyền thông về sức khoẻ sinh sản cho

vị thành niên; hiểu biết của vị thành niên về các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản- kế hoạch hoá gia đình Sau đây, chúng tôi xin điểm lại một số công trình nghiên cứu chủ yếu và những phát hiện quan trọng được rút ra:

Năm 1991, Tổ chức Care International đã tiến hành nghiên cứu về gái mại dâm và khách làng chơi và đã đưa ra những phát hiện về thói quen sử dụng biện pháp tránh thai của hai đối tượng này cũng như kiến thức của họ về HIV/AIDS.Các năm 1992- 1993, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu về phá thai của nữ thanh niên chưa có gia đình với 696 mẫu nhằm tìm hiểu những yếu tố liên quan đến phá thai trước hôn nhân trong thanh niên ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Hưng Vai trò của ba yếu tố chủ đạo là gia đình, nhà trường và bản thân đã được chú ý trong nghiên cứu này Kết quả phân tích cho thấy hầu hết các đối tượng điều tra có hoàn cảnh gia đình bình thường, không ảnh hưởng tiêu cực đến đối tượng, nhưng hầu hết họ chưa được giáo dục một cách đầy đủ, trước hết là từ phía gia đình Đại đa số những người thuộc diện nghiên cứu đã từng hoặc đang đi học nhưng đối với họ nhà trường không phải là nơi trang bị những kiến thức cần thiết về quan hệ giới tính và tình dục Họ thường xuyên chịu tác động tiêu cực từ các nguồn thông tin khác như sách, báo, phim ảnh có nội dung không lành mạnh Sự thiếu hụt kiến thức về tình dục, thiếu hiểu biết về quan hệ giới tính của bản thân các đối tượng được coi là yếu tố chủ yếu dẫn đến hậu quả có thai ngoài ý muốn

Năm 1996, Khuất Thu Hồng trong nghiên cứu của mình về vấn đề tình dục

và phá thai trước hôn nhân của nữ thanh niên trên địa bàn Hà Nội, cũng đã nghiên cứu trên 259 khách thể là phụ nữ phá thai trước hôn nhân, trong đó có hơn

Trang 9

90% các cô gái ở độ tuổi từ 15- 24, số người từ 18 tuổi trở xuống chiếm 14%, số

còn lại, phần lớn trong độ tuổi từ 25- 29 Mục đích của nghiên cứu nhằm tìm hiểu đánh giá kiến thức của nữ thanh niên về sức khoẻ sinh sản và các biện pháp tránh thai; đánh giá kinh nghiệm của nữ thanh niên về tình dục và sử dụng các biện pháp tránh thai; tìm hiểu mối quan hệ giữa sự gia tăng quan hệ tình dục và phá thai trước hôn nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy, bước vào hoạt động tình dục trước hôn nhân không phải là một hành vi cá biệt Các cô gái một khi đã có quan hệ tình dục thì đều tiếp tục một cách không đều đặn Các cô gái này hiểu biết rất kém về quan hệ tình dục, các biện pháp tránh thai và họ cho rằng biện pháp mà họ và bạn trai của họ coi là tốt nhất chính là phá thai Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có tới gần 50% trong sô' ý kiến được hỏi trả lời rằng không có

ai trao đổi với họ về chủ đề tình dục Trong số 50% còn lại, hai phần ba tiếp nhận thông tin từ bạn gái, 40% từ người yêu và 33% từ gia đình Trong tổng số mẫu, hơn 85% cô gái được hỏi ý kiến cho rằng không bao giờ nói về chủ đề tình dục

đều cảm thấy rằng họ có thể tránh thai và tránh được phá thai nếu họ được thông tin tốt hơn Họ đồng ý với việc cần giáo dục giới tính nhiều hơn nữa

Năm 1998, trường Đại học Y Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu sức khoẻ sinh sản vị thành niên, trọng tâm trong đó là vấn đề phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt của trẻ vị thành niên Mục tiêu nghiên cứu là: mô tả tình hình phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt của trẻ vị thành niên tại một số cơ sở dịch vụ kế hoạch hoá gia đình; Phân tích kiến thức, thái độ và hành vi của trẻ vị thành niên về sức khoẻ sinh sản mà cụ thể là về phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt, biện pháp tránh thai; Tìm hiểu nhu cầu giáo dục tình dục cho đối tượng là trẻ VTN Nghiên cứu được tiến hành tại Quảng Ninh và Thái Bình với cỡ mẫu là 593 người Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trẻ VTN có quan hệ tình dục dẫn đến có thai phải đi phá thai chiếm tỷ lệ 2,13% trong số những người đi phá thai Tỷ lệ này tại Hạ Long- Quảng Ninh là 2,48% Theo nhận định của nhân viên y tế thì con số này là

Trang 10

cao hơn so với các năm trước Trẻ VTN đến phá thai tại các cơ sở y tế tư nhân cũng chiếm một tỷ lệ nhất định và số các em phải đi xa nhà, xa địa phương mình đang ở để phá thai chiếm 43,44%.

Do phải giấu giếm nên tỷ lệ phá thai to ở trẻ VTN là chiếm đa số (34,78%) Một nguyên nhân nữa dẫn đến việc phá thai khi thai đã to là do hiểu biết của các

em về thai nghén còn rất hạn chế Cũng có những em phát hiện được thai sớm nhưng đấy là những em đi phá thai trên 2 lần Đi phá như vậy nhưng hậu quả của phá thai thì các em chỉ biết sơ qua, mà không lo lắng gì cho sau này và có chăng thì cũng chỉ lo sau này không lấy được chồng, sau này khó có con và mọi người biết

Có thai phải đi giải quyết hậu quả, vậy khi quan hệ tình dục các em có để ý đến biện pháp tránh thai hay không? Tỷ lệ các em biết đến các biện pháp tránh thai chiếm 65,58%, trong đó: các biện pháp tránh thai hiện đại như: bao cao su chiếm 70,37%, vòng tránh thai chiếm 37,03%; các biện pháp tránh thai cổ truyền như: xuất tinh ngoài âm đạo chiếm 25,92%, tính vòng kinh chiếm 7,4% Việc áp dụng các biện pháp tránh thai khi có quan hệ tình dục chiến 33,33% và áp dụng biện pháp tránh thai cổ truyền như tính vòng kinh và xuất tinh ngoài âm đạo là chủ yếu Tỷ lệ trẻ VTN biết ngày dễ có thai nhất trong vòng kinh chiếm 20% Nguyên nhân của việc không sử dụng các biện pháp tránh thai là do đối tượng mà các em quan hệ tình dục chủ yếu là người yêu (chiếm 70,73%), đa số các em cho rằng khi yêu, quan hệ tình dục là chuyện đương nhiên, tin tưởng là sẽ lấy nhau dù không đặt vấn đề cưới Đặc biệt, tại Hạ Long, nhiều em làm trong các nhà hàng

đã có quan hệ với những đối tượng không đồng ý dùng các biện pháp tránh thai Đây là một vấn đề nhức nhối của xã hội

Năm 1999, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội cũng đã ban hành hai cuốn sách “Tinh yêu của chúng em không giới hạn” của TS.Tine Gammeltoft và TS Nguyễn Minh Thắng và đến năm 2001, Nhà xuất bản Thanh niên cũng lại cho ra

Trang 11

tập hợp những câu hỏi, những tình huống mà trẻ VTN mắc phải thuộc nội dung sức khoẻ sinh sản do các chuyên gia tâm lý, các bác sĩ tư vấn về tình bạn, tình yêu biên soạn Trong số rất nhiều tình huống ấy có rất nhiều những câu hỏi, băn khoăn của các em thể hiện một sự thiếu hụt cơ bản về những kiến thức tình yêu, tình dục an to àn

Qua các công trình của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đã cho thấy sự quan tâm của các cấp, các ngành tới việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho lứa tuổi

vị thành niên Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên vẫn được coi là vấn đề mới và chưa có một luận án thạc sĩ báo chí nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về lĩnh vực này Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này với mục đích đi sâu khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động báo chí nhũng năm gần đây, qua đó đưa ra nhận xét, đánh giá và đem lại một cái nhìn tổng thể về tình hình và những đóng góp của báo chí trong việc tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên

2 T ính cấp th iết của đề tài

Sức khoẻ sinh sản vị thành niên đang là vấn đề quan tâm ở tất cả các quốc gia trên thế giới Thời kỳ VTN là một giai đoạn có nhiều biến đổi và có tính chất quyết định trong việc hình thành nhân cách con người Vị thành niên bắt đầu trưởng thành về cơ thể, tâm lý, tình cảm và tinh thần; các em bắt đầu có thắc mắc

về những thay đổi xảy ra trong cơ thể mình Trong khi đó, các em thường không dám hỏi thẳng người lớn mà chỉ cảm thấy thoải mái khi nói chuyện với bạn bè Tuy nhiên, vấn đề ở đây là bạn bè không phải lúc nào cũng cung cấp được thông tin đúng đắn

Những vấn để mà VTN ngày nay gặp phải ngày càng nhiều là: nạn bỏ học,

tệ nạn ma tuý, các vấn đề về sức khoẻ tình dục và sức khoẻ sinh sản, như có thai

ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nạo phá thai, bị các bệnh lây qua đường tình dục và nhất là dễ lây nhiễm HIV/AIDS Vị thành niên nước ta chiếm trên 30% dán số cả

Trang 12

nước, sẽ là nguồn nhân lực lao động trong tương lai trong khi đó “các dịch vụ về sức khoẻ sinh sản đều bỏ qua nhu cầu của nhóm người ở tuổi vị thành niên Xã hội cần đáp ứng nhu cầu này bằng cách cung cấp thông tin giúp họ đạt đến sự chín chắn cần thiết để họ có thể quyết định đúng đắn và có trách nhiệm Đặc biệt, phải giúp họ hiểu biết về bản năng tình dục của mình và tăng cường khả năng tự bảo vệ, tránh những nguy cơ như mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (nhất là HIV/AIDS), nạo phá thai, sinh con sớm, vô sin h ” Trên thực tế, số đối tượng vị thành niên của nước ta có xu hướng ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tình dục không được bảo vệ và thiếu trách nhiệm, dẫn tới nạo phá thai lén lút và không an toàn, các căn bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn, làm mẹ sớm, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở bà mẹ và trẻ em sơ sinh cao Chính vì những lý do đó, việc tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ sinh sản đối với trẻ VTN cũng là một trong những chương trình hành động trọng điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

3 M ụ c đ ích và n h iệm vụ củ a luận án.

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn đem lại một cái nhìn tổng thể

về tình hình giáo dục, tuyên truyền sức khoẻ sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên trên báo chí Luận văn cũng bao gồm những thông tin về thực trạng hiểu biết của

vị thành niên về những vấn đề liên quan đến sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục Những con số, những câu chuyện, tình huống được thu thập từ trên báo chí

sẽ là những minh chứng sinh động cho thực trạng này để đóng góp nhũng ý kiến cho những nhà hoạch định chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho chương trình giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên ở trong các nhà trường và ngoài xã hội Đặc biệt, sau quá trình tìm tòi, thu thập tài liệu, nghiên cứu sẽ là những kinh nghiệm, những bài học quý giá trong hoạt động nghề nghiệp của bản thân sau này

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ:

Trang 13

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của sức khoẻ sinh sản và chăm sóc sức khoẻ sinh sản, trong đó đặc biệt quan tâm tới những vấn đề có ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

- Tổng kết, nghiên cức các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các

cơ quan, ban ngành, đoàn thể đối với công tác chăm sóc, giáo dục, tuyên truyền

về sức khoẻ sinh sản vị thành niên

- Thu thập tài liệu gồm những bài viết của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các nhà báo được đăng trên các báo “Sức khoẻ và Đời sống”, “Gia đình và

Xã hội” và “Phụ nữ Việt nam” trong ba năm 2002- 2004 Từ đó sẽ đi vào phân tích và tìm ra nguyên nhân, giải pháp đóng góp cho việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên trên báo chí hiện nay

4 Đối tượng và p h ạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, ban ngành đoàn thể quan tâm tới vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên; các bài báo được đăng tải trên báo chí

Phạm vi nghiên cứu là các bài báo liên quan đến vấn đề sức khoẻ sinh sản

vị thành niên trên các báo “Sức khoẻ và Đời sống”, “Gia đình và Xã hội” và “Phụ

nữ Việt nam ” trong ba năm 2002- 2004

5 P h ư ơ n g p h áp n gh iên cứu.

- Dựa trên những khái niệm, những luận điểm, luận cứ về sức khoẻ sinh sản

và nguyên tắc hoạt động của báo chí xã hội chủ nghĩa

- Sử dụng Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, các thao tác suy luận diễn dịch kết hợp với quy nạp

6 Đ ó n g g ó p m ới củ a lu ậ n văn

- Khảo sát đầy đủ, toàn diện, có hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các thông tin, hiểu biết về sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Trang 14

- Khảo sát, phân tích các bài báo trên các báo về vấn đề sức khoẻ sinh sản

vị thành niên

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự quan tâm hơn nữa của các nhà hoạch định chính sách trong việc tạo môi trường thuận lợi cho việc giáo dục toàn diện cho lứa tuổi vị thành niên

7 Ý n g h ĩa thự c tiễn củ a lu ận văn

Kết quả khảo sát của đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo chính xác, có hệ thống, đầy đủ cho các bạn sinh viên và những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Luận văn cũng có thể dùng làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia nghiên cứu về thực trạng và vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên hiện nay

Chương H ai: V ấn đề tu yên tru y ền , giáo d ục sức k h oẻ sin h sản cho vị

th àn h n iên trên b áo ch í nước ta h iện nay.

Chương Ba: M ộ t sô n h ận xét, đ án h g iá q u a k h ảo sát về tìn h h ìn h tuyên

tru y ền , g iá o d ụ c sức k h o ẻ sin h sản vị th àn h n iên trên báo chí.

Trang 15

CHƯƠNG MỘT SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở NƯỚC TA

THỰC TRẠNG VÀ VÂN ĐỂ

Thời kỳ vị thành niên là một giai đoạn có nhiều biến đổi và có tính chất quyết định trong việc hình thành nhân cách con người Vị thành niên bắt đầu trưởng thành về cơ thể, tâm lý, tình cảm và tinh thần; bắt đầu có thắc mắc về những thay đổi xảy ra trong cơ thể mình Trong thực tế, những vấn đề mà vị thành niên ngày nay gặp phải ngày càng nhiều như: nạn bỏ học, tệ nạn ma tuý, các vấn để về sức khoẻ tình dục và SKSS: có thai ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nạo phá thai, bị các bệnh lây qua đường tình dục và nhất là dễ lây nhiễm HIV/AIDS Đặc biệt, trong những vấn đề mà VTN, TN trẻ hiện nay gặp phải đang là sự quan tâm chung của toàn xã hội đó là tình trạng mang thai ngoài ý muốn và đi nạo phá thai ngày càng nhiều, số VTN mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ngày càng c a o trong khi các em chưa tìm được cho mình những địa chỉ, những góc tư vấn, dịch vụ chăm sóc SKSS thân thiện Nguồn thông tin

mà các em có được thường là từ bạn bè trong khi không phải vấn đề gì bạn bè của các em cũng có thể hiểu đúng, hiểu sâu sắc Chính vì vậy, những kiến thức ấy khi thì ít ỏi, khi thì không chính xác và nguy cơ VTN bị lâm vào những vấn đề SKSS, SKTD ngày một tăng

1.1 K h ái niệm

1.1.1 K hái niệm sức khoẻ.

Mỗi con người từ khi được sinh ra đến khi lớn lên và trưởng thành luôn quan tâm đến vấn đề sức khoẻ Vì chỉ có sức khoẻ họ mới tham gia tích cực vào các hoạt động như học tập, vui chơi, làm việc và các hoạt động ngoài xã hội Tinh thần và thể chất khoẻ mạnh sẽ tạo hưng phấn để con người hoàn thành tốt những

Trang 16

mục tiêu công việc mà họ đặt ra Sức khoẻ được coi là yếu tố quan trọng đầu tiên,

là vốn quý của mỗi người

Tổ chức Y tế thế giới (gọi tắt là WHO) định nghĩa:

Sức khoẻ là m ột tình trạng thoải mái hoàn toàn vê th ể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay tản tật.

Như vậy, khi xem xét tới sự phát triển lành mạnh của con người, đặc biệt là đối tượng vị thành niên, cách tiếp cận này đề cập tới một phạm vi rộng lớn về các vấn đề sức khoẻ và các điều kiện xã hội ảnh hưởng tới thanh thiếu niên và tới các vấn đề liên quan tới thái độ và hành vi cũng như bệnh tật và thương tổn của họ Một người được coi là có sức khoẻ khi người đó có sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần minh mẫn và sống tích cực, lành mạnh, có sức khoẻ cống hiến cho sự phát triển chung của xã hội

Theo định nghĩa về Sức khoẻ trên, chúng ta thấy Tổ chức Y tế thế giới quan tâm tới việc thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và việc ngăn chặn các yếu tố tác động xấu đến sức khoẻ của vị thành niên để họ có thể phát huy hết tiềm nãng của mình

Sức khoe' sinh sản là trạng thái sung mãn hoàn hảo về th ể chất, tinh thần và

x ã hội vù về tất cả những vấn đ ề liên quan tới bộ máy sinh sản cũng như các quá

Trang 17

trình và chức năng của nó chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay thương

tổn trong hệ thống sinh sả/7.[31]

Điều đó có nghĩa là: Con người có thể có dược đời sống tình dục an toàn và thoả mãn, có khả năng sinh sản cũng như tự do để quyết định có sinh con hay không, khi nào có và khoảng cách giữa các lần sinh Phụ nữ và đàn ông đều có quyền được thông tin và tiếp cận các phương pháp thích hợp, phù hợp về mặt tài chính, có hiệu quả và an toàn cho sự lựa chọn của họ đối với vấn đề sinh đẻ cũng như tiếp cận các dịch vụ y tế đảm bảo mang thai và sinh con an toàn

Nội dung chính của sức khoẻ sinh sản bao gồm: 1) Làm mẹ an toàn; 2) Kế hoạch hoá gia đình; 3) Phá thai; 4) Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; 5) Các bệnh lây truyền qua đường tình dục; 6) Giáo dục tình dục; 7) Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh dục; 8) Vô sinh; 9) Sức khoẻ vị thành niên; 10) Giáo dục, truyền thông về sức khoẻ sinh sản- kế hoạch hoá gia đình

Như vậy, sức khoẻ sinh sản là một khái niệm mới, nó thuộc nội hàm của khái niệm sức khỏe nhưng cụ thể và sâu sắc hơn Sức khoẻ sinh sản không chỉ đơn thuần là chuyện sinh sản, truyền giống- một trong nhũng chức năng căn bản của gia đình Trong bối cảnh xã hội hiện đại, sức khoẻ sinh sản bao hàm những nội dung rộng lớn về tuổi dậy thì, giới tính, bản năng tình dục và sự hài hoà, an toàn tình dục, về khả năng sinh sản và quyền sinh sản bình đẳng của nam và nữ,

về các biện pháp tránh thai và không tránh thai, về quyền sinh con và không sinh con, quyền tiếp cận các nguồn thông tin xã hội về sức khỏe sinh sản và quyền bình đẳng về nghề nghiệp, tuổi, giới, văn hoá, tín ngưỡng và dân tộc trong hưởng lợi các dịch vụ xã hội về sức khoẻ sinh sản Khái niệm này cũng đề cập đếnnhững vấn đề liên quan đến sức khoẻ sinh sản của cả nam và nữ trong độ tuổi vịthành niên

ở Việt Nam, các yếu tố của sức khoẻ sinh sản bao gồm:

- Sức khoẻ của phụ nữ và việc làm mẹ an toàn

- Việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình

Trang 18

- Vấn để vô sinh

- Phá thai

- Vấn đề nhiễm khuẩn sinh sản và các bệnh lây qua tinh dục

- Việc thông tin giáo dục về sức khoẻ sinh sản và tình dục

Hội nghị thượng đỉnh về dân số và phát triển tại Cairô năm 1994 đã quyết định chiến lược hành động về dân số và phát triển Chiến lược hành động về dân

số và phát triển được các nước thông qua gồm có 10 chương, trong đó có 1 chương về quyền sinh sản và sức khoẻ sinh sản đã xác định:

- Nam và nữ đều có quyền tiếp nhận thông tin, có quyền tiếp nhận và lựa chọn các biện pháp kế hoạch hoá gia đình an toàn, hiệu quả, hợp khả năng kinh

Như vậy, sức khoẻ sinh sản bao gồm cả kế hoạch hoá gia đình, chăm sốc sức khoẻ ban đầu, sức khoẻ tình dục, sức khoẻ vị thành niên, bảo đảm cho con người có khả năng về một cuộc sống thoải mái, khoẻ mạnh, tình dục được thoả mãn và an toàn, có khả năng sinh sản và tự do quyết định khi nào và làm thế nào

để thực hiện điều đó

1.1.3 K h á i n iệm sức k h o ẻ sin h sản vị th àn h n iên :

Như trên đã nói, vị thành niên bao gồm những em trai và gái có độ tuổi từ 10- 19 Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có nhiều quan điểm khác nhau, đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), lứa tuổi từ 10- 19 là

độ tuổi vị thành niên Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19- 24 tuổi Trong khi, Chương trình sức khoẻ sinh sản/ sức khoẻ tình dục vị thành niên- thanh niên của khối

Trang 19

Cộng đồng chung Châu Âu (EU) và Quỹ dân sô' Liên hợp quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15-24 tuổi.

Cũng theo định nghĩa của WHO, vị thành niên có độ tuổi từ 10 đến 19 Trên cơ sở này, người ta phân chia vị thành niên làm 3 nhóm:

- Vị thành niên sớm: 10 đến 14 tuổi

- Vị thành niên trung: 15 đến 17 tuổi

- Vị thành niên muộn: 18 đến 19 tuổi

ở Việt Nam, pháp luật quy định từ 18 tuổi trở lên là một con người có đầy

đủ những quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Ở nước ta, vị thành niên được xác định trong độ tuổi từ 10 đến trước 18 tuổi Đây là giai đoạn mà những tiềm năng sinh sản của con người phát triển đặc biệt mạnh mẽ và con người bắt đầu bước vào quá trình sinh sản nhưng lại chưa có sự hoàn thiện về nhân cách và các

cơ quan sinh sản Chính vì thế, nếu không có sự hiểu biết về sức khoẻ sinh sản, vị thành niên rất dễ mắc sai lầm, để lại những hậu quả nguy hiểm cho bản thân, ảnh hưởng đến gia đình và sự phát triển của toàn xã hội

Từ quy định về độ tuổi, khái niệm vể sức khoẻ sinh sản và những vấn đề

liên quan đến sức khoẻ sinh sản, chúng ta có thể hiểu: Sức khoẻ sinh sản vi thành

niên chính là những nội dung chung của sức khoe' sinh sản nhưng được ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi vị thành niên Dù chỉ là một bộ phận của sức klioe' con người, nhưng sức khoẻ sinh sản trở nên đặc biệt quan trọng trong giai đoạn vị thành niên.

1.1.4 Các nhân tô cấu thành của sức k h o ẻ sinh sản vị thành niên

- Cung cấp thông tin và giáo dục về các kỹ năng đối với hành vi tình dục an

toàn và có trách nhiệm

- Đáp ứng nhu cầu về kế hoạch hoá gia đình của thanh thiếu niên nhằm giảm tình trạng mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai lén lút

Trang 20

- Đảm bảo các thông tin về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ được cung cấp đến mọi thanh thiếu niên nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở các bà mẹ tương lai.

- Phòng chống và chữa trị các căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và HIV/AIDS, bởi thanh niên là đối tượng hứng chịu những căn bệnh này lớn nhất

- Loại bỏ tình trạng bóc lột và bạo hành tình dục có hại cho phụ nữ trẻ cũng như sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản của nam giới

1.2 M ột s ố vấn đề liên q u an đến sức k hoẻ sin h sản vị th àn h niên.

1 2 1 Sứ c k h o ẻ sin h sản và n h ữ n g n g u y c ơ vị th àn h niên d ễ m ắ c p h ả i

1.2.1.1 Quan hệ tình dục không an toàn và những gánh nặng về tâm lý.

Trong thực tế xã hội nước ta hiện nay, tình hình thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng tăng với số lượng đáng báo động Số vị thành niên có hành vi tình dục không an toàn chiếm số đông, và hậu quả đầu tiên của việc quan hệ tình dục không an toàn là có thai ngoài ý muốn Có thai ở tuổi vị thành niên, khi các em còn sống phụ thuộc vào bố mẹ, còn phải học tập, phấn đấu thì giải pháp của cái thai đó không còn cách nào khác là phải phá đi Theo thống kê của Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam mới đây cho thấy, Việt Nam

là một trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới, với khoảng 30 vạn trẻ vị thành niên nạo hút thai, chiếm 20% tổng số ca nạo hút thai Hàng năm,

ở tỉnh Vĩnh Long có khoảng 5000 ca nạo phá thai, hút điều hoà kinh nguyệt Và cũng theo kết quả nghiên cứu của Viện xã hội học tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 2,5% học sinh trong tổng số 1.463 em lứa tuổi 15- 19 có quan hệ tình dục Trong số có quan hệ tình dục chỉ có 36,8% biết đến các biện pháp tránh thai Điều tra nhanh trên 200 nữ sinh của một trường THPT tại TP Hồ Chí Minh thì có đến 94,9% không biết biện pháp tránh thai khẩn cấp, 1,5% đồng tình với việc quan hệ tình dục ở lứa tuổi này, 6,6% chưa từng nghe về bao cao su Trung tâm

tư vấn hôn nhân, tình yêu, gia đình (Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam) đã tiến hành nghiên cứu ở một số trường THPT ngoại thành Hà Nội Kết quả là có tới

Trang 21

87% học sinh lớp 12 đã yêu và có bạn khác giới theo đuổi Tỷ lệ có quan hệ tình dục là 18%, trong đó có 21% chưa hề được nghe đến hoặc trang bị bất cứ một phương pháp tránh thai nào Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới công bố năm

2002, ở Việt Nam có 11,2% trẻ vị thành niên có quan hệ tình dục, trong đó 33,9% nữ thanh niên có thai trước tuổi 20

Bên cạnh tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, không được bảo vệ dẫn đến có thai ngoài ý muốn, trên thực tế hiện nay có rất nhiều nam vị thành niên có quan hệ tình dục lẩn đầu tiên với phụ nữ bán dâm khi còn ở tuổi 19 Nhiều nam VTN quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm nhưng không dùng bao cao su dẫn đến hậu quả nhiều em bị mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục như: nấm, sùi mào gà, lậu, thậm chí rất nhiều em đã bị mắc HIV/AIDS Và khi mắc bệnh rồi, các em lại không dám đến các cơ sở y tế để khám và điều trị, khiến cho bệnh ngày một nặng và ảnh hưởng đến sức khoẻ và khả năng sinh sản của các em sau này

Từ thực tế trên, có thể thấy hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn là

rõ ràng, đó là bệnh tật, nguy cơ dẫn đến vô sinh và tử vong cao do VTN chưa có

sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần Sinh con sớm cũng sẽ làm mất cơ hội học hành và việc làm dẫn tới cuộc sống khó khăn và nghèo đói Nguy hiểm hơn, VTN là độ tuổi đang phát triển về thể chất, tinh thần, chưa sẵn sàng với việc sinh con sẽ dẫn đến đẻ khó, làm tổn thương bộ phận sinh dục, con cái sinh ra thì ốm yếu, thiếu cân và chế độ dinh dưỡng kém

1.2.1.2 Nạo, hút thai.

Thực tế những năm gần đây, số VTN đến các cơ sở y tế để nạo, hút thai ngày càng nhiều với xu hướng gia tăng cao Đây là hậu quả của việc quan hệ tình dục không an toàn Giới trẻ ngày nay được tiếp cận với nhiều thông tin nên kiến thức về tránh thai có sự chuyển biến với 70% VTN biết đến các biện pháp tránh thai Tuy nhiên, trong thực tế, số VTN sử dụng biện pháp tránh thai lại chiếm tỷ

lệ rất thấp: chỉ có 18% VTN sử dụng biện pháp tránh thai (nam giới chiếm 28%

Trang 22

và nữ giới chiếm 31%) trong lần quan hệ tình dục đầu tiên Hầu hết các em không sử dụng biện pháp tránh thai do sự thụ động, tâm lý e ngại khi đi mua bao cao su hay viên tránh thai, nhưng phần đông là do tâm lý không thích sử dụng vì

sợ bao cao su làm giảm khoái cảm và không chứng tỏ cho sự chân thành của tình yêu

Chính từ cách nghĩ như vậy, hầu hết các em có quan hệ tình dục mà không

có biện pháp bảo vệ dẫn đến tỷ lệ mang thai, nạo phá thai và lây nhiễm các căn bệnh lây truyền qua đường tình dục ở tuổi VTN ngày càng gia tăng Hậu quả của nạo hút thai do các em nữ phải gánh chịu, đó là sự không chấp nhận của xã hội,

sự lên án của gia đình và thường phải lén lút đến phá thai ở những cơ sở y tế có chất lượng chăm sóc không được đảm bảo, có thể dẫn đến những biến chứng đáng tiếc

Sự thiếu hụt về kiến thức sinh sản đã khiến VTN không biết có thai từ lúc nào, hoặc là lo sợ, lúng túng tìm cách giải quyết nên khi nào phá thai thì thai đã quá to, dẫn đến nhiều tai biến Bên cạnh đó, nhiều VTN đã sợ không đến bệnh viện nên đã thực hiện phá thai lén lút (còn gọi là phá thai phạm pháp) ở những cơ

sở y tế không được phép nạo hút thai hoặc là người nạo hút thai không được đào tạo tốt, thiếu kinh nghiệm nên nhiều tai biến đau lòng đã xảy ra Tại những cơ sở phá thai này, sự thiếu hụt các phương tiện cấp cứu và chế độ vô trùng không tốt thường để lại các hậu quả nhiễm trùng, nhiều khi nguy hiểm đến tính mạng Hậu quả do nạo phá thai lén lút thường là bị thủng tử cung, rách bàng quang, có khi thủng ruột, sót rau, nhiễm trùng gây viêm màng bụng hoặc nhiễm trùng máu nếu không được điều trị tốt dẫn đến tử vong mẹ Hậu quả lâu dài của nạo hút thai gây dính buồng tử cung, làm hở eo tử cung, gây viêm vùng tiểu khung, hẹp ống dẫn trứng sẽ dẫn đến chửa ngoài tử cung hoặc vô sinh Nạo hút thai nhiều lần nên khi

có thai, bánh rau sẽ ăn sâu vào cơ tử cung thành rau cài răng lược hay bánh rau

Những sẹo thủng tử cung do nạo hút thai là một trong những nguyên nhân gây vỡ

Trang 23

tử cung trong chuyển dạ nếu không được phát hiện và sử trí kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.

Bên cạnh những hậu quả về thể xác, nạo hút thai cũng để lại những hậu quả

về tinh thần và kinh tế, xã hội to lớn Phải bỏ đứa con đầu tiên thực sự là một sang chấn về tinh thần cho VTN, nhiều khi ám ảnh mãi đến cuộc sống sau này Những phức tạp xảy ra sau khi phá thai như bỏ học, ốm đau, bệnh tật dẫn đến VTN bị rối loạn tâm thần chức năng Ngoài chấn thương tinh thần để lại mặc cảm suốt đời, có thai và sinh con ở tuổi VTN còn ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế và

xã hội: VTN sẽ bị hạn chế khả năng học tập và cơ may kiếm việc làm tốt, thích hợp, hậu quả là mẹ con ốm yếu nghèo hèn; Xã hội phải chi trả những trợ cấp về y

tế và xã hội, trợ cấp khó khăn cho mẹ và con đồng thời nhà nước cũng phải chi trả gián tiếp về học vấn thấp kém dẫn đến việc làm kém hiệu quả của lực lượng lao động kém lành nghề; Bỏ học sớm do nghỉ đẻ ở tuổi VTN đã làm giảm khả năng có việc làm của họ và có tỷ lệ nghèo gấp 7 lần so với những người nhiều tuổi hơn họ; Có thai ở tuổi VTN còn làm cho tốc độ phát triển dân số tăng nhanh gây khó khăn trong dân số, làm cản trở cho sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia

1 2 1 3 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục là những bệnh lây từ người có bệnh sang người khác qua bất kỳ hình thức quan hệ tình dục nào mà không an toàn.Tên gọi trước kia của căn bệnh lây truyền qua đường tình dục là bệnh hoa liễu Đến nay người ta tìm thấy khoảng hơn 24 bệnh lây truyền qua đường tình dục, đó là: nấm, trùng roi (trichomonas), mụn rộp sinh dục, lậu và Chlamydia, giang mai, hạ cam mềm, mồng gà, viêm gan siêu vi B, H IV /A ID S [22- 71]

Bệnh lây truyền qua đường tình dục thường không có các dấu hiệu rõ ràng

để phát hiện Chỉ có thể phát hiện được bệnh một cách chính xác bằng các xét nghiệm tại các cơ sở y tế Bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS lây lan trong cộng đồng và ngày càng tăng với tốc độ cao Trong số đó có một số căn

Trang 24

bệnh đe doạ khả năng sinh sản của cả nam và nữ do những thương tổn của các bộ phận sinh sản như tắc vòi trứng, viêm cổ tử cung Sự nhiễm bệnh kéo dài hoặc liên tục các căn bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể dẫn đến tình trạng vô sinh hay thậm chí tử vong, tuỳ thuộc vào từng loại bệnh Bên cạnh đó là sự đe doạ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS ngày càng có chiều hướng gia tăng trong giới trẻ hiện nay Khoảng một nửa các trường hợp lây nhiễm HIV trên thế giới là những người trong độ tuổi từ 15- 24 Mỗi ngày trên thế giới có 7000 thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10- 24 bị nhiễm HIV (trung bình 5 trường hợp/1 phút) Do vẫn chưa tìm ra phương thuốc chữa trị HIV/AIDS, vị thành niên mắc căn bệnh này sẽ có tâm lý chán chường, mặc cảm, mất khả năng lao động và sống lệ thuộc vào gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc, hỗ trợ và cung cấp tài chính.

Các em gái thường bị tác động nhiều hơn, đặc biệt là bởi những thành kiến

và những ràng buộc xã hội Các em cũng dễ bị mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục hơn do bộ máy sinh sản vẫn chưa phát triển đẩy đủ nên rất dễ bị trầy xước và thương tổn là điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh truyền nhiễm vào cơ thể qua quan hệ tình dục không được bảo vệ

Không có kiến thức để tự chăm sóc SKSS cho bản thân, nguy cơ mắc bệnh của VTN ngày càng gia tăng Bên cạnh, việc lây truyền do quan hệ tình dục không an toàn, nhiều VTN còn bị đe doạ viêm nhiễm cơ quan sinh dục do tắm ao

hồ, vệ sinh kinh nguyệt không đúng cách, quần lót không đảm bảo vệ sinh là những nguyên nhân cho viêm nhiễm bộ phận sinh dục Trên thực tế, nhiều VTN

bị mắc bệnh mà không hề biết mình đang mắc bệnh Thậm chí, có nhiều VTN biết bị mắc bệnh nhưng e ngại, không đi khám và điều trị kịp thời, để tình trạng viêm nhiễm kéo dài đã khiến cho bộ phận sinh dục bị tổn thương, trở thành mãn tính khó chữa

Bệnh lây truyền qua đường tình dục dễ lây lan vì nhiều người ngại nói đến chúng một cách công khai và ít quan tâm tìm hiểu, cho nên ít hiểu biết về bệnh cũng như cách phòng ngừa đúng đắn Trong khi, phần lớn người mắc các bệnh

Trang 25

này đều khoẻ mạnh bình thường, có thể không biết mình mắc bệnh khi nào, với

ai, do đó không lưu ý đến khám bệnh và phòng ngừa cho người khác, trong khi nhiều bệnh chỉ có thể phát hiện bằng cách thử máu như giang mai, nhiễm HIV, viêm gan siêu vi B

Hậu quả của bệnh lây truyền qua đường tình dục rất lớn, nhưng trong thực

tế, số VTN biết về các loại bệnh này còn hạn chế Theo nghiên cứu mới đây của Bệnh viện Da liễu TP Hồ Chí Minh được thực hiện trên 843 em học sinh lớp 11 ở trường THPT Nguyễn Du, TP Hồ Chí Minh, cho thấy: có 97% học sinh đều có nghe nói đến bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV Nguồn thông tin

mà các em nhận được chủ yếu từ phương tiện truyền thông đại chúng Tỷ lệ học sinh biết đúng về đường lây của bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm HIV là 96%; biết cách phòng bệnh bằng bao cao su có 83% cho bệnh lây truyền qua đường tình dục và 95,2% cho phòng ngừa HIV Đáng chú ý chỉ có 1% các

em biết đến các bệnh mồng gà, viêm gan siêu vi B có lây truyền qua đường tình dục v ẫ n còn 30% các em chưa biết tên một vài bệnh lây truyền qua đường tình dục thông thường như giang mai, lậu Cũng qua khảo sát, có 83,6% ý kiến các

em mong muốn được hiểu biết rõ hơn về bệnh lây truyền qua đường tinh dục 63% các em thích được giảng dạy trực tiếp hơn là học gián tiếp qua các phương tiện truyền thông Cụ thể: có 67,8% các em muốn được nhân viên y tế truyền đạt thông tin, 25,9% qua thầy cô giáo và chỉ có 4,4% học sinh muốn học với bạn cùng trang lứa 48,5% các em cho rằng ở độ tuổi 15- 19 thanh thiếu niên trong cộng đồng đã bắt đầu có quan hệ tình dục Tỷ lệ này cho thấy nếu không được quan tâm giáo dục phòng ngừa, VTN rất dễ có nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục Qua nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy, giới trẻ có rất ít kinh

nghiệm về cách phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục nên lạ i càng có

nguy cơ mắc bệnh cao, đặc biệt là đối tượng học sinh trung học Và đối với đối

nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục lại nghiêm trọng hơn

Trang 26

1.2.2 G iá o d ụ c sứ c k h o ẻ sin h sản ch o lứa tu ổ i vị th àn h niên là vấn đ ề có

ý n g h ĩa to à n cầu

Giai đoạn vị thành niên là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn, được đánh dấu bằng những thay đổi chưa từng có trong tất cả các lĩnh vực của đời sống con người, bao gồm cả về cơ thể và giới tính Ngoài nhũng thay đổi phức tạp này, lứa tuổi vị thành niên còn đứng trước sự phát triển kinh tế nhanh chóng, đô thị hoá, hội nhập quốc tế và không ít giá trị xã hội đang thay đổi có tác động tới những quyết định hiện tại và tương lai của chính các em

Lứa tuổi vị thành niên chiếm một tỷ lệ lớn nhất trong dân số thế giới Theo

số liệu của Liên hợp quốc công bố thì cứ 5 người trên trái đất thì có một là VTN trong độ tuổi 10- 19, một nửa dân số là dưới 25 tuổi và 29% dân số trong độ tuổi

từ 10- 19 Hơn 83% số người trẻ tuổi này sống ở các nước đang phát triển Hiện nay, số thanh thiếu niên trên hành tinh nhiều hơn ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào

và số dân này sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thế kỷ 21 Dân số trẻ toàn cầu có thể

đi kèm nhũng mối nguy hiểm tiềm tàng, bởi VTN có nguy cơ mắc HIV/AIDS cao nhất và chịu ảnh hưởng của đói nghèo, thuốc phiện, sự phân biệt đối xử, bạo lực và tình dục

Theo số liệu thống kê, mỗi năm trên thế giới có tới 15 triệu trẻ em gái VTN

đã mang thai; trên 300 triệu trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng qua đường tình

dục Đến năm 2000, có tới 40 triệu người nhiễm HIV (con số này giờ đã tăng lên nhiều) với đối tượng chủ yếu nằm trong độ tuổi lao động HIV/AIDS có thể trở thành căn bệnh của giới trẻ bởi cứ trong 14 giây lại có một thiếu niên bị nhiễm, trở thành mối hiểm nguy cho xã hội Tuy nhiên, nếu những nhu cầu xã hội và

chăm sóc sức khoẻ được đáp ứng, thế hệ trẻ cũng sẽ trở thành lực lượng lao động

dồi dào và năng động nhất là khi họ bước vào tuổi trưởng thành Dân số trẻ hiện nay mở ra một cơ hội kinh tế, nếu như VTN hôm nay được trang bị nhũng kiến thức để đương đầu trước bệnh tật và những mối hiểm nguy của cuộc sống

Trang 27

Chăm sóc SKSS cho lứa tuổi VTN được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm với nhiều chương trình hành động quốc gia cho lĩnh vực này.

ỉ 2.2.1 Sự quan tâm của các nước trên th ế giới:

Chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN là một chủ đề ưu tiên trong thế kỷ 21 này Văn kiện Hội nghị Dân số và phát triển Cairô năm 1994 và Hội nghị Dân số và phát triển + 5 (The Hague- Hà Lan) đều ghi ở điều 5 mục E là phải chú ý đến vấn

đề SKSS, SKTD VTN- TN trẻ Đại hội đồng LHQ phiên họp đặc biệt tại New York từ 30/6 đến 2/7/1999 cũng đã có khuyến nghị về vấn đề này

Chương trình hành động về Dân số và phát triển của Liên hợp quốc được

đưa ra tại Hội nghị Cairô năm 1994 đã khuyên cáo: “Tất cả các nước cần phấn

đấu đê vào năm 2005 việc chăm sóc sức khoe' sinh sản có th ể đến được tất cả mọi người ở lứa tuổi phù hợp thông qua hệ thống chăm sóc sức khoe’ ban đầu Việc chăm sóc được xác định bao gồm: công tác tư vấn, thông tin giáo dục truyền thông, dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khoẻ sinh sản, vấn đề tình dục lành mạnh và an toàn của con người

Do sáng kiến của Cộng đồng châu Âu, một chương trình SKSS, SKTD cho VTN- TN trẻ đã được thành lập do EU và UNFPA tài trợ và đang kêu gọi đóng góp của nhiều quốc gia vào chương trình quan trọng này UNFPA đã nêu ra 5 vấn

đề lớn đối với trên 1 tỷ VTN- TN trẻ, trong đó có vấn đề “Dịch vụ cho SKSS VTN”

Liên hợp quốc đã nêu trong 1 tỷ VTN hiện nay thì có 5 vấn đề lớn: - Một

phần tư sống ngoài lề; Thêm những nguy cơ cho phụ nữ trẻ; HIV/AIDS- bệnh của người trẻ tuổi; Thúc đẩy hành vi lành mạnh hơn và Dịch vụ cho SKSS VTN Như

vậy, trong xác định của Liên hợp quốc, chăm sóc SKSS cho lứa tuổi VTN là một trong những vấn đề lớn mà các quốc gia trên thế giới cần quan tâm, mở những góc tư vấn, dịch vụ chăm sóc SKSS thân thiện để VTN có thể tìm đến

Xem xét cụ thể hơn bức tranh về SKSS, SKTD VTN- TN trẻ toàn cảnh thế giới thì không mấy lạc quan:

Trang 28

- 15 triệu phụ nữ tuổi 15- 19 sinh con Số VTN có quan hệ tình dục ở độ tuổi sớm hơn 14- 16 tuổi ngày càng tăng, một nửa trong số đó không hề biết gì về SKTD và ngăn ngừa thai nghén.

- Khoảng 20% VTN mắc các căn bệnh lây qua đường tình dục Tỷ lệ lớn nhất thuộc nhóm 20- 24 tuổi, tiếp theo là nhóm tuổi 15-19

- Khoảng 5 triệu người độ tuổi VTN nạo phá thai hàng năm Trẻ sơ sinh của

bà mẹ ở lứa tuổi VTN thường bị đau yếu và chết yểu

- Nhiễm HIV/AIDS hiện đang là hiểm hoạ của toàn thế giới và càng trở nên nghiêm trọng ở các nước đang phát triển

- Chỉ số phát triển giới nữ rất thấp trong bảng xếp hạng ở các nước đang phát triển Bạo lực tình dục, mại dâm, tội phạm ở lứa tuổi VTN đang là vấn đề nhức nhối của xã hội

Như vậy, SKSS, SKTD là vấn đề đáng lo ngại cho hiện tại và tương lai của thế giới Một trong những quan tâm ưu tiên nhất của Quỹ dân số Thế giới (UNFPA) hiện nay là cung cấp thông tin, giáo dục và dịch vụ cho vị thành niên

và thanh niên nhằm làm giảm các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường sinh dục, bao gồm cả HIV/AIDS

Việt Nam nằm ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương- một khu vực có số lượng thanh thiếu niên nhiều nhất thế giới với 700 triệu VTN ( tuổi từ 10 đến 19) trong tổng số 1,2 tỉ vị thành niên trên toàn thế giới Theo thống kê của Liên hiệp quốc, có đến 1/3 những trường hợp mới bị nhiễm khuẩn qua đường sinh dục thuộc nhóm tuổi VTN mà một trong những lý do cơ bản là đa số các em không hiểu biết đầy đủ về phương thức lây lan, cách phòng tránh và nguy hiểm hơn khi chính các em không tin rằng bản thân có nguy cơ bị lây nhiễm cao đại dịch đáng

sợ của thế kỷ là HIV/AIDS Do vậy, nhu cầu bức thiết nảy sinh liên quan đến SKSS VTN là sự phòng ngừa và bảo đảm các quyền dựa trên cách tiếp cận trách nhiệm giới tính Với cách tiếp cận này các em nâng cao tính sáng tạo, nãng lực

và sự tham gia tích cực vào công tác phòng chống các căn bệnh lây truyền qua

Trang 29

đường tình dục bởi lẽ vị thành niên đã chứng tỏ rằng họ có khả năng lựa chọn và

có trách nhiệm tự phòng tránh nếu được giáo dục, được cung cấp đầy đủ các dịch

vụ và được ủng hộ và ngược lại, họ cũng có thể thông tin tuyên truyền và vận động bạn bè trì hoãn hoạt động tình dục và thực hiện an toàn tình dục trong trường hợp không thể tự kiềm chế

1.2.2.2 Thực trạng ỏ Việt Nam.

Sức khoẻ sinh sản vị thành niên, thanh niên Việt Nam cũng là thực trạng của toàn thế giới, và gần giống hình ảnh của các nước đang phát triển Mặc dù chưa có một điều tra tổng quát quốc gia về vấn đề này, nhưng qua các nghiên cứu trong phạm vi các mẫu hẹp của các tổ chức quốc tế và Việt Nam, căn cứ vào Niên giám thống kê của Bộ Y tế, các nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thì tình trạng SKSS, tình dục VTN, TN Việt Nam hiện nay là không lạc quan:

- Tỷ lệ nạo phá thai của nước ta nằm trong 3 nước vào loại cao nhất thếgiới, trong đó 20% là lứa tuổi VTN

- Quan hệ tình dục khi chưa có những hiểu biết đầy đủ ở lứa tuổi 15- 24 cũng gây nhiều tác hại như: có thai ngoài ý muốn, lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, sa đà bỏ học dẫn đến mại dâm, ma tuý do muốn hưởng lạc sớm mà không chịu lao động Tại Hải Phòng, 16,5% có quan hệ tình dục trước hôn nhân

và chỉ có 18,8% biết sử dụng biện pháp tránh thai, ở Hà Nội, 15% VTN 15- 19 tuổi đã sinh hoạt tình dục trước khi cưới

Trên phạm vi cả nước có đến 5% VTN sinh con trước tuổi 18 Cùng với đó

là các bệnh lây truyền qua đường tình dục ngày một tăng trong lứa tuổi VTN Số trẻ em dưới 15 tuổi mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ 1,16% (đối với bệnh lậu) và 1,5% đối với các bệnh hoa liễu khác Điều đáng báo động hiện nay là số gái mại dâm lứa tuổi VTN đang ngày một tăng và có xu hướng trẻ hoá Nếu như năm 1989, gái mại dâm ở tuổi VTN là 2,1%, năm 1990 là 5,22% thì hiện nay đã tăng lên 12% Nạn tảo hôn ở nước ta dù có chuyển biến tích cực

Trang 30

song vẫn ở con số cao, chiếm 2% trong tổng số 500.000 các cuộc kết hôn hàng năm Quan hệ tình dục sớm là kết quả của những thói quen về lối sống không tốt

có tác động đến hành vi SKSS như rượu bia tràn lan mất tự chủ dẫn đến hành vi cưỡng hiếp, bạo lực tình dục, đánh nhau gây án mạng Như vậy, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có nguy cơ cao đối với lứa tuổi VTN về vấn đề chăm sóc SKSS, SKTD, đại dịch thế kỷ HIV/AIDS Hội nghị Bacrcelona tháng 6/2002 đánh giá việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS có hiệu quả lúc này là vấn đề sống còn đối với Việt Nam

Tinh hình lây lan đại dịch HIV/AIDS ở nước ta ngày càng tăng cao, trong

đó có 10 tỉnh, thành phố được xác định là có tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân cao nhất nước ta được sắp xếp theo thứ tự như sau: Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, An Giang, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Cần Thơ, Nghệ An, Đồng Tháp Số người nhiễm HIV chủ yếu qua đường tiêm chích ma tuý, mại dâm, qua sinh hoạt tình dục Tuy mức độ nhiễm HIV ở Việt Nam qua đường tình dục chưa tuyệt đối cao như ở Thái Lan (chiếm 85%) nhưng rõ ràng là

sẽ thành đường lây lan chủ yếu nếu không can thiệp có hiệu quả Với tình hình VTN chiếm tỷ lệ dân số cao như hiện nay, quan hệ tình dục không an toàn chính

là đường làm lây lan nhanh và trở thành đại dịch trong cộng đồng sau giai đoạn

đã bùng phát trong nhóm tiêm chích ma tuý Sự thiếu hiểu biết sâu sắc khiến VTN không làm chủ được xung động tình dục vốn rất mạnh trong giai đoạn giữa của VTN- TN

Trong một thông báo mới đây của Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam thì nước ta là một trong ba nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới Việc quan hệ tình dục sớm cùng với việc nạo phá thai đã dẫn đến nhũng hậu quả nghiêm trọng như biến chứng chết người, vô sinh, lây nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục , đặc biệt ở trẻ VTN Nếu trên thế giới hiện có khoảng 20% VTN mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và mỗi năm có trên 5 triệu người ở độ tuổi 15- 19 nạo phá thai thì ở Việt Nam, VTN chiếm khoảng 23,8 triệu người (chiếm

Trang 31

31% dân số) và dự kiến có tốc độ tăng 4,8% trong 10 năm tới Đây là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước ta Tuy nhiên, do thiếu những kiến thức về SKSS, SKTD, VTN nước ta đang đứng trước nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, mang thai ngoài ý muốn và rất nhiều hậu quả của nạo phá thai

không an toàn Thống kê trên phạm vi cả nước cho thấy có 5% các em gái sinh

con trước 18 tuổi; 15% sinh con trước tuổi 20; nguy cơ chết mẹ của bà mẹ trẻ dưới 20 tuổi cao gấp 5 lần so với bà mẹ sinh con ở độ tuổi 24- 25 Số trẻ em dưới

15 tuổi mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục chiếm 1,16% (đối với bệnh lậu) và 1,5% với các bệnh hoa liễu khác Trong đó, đặc biệt nghiêm trọng là số VTN nhiễm HIV ngày càng tăng Theo nhiều số liệu điều tra cho thấy về sự lây truyền HIV/AIDS trong học sinh, lứa tuổi dưới 13 chiếm 0,61% và 13- 19 tuổi là 9,36% trong tổng số người nhiễm Xu hướng trẻ hoá đối tượng có HIV ngày càng thể hiện rõ, trong đó một trong những nguy cơ quan trọng thúc đẩy xu hướng này là: quan hệ tình dục trước hôn nhân và mức độ thay đổi bạn tình của thanh thiếu niên ngày càng tăng, trong khi VTN lại là đối tượng ít hiểu biết về các nguy cơ sức khoẻ do hành vi tình dục không an toàn Hiểu biết của VTN về các bệnh lây truyền qua đường tình dục chưa cao, thậm chí có em còn không biết tên một bệnh nào lây truyền qua đường tình dục, lại không được tiếp cận với nguồn thông tin chính thống, đáng tin cậy về SKSS, SKTD để có những hành vi tình dục an toàn cho mình Trên thực tế hiện nay, nhiều trẻ VTN bị lôi kéo vào nhũng trang Web sex với nội dung thông tin không lành mạnh trên những quán Internet mọc lên nhan nhản Trong thời đại bùng nổ thông tin và môi trường sống quá dễ tiếp cận với các sản phẩm văn hóa phẩm đồi truỵ cám dỗ, VTN lại là lứa tuổi rất quan tâm đến chuyện giới tính không tránh khỏi tò mò Và không có gì đáng ngạc nhiên khi những sản phẩm “đen” với băng, đĩa đồi truỵ, những mẩu chuyện, đoạn thơ có ngôn ngữ thô tục, nội dung khiêu dâm, kích dục và tên các trang Web

“bẩn” được các cô cậu học trò chuyền tay, rỉ tai nhau khắp lớp, bàn tán, bình luận theo những chiều hướng hết sức lệch lạc Giới trẻ ngày nay mà một phần không

Trang 32

nhỏ là học sinh coi chuyện xem phim ảnh, băng đĩa có quan hệ tình dục không còn là chuyện động trời như mấy chục năm về trước Thái độ này là dấu hiệu báo trước sự “xuống cấp” quan điểm truyền thống về quan hệ nam nữ, các giá trị đạo đức và nhân phẩm trong suy nghĩ của một bộ phận giới trẻ hiện nay Cùng với đó,

lẽ dĩ nhiên là sự “dấn thân” của các em và những hoạt động không lành mạnh, để lại hậu quả VTN phá thai ở mức báo động

Vị thành niên là những người sung mãn về tình dục, nhiều người bị nguy cơ cao vì họ không được thông tin đầy đủ về cơ thể, về khả năng tình dục, sinh sản

và hậu quả của hành vi tình dục của họ Họ cũng thiếu kỹ năng để từ chối tình dục không tự nguyện và để thoả thuận tình dục an toàn Vị thành niên nữ, do bị phân biệt đối xử về giới, khó có thể tránh được sự cưỡng bức và ép buộc trong quan hệ tình dục Một số vị thành niên nam cũng bị áp lực chứng tỏ “sự mạnh mẽ” của mình bằng cách có nhiều bạn tình, trong đó uống rượu và sử dụng ma tuý là những yếu tố đóng góp vào tình dục không an toàn

Hơn nữa, những cấm đoán của xã hội và tôn giáo giới hạn sự tiếp cận của vị thành niên với thông tin và dịch vụ về tình dục cũng như sức khoẻ sinh sản Thái

độ không tốt của những nhà cung cấp dịch vụ, sự không giữ bí mật, dịch vụ không thân thiện, giờ giấc hoặc vị trí không thích hợp là những nguyên nhân hay gặp làm cho VTN không tìm đến các dịch vụ tình dục và SKSS ở những nơi mà các dịch vụ này sẵn có

Trên thực tế, HIV/AIDS đang là một căn bệnh thế kỷ lây truyền qua đường quan hệ tình dục không an toàn có tốc độ lây lan nhanh, là một trong những vấn

đề nhức nhối đáng buồn tại Châu Á- Thái Bình Dương Tại Hội nghị lần thứ hai

về SKSS và tình dục khu vực Châu Á- Thái Bình Dương được tổ chức tại Băng Cốc- Thái Lan cho thấy những năm gần đây tình hình chăm sóc SKSS của các nước trong khu vực cũng đã đạt được nhiều thành quả, tuy nhiên vẫn còn nhữngbất cập, thách thức cần phải giải quyết Vị thành niên ở Châu A chiếm số đông

Trang 33

(1/3 dân số) là nhóm người dễ bị tổn thương nhất và tỷ lệ VTN bị nhiễm khuẩn qua đường tình dục chiếm khá cao (chiếm 1/3 tổng số người nhiễm bệnh) Tuy rằng đã nghe nhiều đến HIV/AIDS nhưng nhiều người trong số hộ không hiểu về phương thức lây truyền cũng như không tin rằng bản thân họ có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS cao Đến nay, AIDS đã trở thành bệnh của những người trẻ tuổi Một nửa của những trường hợp mới nhiễm HIV nằm trong lứa tuổi 15 đến

24 Mỗi ngày có 6.000 trường hợp mới bị lây nhiễm và cứ 14 giây lại có một thanh niên bị nhiễm HIV

Hành vi sinh sản của VTN có ảnh hưởng to lớn đến tương lai của đất nước Đầu tư cho tương lai vào đối tượng này sẽ mang lại những đóng góp cao nhất về nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam Đồng thời, thanh thiếu niên sẽ được tăng thêm khả năng để tự khẳng định mình, đóng góp một cách tích cực năng lực cá nhân cho xã hội, thực hiện đầy đủ những quyền về SKSS của mình

Như vậy, nhu cầu và quyền của vị thành niên đối với các dịch vụ SKSS là một yêu cầu cấp bách được đặt ra, cần giải quyết sớm SKSS cho những người trẻ tuổi là cần giáo dục và cung cấp về quyền được chăm sóc SKSS và tình dục cho

họ để biết tự bảo vệ và tham gia tích cực, thúc đẩy những người khác nhất là những người cùng lứa tuổi sự lựa chọn an toàn trong tình dục cũng như phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS Bên cạnh

đó, quan hệ tình dục không an toàn dẫn tới nguy cơ có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn cho VTN chưa trưởng thành đầy đủ về thể chất để gánh chịu hậu quả đó

Cũng như các bạn bè cùng trang lứa của mình ở nhiều nước trên thế giới, VTN Việt Nam đang đứng trước hậu quả về những hành vi của chính mình Những hậu quả này có thể ngày càng trở nên nghiêm trọng do thiếu các dịch vụ

và giáo dục thích hợp Trước tình hình như hiện nay, việc giáo dục và tổ chức các hoạt động can thiệp là một trong những nhu cầu cấp thiết Mỗi năm, nước ta có

Trang 34

hàng triệu em bắt đầu thực hiện chức năng sinh sản của mình, nhưng rất nhiều

em thiếu kiến thức về SKSS Không có kỹ năng sống và kỹ năng an toàn tình dục

để bảo vệ mình khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS Một trong những cách tuyên truyền, giáo dục kỹ năng sống tốt nhất, có hiệu quả nhất cho VTN là cách các em được tiếp cận nguồn thông tin chính xác, đầy đủ trên hệ thống báo, đài, nói cách khác là trên báo chí- một phương tiện truyền thông có thế mạnh vượt không gian đến với từng người, từng nhà nhanh nhất

1.3 N h ữ n g chủ trư ơng, ch ín h sách củ a Đ ản g và nhà nước ta về giáo dục sức k h o ẻ sin h sản ch o lứa tuổi vị th ành niên.

Hành vi sinh sản của thành thiếu niên sẽ quyết định tương lai của thế giới trong thế kỷ 21 này: đó là sự phát triển bền vững, an ninh toàn cầu, tăng trưởng dân số và tất cả những vấn đề khác Đầu tư cho lứa tuổi VTN là điều hết sức quan trọng bởi hàng triệu thanh thiếu niên có tiềm năng sẽ mang lại năng suất lao động lớn hơn và do đó góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội nhanh hơn

1.3.1 N h ữ n g chủ trư ơng, chính sách củ a Đ ả n g và N h à nước

Hơn một thập kỷ qua, SKSS VTN đã được coi là một mặt quan trọng trong

sự phát triển của thanh thiếu niên Khi trình độ giáo dục và các cơ hội việc làm dành cho cả hai giới cũng như độ tuổi kết hôn trung bình gia tăng thì hiện tượng quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng trở nên phổ biến Đáng lo ngại là do tính chất nhạy cảm của tình dục và SKSS VTN, đây vẫn còn là một chủ điểm khá cấm kỵ ở hầu hết các nền văn hoá Do đó, thanh thiếu niên ít được tiếp cận với giáo dục và các thông tin đầy đủ, chính xác hay các dịch

vụ thân thiện với VTN, liên quan đến tình dục và SKSS

Thời gian qua, các nhà hoạch định chính sách đã có nhận thức tốt hơn về hiện trạng các vấn đề SKSS VTN và sự cần thiết phải có các biện pháp giải quyết Các nhà hoạch định chính sách về SKSS, SKTD VTN đã có kiến nghị là cần có một chương trình quốc gia Đây là một kiến nghị đúng đắn vì SKSS, SKTD VTN,

Trang 35

TN phải giải quyết trên nguyên tắc rất cơ bản là tác động đến họ phải từ nhiều phía: gia đình, học đường, xã hội.

Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những cam kết thực hiện chương trình hành động do Hội nghị dân số và phát triển ở Cairô thông qua, trong đó có sức khoẻ sinh sản Trong Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 136/2000/QĐ-TTG ngày

28 tháng 11 năm 2000 vê việc phê duyệt “ C hiên lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001- 2010” gồm có 4 điều: Điều 1 nêu những mục tiêu, giải pháp, chính sách và việc triển khai thực hiện chăm sóc SKSS trong

phạm vi cả nước Phần mục tiêu chung được xác định “bảo đảm đến năm 2010,

tình trạng sức khoẻ sinh sản được cải thiện rỗ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng vả các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đu dạng vê chăm sóc sức khoẻ sinh sản phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ỷ ảêh các vùng và đối tượng có khó kh ă n ” Và

trong phần “mục tiêu cụ thể” của Quyết định cũng đã nêu ra 7 mục tiêu : 1) Tạo

sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, cũng như sự ủng hộ và cam kết thực hiện các mục tiêu và các nội dung của chăm sóc SKSS trong mọi tầng lớp nhân dân, trước hết trong cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu trong các tổ chức, đoàn thể; 2) Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh Bảo đảm quyền sinh con và lựa chọn các biện pháp tránh thai có chất lượng của phụ nữ và các cặp vợ chồng Giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến do nạo hút thai; 3) Nâng cao tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng

mắc mới và điều trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS và tình trạng vô sinh; 5) Chăm sóc SKSS tốt hơn cho người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi, phát hiện và điều trị sớm các trường hợp ung thư vú và các ung thư khác của đường sinh sản nam và nữ; 6) Cải thiện tình hình SKSS, SKTD của VTN, thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung

Trang 36

cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi; 7) Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh san, xây dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao SKSS và chất lượng cuộc sống Như vậy, trong những quan tâm chung về tình hình SKSS và biện pháp cải thiện thực trạng này ở nước ta, việc tuyên truyền, giáo dục SKSS cho VTN cũng được đưa

vào một trong bảy mục tiêu cụ thể, đó là “Cải thiện tình tình sức khoe' sinh sản,

sức khoẻ tình dục của vị thành niên, thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản phù hợp với lứa tuổi Tại Quyết định cũng “chú trọng đến việc phát triển năng lực đi đôi với việc xác định phương hướng đầu tư các nguồn lực một cách có hiệu quả nhất để đảm bảo sự phát triển bền vững của Chiến lược”

Trong phần “giải pháp và chính sách” cũng đã nêu: “Tăng cường đào tạo cán bộ chuyên môn y tế về chăm sóc SKSS, đặc biệt là cán bộ y tế ở tuyến cơ sở Chú trọng đào tạo thực hành, rèn luyện tay nghề vững chắc, bồi dưỡng kỹ năng truyền đạt, giao tiếp với các loại đối tượng và với cộng đồng Tập trung nghiên cứu vấn đề vô sinh, nuôi con bằng sữa mẹ, các bệnh của hệ thống sinh dục, đặc

biệt là ung thư ở các cơ quan sinh sản, SKTD và hành vi tình dục, sức khoe’ sinh

sản vị thành niên, sức khoẻ sinh sản nam giới và kiến thức, thái độ và thực hành

liên quan đến SKSS và một số vấn đề khác có liên quan để nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS Trong phần “Tổ chức thực hiện”, Chiến lược cũng dành sự quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu được tìm hiểu về giới tính, tình

dục của VTN, đó là “đẩy mạnh các hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu chăm

sóc SKSS của V T N và động viên sự tham gia của nam giới trong lĩnh vực

SKSS”.[ 2]

Căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng chính phủ, thời gian qua, các nhà hoạch định chính sách đã có nhận thức tốt hơn về hiện trạng các vấn đề SKSS

Trang 37

VTN va sự cân thiêt phai có các biện pháp giải quyết Được sư hỗ trợ của các tổ chưc quoc te, cac tô chưc phi chính phủ và sư công tác của các ban ngành đoàn thể, chương trình SKSS đã được triển khai rộng khắp trong cả nước

Trong chu kỳ V hỗ trợ cho Việt Nam (giai đoạn 1997- 1999), Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã thông qua Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hỗ trợ dự án

“Hỗ trợ tăng cường sức khoẻ sinh sản vị thành niên” với mã số VIE/97/P12 Theo

dự án này, để thông tin giáo dục SKSS cho VTN và TN trẻ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng thử nghiệm mô hình Câu lạc bộ SKSS VTN trong các trường phổ thông, trung học và các trường đại học, thử nghiệm mô hình Trung tâm tư vấn về vấn đề SKSS VTN dưới các hình thức tư vấn trực tiếp, tư vấn qua điện thoại nóng

và tư vấn lưu động tại cộng đồng

Năm 1997, Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ dân sô' Thế giới hợp tác với các tổ chức quốc tế và các tổ chức dân sự xã hội địa phương thực hiện Chương

trình Sáng kiến sức khoẻ sinh sản ở Châu Á nhằm thúc đẩy việc thực hiện chương trình hành động Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển ở 7 nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Mục tiêu tổng thể của Chương trình Sáng kiến sức khoẻ sinh sản ở Châu Á là cải thiện tình trạng SKSS, SKTD của VTN, Chương trình khuyến khích những hành vi SKSS và SKTD có trách nhiệm thông qua việc tăng tiếp cận và sử dụng thông tin, tư vấn và dịch vụ về SKSS, SKTD ở từng nước trong 7 nước Chương trình Sáng kiến SKSS ở Châu Á tại Việt Nam được thực hiện thông qua Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có nhiệm vụ giải qưyêt những mối quan tâm trên thông qua dự án “Tuyên truyền vận động và Truyền thông thay đổi hành vi”, gọi tắt là RAS/03/P51, tập trung vào việc tạo ra môi trường thuận lợi và thúc đẩy truyền thông thay đổi hành vi về SKSS VTN Dự án được chia thành 2 giai đoạn

các tổ chức dân sự xã hội địa phương đã được tăng cường; một bộ phận VTN, TN

Trang 38

trẻ đã được tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ thân thiện chăm sóc SKSS,

SKTD.

phủ phê duyệt, gồm 3 dự án thành phần, do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí

Minh chủ trì, thực hiện Trung tâm UNESCO giáo dục không chính quy và Trung

tâm Tư vấn Tâm lý giáo dục- Tinh yêu- Hôn nhân- Gia đình là các tổ chức dân sự

xã hội địa phương tham gia dự án với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức phi chính

phủ quốc tế là CARE Quốc tế tại Việt Nam (CARE) và Quỹ dân số Thế giới

(WPF) Từ tháng 6/2004 đến nay, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thông

qua dự án RAS/03/P51 đã hoàn thành việc phát triển Chiến lược Vận động chính

sách và Chiến lược Truyền thông thay đổi hành vi về chăm sóc SKSS, SKTD cho

VTN và TN trẻ trong 7 tỉnh, thành: Hà Nội, Hải Phòng, Hoà Bình, Đà Nẵng, Cần

Thơ, Thừa Thiên- H uế và TP Hồ Chí Minh Mục đích của Chiến lược Truyền

thông thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu các vấn đề SKSS, SKTD trong VTN và

TN trẻ Chiến lược Truyền thông thay đổi hành vi cũng đã xác định mục tiêu là

21 hành vi tăng cường sức khoẻ giúp VTN, TN trẻ phòng tránh được các vấn đề

SKSS, SKTD Thông qua các can thiệp truyền thông thay đổi hành vi, VTN và

TN trẻ trong Chương trình đã và đang được hỗ trợ kiến thức, tăng cường nhận

thức nguy cơ của bản thân, thái độ tích cực, nhận thức về các quan niệm xã hội

và các kỹ năng cần thiết liên quan đến SKSS, SKTD để có thể thực hành các hành

vi đúng nhằm bảo vệ sức khoẻ cho chính bản thân mình và mọi người Đối với

Chiến lược Vận động chính sách đã nêu ra bốn vấn đề và sáu hành động vận

động chính sách, trên cơ sở đó 7 mục tiêu vận động chính sách được hình thành

nhằm định hướng cho việc lập kế hoạch và thực hiện các hành động chính sách

Kết quả Chiến lược hướng tới là xây dựng m ột m ô i trường chính sách thuận lợi

cho việc cung cấp thông tin và các dịch vụ thân thiện để đảm bảo cho việc thay

đổi hành vi được duy trì và bền vững thông qua các quyết định đúng đắn của các

nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo và những người có ảnh hưởng tại cộng đồng

Trang 39

Nam 2004, Uy ban Dân sô- Gia đình và Trẻ em tổ chức triển khai dự án chăm sóc SKSS VTN, trị giá 350.000 euro, do Ngân hàng tái thiết Đức tài trợ Dự

án giúp xây dựng các dịch vụ thông tin về sức khoẻ sinh sản cho đối tượng VTN thông qua tuyên truyền, tư vấn thân thiện, giáo dục đồng đẳng và các hình thức truyền thông hiện đại Trong khuôn khổ dự án, 6 tỉnh, thành được lựa chọn xây dựng mô hình chăm sóc SKSS cho VTN gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hà Tây Quảng Ninh, Quảng Bình và Long An Qua dự án, dự kiến có khoảng 19.000 VTN, TN trẻ được tiếp cận với thông tin và các biện pháp tránh thai

Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam cũng xác định “truyền thông tư vấn

giáo dục là biện pháp chính đ ể V T N , T N trẻ tự đề kháng, thay đổi hành vi như tiêm vacxin đ ể phòng bệnh ” với sự phối hợp tổng hợp của 4 yếu tố tác động đến

VTN là Gia đình- Học đường- Xã hội- Quốc tế Nội dung giáo dục SKSS, SKTD VTN, TN trẻ bao gồm những vấn đề ưu tiên: Đặc trưng cơ bản của tuổi dậy thì;

Sự phát triển tâm sinh lý tuổi dậy thì; Tinh bạn, tình yêu; Tinh dục lành mạnh và tình dục an toàn; Phòng tránh các bệnh lây lan qua đường tình dục; Lập thân, lập danh, lập nghiệp vì bản thân và vì đất nước; Tìm các phương thức truyền thông thích hợp cho VTN và TN trẻ: đi đôi với dịch vụ cung cấp phương tiện tránh thai, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây lan qua đường tình dục; c ổ động truyền thông toàn xã hội cùng tham gia Thực hiện được nhũng vấn đề này, đến năm

2010, thực trạng SKSS, SKTD VTN, TN trẻ Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể, giảm nạo phá thai, giảm nhiễm HIV, ma tuý, mại dâm và sẽ có nhiều tấm gương sáng về lập thân, lập danh, lập nghiệp của lứa tuổi quan trọng này Trên thực tế, nước ta đã đưa chương trình giảng dạy về SKSS VTN vào các trường học Trong khuôn khổ hoạt động chu kỳ VI (2001- 2005), Quỹ dân số Liên hợp quốc đã hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai chương trình giáo dục SKSS VTN vào giảng dạy chính khoá tại các trường phổ thông trung học và sư phạm Theo Dự

án, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bồi dưỡng cho gần 1000 giảng viên của 300

trường thuộc 11 tỉn h tham gia Chương trìn h giáo dục SKSS V T N , xây dựng

Trang 40

chương trình thử nghiệm giáo dục từ xa về dân số, SKSS và kỹ năng sống cho VTN Đối với hệ đào tạo sư phạm, chương trình giáo dục SKSS VTN được lồng ghép vào 4 khoa: Văn học, Địa lý, Chính trị và Sinh học của trường Đại học sư phạm Hà Nội, H uế và thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa giáo dục SKSS VTN vào chương trình và sách giáo khoa môn Sinh học, Giáo dục công dân, Đìa lý, Văn học và hoạt động ngoại khoá của các trường phổ thông trung học.

Thông qua các chương trình dự án, công tác thông tin giáo dục truyền thông được đẩy mạnh nhằm nâng cao kiến thức, hiểu biết và kỹ năng sử dụng các biện pháp tránh thai, ngăn ngừa các căn bệnh lây truyền qua đường tình dục, hệ thống chăm sóc sức khoẻ sinh sản cũng như dịch vụ kế hoạch hoá gia đình phát triển rộng rãi Vị thành niên và thanh niên trẻ của nhiều tỉnh thành trong cả nước

đã và đang được tiếp cận, được trang bị thông tin về sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục

Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác dân số là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện của đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu, là một yếu tố cơ bản góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình, cả cộng đồng và toàn xã hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, với những cô' gắng vượt bậc của UBDS, GĐ&TE, Bộ Y tế, các ban ngành, đoàn thể, cộng với sự ủng hộ, giúp đỡ của các

cơ quan, các tổ chức quốc tế, sự tham gia của các địa phương, đơn vị, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, công tác chăm sóc SKSS VTN đang có những bước chuyển biến tốt Góp phần vào thành công của Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001- 2010 của Chính phủ có sự tham gia tích cực, nhiệt tình của các phương tiện truyền thông báo chí trong những năm qua J

1 3 2 S ự q u a n tâ m c ủ a cá c p h ư ơ n g tiện tru yên th ô n g đ ạ i chúng.

Trong nhiều năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, hệ thống báo chí nước ta đã và đang dành sự quan tâm đặc biệt trong việc tuyên truyền, giáo

Ngày đăng: 09/12/2020, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w